Mối quan hệ giữa chia sẻ tri thức, sự hài lòng trong công việc và hiệu suất làm việc: Trường hợp các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
3
Mối quan hệ giữa chia sẻ tri thức, sự hài lòng trong công việc và  
hiệu suất làm việc: Trường hợp các công ty khởi nghiệp trong lĩnh  
vực du lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh  
The relationship between knowledge sharing, job satisfaction and  
work performance: The case study of tourism startups in Ho Chi  
Minh City  
Nguyễn Hữu Nghị1*, Mai Trường An1  
1Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, Việt Nam  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
econ.vi.13.2.1612.2018  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm kiểm định mối quan hệ  
giữa việc chia sẻ tri thức (Knowledge Sharing - KS), sự hài lòng  
trong công việc (Job Satisfaction - JS) và hiệu suất làm việc  
(Work Performance - WP) của nhân viên của các công ty khởi  
nghiệp trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí  
Minh. Thông qua khảo sát 322 nhân viên, dữ liệu thu thập được  
xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0 và AMOS 20.0. Kết quả  
nghiên cứu cho thấy việc thu nhận tri thức (Knowledge  
Collecting - KC) và cho tặng tri thức (Knowledge Donating -  
KD) đều có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng và hiệu suất làm  
việc của nhân viên. Trong đó thu nhận tri thức có tác động mạnh  
hơn cho tặng tri thức.  
Ngày nhận: 03/10/2017  
Ngày nhận lại: 06/02/2018  
Duyệt đăng: 14/03/2018  
Từ khóa:  
chia sẻ tri thức, doanh nghiệp  
khởi nghiệp, hiệu suất làm  
việc, lĩnh vực du lịch, sự hài  
lòng trong công việc  
ABSTRACT  
The research aims at investigating the relationship between  
Knowledge Sharing (KS), Job Satisfaction (JS) and Work  
Performance (WP). The research data was collected from 322  
employees of tourism startups in Ho Chi Minh City. It was  
analyzed by SPSS 23.0 and AMOS 20.0. The study results  
reveal that both employees’ Knowledge Donating (KD) and  
Knowledge Collecting (KC) have a major impact on their  
satisfaction and performance. In fact, knowledge collecting has  
a stronger impact than knowledge donating.  
Keywords:  
job satisfaction, knowledge  
sharing, SCT, startup, TPB,  
TRA, tourism industry, work  
performance  
4 Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
1. Đặt vấn đề  
Để tồn tại, phát triển và bảo toàn những lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là thách  
thức cho bất cứ nhà quản trị nào. Nhằm đạt được những mục tiêu đó, nhà quản trị không những  
cần phải biết khai thác một cách hiệu quả các nguồn lực hữu hình hiện có của tổ chức, mà còn  
phải biết phát triển các nguồn lực vô hình đáp ứng nhu cầu phát triển của tổ chức. Một trong  
những nguồn lực vô hình mà bài viết này đề cập đó là nguồn lực tri thức. Tri thức đóng vai trò  
cực kỳ quan trọng trong kinh doanh (du Plessis, 2007) và là một loại nguồn lực giúp cho doanh  
nghiệp tăng trưởng (Business Link, 2009) trong môi trường kinh doanh nhiều biến động hiện  
nay. Trong một tổ chức kinh doanh, tri thức là yếu tố quan trọng không những làm gia tăng khả  
năng sáng tạo mà còn củng cố lợi thế cạnh tranh bền vững cho tổ chức (Alegre, Sengupta, &  
Lapiedra, 2013).  
Tri thức là thông tin được sử dụng và chia sẻ để đạt được các mục tiêu của tổ chức1, nó  
được tạo ra và luân chuyển giữa các thành viên trong tổ chức thông qua những bài học kinh  
nghiệm và thực tiễn tốt nhất. Sau đó những tri thức này sẽ được lưu trữ theo những cách tốt  
nhất để có thể thu hồi cũng như tái sử dụng dễ dàng trong tương lai đáp ứng nhu cầu phát triển  
của tổ chức (Dalkir, 2007). Nguồn tài sản tri thức này được hình thành thông qua việc tạo và  
phổ biến những kiến thức từ các thành viên trong tổ chức được kết tinh và liên kết với nhau  
thông qua hệ thống quản lý tri thức của tổ chức (Nonaka, von Krogh, & Voelpel, 2006).  
Theo một số cuộc hội thảo khoa học và diễn đàn về khởi nghiệp thì có khoảng 80% các  
khởi nghiệp bị thất bại (Doanh nhân Sài Gòn, 2017), một trong số những nguyên nhân đó là do  
không tập hợp được đội ngũ phù hợp từ đó dẫn đến thiếu động cơ, kiến thức chuyên môn hoặc  
tầm nhìn chung (Lance, 2016) để tạo sự liên kết và chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm cần thiết  
(Tam Mai, 2017).  
Du lịch là lĩnh vực kinh tế với đặc trưng các mô hình kinh doanh có qui mô nhỏ và vừa  
chiếm ưu thế nên được xem là một lĩnh vực rất có tiềm năng để khởi nghiệp như tour khám phá,  
du lịch homestay, hàng thủ công mỹ nghệ… là những thành tố luôn sẵn có và rất dễ thực hiện  
các dự án khởi nghiệp. Trong lĩnh vực du lịch, kỹ năng tương tác giữa nhân viên với khách  
hàng và kiến thức nghề nghiệp giữ vai trò quyết định việc sự thành bại trong kinh doanh. Nhưng  
du lịch là một ngành có tỉ lệ chuyển đổi nhân lực (turnover) rất cao, nên khi một nhân viên ra  
đi họ mang theo cả kinh nghiệm, kiến thức, bí quyết, các mối quan hệ với khách hàng, ... Do  
đó việc chia sẻ những kỹ năng và kiến thức được xem là một tiến trình quan trọng trong việc  
quản lý tri thức (Nooshinfard & Nemati-Anaraki, 2014). Vì vậy, làm sao để các thành viên  
trong tổ chức, nhất là trong giai đoạn khởi sự nhận được sự động viên cần thiết để hình thành  
văn hóa chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức của mỗi người thành tri thức chung là vô cùng quan  
trọng giúp cho tổ chức có được năng lực cần thiết để tồn tại và phát triển. Đây cũng là lý do  
chính mà bài nghiên cứu này hướng đến.  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
Khái niệm chia sẻ tri thức  
1 http://isoconsultantpune.com/iso-90012015-organizational-knowledge/  
Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
5
Hooff và Ridder (2004) định nghĩa chia sẻ tri thức là một quá trình mà các cá nhân trao  
đổi tri thức tiềm ẩn và tri thức hiện hữu để tạo ra tri thức mới. Theo Lin (2007), chia sẻ tri thức  
có thể được định nghĩa như một văn hóa tương tác mang tính xã hội, liên quan đến việc nhân  
viên của các bộ phận, tổ chức trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng. Ví dụ như nhân viên  
sẵn lòng giao tiếp, chia sẻ kiến thức với đồng nghiệp và học hỏi lẫn nhau. Cũng theo Gao, Li,  
và Clarke (2008), chia sẻ tri thức là quá trình cho và nhận tri thức, trong đó sự sáng tạo và chia  
sẻ tri thức phụ thuộc vào nỗ lực có ý thức của cá nhân làm cho tri thức được chia sẻ. Theo Hooff  
và Ridder (2004), cho tặng tri thức là việc một cá nhân giao tiếp với người khác về vốn trí tuệ  
của mình, thu nhận tri thức là việc một cá nhân hỏi ý kiến đồng nghiệp để tiếp thu vốn trí tuệ  
của họ. Liao, To, và Hsu (2013) cũng định nghĩa chia sẻ tri thức như một sự chia sẻ cộng đồng  
liên quan đến thông tin, ý tưởng, những gợi ý hay những kiến thức chuyên môn của mỗi người.  
Như vậy, có thể hiểu chia sẻ tri thức là quá trình cho và nhận tri thức, làm cho tri thức có thể  
được tái sử dụng bởi những người khác.  
Khái niệm sự hài lòng trong công việc  
Hoppock (1935) là một trong những người đầu tiên đưa ra khái niệm về sự hài lòng  
trong công việc. Ông cho rằng sự hài lòng trong công việc là một khái niệm tổng thể; vì vậy,  
cách đơn giản nhất để đo lường sự hài lòng là xem xét mức độ đánh giá tổng thể của nhân viên  
đối với công việc. Adams (1963) thì xem xét sự hài lòng trong công việc theo khía cạnh công  
bằng. Ông gợi ý rằng, khi một người nhận thấy những gì mình nhận được từ công việc công  
bằng với trình độ và năng lực của mình thì họ sẽ hài lòng hơn với công việc. Mặt khác, Porter  
và Lawler (1968) cho rằng sự hài lòng được tạo ra khi nhu cầu và ham muốn được đáp ứng.  
Theo Weiss (2002), mức độ sự hài lòng trong công việc được định nghĩa như là một thái độ  
làm việc tích cực hay tiêu cực của người lao động đối với công việc của họ. Tóm lại, sự hài  
lòng trong công việc là cảm giác hài lòng của nhân viên khi cảm nhận công sức mình bỏ ra  
xứng đáng với kết quả mình nhận được và sự hài lòng trong công việc được đánh giá thông qua  
sự cố gắng và thành tích làm việc.  
Khái niệm hiệu suất làm việc  
Hall và Goodale (1986) chỉ ra rằng hiệu suất làm việc là cách một nhân viên thực hiện  
nhiệm vụ của mình thông qua việc sử dụng thời gian, kỹ thuật và tương tác với các cá nhân  
khác. Theo Schermerhorn (1989), hiệu suất làm việc được hiểu là số lượng và chất lượng công  
việc đạt được bởi một cá nhân hay một nhóm. Trong bài nghiên cứu này, hiệu suất làm việc  
được hiểu là hiệu suất công việc của cá nhân đang làm việc trong các công ty khởi nghiệp trong  
lĩnh vực du lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.  
Mối quan hệ giữa chia sẻ tri thức, sự hài lòng trong công việc và hiệu suất làm việc  
Hooff và Ridder (2004) trong công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng việc chi sẻ  
tri thức là một tiến trình bao gồm việc cho, tặng tri thức (knowledge donating) và thu nhận tri  
thức (knowledge collecting); và chia sẻ tri thức cũng có tác động tích cực đến sự hài lòng của  
một cá nhân trong tổ chức. Tương tự, Teh và Sun (2012) cũng chứng minh được rằng chia sẻ  
tri thức có tác động tích cực đến sự hài lòng của nhân viên. Trong thời đại mà kiến thức trở  
thành lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung hay một cá nhân nói riêng thì việc  
chia sẻ tri thức để học hỏi và nâng cao trình độ sẽ giúp cá nhân đó hài lòng hơn với công việc.  
6 Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
Thực tế cho thấy, có rất nhiều cá nhân gia nhập vào một công ty hay tổ chức nào đó không phải  
đơn giản chỉ vì mức lương được đề nghị mà là vì sự dự đoán và mong muốn về những kiến  
thức, kinh nghiệm lẫn trải nghiệm họ sẽ có được, và xa hơn nữa là những tri thức họ thu được  
sẽ là tiền đề cho mức thu nhập kỳ vọng trong tương lai.  
Bên cạnh đó tác động đến sự hài lòng của một cá nhân trong tổ chức, chia sẻ tri thức  
cũng có tác động đến hiệu suất làm việc của cá nhân đó (Aksoy, Ayranci, & Gozukara, 2016;  
Henttonen, Kianto, & Ritala, 2016; Saeed, 2016). Nghiên cứu của Bontis, Richards, và Serenko  
(2011) cũng chỉ ra rằng nhân viên tìm kiếm và chia sẻ thông tin để hoàn thành nhiệm vụ và để  
đáp ứng nhu cầu cá nhân; điều đó có nghĩa là họ sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động của tổ  
chức và đạt được mục tiêu cao hơn khi họ chia sẻ tri thức và hài lòng với công việc. Theo Weiss  
(2002), sự hài lòng sẽ là động lực để nhân viên phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Vì  
vậy, chia sẻ tri thức cũng có tác động đến hiệu quả làm việc của nhân viên trong một tổ chức  
và sự hài lòng cũng có tác động đến hiệu suất làm việc của họ.  
2.2. Các lý thuyết nền và Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) và thuyết hành vi dự định  
- The theory of planned behavior - TPB (Madden, Ellen, & Ajzen, 1992) được nhiều nhà nghiên  
cứu sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa hành vi dự định và các nhân tố khác như niềm tin,  
các chuẩn giá trị …Chow và Chan (2008) và Orces và Kim (2005) đã sử dụng Thuyết hành  
động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) để nghiên cứu về những giá trị xã hội và  
những lý do tại sao mọi người trong tổ chức lại sẵn sàng hoặc không sẵn sàng chia sẻ tri thức.  
Việc chia sẻ tri thức không thể có hiệu quả nếu bị ép hay bắt buộc mà quá trình này phải thông  
qua nỗ lực tạo ra môi trường làm viêc thoải mái, tạo ra các động lực thúc đẩy đến các cá nhân  
thông qua việc kiểm định mối quan hệ giữa mạng xã hội, niềm tin và chia sẻ mục tiêu đến dự  
định chia sẻ tri thức thông qua biến trung gian thái độ và tiêu chuẩn chủ quan trên cơ sở mẫu  
chỉ là các quản lý (managers) từ các tổ chức và nghiên cứu hành vi chia sẻ kiến thức trong địa  
giới Hong Kong để kiểm định ý định sẵn sàng hay không sẵn sàng chia sẻ kiến thức. Trong khi  
đó, Orces và Kim (2005) chứng tỏ trong nghiên cứu của mình rằng khi nhân viên được thúc  
đẩy và hình thành nhu cầu hiểu biết thì khi đó nhu cầu này trở thành động lực căn bản hình  
thành hành vi chia sẻ kiến thức qua việc hội nhập Thuyết hành vi dự định - The theory of  
planned behavior - TPB trên cơ sở xem xét mối quan hệ động lực bên trong và động lực bên  
ngoài tác động như thế nào đến thái độ và dự định chia sẻ tri thức dựa trên dữ liệu theo mặt cắt  
dọc từ trên xuống dưới chứ không trải theo bề rộng, các mối quan hệ nhân quả được suy luận  
thay vì được minh chứng. Như vậy cần phải thực hiện các nghiên cứu khác với mẫu là đội ngũ  
nhân viên có sẵn sàng chia sẻ tri thức với nhau hay không, bao gồm tri thức tổng quát và tri  
thức chuyên ngành cụ thể như du lịch trong những bối cảnh khác nhau về văn hóa quốc gia  
(Orces & Kim, 2005).  
Trong nghiên cứu của mình, Chiu, Hsu, và Wang (2006) lại chỉ ra rằng kết quả kỳ vọng  
của cộng đồng đóng vai trò quan trọng đến số lượng và chất lượng kiến thức được chia sẻ, trong  
khi những kết quả mong đợi của cá nhân lại ảnh hưởng tiêu cực nhưng không đáng kể đến số  
lượng kiến thức được chia sẻ thông qua việc sử dụng 2 thuyết “Nhận thức xã hội và Tài nguyên  
xã hội - Social Cognitive Theory and the Social Capital Theory” - nhằm khám phá động cơ và  
Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
7
kỳ vọng cá nhân đằng sau việc chia sẻ tri thức trong các cộng đồng ảo. Tương tự như 2 nghiên  
cứu đã đề cập ở trên nghiên cứu của Chiu và cộng sự cùng một cách tiếp cận dữ liệu theo mặt  
cắt từ trên xuống dưới và chỉ tập trung vào một khía cạnh là người trao mà chưa khám phá khía  
cạnh người nhận tri thức, trong khi việc chia sẻ tri thức phải hội đủ 2 chiều thì mới là yếu tố  
được xem là bền vững của hệ thống quản lý. Vì vậy, cần có những nghiên cứu sâu hơn để có  
một sự hiểu biết hơn về mối tương quan giữa các khía cạnh của nguồn vốn tri thức (Chiu et al.,  
2006).  
Hai tác giả Suliman và Hosani đã thực hiện một cuộc nghiên cứu thực nghiệm vào năm  
2014 để nghiên cứu tác động của sự hài lòng trong công việc đến chia sẻ tri thức. Dựa vào  
“Thuyết động lực tạo ra tri thức trong tổ chức” - Dynamic theory of organizational knowledge  
creation - và nhiều công trình nghiên cứu khác, Suliman và Hosani (2014) chứng minh được  
rằng chia sẻ tri thức là một tiến trình bao gồm việc cho và nhận tri thức. Đồng thời kết quả  
nghiên cứu cũng khẳng định sự tác động trực tiếp và tích cực của sự hài lòng trong công việc  
lên chia sẻ tri thức của nhân viên trong một tổ chức. Kết quả nghiên cứu dựa trên mẫu là nhân  
viên trong một tập đoàn (dầu khí) nên thực tế có thể không phản ánh đúng trong các ngành kinh  
tế khác. Do đó cần có những nghiên cứu khác tại các ngành khác trong khung địa giới khác để  
xác định rõ hơn bản chất mối quan hệ giữa sự hài lòng và hành vi chia sẻ tri thức trong tổ chức.  
Ngược lại với nghiên cứu của Suliman và Hosani (2014), Trivellas, Akrivouli, Tsifora,  
và Tsoutsa (2015) đề xuất mô hình nghiên cứu gồm chia sẻ tri thức tác động đến năng lực tổng  
quát của nhân viên và sự hài lòng trong công việc. Theo Trivellas và cộng sự (2015), chia sẻ tri  
thức là yếu tố cốt lõi của quản trị tri thức, nó phản ánh sự sẵn lòng của nhân viên khi chia sẻ  
kinh nghiệm, kiến thức với người khác; đồng thời tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin có  
ích trong tổ chức thông qua việc kiểm định mối quan hệ giữa việc chia sẻ tri thức và sự hài lòng  
trong công việc thông qua sự tác động của biến điều tiết năng lực của các thành viên trong tổ  
chức. Dựa trên những giá trị được chia sẻ, các cá nhân sẽ ngày càng hoàn thiện bản thân và hài  
lòng hơn với công việc. Vì vậy việc chia sẻ tri thức sẽ có tác động tích cực đến sự hài lòng của  
nhân viên trong tổ chức. Trivellas và cộng sự (2015) đề xuất các nghiên cứu tương lai kiểm  
định lại kết quả thông qua các biến số như văn hóa tổ chức hay quốc gia tác động như thế nào  
đối với nhân viên có năng lực khác nhau và các biến số nội bộ như động cơ, phong cách lãnh  
đạo, trí tuệ cảm xúc và sự sáng tạo.  
Mô hình nghiên cứu được đề xuất trên cơ sở các lý thuyết nền và các hướng đề xuất  
nghiên cứu của nghiên cứu đã đề cập bên trên, nhóm tác giả thấy rằng các công trình nghiên  
cứu đã đề cập tập trung vào xác định cách thức hình thành động cơ và hành vi chia sẻ tri thức  
giữa các cá nhân trong tổ chức. Trong ngành du lịch, đặc biệt các mô hình khởi nghiệp kinh  
doanh với qui mô nhỏ, nên việc chia sẻ tri thức sẽ là tiền đề quan trong nhằm gia tăng hiệu suất  
(Oyemomi, Liu, Neaga, & Alkhuraiji, 2016) của tổ chức, không những vậy nó còn giúp tổ chức  
tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh (Nooshinfard & Nemati-Anaraki, 2014). Nhóm tác giả đề xuất  
mô hình nghiên cứu như sau:  
8 Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
Chia sẻ tri thức  
Sự hài lòng trong công  
Cho, tặng tri  
việc - JB  
thức - KD  
Thu nhận tri  
thức - KC  
Hiệu suất công việc -  
WP  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Nguồn: Nhóm tác giả (2017)  
3. Thiết kế nghiên cứu  
Đối tượng khảo sát là những nhân viên đang làm việc trong các công ty khởi nghiệp  
trong lĩnh vực du lịch với qui mô nhỏ và vừa (Chính phủ, 2009) (dựa theo số lượng lao động  
của công ty) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, những công ty có thâm niên hoạt động được  
5 năm tính đến thời điểm 06/2017. Dữ liệu được thu thập bằng cách phát bảng câu hỏi và được  
xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0 và Amos 20.0.  
Mô hình đo lường gồm 21 biến quan sát. Trong đó, thang đo cho tặng tri thức - KD gồm  
7 biến quan sát và thang đo thu nhận tri thức - KC gồm 6 biến quan sát được kế thừa và phát  
triển từ thang đo của Hooff và Ridder (2004); thang đo sự hài lòng trong công việc gồm 4 biến  
quan sát được kế thừa từ thang đo của Ollo-López, Bayo-Moriones, và Larraza-Kintana (2016);  
thang đo hiệu suất làm việc - WP gồm 4 biến quan sát được kế thừa và chỉnh sửa từ thang đo  
của Henttonen và cộng sự (2016).  
350 bảng câu hỏi được gửi đến cho 2752 tổ chức/doanh nghiệp/công ty hoạt động trong  
lĩnh vực du lịch3 trên địa bàn thông qua đầu mối là Phòng Tổ chức - Hành chính, nhưng chỉ thu  
về được 337 bảng, trong đó có 15 bảng mà người được khảo sát không trả lời hết các câu hỏi  
hoặc đánh cùng một sự lựa chọn. Như vậy, chỉ có 322 bảng khảo sát hợp lệ được nhận từ 217  
tổ chức/doanh nghiệp/công ty và đây cũng chính là kích thước mẫu chính thức của nghiên cứu  
này.  
2 300 doanh nghiệp này được lọc từ nguồn cung cấp khoảng 600 đơn vị từ Tổng đài 1080, danh bạ Hội viên của  
VCCI - CN thành phố Hồ Chí Minh và đối chiếu với số liệu công bố trên website của Sở Du lịch - Cơ quan quản  
lý về chuyên ngành  
3 http://sodulich.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/216  
Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
9
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha  
Bảng 1  
Tổng hợp hệ số Cronbach’s Alpha  
Hệ số tương  
Số biến quan Cronbach's  
quan biến  
tổng  
Thang đo  
sát  
Alpha  
thấp nhất  
Cho, tặng tri thức - KD  
7
6
4
4
0.892  
0.876  
0.880  
0.906  
0.594  
0.371  
0.605  
0.720  
Thu nhận tri thức - KC  
Sự hài lòng trong công việc - JS  
Hiệu suất công việc - WP  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả (2017)  
Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha cho thấy các biến  
KD, KC, JS và WP có hệ số Cronbach’s Alpha nằm trong khoảng [0.75 - 0.95] nên các thang  
đo được sử dụng trong bài đạt yêu cầu; tất cả các biến quan sát đều có tương quan biến tổng  
lớn hơn 0.3 nên tất cả các biến quan sát đều được giữ lại và đưa vào phân tích EFA.  
4.2. Phân tích nhân tố EFA  
Theo Gerbing và Anderson (1988), phương pháp trích Principal Axis Factoring với phép  
xoay Promax sẽ phản ánh cấu trúc dữ liệu chính xác hơn phương pháp trích Principal  
Components với phép xoay Varimax. Vì vậy để đảm bảo kết quả trong phân tích cấu trúc tuyến  
tính SEM tiếp theo, trong phân tích EFA cho nhóm biến KD, KC và JS tác giả chọn phương  
pháp trích Principal Axis Factoring với phép xoay Promax. Phân tích EFA cho biến phụ thuộc  
vẫn sử dụng phép quay Varimax với phương pháp trích Principal Component.  
Kết quả phân tích EFA lần 1 cho các biến KD, KC và JS  
Hệ số KMO = 0.906 > 0.6 nên EFA phù hợp với dữ liệu. Giá trị Sig. của kiểm định  
Bartlett bằng 0.000, do đó các biến quan sát có tương quan với nhau xét trên tương quan tổng  
thể. Tại điểm dừng có Eigenvalue = 1.488 có 3 nhân tố được trích, phương sai trích đạt 59.555%  
thể hiện rằng 3 nhân tố được rút trích này giải thích được gần 60 % sự biến thiên của dữ liệu.  
Tuy nhiên nhân tố “Thu nhận tri thức - KC” có hệ số tải nhân tố của biến KC1 nhỏ hơn 0.5 nên  
không đạt yêu cầu. Vì vậy, nhóm tác giả thực hiện phân tích EFA lần 2 cho nhóm biến KD, KC  
và JS khi loại biến KC1.  
Kết quả phân tích EFA lần 2 cho các biến DK, CK và JS  
Hệ số KMO=0.906 > 0.6 nên EFA phù hợp với dữ liệu. Giá trị Sig. của kiểm định  
Bartlett là 0.000, do đó các biến quan sát có tương quan với nhau xét trên tương quan tổng thể.  
Tại điểm dừng có Eigenvalue = 1.483 có 3 nhân tố được rút trích, phương sai trích đạt 62.316%  
thể hiện rằng 3 nhân tố được rút trích này giải thích được gần 62,32% sự biến thiên của dữ liệu.  
10 Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
Các thang đo trong 3 nhân tố đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0.5 và hiệu của hệ số tải nhân tố  
giữa hai item của các biến đều lớn hơn 0.3; vì vậy đạt yêu cầu.  
Kết quả phân tích EFA cho biến phụ thuộc  
Kết quả phân tích cho thấy có 1 nhân tố được trích, tất cả các biến đều có hệ số tải nhân  
tố lớn hơn 0.5, Eigenvalue đạt 3.125, lớn hơn 1; phương sai trích đạt 8.134 (lớn hơn 50). Hệ số  
KMO đạt 0.83 (lớn hơn 0.5 và nhỏ hơn 1). Kiểm định Bartlett’s Test có sig bằng 0.000 (nhỏ  
hơn 0.05). Các chỉ số này đều đạt yêu cầu nên giữ lại tất cả các biến quan sát trong thang đo  
biến phụ thuộc.  
4.3. Phân tích nhân tố khẳng định CFA  
Hình 2. Kết quả phân tích CFA cho mô hình tới hạn  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả  
Mức độ phù hợp chung: Phân tích CFA cho kết quả mô hình có giá trị thống kê Chi -  
bình phương là 441.555 với 163 bậc tự do, giá trị P = 0.000, CMIN/df = 2.517 < 5, đạt yêu cầu  
về độ tương thích. Các chỉ tiêu TLI = 0.930 > 0.9, CFI = 0.940 > 0.9 và RMSEA = 0.073 < 0.08  
đều đạt yêu cầu. Vì vậy có thể kết luận: Mô hình tới hạn đạt được độ tương thích với dữ liệu  
thị trường. Bên cạnh đó, trong phân tích CFA cần xem xét các chỉ số sau:  
Giá trị hội tụ: Các trọng số đã chuẩn hóa đều > 0.5 nên thang đo đạt giá trị hội tụ.  
Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18 11  
Giá trị phân biệt: Các giá trị P-value đều <0.05 nên hệ số tương quan của từng cặp khái  
niệm khác biệt so với 1 ở độ tin cậy 95%. Do đó, các khái niệm nghiên cứu đều đạt được giá trị  
phân biệt.  
Độ tin cậy: Độ tin cậy của thang đo được đánh giá thông qua hệ số Cronbach’s Alpha,  
hệ số tin cậy tổng hợp (Composite Reliability) hoặc tổng phương sai trích (Average Variance  
Extracted).  
Bảng 2  
Tóm tắt kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo  
Độ tin cậy  
Phương sai  
Thang đo  
Kết luận  
Cronbach’s  
trích  
Tổng hợp  
Alpha  
Cho, tặng tri thức - KD  
0.892  
0.876  
0.880  
0.906  
0.895  
0.914  
0.893  
0.901  
0.550  
0.685  
0.717  
0.711  
Thu nhận tri thức - KC  
Ðạt yêu  
cầu  
Sự hài lòng trong công việc - JS  
Hiệu suất công việc - WP  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả (2017)  
Các thang đo đều hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 và nhỏ hơn 0.95, độ tin cậy tổng  
hợp và phương sai trích đều lớn hơn 0.5 nên cả 4 thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy. Dữ  
liệu phù hợp để được đưa vào phân tích SEM tiếp theo.  
4.4. Đánh giá sự phù hợp của mô hình bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM  
Mô hình có giá trị thống kê Chi-bình phương bằng 487.519 với 164 bậc tự do, giá trị P  
= 0.000; giá trị CMIN/df = 2.973 < 5; đạt yêu cầu cho độ tương thích. TLI = 0.920 > 0.9, CFI  
= 0.931 > 0.9, RMSEA = 0.078 < 0.08 đạt yêu cầu. Vì vậy có thể kết luận mô hình phù hợp với  
dữ liệu thị trường.  
12 Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
Hình 3. Kết quả SEM cho mô hình (đã chuẩn hóa)  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả (2017)  
4.5. Kiểm định giả thuyết  
Bảng 3  
Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm nghiên cứu trong mô hình  
Giả  
thuyết  
Ước  
Ước lượng  
P-  
value  
.032  
Mối quan hệ  
S.E.  
C.R.  
lượng (chuẩn hóa)  
JS <--- KD 0.072  
JS <--- KC 0.387  
WP <--- KD 0.258  
WP <--- KC 0.199  
0.111  
0.551  
0.534  
0.380  
.034 2.143  
.039 9.933  
.023 11.233  
.026 7.701  
H1  
H2  
H3  
H4  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
***  
***  
***  
Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18 13  
Giả  
thuyết  
Ước  
lượng (chuẩn hóa)  
0.239 0.322  
Ước lượng  
P-  
value  
***  
Mối quan hệ  
S.E.  
C.R.  
WP <--- JS  
.037 6.437  
H5  
Chấp nhận  
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm tác giả (2017)  
Giá trị P - value của các giả thuyết đều nhỏ hơn 0.05; hệ số ước lượng chưa chuẩn hóa  
và chuẩn hóa đều dương nên tất cả các giả thuyết đều được chấp nhận. Cả “Cho, tặng tri thức  
- KD” và “Thu nhận tri thức - KC” đều có tác động tích cực đến “Sự hài lòng trong công việc -  
JS” và “Hiệu suất làm việc - WP” của nhân viên; “Sự hài lòng trong công việc - JS” cũng có  
tác động tích cực đến “Hiệu suất làm việc - WP”.  
5. Bình giải  
Cho, tặng tri thức - KD có tác động trực tiếp đến sự hài lòng trong công việc và hiệu  
suất làm việc với hệ số ước lượng (đã chuẩn hóa) lần lượt bằng 0.111 và 0.534. Nghĩa là, trong  
điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi việc cho tặng tri thức của nhân viên tăng 1 đơn vị thì  
sự hài lòng của họ tăng thêm 0.111 đơn vị và hiệu suất làm việc sẽ tăng 0.534 đơn vị. Điều này  
cho thấy rằng, nếu kinh nghiệm làm việc và kiến thức chuyên môn càng được nhân viên chia  
sẻ thì công việc càng đạt hiệu quả cao. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của  
Javadi, Zadeh, Zandi, và Yavarian (2012). Theo Javadi và cộng sự (2012), việc chia sẻ tri thức  
không những góp phần cải thiện mối quan hệ giữa nhân viên và quản lý mà còn làm tăng hiệu  
quả làm việc và tăng năng suất sản xuất. Bên cạnh đó, theo Bảng 3, giả thuyết “Cho, tặng tri  
thức có tác động tích cực đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên” có giá trị sig. cao nhất  
(gần bằng 0.05) và mức độ tác động lại yếu nhất bằng 0.111; chứng tỏ việc cho, tặng tri thức  
chỉ giải thích được gần 11 độ biến thiên của sự hài lòng trong công việc. Điều này phù hợp với  
thực tế vì không phải nhân viên nào cũng sẵn lòng chỉ dạy kinh nghiệm, kiến thức của mình  
cho đồng nghiệp. Chỉ những người có tính cách rộng mở, có thói quen và sở thích chia sẻ hoặc  
những người nhận thức được lợi ích của việc cho tặng tri thức thì mới cảm thấy vui vẻ, hài lòng  
khi chia sẻ với người khác.  
Tương tự, “Thu nhận tri thức - KC” cũng có tác động trực tiếp đến sự hài lòng trong  
công việc và hiệu suất làm việc với hệ số ước lượng (đã chuẩn hóa) lần lượt là 0.551và 0.380.  
Khi các điều kiện khác không đổi, nếu việc thu nhận tri thức tăng thêm 1 đơn vị sự hài lòng  
tăng thêm 0.551 đơn vị và hiệu suất công việc cũng tăng thêm 0.380 đơn vị. Thực tế cho thấy,  
nhiều cá nhân đồng ý gia nhập một tổ chức hay doanh nghiệp nào đó không đơn thuần chỉ vì  
mức lương được đề xuất mà chủ yếu là vì dự đoán về những kiến thức họ sẽ nhận được trong  
tương lai. Vì vậy, việc thu nhận tri thức ảnh hưởng mạnh đến sự hài lòng của họ. Kết quả này  
tương đồng với quan điểm của Trivellas và cộng sự (2015), nhóm tác giả giải thích rằng hành  
vi cho và nhận tri thức sẽ làm nhân viên hài lòng hơn với công việc vì nó sẽ giúp phát triển  
năng lực cá nhân như: nâng cao sự sáng tạo, mở rộng các mối quan hệ và tăng kỹ năng làm việc  
nhóm.  
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bên cạnh tác động trực tiếp thì “Cho, tặng tri thức  
- KD” và “Thu nhận tri thức - KC” còn có tác động gián tiếp đến hiệu suất làm việc của nhân  
14 Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
viên thông qua sự hài lòng của họ. Hệ số ước lượng về mức độ tác động này lần lượt là 0.0594  
và 0.2095. Theo chỉ số này, việc tiếp thu kiến thức từ đồng nghiệp là yếu tố quan trọng giúp  
nhân viên nâng cao hiệu quả làm việc. Vì vậy, để đạt được thành tích lao động tốt và có nhiều  
cơ hội thăng tiến, các cá nhân cần tích cực học hỏi, trau dồi cũng như trao đổi tri thức với người  
khác.  
Nghiên cứu này góp phần kiểm định mối quan hệ giữa chia sẻ tri thức, sự hài lòng trong  
công việc và hiệu suất làm việc của nhân viên. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp nhà quản trị các  
doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực du lịch có nhiều chính sách hiệu quả hơn nhằm thu  
hút và duy trì đội ngũ lao động giỏi; qua đó có thể giúp doanh nghiệp tăng lợi thế cạnh tranh và  
phát triển bền vững.  
6. Kết luận và hàm ý quản trị  
Theo kết quả nghiên cứu, sự hài lòng trong công việc và hiệu suất làm việc của nhân  
viên trong các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực du lịch bị ảnh hưởng bởi yếu tố chia sẻ tri  
thức. Nghĩa là việc cho, tặng và thu nhận tri thức sẽ giúp cho nhân viên cảm thấy hài lòng hơn  
với công việc và hiệu quả làm việc của họ cũng tăng lên. Vì là doanh nghiệp mới thành lập nên  
phần lớn các công ty khởi nghiệp đều đang trong quá trình hình thành văn hóa tổ chức và bước  
đầu xây dựng danh tiếng cũng như tạo dựng lòng tin với khách hàng; vì vậy, việc nhân viên  
trao đổi kinh nghiệm, kiến thức và hỗ trợ nhau giải quyết các vấn đề khó khăn là rất quan trọng.  
Do đó, để có thể tồn tại và phát triển bền vững thì nhà quản trị cần có nhiều chính sách hữu  
hiệu để nhân viên tích cực chia sẻ tri thức cho nhau.  
Thứ nhất, cần động viên nhân viên chia sẻ tri thức nhiều hơn bằng nhiều cách khác nhau  
như tạo điều kiện để nhân viên ở các phòng ban có cơ hội hợp tác, học hỏi thông qua việc luân  
chuyển vị trí, tổ chức các khóa học nâng cao kiến thức hay những cuộc thi về chuyên môn. Bên  
cạnh đó các nhà quản lý cần cung cấp nhiều thông tin phản hồi có giá trị để nhân viên có thể  
hoàn thiện kiến thức của mình, để họ cảm thấy việc chia sẻ tri thức là cần thiết.  
Thứ hai, những phần thưởng mong đợi luôn là những lợi ích dễ thấy thúc đẩy sự chia sẻ  
tri thức của mọi người. Vì vậy để nhân viên tích cực hơn trong việc chia sẻ tri thức thì các doanh  
nghiệp khởi nghiệp cần có nhiều hơn nữa các chính sách khen thưởng thích hợp để khuyến  
khích hành động này. Nhất là những phần thưởng dễ dàng nhìn thấy và cảm nhận được như  
tăng lương, thưởng theo quý, theo tháng hay theo kết quả công việc.  
Thứ ba, cần quan tâm nhiều đến yếu tố phát triển cá nhân. Ví dụ như thông báo cho  
người tham gia góp ý kiến rằng kiến thức của họ tạo nên sự khác biệt cho dự án, cho kế hoạch  
hay cho tổ chức. Bên cạnh đó cần loại bỏ rào cản sợ hãi không dám chia sẻ vì “mất mặt” bằng  
cách tạo ra bầu không khí làm việc khoan dung, thân thiện và cởi mở. Nhà quản trị nên luôn  
tạo điều kiện để nhân viên học hỏi từ những sai lầm, tham gia vào công cuộc đổi mới và cùng  
công ty vượt qua khó khăn.  
4 0.111 * 0.534 = 0.059274  
5 0.551 * 0.380 = 0.209380  
Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18 15  
7. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo  
Do tính chất công việc của đối tượng tham gia trả lời bảng câu hỏi khảo sát và nhiều  
người trả lời bảng câu hỏi khảo sát cho rằng không mang lại lợi ích gì cho họ hay tính bảo mật  
của kết quả khảo sát sẽ ảnh hưởng đến công việc nên có nhiều cá nhân miễn cưỡng trả lời những  
câu hỏi đặt ra. Điều này ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.  
Nghiên cứu này chỉ được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh, do đó khả năng tổng  
quát hóa chưa cao. Hiện tại ngành du lịch nước ta đang rất phát triển nên có rất nhiều doanh  
nghiệp khởi nghiệp ra đời; vì vậy cần thực hiện nghiên cứu ở nhiều tỉnh thành để có thể so sánh  
kết quả nghiên cứu từ đó làm tiền đề cho việc đề xuất các chính sách nhân sự hợp lý hơn.  
Tài liệu tham khảo  
Adams, J. S. (1963). Toward and understanding of inequity. Journal of Abnormal and Social,  
Psychology, 67(5), 422-436.  
Aksoy, Y., Ayranci, E., & Gozukara, E., (2016). A research on the relationship between  
knowledge sharing and employee performance: The moderating role of unethical  
behaviors in organizational level. European Scientific Journal, 12(4), 1857-7881.  
Alegre, J., Sengupta, K., & Lapiedra, R. (2013). Knowledge management and innovation  
performance in a high-tech SMEs industry. International Small Business Journal, 31(4),  
454-470.  
Bontis, N., Richards, D., & Serenko, A. (2011). Improving service delivery: Investigating the  
role of information sharing, job characteristics, and employee satisfaction. The Learning  
Organization, 18(3), 239-250.  
Business Link. (2009). Importance of knowledge to a growing business. Retrieved May 10,  
Chính phủ. (2009). Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ: Về trợ giúp phát triển doanh  
nghiệp nhỏ và vừa [Decree No. 56/2009 / ND-CP of the Government: On assistance to  
the development of small and medium enterprises]. Retrieved May 14, 2017, from  
=detail&document_id=88612  
Chiu, C., Hsu, M., & Wang, E. (2006). Understanding knowledge sharing in virtual  
communities: An integration of social capital and social cognitive theories. Decision  
Support Systems, 42(3), 1872-1888. doi:10.1016/j.dss.2006.04.001  
Chow, W. S., & Chan, L. S. (2008). Social network, social trust and shared goals in  
organizational knowledge sharing. Information and Management, 45(7), 458-465.  
doi:10.1016/ j.im.2008.06.007  
Dalkir, K. (2007). Knowledge management in theory and practice. Burlington, MA: Elsevier  
Butterworth- Heinemann.  
16 Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
Doanh nhân Sài Gòn. (2017). 80% startup Việt đều gặp 4 khó khăn này [80% of Vietnamese  
startups have these  
4
difficulties]. Retrieved May 11, 2017, from  
du Plessis, M. (2007). The role of knowledge management in innovation. Journal of Knowledge  
Management, 11(4), 20-29. doi:10.1108/13673270710762684  
Gao, F., Li, M., & Clarke, S. (2008). Knowledge, management, and knowledge management in  
business operations. Journal of Knowledge Management, 12(2), 3-17.  
Gerbing, D. W., & Anderson, J. C. (1988). An updated paradigm for scale development  
incorporating undimensional and its assessment. Journal of Marketing Research, 25(2),  
186-192.  
Hall, D. T., & Goodale, J. G. (1986). Human resource management: Strategy, design and  
implement. Northbrook, Il: Scott, Foresmen Company.  
Henttonen, K., Kianto, A., & Ritala, P. (2016). Knowledge sharing and individual work  
performance: An empirical study of a public sector organisation. Journal of Knowledge  
Management, 20(4), 749-768, doi:10.1108/JKM-10-2015-0414.  
Hoang Trong, & Chu, N. M. N. (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1 và 2  
[Analyze study data with SPSS volumes 1 and 2]. Ho Chi Minh, Vietnam: Nhà xuất bản  
Hồng Đức.  
Hooff, B. V. D., & Ridder, J. A. D. (2004). Knowledge sharing in context: The influence of  
organizational commitment, communication climate and CMC usage on knowledge  
sharing. Journal of Knowledge Management, 8(6), 117-30.  
Hoppock, R. (1935). Job satisfaction. New York, NY: Harper and Row.  
Javadi, M. H. M., Zadeh, N. D., Zandi, M., & Yavarian, J. (2012). Effect of motivation and  
trust on knowledge sharing and effect of knowledge sharing on employee’s performance.  
International Journal of Human Resource Studies, 2(1), 210-221.  
Lance, V. (2016). Top 20 reasons why startups fail [Infographic]. Retrieved May 12, 2017,  
from  
startups-fail-infographic/?sh=479bed583911  
Liao, C., To, P. -L., & Hsu, F. -C. (2013). Exploring knowledge sharing in virtual communities.  
Online Information Review, 37(6), 891-909.  
Lin, H. F. (2007). Effects of extrinsic and intrinsic motivation on employee knowledge sharing  
intentions. Journal of Information Science, 33(2), 135-149.  
Madden, T. J., Ellen, P. S., & Ajzen, I. (1992). A comparison of the theory of planned behavior  
and the theory of reasoned action. Personality and Social Psychology Bulletin, 18(1), 3-  
9. doi:10.1177/0146167292181001  
Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18 17  
Masydzulhak, Ali, H., & Anggraeni, L. D. (2016). The influence of work motivation and job  
satisfaction on employee performance and organizational commitment satisfaction as an  
intervening variable in PT. Asian Isuzu casting center. Journal of Research in Business  
and Management, 4(10), 1-10.  
Nguyen, D. K. (2009). Giáo trình thực hành mô hình cấu trúc tuyến tính SEM với phần mềm  
AMOS [Curriculum for practicing SEM linear structure model with AMOS software].  
hanh-mo-hinh-cau-truc-tuyen-tinh-sem-voi-phan-mem-amos-phan-1-42118/  
Nguyen, T. D. (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh [Scientific research  
method in business]. Hanoi, Vietnam: NXB Lao động - Xã hội.  
Nguyen, T. D., & Nguyen, T. M. T. (2011). Nghiên cứu khoa học marketing - Ứng dụng mô  
hình cấu trúc tuyến tính SEM [Marketing science research - Applying SEM linear  
structure model]. Hanoi, Vietnam: NXB Lao động.  
Nonaka, I., von Krogh, G., & Voelpel, S. C. (2006). Organizational knowledge creation theory:  
Evolutionary paths and future advances. Organization Studies, 27(8), 1179-1208.  
doi:10.1177/0170840606066312  
Nooshinfard, F., & Nemati-Anaraki, L. N. (2014). Success factors of inter-organizational  
knowledge sharing: A proposed framework. The Electronic Library, 32(2), 239-261.  
Ollo-López, A., Bayo-Moriones, A., & Larraza-Kintana, M. (2016). Disentangling the  
relationship between high-involvement-work-systems and job satisfaction. Employee  
Relations, 38(4), 620-642, doi:10.1108/ER-04-2015-0071  
Orces, S. O. S. F., & Kim, Y. (2005). Behavioral intention formation in knowledge sharing:  
Examining the role of extrinsic motivators, social-psychological forces, and  
organizational climate knowledge sharing: Examining the roles of extrinsic motivators.  
MIS Quartely, 29(1), 87-111. doi:10.2307/25148669  
Oyemomi, O., Liu, S., Neaga, I., & Alkhuraiji, A. (2016). How knowledge sharing and business  
process contribute to organizational performance: Using the fsQCA approach. Journal of  
Business Research, 69(11), 5222-5227. doi:10.1016/j.jbusres.2016.04.116  
Porter, L. W., & Lawler, E. E. III (1968). What job attitudes tell about motivation. Harvard  
Business Review, 46(1), 118-126. doi:10.1108/EL-02-2012-0023.  
Saeed, M. S. (2016). The impact of job satisfaction and knowledge sharing on employee  
performance. Journal of Resources Development and Management, 21, 16-23.  
Schermerhorn, J. R. (1989). Management for productivity. New York, NY: John Wiley & Sons.  
Suliman, A., & Hosani, A. A. A. (2014). Job satisfaction and knowledge sharing: The case of  
the UAE. Business Management and Economics, 2(2), 24-33.  
Tam Mai (2017). Nguyên nhân thật sự khiến khởi nghiệp thất bại [The real cause of startup  
nhan-that-su-khien-khoi-nghiep-that-bai-1076997.html  
18 Nguyễn H. Nghị, Mai T. An. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 3-18  
Teh, P. L., & Sun, H. (2012). Knowledge sharing, job attitudes and organisational citizenship  
behaviour. Industrial Management & Data System, 112(1), 64-82.  
Trivellas, P., Akrivouli, Z., Tsifora, E., & Tsoutsa, P. (2015). The impact of knowledge sharing  
culture on job satisfaction in accounting firms. The mediating effect of general  
competencies. Rocedia Economics and Finance, 19, 238-247.  
Weiss, H. M. (2002). Deconstructing job satisfaction: Separating evaluations, beliefs, and  
affective experiences. Human Resource Management Review, 12(2), 173-194.  
pdf 16 trang Thùy Anh 15080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa chia sẻ tri thức, sự hài lòng trong công việc và hiệu suất làm việc: Trường hợp các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_chia_se_tri_thuc_su_hai_long_trong_cong_vie.pdf