Đề kiểm tra Học kì 2 môn Ngữ văn Lớp 11 - Năm học 2015-2016 - Trường THPT Tôn Đức Thắng (Có đáp án)

SỞ GD& ĐT NINH THUẬN  
TRƯỜNG THPT TÔN ĐỨC THẮNG  
(Đề chính thức)  
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ II - NĂM HỌC 2015 - 2016  
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11  
Thời gian: 90 phút (không kể thời gian giao đề)  
Đề 1  
I. Đọc hiểu văn bản (4 điểm)  
Đọc đoạn thơ dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 3:  
“…Một tháng sau, Bê-li cốp chết. Bấy giờ khi nằm trong quan tài, vẻ mặt hắn trông hiền lành dễ  
chịu, thậm chí còn có vẻ tươi tỉnh nữa, cứ hệt như hắn mừng rằng cuối cùng hắn đã được chui vào  
trong cái bao mà từ đó không bao giờ phải thoát ra nữa. Phải rồi, thế là hắn đã đạt được mục đích  
cuộc đời!  
Từ nghĩa địa trở về, lòng chúng tôi đều cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Nhưng chưa đầy một  
tuần sau, cuộc sống đã lại diễn ra như cũ, nặng nề, mệt nhọc, vô vị, một cuộc sống chẳng bị chỉ thị  
nào cấm đoán nhưng cũng chẳng được tự do hoàn toàn, chẳng tốt đẹp gì hơn trước. Trên thực tế,  
Bê-li-cốp đã chầu âm phủ nhưng hiện còn bao nhiêu là người trong bao, trong tương lai cũng sẽ  
còn bao nhiêu kẻ như thế nữa!”  
(Trích Người trong bao - Sê-khốp; Ngữ văn 11, tập 2)  
Câu 1 (1 điểm): Vẻ mặt của Bê-li-cốp khi nằm trong quan tài như thế nào? Vì sao khi chết hắn  
có bộ mặt như thế?  
Câu 2 (1 điểm): Sau khi Bê-li-cốp chết, thái độ và tâm trạng của mọi người ra sao? Qua đó, nhà  
văn phản ánh được điều gì trong xã hội Nga thời bấy giờ?  
Câu 3 (2 điểm): Hãy phân tích đoạn văn trên về mặt từ ngữ (Chú ý những từ ngữ in đậm) để  
chứng minh tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập.  
II. PHẦN LÀM VĂN (6,0 điểm):  
“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,  
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,  
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.  
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,  
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,  
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,  
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!  
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,  
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;  
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,  
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…”  
(Trích Vội vàng, Xuân Diệu)  
Anh (chị) hãy phân tích đoạn thơ trên để thấy rõ nỗi ám ảnh về thời gian của Xuân Diệu. Qua đó,  
tác giả muốn gửi đến tuổi trẻ thông điệp gì về việc sử dụng thời gian?  
-------------------- HẾT -------------------  
Họ và tên: .......................................................................... Lớp: ........... Số báo danh: ...................  
(Thí sinh không được sử dụng tài liệu)  
SỞ GD& ĐT NINH THUẬN  
TRƯỜNG THPT TÔN ĐỨC THẮNG  
(Đề chính thức)  
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ II - NĂM HỌC 2015 - 2016  
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11  
Thời gian: 90 phút (không kể thời gian giao đề)  
Đề 2  
I. Đọc hiểu văn bản (4 điểm)  
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 3:  
“…Giăng Van-giăng tay vẫn cầm thanh sắt, từ từ đến bên giường Phăng-tin. Đến nơi, ông quay  
lại nói với Gia-ve, bằng một giọng cố ý mới nghe rõ:  
- Tôi khuyên anh đừng quấy rầy tôi lúc này.  
- Sự thật là Gia –ve run sợ  
Hắn định đi gọi lính tráng, nhưng lo Giăng Van-giăng thừa cơ trốn mất. Hắn đành đứng lại, tay  
nắm lấy đầu lan can, lưng tựa vào khung cửa, mắt không rời Giăng Van-giăng.  
Giăng Van-giăng tì khuỷu tay lên thành giường, bàn tay đỡ lấy trán, ngắm Phăng-tin nằm dài  
không nhúc nhích. Ông ngồi như thế mải miết, yên lặng, rõ ràng chẳng nghĩ đến điều gì trên đời  
này nữa. Trong nét mặt và dáng điệu ông chỉ thấy một nỗi thương xót khôn tả. Mơ màng một lúc  
lâu, ông mới cúi ghé lại gần và thì thầm bên tai Phăng-tin.”  
(Trích đoạn “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” trong “Những người khốn khổ” - V. Huy-  
gô)  
Câu 1 (1 điểm): Giăng Van-giăng đã có thái độ và hành động gì đối với Gia-ve ? Vì sao Giăng  
Van-giăng lại có thái độ và hành động như thế đối với Gia-ve ?  
Câu 2 (2 điểm): Tình cảm của Giăng Van-giăng đối với Phăng-tin như thế nào qua đoạn văn?  
Theo em, khi Phăng-tin chết, Giăng Van-giăng thì thầm điều gì bên tai chị? Em hãy viết lại lời thì  
thầm của Giăng Van-giăng với Phăng-tin.  
Câu 3 (1 điểm): Phân tích nghĩa sự việc và nghĩa tình thái trong câu in đậm.  
II. PHẦN LÀM VĂN (6,0 điểm):  
“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,  
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,  
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.  
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,  
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,  
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,  
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!  
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,  
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;  
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,  
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…”  
(Trích Vội vàng, Xuân Diệu)  
Anh (chị) hãy phân tích đoạn thơ trên để thấy rõ nỗi ám ảnh về thời gian của Xuân Diệu. Qua  
đó, tác giả muốn gửi đến tuổi trẻ thông điệp gì về việc sử dụng thời gian?  
-------------------- HẾT -------------------  
Họ và tên: .......................................................................... Lớp: ........... Số báo danh: ...................  
(Thí sinh không được sử dụng tài liệu)  
SỞ GD& ĐT NINH THUẬN  
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ II - NĂM HỌC 2015 - 2016  
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11  
TRƯỜNG THPT TÔN ĐỨC THẮNG  
Thời gian: 90 phút (không kể thời gian giao đề)  
(Đề chính thức)  
I. Hướng dẫn chung:  
1. Đề kiểm tra và Hướng dẫn chấm được xây dựng theo định hướng đánh giá năng lực. Trong đó,  
phần đọc hiểu có vận dụng cách đặt câu hỏi và cách xây dựng hướng dẫn chấm theo dạng PISA  
2. GV cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của học sinh  
3. GV cần chú ý đến bản chất của việc đọc hiểu văn bản, đặc điểm nhận thức – tâm lí của học sinh  
trung học phổ thông, đặc trưng của môn Ngữ văn để đánh giá chính xác, linh hoạt năng lực Ngữ  
văn của các em, khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo nhưng không trái với chuẩn  
mực đạo đức và pháp luật. Chấp nhận bài viết không giống gợi ý trong hướng dẫn chấm nhưng  
phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục. Không cho điểm cao những bài chỉ nêu chung chung,  
sáo rỗng.  
4. Việc chi tiết hoá điểm số (nếu có) phải đảm bảo điểm số quy định tối đa của mỗi phần, câu, ý,  
phải được thống nhất trong tổ chấm và ghi biên bản.  
II. Hướng dẫn cụ thể.  
Phần/  
Câu  
Biểu  
điểm  
Nội dung  
I
Đọc hiểu văn bản (đề 1)  
(4.0)  
(Đề 1)  
Mức độ đánh giá:  
* Mức đầy đủ:  
1
- Vẻ mặt của Bê-li-cốp khi nằm trong quan tài: trông hiền lành dễ chịu, thậm chí còn có  
vẻ tươi tỉnh, khác hẳn với bộ mặt tái xanh, nhợt nhạt, rầu rỉ thường ngày của hắn..  
0.5  
0.5  
- Khi nằm trong quan tài, Bê-li-cốp có bộ mặt như thế: bởi lẽ chiếc quan tài là cái bao  
cuối cùng và an toàn nhất mà từ đây hắn sẽ không bao giờ phải sợ bất cứ điều gì, không  
bao giờ phải chui ra nữa. Hắn mãn nguyện vì đã đạt được mục đích cuộc đời.  
* Mức chưa đầy đủ: Cơ bản chỉ ra được vẻ mặt của Bê-li-cốp khi nằm trong quan tài và  
giải thích được vấn đề so với mức đầy đủ nhưng đôi chỗ còn thiếu tính thuyết phục  
hoặc diễn đạt dài dòng.  
0.25 -  
0.75  
* Mức không tính điểm:  
- Không chỉ ra được những từ ngữ miêu tả vẻ mặt của Bê-li-cốp khi nằm trong quan tài,  
đồng thời lý giải không đúng hoặc không thuyết phục.  
- Học sinh không trả lời.  
Mức độ đánh giá:  
* Mức đầy đủ:  
2
- Khi Bê-li-cốp chết, mọi người cảm thấy thoát khỏi gánh nặng, thấy nhẹ nhàng, thoải  
mái. Nhưng chưa được bao lâu, cuộc sống lại diễn ra như cũ, như khi Bê-li-cốp còn  
sống: nặng nề, mệt nhọc, vô vị.  
0.5  
0.5  
- Từ đó, nhà văn khái quát:  
+ Lối sống Bê-li-cốp, tính cách Bê-li-cốp đã ảnh hưởng, tác động dai dẳng nặng nề đến  
con người Nga, xã hội Nga đương thời.  
+ Kiểu “người trong bao” vẫn đang tồn tại phổ biến ở nước Nga và trở thành một cái  
thói trong xã hội Nga. Muốn loại bỏ thói Bê-li-cốp, con người phải đấu tranh lâu dài.  
* Mức chưa đầy đủ: Cơ bản nêu được thái độ, tâm trạng của mọi người trước cái chết  
của Bê-li-cốp và nêu được những điều mà nhà văn phản ánh so với mức đầy đủ nhưng  
diễn đạt dài dòng, chưa sáng rõ; Hoặc nêu còn thiếu một vài ý.  
0.25 -  
0.75  
* Mức không tính điểm:  
- Không nêu đúng thái độ, tâm trạng của mọi người trước cái chết của Bê-li-cốp và  
những điều mà nhà văn phản ánh.  
- Học sinh không trả lời.  
Mức độ đánh giá:  
* Mức đầy đủ:  
- Phân tích ngữ liệu về mặt từ ngữ  
+ Từ hắn (1): Định ngữ (Phụ ngữ) bổ nghĩa cho danh từ vẻ mặt  
+ Từ hắn (2): CN trong câu  
+ Từ hắn (3): CN trong câu  
- Từ hắn (4): CN trong câu  
0.0  
1.0  
3
- Nhận xét: Từ hắn dù đứng ở những vị trí khác nhau và giữ những chức năng khác  
nhau trong câu nhưng xét về mặt ngữ âm (phát âm) và sự thể hiện bằng chữ viết, hoàn  
toàn không có sự khác biệt nào giữa từ hắn (1), hắn (2), hắn (3), hắn (4)..  
- Kết luận: Qua sự phân tích trên, chúng ta thấy từ trong tiếng Việt không biến đổi hình  
thái -> Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập.  
0.5  
0.5  
* Mức chưa đầy đủ:  
- Phân tích được chức năng ngữ pháp của từ hắn, sai một ý so với mức đầy đủ trừ 0.25 0.25 -  
điểm  
0.75  
- Biết nhận xét, rút ra kết luận nhưng diễn đạt còn dài dòng, chưa sáng rõ; Hoặc nêu  
còn thiếu một vài ý.  
0.25 -  
0.75  
* Mức không tính điểm:  
- Phân tích không đúng chức năng ngữ pháp của từ hắn trong đoạn văn; phần nhận xét,  
kết luận chưa đúng hoặc không thuyết phục.  
- Học sinh không trả lời.  
0.0  
I
Đọc hiểu văn bản (đề 2)  
(4.0)  
(Đề 2)  
Mức độ đánh giá:  
1
* Mức đầy đủ:  
- Thái độ, hành động mạnh mẽ, quyết liệt của Giăng Van-giăng: Giật gãy trong chớp  
mắt chiếc giường cũ nát, cầm lăm lăm cái thanh giường trên tay.  
- Giải thích:  
1.0  
+ Vì Gia –ve là kẻ đã khiến Phăng-tin phải chết trong tuyệt vọng, đau khổ.  
+ Giăng Van-giăng muốn Gia-ve yên lặng để ông có được những giây phút từ biệt  
Phăng-tin.  
* Mức chưa đầy đủ: Cơ bản nêu được thái độ, hành động của Giăng Van-giăng đối với  
Gia-ve và giải thích được vấn đề so với mức đầy đủ nhưng diễn đạt dài dòng, chưa sáng  
rõ; Hoặc nêu còn thiếu ý.  
0.25 -  
0.75  
* Mức không tính điểm:  
- Không nêu được thái độ, hành động của Giăng Van-giăng đối với Gia-ve và giải thích  
không đúng vấn đề.  
0.0  
1.0  
- Học sinh không trả lời.  
* Mức đầy đủ:  
- Biểu hiện của tình yêu thương mà Giăng Van-giăng dành cho Phăng-tin (0.75)  
+ Bàn tay đỡ lấy trán, ngắm Phăng-tin nằm dài không nhúc nhích.  
+ Ngồi yên lặng, mải miết, không nghĩ đến điều gì trên đời  
2
+ Dáng điệu buồn thương khôn tả, thì thầm bên tai Phăng-tin  
- Tình thương yêu của Giăng Van-giăng đối với Phăng-tin thật chần thành và sâu sắc.  
Ông là hình tượng đáng kính của một vị cứu tinh, môt vị thiên sứ. (0.25)  
- Khi Phăng-tin chết, Giăng Van-giăng thì thầm bên tai chị: HS chỉ cần trả lời 1 trong 2  
0.5  
0.5  
ý sau là cho điểm tối đa.  
+ Có thể là lời chia sẻ, sự ân hận, đau xót trước cái chết của người đàn bà tội nghiệp mà  
ông không thể giúp đỡ được gì.  
+ Cũng có thể là ông thầm hứa với Phăng-tin sẽ tìm mọi cách cứu Cô-dét.  
- Em hãy viết lại lời thì thầm của Giăng Van-giăng với Phăng-tin: tùy vào sự sáng tạo  
của hs nhưng phải đúng với với ý đã nói ở trên.  
* Mức chưa đầy đủ:  
- Cơ bản nêu được biểu hiện của tình yêu thương mà Giăng Van-giăng dành cho 0.25 -  
Phăng-tin, biết rút ra nhận xét so với mức đầy đủ nhưng diễn đạt dài dòng, chưa sáng 0.75  
rõ; Hoặc nêu còn thiếu ý.  
- Cơ bản hiểu được lời thì thầm của Giăng Van- giăng với Phăng tin và viết được lời  
cho nhân vật, tuy nhiên lối diễn đạt dài dòng, chưa sáng rõ, ngôn ngữ chưa được gọt  
dũa, trau chuốt…  
0.25 -  
0.75  
* Mức không tính điểm:  
- Làm bài không có ý nào đúng so với mức đầy đủ  
- Học sinh không trả lời.  
0.0  
1.0  
* Mức đầy đủ:  
- NSV: Sự run sợ của Gia-ve  
3
- NTT: Khẳng định sự run sợ của Gia-ve là có thật (khẳng định tính chân thật của sự  
việc)  
* Mức chưa đầy đủ:  
- Phân tích NSV, NTT trong câu trên sai một ý so với mức đầy đủ trừ 0.5 điểm  
0.25 -  
0.75  
- Xác định được NSV, NTT trong câu trên nhưng diễn đạt còn dài dòng, lủng củng,  
chưa sáng rõ.  
* Mức không tính điểm:  
- Phân tích không đúng NSV, NTT trong câu trên.  
- Học sinh không trả lời.  
0.0  
II. Phần Làm văn  
6,0  
Phân tích một đoạn thơ trong bài Vội vàng để thấy rõ nỗi ám ảnh về thời gian của Xuân Diệu  
1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: mở bài nêu được luận đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết  
bài kết luận được vấn đề.  
0,5  
0,5  
2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: phân tích một đoạn thơ và làm nổi bật nỗi ám ảnh về  
thời gian của tác giả.  
3. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp  
chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; phân tích được nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ; hiểu một  
cách đúng đắn và sâu sắc về quan niệm của tác giả; rút ra bài học nhận thức và hành động. Cụ  
thể:  
* Giới thiệu vài nét khái quát về tác giả, tác phẩm và đoạn trích thơ.  
* Phân tích đoạn thơ để làm nổi bật nỗi ám ảnh về thời gian của Xuân Diệu. Có các ý cơ bản  
sau:  
0,5  
- Nỗi lo thời gian trôi qua rất nhanh, xuân sắc tàn phai, cuộc đời ngắn ngủi.  
0,5  
0,5  
- Nỗi ám ảnh xuất phát từ một quan niệm, một cái nhìn rất thực tiễn về thời gian: “Xuân” có  
thể “vẫn tuần hoàn” nhưng “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại” và “còn trời đất, nhưng chẳng còn  
tôi mãi”. Thời gian của vũ trụ thì tuần hoàn nhưng thời gian dành cho mỗi con người là hữu  
hạn mà cuộc sống có ý nghĩa nhất của con người là lúc còn trẻ.  
- Nỗi sợ thời gian qua nhanh một cách uổng phí mà chưa kịp vui, sống, tận hưởng -> cuộc sống  
tươi đẹp, rộng rãi trở nên vô nghĩa, chật hẹp.  
0,5  
-> Dự cảm, lo âu của tác giả về dòng chảy mải miết, vô tận của thời gian trước sự hữu hạn của  
tuổi trẻ, của đời người -> hãy biết quý trọng thời gian và hãy tận hưởng cuộc sống một cách  
0,25  
mãnh liệt -> đây là quan niệm đúng đắn, tiến bộ của con người trẻ tuổi luôn yêu và trân trọng  
cuộc sống.  
* Nghệ thuật:  
1,0  
1,0  
- Biện pháp tu từ: đối lập, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, nhân hóa,…  
- Ngôn từ: trau chuốt, tinh tế, mới lạ.  
- Cách ngắt nhịp ở các dòng thơ, câu thơ; giọng thơ: sôi nổi, khẩn trương.  
* Bài học cho tuổi trẻ:  
- Hãy biết quý trọng thời gian và biết trân trọng, tận hưởng cuộc sống một cách mãnh liệt khi  
còn trẻ.  
- Nhận thức đúng về giá trị của thời gian, tận dụng từng giây từng phút để học tập, để trải  
nghiệm cuộc sống và làm những việc có ích,... -> để không hối hận, nuối tiếc vì đã lãng phí, đã  
để thời gian trôi qua vô nghĩa -> Cần sử dụng thời gian một cách hợp lí và có ý nghĩa.  
4. Sáng tạo: có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.  
5. Chính tả, dùng từ, đặt câu: không sai chính tả; sử dụng từ ngữ đúng và hay; viết câu đúng ngữ  
pháp, phong phú các loại câu.  
0,25  
0,5  
Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi học sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức. Nếu học sinh  
có những suy nghĩ riêng mà hợp lí vẫn chấp nhận.  
doc 6 trang Thùy Anh 10460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đề kiểm tra Học kì 2 môn Ngữ văn Lớp 11 - Năm học 2015-2016 - Trường THPT Tôn Đức Thắng (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docde_kiem_tra_hoc_ki_2_mon_ngu_van_lop_11_nam_hoc_2015_2016_tr.doc