Cộng đồng người Hoa ven biển miền Trung trong giao lưu văn hóa, hội nhập và phát triển
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ:
11
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, TẬP 2, SỐ 4, 2018
Cộng đồng người Hoa ven biển miền Trung
trong giao lưu văn hóa, hội nhập và phát triển
Đào Vĩnh Hợp, Võ Thị Ánh Tuyết
Tóm tắt—Trong bối cảnh người Hoa đến các
nước trong vùng Đông Nam Á, Đàng Trong của
quốc gia Đại Việt đã trở thành điểm dừng chân của
nhiều đoàn di dân Trung Hoa. Nhờ vị trí địa lý tự
nhiên giáp biển, cộng với những điều kiện thuận lợi
trong và ngoài nước, vào các thế kỷ XVI–XIX, các
thương nhân và di dân Trung Hoa đã có mặt tại các
tỉnh ven biển miền Trung (đặc biệt là tại địa phận
khu vực ngày nay thuộc các tỉnh Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên). Khi định cư
tại các nước Đông Nam Á, cũng như miền Trung
Việt Nam, bên cạnh việc bảo lưu các yếu tố truyền
thống nhằm kiến tạo những thành tựu kinh tế, văn
hóa tại vùng đất mới, cộng đồng người Hoa đã sớm
hoà nhập vào khối cộng đồng dân cư bản địa, chủ
động giao lưu văn hóa, hội nhập và phát triển. Bài
viết tìm hiểu sự giao lưu văn hóa, hội nhập và phát
triển của cộng đồng người Hoa ở ven biển miền
Trung trong lịch sử và hiện tại. Từ đó cho thấy sự
đóng góp của cộng đồng cư dân này trong lĩnh vực
văn hoá, kinh tế, xã hội nhằm góp phần xây dựng
đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Ngãi, Bình Định, Phú Yên đã thành nên các phố
cảng nổi tiếng như: Hội An (Quảng Nam), Thu
Xà (Quảng Ngãi), Nước Mặn (Bình Định), Vũng
Lấm, Mỹ Á (Phú Yên) ... Trong thời kỳ thịnh đạt
nhất, các phố cảng này giữ vị trí quan trọng đối
với hoạt động kinh tế trong nước và quốc tế. Bấy
giờ tại đây, thương thuyền các nước đã vào ra cập
bến đến buôn bán.
Nhờ chính sách cai trị nhu viễn của các Chúa
Nguyễn ở Đàng Trong, cộng với những biến động
từ đất nước Trung Hoa, thương nhân Hoa tới khu
vực các tỉnh miền Trung ngày một đông.
Khi Hội An trở thành một đô thị – thương cảng
phồn thịnh, trung tâm mậu dịch lớn nhất của Đàng
Trong và cả nước Đại Việt, là một trong những
thương cảng sầm uất của vùng biển Đông Nam Á
trong các thế kỷ XVI – XVIII, thương thuyền
Trung Hoa đã có mặt. Giai đoạn trước thế kỷ
XVII, người Hoa chỉ dừng chân mua bán chứ
không lưu trú, nhưng giai đoạn sau thế kỷ XVII,
người Hoa dần dần thế chân người Nhật nắm
quyền buôn bán, xây nhà, lập phố ở Hội An. Cộng
người Hoa, miền Trung, giao lưu, hội
Từ khóa—
nhập, phát triển.
“Phố Khách”
đồng người Hoa đã lập phố
(
“Đường nhân phố” hay “Phố Tàu”) riêng bên
“Phố Nhật” của người Nhật
cạnh
. Việc buôn bán
của các thương nhân người Hoa ở Hội An rất phát
đạt và thuận lợi, do đó các Chúa Nguyễn phải đặt
ở đây một cơ quan gọi là “Tàu vụ ty” để kiểm soát
ngoại thương, thu thuế thương thuyền, cứu giúp
những thuyền ngoại quốc bị bão trôi giạt đến và
giao phó cho người Trung Quốc và người Minh
Hương giữ các chức quan trong Tàu vụ ty này
([8], tr. 538-539).
Tại Quảng Ngãi, có thể nói Thu Xà là địa điểm
quy tụ nhiều người Hoa nhất vào cuối thế kỷ
XVII. Tác giả Đoàn Ngọc Khôi căn cứ vào nội
dung tờ thị: “thị tỉ phong chức của chúa Nguyễn
Phúc Chu cho Trần Công Vinh, giao cho ông này
nhiều việc, trong đó có việc quản lý trông coi dân
chánh hộ trong các huyện, tổng, xã, thôn, phường
thuộc bản phủ cùng thương nhân người Hoa” viết
năm Chính Hòa thứ 12 (1691) để suy đoán người
1 KHÁI LƯỢC VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA
Ở VEN BIỂN MIỀN TRUNG
1.1 Lược sử cộng đồng người Hoa đến vùng đất
miền Trung
Miền Trung Việt Nam là vùng đất có điều kiện
địa lý, tự nhiên thuận lợi, có bề dày lịch sử, văn
hóa lâu đời. Ở vào các thế kỷ XVI – XIX, nhờ có
các yếu tố trong và ngoài nước, khu vực Trung
Bộ, nhất là tại bốn các tỉnh Quảng Nam, Quảng
Ngày nhận bản thảo: 15-12-2017; Ngày chấp nhận đăng:
06-02-2018; Ngày đăng: 31-12-2018.
Đào Vĩnh Hợp, Trường Đại học Sài Gòn
(Email: [email protected]om)
Võ Thị Ánh Tuyết, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, ĐHQG-HCM
(email: vothianhtuyet@hcmussh.edu.vn)
12
SCIENCE AND TECHNOLOGY DEVELOPMENT JOURNAL-
SOCIAL SCIENCES & HUMANITIES, VOL 2, ISSUE 4, 2018
Minh Hương tụ cư khá đông ở Thu Xà trước năm nét. Sự xuất hiện và hoạt động kinh tế thương mại
1691 ([7], tr. 32). Tuy nhiên, thương cảng Thu Xà của người Hoa tại bến cảng Quy Nhơn đã góp
hình thành và phát triển muộn hơn: các thế kỷ phần làm cho đô thị Quy Nhơn trở thành nơi có
XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX ([7], tr. 26, tr. 31). hoạt động mậu dịch đối ngoại đặt biệt là buôn bán
Vào giai đoạn thịnh vượng của Thu Xà, người với Trung Quốc thật năng động ([2], tr. 153). Bấy
Hoa phát triển đông và có thế lực mạnh nên đã giờ, tại Quy Nhơn người Hoa đã lập nên rất nhiều
xây dựng nhiều kiến trúc của cộng đồng hội quán, bao gồm: Hải Nam (Quỳnh Phủ) hội
(hình 1 – 2).
quán, Triều Châu hội quán, Quảng Đông hội
quán, Phúc Kiến hội quán và Ngũ bang hội quán.
Còn riêng đối với vùng biển Phú Yên, các tàu
buồm người Hoa cũng đã cập bến và định cư ở thị
xã Tuy Hòa cùng hầu hết các thị trấn, thị tứ và
những vùng đông dân cư, đặc biệt là tại các địa
phương ven biển như Tuy An, Sông Cầu... Theo
thống kê của tòa hành chánh tỉnh Phú Yên, năm
1964, Phú Yên có 332.401 người, trong đó có
11.058 người Thượng1 và 1.288 người gốc Hoa
kiều ([5], tr. 77-78). Hiện nay, Phú Yên còn hiện
diện nhiều di sản của người Hoa, trong số đó có
các miếu, hội quán thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu,
Quan Thánh ở thị xã Sông Cầu hay ngay tại thành
phố Tuy Hòa (hình 3).
Hình 1. Hội quán Hải Nam (Quảng Ngãi)
(Nguồn: Đào Vĩnh Hợp, Võ Thị Ánh Tuyết, 2016)
Hình 3. Quan Thánh Đế miếu – Trung Hoa hội quán
(số 04 Chu Mạnh Trinh, Phường 1, TP. Tuy Hòa, Phú Yên),
hiện là trụ sở sinh hoạt của Hội người Hoa,
TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Hình 2. Gian thờ Thiên Hậu tại chính điện
hội quán Triều Châu (Quảng Ngãi)
(Nguồn: Đào Vĩnh Hợp, Võ Thị Ánh Tuyết, 2016)
(Nguồn: Đào Vĩnh Hợp, Võ Thị Ánh Tuyết, 2016)
Khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX,
người Hoa đã có mặt đông đúc tại vùng đất thuộc
Bình Định, Phú Yên ngày nay. Tại đây, người
Hoa đến lập các Minh Hương phố buôn bán nhộn
nhịp và tạo lập nhiều công trình kiến trúc có giá
trị. Thực chất từ thời kỳ phát triển của cảng thị
Nước Mặn trong thế kỷ XVII, người Hoa đã có
mặt tại khu vực Bình Định. Tuy nhiên vào đầu thế
kỷ XIX, khi Quy Nhơn phát triển thành đô thị
thương nghiệp lớn của cả nước dưới triều
Nguyễn, đồng thời cũng là trung tâm, thương mại
lớn của các tỉnh miền Trung, là đô thị cảng bao
gồm thương cảng và quân cảng quan trọng của đất
nước, thì dấu ấn của người Hoa ở đây mới đậm
1.2 Về các di sản của cộng đồng người Hoa tại
miền Trung
1.2.1Các nếp văn hóa ăn, mặc, ở, quan hệ hôn
nhân, sinh đẻ, tang ma:
Các gia đình người Hoa ở miền Trung cũng có
những thói quen, tập quán ẩm thực riêng. Đặc biệt
như trong cách chế biến các món ăn, giờ giấc và
cách sử dụng đồ dùng ăn uống. Ngoài cơ cấu bữa
ăn hàng ngày giống người Việt, vào những dịp lễ
1
"Người Thượng" là danh từ gọi chung những nhóm sắc
tộc bản địa sinh sống trên cao nguyên miền Trung Việt Nam,
như Ba Na, Jarai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông...
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ:
13
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, TẬP 2, SỐ 4, 2018
tết, các gia đình người Hoa thường quây quần bên đặc biệt chú trọng đến thuật phong thủy trong việc
nhau, chế biến các món ăn đặc trưng mang nguồn chọn hướng đất, hướng nhà và xây dựng nhà cửa
gốc Trung Hoa.
cũng như các công trình kiến trúc khác.
Người Hoa trong lịch sử đã sử dụng các trang
Các công trình kiến trúc cổ, đặc biệt là nhà ở
phục truyền thống gắn với quê hương của họ. của người Hoa có cách trang trí, bày biện hết sức
Ngày nay, cách ăn mặc của người Hoa có phần đặc biệt: có mái lợp ngói âm dương, kết cấu chịu
giống người Việt, tuy nhiên họ vẫn thích sử dụng lực của ngôi nhà chủ yếu bằng khung gỗ với kèo,
loại áo nhiều lớp và hoa văn sặc sỡ. Người Hoa cột, trính xuyên, kiến trúc chính được chia thành
vốn có quan niệm và hình thức sinh đẻ, tang ma,
ba gian, các đề tài trang trí thường là thiên nhiên,
cưới hỏi… riêng theo kiểu Trung Hoa (kiểu Tàu), hoa lá, cỏ cây, các hình tượng con vật “tứ linh”,
nên trong các gia đình người Hoa ở miền Trung, bảo vật, “bát bửu”… với thủ pháp chạm khắc độc
việc cưới xin thường theo Chu công Lục lễ với đáo. Các di tích có gắn “mắt cửa” và dải lụa đỏ,
những lễ nghi có phần trang trọng hơn người Việt, nội thất treo hoành phi, câu đối… Bên cạnh các
nhất là tục xem giờ, xem tuổi. Trước đây, người công trình kiến trúc cổ, các làng nghề truyền
Hoa có quy định nghiêm khắc, họ chỉ cho con trai thống, một trong những thiết chế tín ngưỡng và
lấy vợ Việt nhưng không cho con gái lấy chồng sinh hoạt cộng đồng quan trọng của người Hoa
Việt, trừ một số trường hợp rất đặc biệt. Tuy các miếu, hội quán. Tại các trung tâm tụ cư của
nhiên, hiện nay, quy định này đã ít ngặt nghèo người Hoa, buổi ban đầu, Hoa thương thường lập
hơn trước. Trong nghi lễ tang ma, người Hoa theo chùa Ông (đền Quan Công) cùng với chùa Bà
Văn công gia lễ và Thọ mai gia lễ. Đồng thời, (Thiên Hậu cung) để làm cơ sở tín ngưỡng chung
việc sinh đẻ, người Hoa có những tập tục, lễ nghi của cộng đồng. Các miếu Hoa chính là các cơ sở
riêng, trong đó họ rất đề cao vai trò của ba Bà tín ngưỡng văn hóa dân gian, tổng hợp các tín
Chúa Thai Sanh và 12 bà Mụ ([10], tr. 159).
ngưỡng Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo. Đây là
nơi bảo lưu những giá trị về kiến trúc truyền
thống và văn hóa tín ngưỡng của người Hoa ven
biển miền Trung nói chung cùng các nhóm người
Hoa nói riêng.
1.2.2 Hoạt động tín ngưỡng, lễ hội của các gia
đình, dòng họ và cộng đồng:
Trong phạm vi gia đình, dòng họ, các gia đình
người Hoa đều dành những vị trí trang nghiêm
nhất, trên các khám thờ, trang thờ, am thờ, bàn
thờ… để thờ cúng ông bà tổ tiên, gia tộc, thờ cúng
các vị thần phù hộ (thần bếp, thổ địa, thần tài...).
Họ tổ chức các ngày giỗ kỵ ông bà; cúng rằm,
mồng một hàng tháng và nhiều lễ tết quan trọng.
Rộng hơn trong phạm vi cộng đồng, người Hoa
thờ cúng các vị thánh thần của cộng đồng (Quan
Công, Thiên Hậu, Ông Bổn...). Nhìn chung, người
Hoa có một số lễ tết quan trọng như: Tết Nguyên
đán, Tết Nguyên tiêu (ngày 15 – 1 âm lịch còn gọi
là rằm tháng giêng), Tết Thanh minh (khoảng
giữa tháng 3 âm lịch hằng năm), Tết Đoan ngọ
(ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch), Tết Trung thu
(rằm tháng 8 âm lịch), Tết đông chí (khoảng giữa
tháng 12 âm lịch)...
2 HỘI NHẬP VÀ GIAO LƯU VĂN HÓA CỦA
NGƯỜI HOA Ở VEN BIỂN MIỀN TRUNG QUA
CÁC DI SẢN CỦA CỘNG ĐỒNG
Người Hoa đến Việt Nam nói chung vốn có
nguồn gốc từ các địa phương ven biển phía Nam
và Đông Nam của Trung Quốc, khi định cư, sinh
sống tại khu vực miền Trung Việt Nam, phần
đông người Hoa lại tiếp tục định cư lập nghiệp ở
các địa phương ven biển, do đó văn hóa dân tộc
Hoa nhanh chóng hòa nhập, giao thoa và gắn liền
với nền văn hóa bản địa. Điều này thể hiện qua
các lĩnh vực sau:
2.1 Giao lưu văn hoá và hội nhập qua các cơ sở
tín ngưỡng của cộng đồng
1.2.3 Các di sản kiến trúc:
Khi đến định cư tại vùng đất mới ven biển miền
Trung, cuộc sống dần ổn định và kinh tế phát
triển, người Hoa đã xây dựng các thiết chế kinh
tế, văn hóa, xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu tín
ngưỡng, ổn định và phát triển cuộc sống, giữ gìn
bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp, đồng thời
hòa nhập với cộng đồng cư dân bản địa. Tại các
cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng, sự giao lưu và
Khi định cư tại miền Trung Việt Nam, người
Hoa đã xây dựng các công trình kiến trúc như
miếu, hội quán, nhà ở, cửa hàng, chợ, trường học,
bệnh viện, ngân hàng, chùa miếu, nghĩa trang…
Các kiến trúc cổ này được xây dựng theo nguyên
tắc kiến trúc truyền thống Trung Hoa. Người Hoa
14
SCIENCE AND TECHNOLOGY DEVELOPMENT JOURNAL-
SOCIAL SCIENCES & HUMANITIES, VOL 2, ISSUE 4, 2018
hội nhập văn hóa được thể hiện dưới nhiều góc tồn tại đến ngày nay đều do đưa từ Trung Quốc
độ: kiến trúc, trang trí; đối tượng được thờ cúng; sang. Tuy nhiên, ngay từ lúc mới xây dựng cũng
bộ sưu tập di vật; phong tục tập quán, lễ hội, tín đã có không ít những sản phẩm do thợ người Việt
ngưỡng của người dân xưa và nay... Đây là mối tạo tác. Qua thời gian các di tích đã thực hiện
quan hệ hai chiều: các yếu tố văn hóa Việt đã nhiều đợt trùng tu lớn, người Hoa đã sử dụng
được thể hiện tại các di tích dưới nhiều góc độ. thêm các nguyên vật liệu, kỹ thuật tại địa phương
Ngược lại, những dấu ấn văn hóa Trung Hoa cũng để tu bổ, gia cố. Đó là các nguyên vật liệu của các
ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của người Việt ở làng nghề địa phương như: tại Hội An là các làng
miền Trung.
mộc Kim Bồng, làng đá Non Nước, làng gạch
ngói và gốm Thanh Hà; hay các làng gốm Vân
Sơn, đúc đồng Bằng Châu ở Đập Đá (An Nhơn,
Bình Định)... Bấy giờ, những nhóm thợ tại các
tỉnh đã góp phần quan trọng cho xây dựng, trùng
tu di tích. Theo thời gian, hiện nay nhiều công
trình kiến trúc cổ của người Hoa đã được sửa sang
và chịu ảnh hưởng lớn từ phong cách Việt. Các
cổng chính của các miếu, hội quán đã được xây
lại theo kiểu tam quan thể hiện ảnh hưởng của các
tam quan trong kiến trúc chùa Việt. Trang trí đầu
mái đao di tích theo kiểu cong hình hồi long và
các đề tài rồng, lân, mây, hoa... cũng thể hiện sự
ảnh hưởng văn hóa Việt. Đây chính là hình thức
phổ biến trong trang trí mái đao đình chùa Việt.
Sân thiên tỉnh – khoảng sân trống nằm giữa
lòng kiến trúc khép kín của các miếu, hội quán
vốn là đặc điểm của nhiều chùa, miếu Hoa, nhằm
giúp di tích có đủ diện tích thoáng rộng để thông
gió, đón nhận khí trời, lấy được ánh sáng tự nhiên
đầy đủ cho khu vực thờ cúng, thoát khói hương và
thoát nước. Ở miền Trung, hầu hết các hội quán
đều có sân thiên tỉnh được đặt trước chính điện
theo truyền thống Trung Hoa. Nhưng bên cạnh
đó, cũng có trường hợp di tích có cả hai sân thiên
tỉnh đặt trước và sau chính điện như ở hội quán
Phúc kiến (Hội An – Quảng Nam). Việc xây dựng
sân thiên tỉnh sau chính điện thể hiện ảnh hưởng
văn hoá Việt (hình 4).
2.1.1Qua kết cấu kiến trúc và trang trí nội thất
Kế thừa và tuân thủ theo truyền thống Trung
Hoa, khi đến miền Trung, người Hoa cũng đã xây
dựng các công trình kiến trúc, đặc biệt là các cơ
sở văn hóa tín ngưỡng cộng đồng theo nguyên tắc
kiến trúc Trung Hoa. Các di tích đều được xây
dựng dựa theo quan niệm vũ trụ âm dương, thẩm
mỹ, chủ trương đối xứng vững vàng và chỉnh tề
nghiêm ngặt. Bố cục mặt bằng tổng thể kiến trúc,
tiêu biểu như các miếu, hội quán theo hình chữ
“Khẩu 口” hay chữ “Quốc 國”, "nội công 工,
ngoại quốc 國" (trong hình chữ công ngoài hình
chữ quốc) hay cũng có thể được gọi là hình cái ấn.
Trên cùng một trục chủ đạo Bắc – Nam, các đơn
nguyên kiến trúc được sắp thành 3 trục nhỏ: trục
chính ở giữa và hai trục phụ hai bên đối xứng qua
trục chính, gồm: cổng tam quan, tiếp đến là sân
trước, tiền điện, sân, chính điện, hai bên các điện
thờ nằm ngang là hai dãy nhà đông tây nằm dọc,
nối từ trước ra sau, giữa các tòa nhà tạo thành một
khoảng không gian trống gọi là "sân thiên tỉnh".
Các nếp nhà trong từng di tích hình chữ nhật hay
vuông. Kiến trúc ở trục giữa là nơi tôn nghiêm
dành cho các hoạt động tín ngưỡng. Khu vực phía
sau cùng là vườn cây. Trong các sân có trồng cây
xanh, hồ nước. Các di tích thường quay mặt về
hướng nam hay đông nam. Việc chọn hướng nam
và thế đất cao thể hiện ảnh hưởng sâu sắc của văn
hóa Trung Hoa nhằm đề cao thần linh và khả năng
chi phối của họ ([9], tr. 152). Bên cạnh đó, kiến
trúc và trang trí của các công trình cũng thể hiện
ảnh hưởng của văn hóa Việt.
Bên cạnh đó, có thể thấy, cũng giống như nhiều
cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo khác của người Hoa
được xây dựng trên đất nước ta, buổi ban đầu, các
nguyên vật liệu, hiện vật cổ của hầu hết các hội
quan đều được đưa từ Trung Quốc sang như các
cột gỗ, cột đá to, tượng thờ, các hiện vật... Bộ
khung đỡ mái gồm kiến trúc gồm: rui, đòn đông,
đòn tay, bộ vì... được làm bằng các loại gỗ tốt như
mít, lim, kiền kiền… Các cấu kiện gỗ lớn và còn
Hình 4. Cổng chính hội quán Phúc Kiến
(Hội An-Quảng Nam)
(Nguồn: Đào Vĩnh Hợp, Võ Thị Ánh Tuyết, 2016)
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ:
15
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, TẬP 2, SỐ 4, 2018
Theo truyền thống Trung Hoa, hệ khung gỗ của
các kiến trúc này thường được khắc chạm cầu kỳ
và sơn các màu khác tương phản và sặc sỡ, đặc
biệt là những cột đá lớn được chạm khắc công
phu. Tuy nhiên, các hội quán miền Trung đa số lại
được xây theo kiểu nhà rường truyền thống của
khu vực, sử dụng đa dạng các bộ vì khác nhau: vì
trính chồng trụ đội, vì chồng rường giả thủ, vì
chồng rường, vì vỏ cua, vì kèo... Thay vì dựng các
cột gỗ được sơn son thếp vàng, khắc chạm liễn
đối lên trên và sơn các màu sắc sặc sỡ theo văn
hóa truyền thống Trung Hoa, một số cấu kiện kiến
trúc của các di tích ở miền Trung đã được để mộc
hay chỉ sơn màu đen của gỗ. Cột gỗ thường chỉ
sơn đen, nâu đen hay đỏ và không khắc chạm liễn
đối lên trên thân cột mà treo bên ngoài. Các hội
quán đã sử dụng các cột có chân đá tán hay chân
đá tảng, tức cột không chôn xuống mặt đất mà
được đặt trực tiếp lên bệ đá nhỏ. Các cột này rất
giống với kiến trúc các ngôi đình của người Việt.
Yếu tố văn hóa Việt cũng được thể hiện trong
trang trí. Chúng ta thường bắt gặp các đề tài chạm
khắc những con vật, các loại cây trái gần gũi với
người dân Việt ở ven biển miền Trung tại các di
tích. Đó là các đề tài chim, cua, cá... hay trái cây
dân dã gồm quất, mãng cầu, dây bầu, dây bí…
vốn gần gũi và thể hiện cuộc sống của người dân
địa phương ven biển.
miếu Quan Thánh (Chùa Ông)
(Hội An –
Triệu,
Quảng Nam) đã thờ thêm Bạch mã đối xứng với
Việc chọn thờ hai con ngựa này trong
Xích thố.
chính điện nhằm tôn thêm không khí linh thiêng,
thể hiện sự cân đối, hài hòa và tư duy sáng tạo của
người dân địa phương và
đã trở thành nét độc đáo
cho các miếu, hội quán.
Các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa thường
thờ bộ ngũ sự, tức 5 món đồ thờ gồm: một lư
trầm, hai đồ cắm đèn cầy, hai bình cắm hoa (hay
một dĩa đựng trái cây và một bình cắm hoa). Tuy
nhiên, các miếu, hội quán miền Trung thường thờ
bộ tam sự bên cạnh bộ ngũ sự hay thay thế hẳn bộ
ngũ sự. Bộ tam sự gồm 3 món đồ thờ: một lư trầm
hoặc lư hương ở giữa; hai bên là giá cắm đèn cầy.
Việc thờ bộ tam sự thể hiện sự ảnh hưởng của các
cơ sở thờ tự của người Việt. Một số di tích còn
thờ cặp qui – hạc (hạc đứng trên rùa) vốn là hiện
vật phổ biến trong các ngôi đình của người Việt.
2.2 Giao lưu văn hoá và hội nhập qua các phong
tục tập quán, hoạt động tín ngưỡng và lễ
hội của cộng đồng
2.2.1Qua hệ thống các vị thần được thờ cúng
Trên hành trình nguy nan, nhiều sóng gió vượt
qua được mọi trở ngại để đến vùng đất mới mưu
sinh và an cư lạc nghiệp, người Hoa tin tưởng vào
sự linh nhiệm chở che của các thế thực siêu nhiên
với mong muốn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc
nơi "đất khách quê người". Vốn mang sẵn truyền
thống tín ngưỡng tại quê hương cũ và tâm trạng
bất an, lo sợ trong buổi đầu nên đối với người
Hoa, nhu cầu tín ngưỡng trở nên cấp thiết. Họ đã
thành kính tôn thờ nhiều vị thánh nhân và thần
linh khác nhau, đặc biệt là Bà Thiên Hậu ngay
trong nhà hay các cơ sở tín ngưỡng của cộng
đồng.
Người Hoa ở ven biển miền Trung có đối tượng
thờ cúng khá phong phú, đa đạng gồm nhiều thể
loại như: nhân thần (Quan Công, Thiên Hậu, 108
vị anh linh, Lục Tánh, Mã Viện...), thần bảo
sanh (Ba Bà Chúa Thai Sanh cùng 12 Bà mụ,
Quan Âm… (hình 5)); thần kiết tường (Phúc, Lộc,
Thọ; Thần tài…), thần động vật (Hổ, Ngựa…)...
Việc thờ tự kết hợp nhiều đối tượng khác nhau
ngoài các vị thần chính như Thiên Hậu, Quan
Thánh, 108 vị anh linh tại các hội quán đã cho
thấy sự đa dạng trong đời sống tâm linh của người
Hoa khi đến định cư ở vùng đất mới và sự ảnh
hưởng của văn hóa Việt. Với mong muốn cho
cuộc sống hàng ngày được bình an, mua may bán
2.1.2Qua các bộ sưu tập di vật
Trừ một số ít các tượng thờ có niên đại sớm
được đưa từ Trung Hoa sang, hầu hết các tượng
thờ còn ở các di tích kiến trúc Hoa đã được các
nghệ nhân địa phương dân gian hóa, tạo nên sự
gần gũi gắn bó giữa Thần và người, nên khi bước
chân vào di tích, ta không thấy sợ sệt mà thấy thỏa
mái như có sự đồng cảm, giao hòa, che chở từ các
vị thần. Các tượng có niên đại muộn do các nghệ
nhân địa phương tạo tác bằng nguồn nguyên liệu
sẵn có trong vùng như các loại gỗ (gỗ mít), đá,
gốm, xi măng... đã cho thấy nét đặc trưng, tài
năng và sự sáng tạo trong nghệ thuật điêu khắc
tượng thờ của các nghệ nhân địa phương người
Việt. Hơn nữa, việc bài trí các tượng thờ cũng thể
hiện ảnh hưởng yếu tố Việt và sáng tạo của các
nghệ nhân bản địa. Xích Thố được xem như một
trong những Thần Mã của lịch sử Trung Quốc,
vốn
là con ngựa của Quan Công và nổi tiếng trong
. Việc thờ
Tam Quốc
Xích Thố tại các miếu của
đã thể hiện sự trung thành của con
người Hoa
người và thường chỉ thờ một con. Tuy nhiên,
ở hai
bên tả hữu chính điện miếu, hội quán Quảng
16
SCIENCE AND TECHNOLOGY DEVELOPMENT JOURNAL-
SOCIAL SCIENCES & HUMANITIES, VOL 2, ISSUE 4, 2018
đắt, người Hoa đã chủ động thờ thêm các vị thần Nam (Tuy Hòa), ngôi miếu Hải Nam mới xây
như Ông Bổn, Phúc Đức Chính Thần, Thần Tài dựng ở Tuy Hòa cũng thờ 108 người Hoa. Ở Hội
(Tài Bạch Tinh Quân)... là những vị thần có An – Quảng Nam, hội quán Trung Hoa của ngũ
nhiệm vụ phù hộ giàu sang, phú quý cho những bang thờ bài vị 108 vị anh linh người Hoa này.
người kinh doanh buôn bán. Cư dân miền Trung Những di tích thờ cúng 108 vị anh linh người Hoa
nói chung và những người Hoa hoạt động thương trở thành những ngôi chùa giải oan của người dân,
nghiệp đều lập khám thờ Thần Tài. Hầu hết các cơ người dân địa phương thường tìm đến với ý niệm
sở tín ngưỡng của người Hoa đều thờ Thần Tài cầu xin cởi giải oan khuất.
với các tên gọi kèm theo thể hiện là một bảng gỗ
ghi chữ bằng tiếng Việt: “Thần tài công” hay Tài
Thần công. Bên cạnh các vị thần kể trên, người
2.2.2Qua hoạt động tín ngưỡng và lễ hội của cộng
đồng xưa và nay
rong bối cảnh tương đồng về văn hóa giữa
T
Hoa miền Trung còn chủ động thờ các thêm vị
tiền hiền, bang trưởng, bang phó, danh nhân, cô
bác và những đối tượng thờ cúng. Tai các miếu,
hội quán, những đối tượng thờ cúng này được thể
hiện dưới dạng bài vị ghi tên bằng chữ Việt và
chữ Hán. Cũng do tiếp thu, ảnh hưởng của văn
hóa Việt, các hội quán còn thờ cả Thổ địa bên
cạnh Thần tài. Điều này giống cách thờ tự của rất
nhiều gia đình người Việt.
Việt Nam và Nam Trung Quốc,
khi du nhập vào
tín ngưỡng Thiên Hậu2 của người Hoa
Việt Nam,
đã bắt gặp tục thờ Mẫu của người Việt nên dễ
dàng được người dân địa phương tiếp nhận. Đặc
biệt, tại vùng ven biển miền Trung, tín ngưỡng
Thiên Hậu đã hòa chung vào dòng chảy tín
ngưỡng thờ Mẫu bản địa
và thể hiện sự giao lưu
hiện tượng
văn hóa Việt – Hoa rất rõ nét. Đó là
đồng nhất
Thiên Hậu Thánh Mẫu và Thánh Thiên
Yana – vị Mẫu thần của người Việt miền Trung
thờ phối tự
phương Nam có nguồn gốc Chăm hay
Phật Quan Âm cùng Thiên Hậu theo kiểu "tiền
Phật, hậu Thần" như ở Hội An, Quảng Ngãi...
Thiên Hậu từ chức năng chuyên phù trợ cho
những người đi biển đã trở thành vị thần mang
nhiều chức năng khác nhau như: phù hộ cho sức
khỏe, mua may bán đắt, mang lại những an lành
cho phụ nữ như đường con cái, lúc mang thai,
sinh nở, trẻ em khỏe mạnh, giống như thờ bà Mụ
([3], tr. 402). Bà Thiên Hậu từ một “nữ thần bảo
hộ đi biển” của người Hoa, trở thành “nữ thần
buôn bán”, “ban phát tài lộc” của cả người Hoa
lẫn người Việt ([4], tr. 39). Hàng ngày hay vào
dịp Vía Bà, các chị em phụ nữ hay đến khấn vái,
thỉnh cầu, trong ngày Vía Bà bao giờ nữ cũng đi
lễ đông hơn nam giới. Thiên Hậu dần dần được
dân gian xem như vị thần cứu khổ, cứu nạn, phổ
độ chúng sanh giống như Quan Âm Bồ Tát. Ba
hội quán ở Hội An đều thờ phối tự Quan Âm Bồ
Tát bên cạnh Thiên Hậu, hội quán Phúc Kiến ở
Hội An thờ Bồ Tát cùng với Thiên Hậu theo kiểu
“tiền Phật hậu Thần”. Tại Phú Yên, miếu thờ
Quan Thánh ở Triều Sơn (Xuân Thọ – Sông
Cầu) vốn được người Minh Hương xây dựng đầu
thế kỷ XX, nhưng sau đó đã hiến tặng cho Hội
Hình 5. Bộ tượng ba Bà Chúa Thai Sanh và 12 bà Mụ
ở hậu điện hội quán Phúc Kiến (Hội An – Quảng Nam)
(Nguồn: Đào Vĩnh Hợp, Võ Thị Ánh Tuyết, 2016)
Đặc biệt hơn, cả những yếu tố mâu thuẫn trong
lịch sử hoặc sự không đồng nhất trong tín ngưỡng
lại được cư dân ven biển miền Trung chấp nhận,
dung hòa. Trường hợp đặc biệt này được chứng
minh tại hội quán Triều Châu (Hội An, Quảng
Nam) với việc thờ thần chủ là Phục ba tướng quân
Mã Viện nhưng người dân Hội An, nhất là ngư
dân các làng Cẩm An, Cẩm Kim, Tân Hiệp vào
các ngày vía Ông vẫn đến dâng lễ với tâm nguyện
được Ông phù hộ bể yên sóng lặng. Nhiều di tích
người Hoa miền Trung thờ 108 người Hoa vùng
Hải Nam bị quan quân nhà Nguyễn giết nhầm vì
nghi là cướp biển. Tiêu biểu có "Chiêu ứng từ" ở
Mỹ Á (thôn Long Thuỷ, An Phú, Tuy An), lập
năm 1868 nhưng về sau bài vị 108 người Hoa
được chuyển vào thờ trong miếu Quan Thánh Hải
2 Thiên Hậu “天 后” là nhân vật huyền thoại trong lịch sử
Trung Quốc. Bà vốn là vị nữ thần phù hộ cho những người
đi biển, đồng thời cũng là một vị thần quan trọng trong tín
ngưỡng của người Hoa
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ:
17
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, TẬP 2, SỐ 4, 2018
phật giáo địa phương quản lý và di tích thờ thêm Môn thần của người Hoa ([11], tr. 543) cũng được
Phật, nên còn được gọi là "niệm Phật đường". người Việt sử dụng trong các công trình kiến trúc.
Điều này cũng thể hiện tính chất hỗn dung, hòa
hợp trong tín ngưỡng, nhằm thỏa mãn được nhu thương nhân có hoạt động kinh tế vững mạnh, có
cầu tâm linh của mọi tầng lớp nhân dân. mối liên hệ mật thiết nhau qua sự thành lập hội
Người Hoa ở miền Trung, đặc biệt là các
Trong lịch sử và cả hiện tại, các miếu, hội quán quán chung như trường hợp "Ngũ Bang hội quán"
đóng vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống chung cho 5 bang ở Bình Định, Hội An... Đồng
cư dân. Đây không chỉ là sở hữu của người Hoa thời người Hoa ở miền Trung cũng có mối quan
mà thực sự trở thành nơi tín ngưỡng chung cho hệ với cộng đồng người Việt, người Minh Hương,
người Việt, người Hoa. Từ xưa đến nay, cả cư dân người Hoa ở những nơi khác và có mối quan hệ
Việt – Hoa đều đến các hội quán để gởi gắm tâm với quê hương Trung Hoa của mình thông qua các
linh của mình. Họ cầu mong những điều tốt đẹp di sản còn tồn tại. Ngoài những di tích tôn giáo tín
nhất cho bản thân và gia đình. Theo tư liệu điền ngưỡng thuần Hoa, sự giao lưu, hội nhập văn hóa
dã dân tộc học và lời kể của các vị cao niên cho Việt – Hoa, Hoa – Việt ở khu vực ven biển miền
thấy trước đâymột số hội quán còn là nơi để cư Trung còn thể hiện qua các di tích mang tính chất
dân đến xin xăm, vay lộc về làm ăn. Trước đây chung, do cả người Hoa và người Việt cùng nhau
trong ngày lễ vía Bà, vía Ông, người Hoa tổ chức tạo lập. Điển hình có trường hợp chùa Ông (số
lễ diễu hành qua nhiều đường phố, tổ chức hoạt 411 Trần Hưng Đạo, TP. Quy Nhơn) và chùa Bà
động văn hoá – nghệ thuật. Qua đó đã thu hút rất (số 152 Trần Hưng Đạo TP. Quy Nhơn) được xây
nhiều người Việt tham gia, người Việt cũng đã dựng bởi người Hoa và người Việt để thờ Thiên
xuống đường diễu hành hay tham gia vào các lễ Hậu Thánh Mẫu. Còn ở Phú Yên, năm 1943, bà
hội của người Hoa.
con người Hoa Phú Yên và các địa phương như:
Hiện nay, hàng ngày các hội quán đón Quy Nhơn, Bồng Sơn, Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị,
nhận khá đông người đến tham quan, cúng lễ, cho Ninh Hoà, Vạn Giã, Sài Gòn – Chợ Lớn quyên
nên các di vật được thờ cúng hay các lời hướng góp tiền để xây lại chùa Hải Nam và Trường tiểu
dẫn tại các hội quán đều được ghi chú bằng hai học Minh Nam của người Hoa (nay là trường tiểu
thứ chữ Việt – Hoa. Trong năm, các hội quán tổ học Lê Quý Đôn, 04, đường Chu Mạnh Trinh, Tp.
Tuy Hòa, Phú Yên)3 ([1], tr. 14).
chức cúng, lễ lớn vào dịp Tết Nguyên Đán, Tết
Nguyên Tiêu, Tết Thanh minh, Tết Đoan Ngọ,
Tam triều (đưa Ông bà), Tết Trung thu, Rằm
tháng 10, Đông chí, Tất niên, các “ngày vía” tức
là ngày sinh của các vị thần được thờ. Vào những
dịp cúng lễ, các hội quán thu hút đông đảo bà con
người Hoa, Hoa kiều, người Việt và du khách
trong và ngoài nước... qui tụ về đây để gặp mặt,
làm lễ tưởng niệm và cúng bái, cầu nguyện. Qua
đó thể hiện sự hòa hợp giữa đời sống tâm linh vào
cuộc sống hàng ngày, đồng thời là dịp thể hiện
tinh thần đoàn kết của cộng đồng các dân tộc
Việt– Hoa.
Tại miền Trung, bên cạnh những ảnh hưởng
của văn hóa Việt đến cộng đồng người Hoa,
những dấu ấn văn hóa Trung Hoa cũng ảnh hưởng
sâu đậm đến nhiều khía cạnh khác nhau trong đời
sống của người Việt. Một số vị thần thánh của
người Hoa được thờ trong các hội quán đã được
cư dân miền Trung thờ cúng trong các gia đình,
tiêu biểu là tục thờ Thiên Hậu, Quan Thánh. Các
người thợ miền Trung tiếp thu kiểu trụ đội trái bí
mang phong cách Hoa Bắc (Trung Quốc) để cấu
thành bộ vì trính chồng – trụ đội các nhà cổ.
Trang trí mắt cửa có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ
3 GIAO LƯU VĂN HÓA, HỘI NHẬP VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA NGƯỜI HOA VEN BIỂN MIỀN
TRUNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Theo số liệu công bố chính thức từ cuộc điều
tra dân số cuối năm 2009, người Hoa của khu vực
duyên hải Nam Trung Bộ là 19.057 người, chiếm
2,315% tổng số người Hoa của cả nước. Tại các
tỉnh, số lượng người Hoa cụ thể như sau: Quảng
Nam: 943 người, chiếm 0,115% tổng số người
Hoa của cả nước, Quảng Ngãi: 173 người, chiếm
0,021% tổng số người Hoa của cả nước, Bình
Định: 651 người, chiếm 0,079% tổng số người
Hoa của cả nước, Phú Yên: 482 người, chiếm
0,059% tổng số người Hoa của cả nước ([12],
tr. 188 – 192). Tại vùng đất mới miền Trung, các
thế hệ người Hoa đã ra sức lao động và góp phần
tạo lập nên các di sản kinh tế, văn hóa, xã hội.
3
Trên bức tường ở trường Minh Nam còn lưu lại một
bia đá khắc tên 419 hộ ở Phú Yên và các địa phương bạn
quyên góp 64.983 đồng để xây dựng lại chùa và trường.
18
SCIENCE AND TECHNOLOGY DEVELOPMENT JOURNAL-
SOCIAL SCIENCES & HUMANITIES, VOL 2, ISSUE 4, 2018
Là kết quả của mối quan hệ, giao lưu văn hóa vai góp sức vào sự phát triển phồn thịnh của vùng
Việt – Hoa, Hoa – Việt trong nhiều thế kỷ, một đất.
số người Hoa ở miền Trung đã có hôn nhân hỗn
Hiện nay, các kiến trúc cổ cùng hoạt động tín
hợp với người Việt. Mặc dù đồng bào Hoa rất yêu ngưỡng, lễ hội của người Hoa miền Trung vẫn
mến chữ Hoa và tiếng nói địa phương của mình, được bảo tồn, duy trì khá tốt. Đây chính là những
tuy nhiên do số lượng cư dân ít và hoạt động cộng nguồn tài nguyên nhân văn quý giá, mang đến cho
cư rải rác nên ngày nay, phần lớn người Hoa miền các tỉnh miền Trung cơ hội phát triển kinh tế, văn
Trung ít sử dụng thường xuyên ngôn ngữ mẹ đẻ hóa, du lịch bền vững. Sản phẩm du lịch mới độc
của mình. Tiếng Quảng Đông và các ngôn ngữ đáo: du lịch văn hóa, du lịch di sản, du lịch lễ
khác như tiếng Phúc Kiến, tiếng Triều Châu... hội... qua các di sản của người Hoa đã và đang thu
không được thông dụng trong đồng bào Hoa ở hút du khách, đem lại doanh thu cao cho ngành du
miền Trung, thậm chí các thế hệ con cháu người lịch, tạo đà phát triển kinh tế của khu vực, đặc biệt
Hoa sau này có nhiều người không biết đến chữ là góp phần tạo cơ hội hội nhập quốc tế cho các
Hoa và các ngôn ngữ mẹ đẻ. Rất nhiều người Hoa tỉnh nói riêng và khu vực miền Trung, Việt Nam
và hậu duệ của họ đã sử dụng phổ biến ngôn ngữ nói chung.
và chữ viết tiếng Việt, nhiều trường hợp sử dụng
Vùng đất miền Trung vốn đã trải qua nhiều
song song hai ngôn ngữ Việt và Hoa. Đa số các biến cố, thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, do vậy
hội quán, trong tổ chức hội quán, thành phần hội lịch sử cộng đồng người Hoa sinh sống tại đây
viên đã có sự tham gia của người Việt gốc Hoa, cũng có nhiều biến thiên. Lịch sử ghi nhận người
thậm chí có cả người Việt bên cạnh thành phần Hoa đến miền Trung nhiều nhất là trong các thế
chủ đạo là người Hoa…
kỷ XVIII, XIX. Vốn mang đặc trưng của nền văn
Văn hóa cộng đồng người Hoa ở các tỉnh miền hoá phương Đông, khi đến các nước Đông Nam
Trung chính là sự kế thừa và phát huy truyền Á, cộng đồng người Hoa đã sớm hoà nhập vào
thống văn hóa Trung Hoa trên vùng đất Trung Bộ khối cộng đồng dân cư bản địa, cùng đồng cam
trong quan hệ giao lưu văn hóa Việt và các dân cộng khổ phấn đấu làm giàu cho bản thân, cho
tộc anh em. Ngày nay, phong tục, tập quán trong cộng đồng và cho đất nước, đồng thời chủ động
các gia đình, dòng họ người Hoa không còn thuần giao lưu văn hóa, hội nhập và phát triển. Trong
yếu tố Hoa, các lễ tết, lễ hội cổ truyền của người hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, rất
Hoa hay vốn có nguồn gốc Trung Hoa đã được nhiều người Hoa đã sát cánh cùng quân dân Việt
người Việt và các dân tộc khác hưởng ứng và trở Nam đứng lên bảo vệ chủ quyền dân tộc, thống
thành tài sản chung của cộng đồng cư dân, thu hút nhất đất nước. Sau ngày giải phóng miền Nam
rất đông người Việt và các du khách nước ngoài (1975), hoạt động kinh tế – văn hoá của cộng
tham gia. Tại các cơ sơ tín ngưỡng, tôn giáo Hoa, đồng người Hoa ngày càng sôi nổi, nhộn nhịp,
không chỉ người Hoa mà người Việt cũng đến phát triển theo chiều hướng đi lên.
tham quan, cúng lễ, cầu tài, cầu lộc, cầu con, cầu
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
phước cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc, làm ăn nước ta hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và
may mắn... Tại đây đã diễn ra rất nhiều hoạt động Nhà nước, người Hoa, đặc biệt là giới công
tín ngưỡng, văn hóa, lễ hội... thu hút rất đông thương đã khá nhạy cảm với đường lối chính sách
người Hoa, Việt ở trong các tỉnh và khu vực lân kinh tế, vươn lên làm giàu. Những năm qua, họ đã
cận về tham dự. Các lễ hội của cộng đồng người đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng kinh tế
Hoa đã trở thành lễ hội chung của các tỉnh và cả của các tỉnh, khu vực. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi
khu vực duyên hải Nam Trung Bộ. Thông qua ua mới và hội nhập, người Hoa có những đóng góp
đó thể hiện sự hòa hợp giữa niềm tin tâm linh vào nhất định đối với kinh tế văn hóa, xã hội của nước
cuộc sống hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu tín ta nói chung, trong đó có các tỉnh miền Trung nói
ngưỡng không chỉ có ý nghĩa đối với người Hoa
mà còn cả với người Việt. Đồng thời, các hoạt
động lễ hội còn góp phần tạo nên những nguồn
quỹ tương trợ xã hội, tăng cường tình đoàn kết
gắn bó cộng đồng và trở thành nét văn hóa chung
của dân tộc Việt Nam. Đây chính là điểm tựa tinh
thần cho cộng đồng người Hoa miền Trung chung
Hiện nay, hoạt động kinh tế, văn hoá của
người Hoa rất sôi nổi, nhộn nhịp. Họ vẫn tiếp tục
phát triển nhiều ngành nghề khác nhau như trên
riêng.
lĩnh vực kinh tế,
thủ công nghiệp, trồng trọt,
thương mại, dịch vụ, ngân hàng…, phạm vi hoạt
động mở rộng ra nhiều tỉnh thành và mang cả tính
quốc tế. Hoạt động kinh tế của người Hoa miền
Trung nói chung khá phát triển, góp phần thúc
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ:
19
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, TẬP 2, SỐ 4, 2018
đẩy sản xuất, tạo công ăn việc làm, phục vụ đời yếu tố đặc sắc vốn có của văn hóa Trung Hoa vẫn
sống của cộng đồng, tăng cường mối quan hệ được lưu giữ và mang nét độc đáo riêng. Qua đó
đoàn kết Việt – Hoa, góp phần cho sự phát triển đã chứng minh cụ thể quá trình người Hoa tụ cư ở
kinh tế, văn hóa, xã hội chung của các tỉnh miền ven biển miền Trung và vai trò quan trọng của họ
Trung.
đối với sự ra đời và thịnh đạt của các đô thị
Người Hoa ở ven biển miền Trung Việt Nam thương cảng trong lịch sử Việt Nam thời trung –
phần lớn có nguồn gốc đến từ các tỉnh miền biển cận đại. Đặc biệt hơn, các bằng chứng về sự giao
phía Nam và Đông Nam Trung Quốc, đông nhất lưu văn hóa Việt – Hoa còn thể hiện quá trình
là từ các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông và Hải giao lưu, hội nhập kinh tế, văn hoá diễn ra sôi
Nam. Trong quá trình định cư, chung sống tại động ở miền Trung xưa và nay, tạo nên sự đa
miền Trung, người Hoa có mối quan hệ chặt chẽ dạng cho văn hóa miền Trung và văn hóa Việt
với các dân tộc ở nước ta, nhất là các dân tộc ở Nam. Giao lưu văn hóa, hội nhập và phát triển đã
vùng Nam Trung Bộ... Vốn có truyền thống hoạt
giúp các di dân Trung Hoa giữ gìn bản sắc dân
động kinh tế thương mại, gắn kết sản xuất với tộc, kiến tạo những thành tựu văn hóa tốt đẹp trên
kinh doanh, nên các nhà sản xuất người Hoa luôn vùng đất mới. đồng thời còn cho thấy những
chú ý tìm kiếm và mở rộng thị trường trong nước
người Hoa tha hương đã dần hội nhập vào đại gia
cũng như nước ngoài, tận dụng mọi điều kiện đình các dân tộc Việt Nam, góp phần xây dựng
quan hệ thị trường quốc tế. Ngày nay, người Hoa
miền Trung còn có mối quan hệ chặt chẽ với
người Hoa ở nước ngoài, đặc biệt các nước trong
khu vực Đông Nam Á và các nước trong khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương. Thậm chí, thông qua
các hoạt động kinh tế và sự di cư đến các nước
theo quan hệ huyết thống, ngày nay người Hoa
miền Trung còn có các mối quan hệ thân thiện với
bà con người Hoa khắp năm châu như: Mỹ, Úc,
Canađa và các nước Tây Âu. Điển hình như
trường hợp nhiều người Hoa ở Hội An hiện đang
sinh sống và định cư tại Mỹ, Canađa hoặc có thân
nhân ở các nước này. Trong các dịp Lễ, Tết, nhiều
kiều bào người Hoa đã đóng góp cho các hoạt
đọng của hội quán hay trở về nước và họp mặt tại
hội quán chúng của các bang – hội quán Trung
Hoa.
đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ban công tác người Hoa thị xã Tuy Hòa – Phân hội nghiên
cứu văn hóa dân tộc Hoa tỉnh Phú Yên, 2003, Người Hoa
Phú Yên, UBMTTQVN tỉnh Phú Yên.
[2] Đỗ Bang, Nguyễn Tấn Hiểu, 2002, Lịch sử thành phố Quy
Nhơn, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
[3] Ngô Đức Thịnh, 2012, Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
ở Việt Nam, Nxb. Trẻ.
[4] Ngô Hữu Thảo, 2006, Tín ngưỡng thánh nhân và tín
ngưỡng thần linh trong cộng đồng người Hoa ở Việt Nam
(Qua nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh), Đề tài cấp
bộ, Viện nghiên cứu tôn giáo.
[5] Nguyễn Đình Tư, 2004, Non nước Phú Yên, Nxb. Thanh
Niên.
[6] Nguyễn Văn Đăng, 2011, “Vài nhận xét về tổ chức cộng
đồng người hoa ở Nam Trung Bộ (các tỉnh Quảng Ngãi,
Bình Định, Phú Yên)”, Tạp chí Khoa học trường Đại học
Huế, Số 66.
Như vậy, vốn là một bộ phận hết sức quan
trọng trong 54 dân tộc anh em ở nước ta, qua các
giai đoạn lịch sử định cư và phát triển tại các tỉnh
miền Trung Việt Nam, người Hoa đã góp phần
chung tay xây dựng đất nước, hợp tác hội nhập và
phát triển.
[7] Nguyễn Văn Đăng, Trần Thị Thu Hương, 2011, “Bước đầu
tìm hiểu về phố cảng Thu Xà ở Quảng Ngãi (từ thế kỷ
XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX)”, Tạp chí nghiên cứu Lịch
sử, số 10, tr. 32.
[8] Phan Khoang, 1969, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777,
Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn.
[9] Trần Lâm Biền, 1998, “Giao lưu mỹ thuật Hoa – Việt”,
Bước đầu tìm hiểu sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt –
Hoa trong lịch sử. Nxb. Thế Giới, Hà Nội, tr.152.
[10] Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An, 2008, Lễ lệ lễ
hội Hội An, Hội An.
[11] Võ Văn Hoàng, 2006, “Tìm hiểu chi tiết “mắt cửa” trong
trang trí kiến trúc ở khu phố cổ Hội An”, Giá trị và tính
đa dạng của Folklore Châu Á trong quá trình hội nhập,
Nxb. Thế giới, Hà Nội.
4 KẾT LUẬN
Trong suốt quá trình di cư, làm ăn buôn bán,
định cư tại các tỉnh ven biển miền Trung, người
Hoa đã trải qua bao biến cố lịch sử, lúc thăng, lúc
trầm nhưng họ đã có nhiều đóng góp quan trọng
trong công cuộc khai phá, xây dựng các tỉnh,
thành phố nói riêng và diễn trình lịch sử văn hóa
vùng đất nói chung. Quá trình hội nhập, giao lưu
văn hoá của cộng đồng người Hoa vốn một xu thế
tất yếu, đã diễn ra rất tự nhiên và hoà bình nên các
[12] Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương,
(2010), trang 188 – 192.
20
SCIENCE AND TECHNOLOGY DEVELOPMENT JOURNAL-
SOCIAL SCIENCES & HUMANITIES, VOL 2, ISSUE 4, 2018
Võ Thị Ánh Tuyết, Thạc sĩ Khảo cổ học (ĐH
Đào Vĩnh Hợp, Thạc sĩ Khảo cổ học (ĐH
Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG-HCM) Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG-HCM)
năm 2011. Cử nhân Khảo cổ học (ĐH Khoa học năm 2011. Cử nhân Khảo cổ học (ĐH Khoa học
Xã hội và Nhân văn - ĐHQG-HCM) năm Xã hội và Nhân văn - ĐHQG-HCM) năm
2007. Nghiên cứu sinh Khảo cổ học (ĐH Khoa 2007. Cử nhân Anh văn (ĐH Khoa học Xã hội và
học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG-HCM) khóa Nhân văn - ĐHQG-HCM) năm 2013. Nghiên cứu
2016-2019. Tham gia giảng dạy tại Trường ĐH sinh Lịch sử Việt Nam (ĐH Khoa học Xã hội và
Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG-HCM từ Nhân văn - ĐHQG-HCM) khóa 2012. Tham gia
năm 2007. Lĩnh vực nghiên cứu: “Khảo cổ học giảng dạy tại Trường ĐH Sài Gòn từ năm
Lịch sử, kiến trúc cổ của người Hoa”.
2014. Lĩnh vực nghiên cứu: “Lịch sử Việt Nam cổ
trung đại, Lịch sử người Hoa ở Việt Nam và Đông
Nam Á”.
Cultural exchanges, intergration and
developmet of the chinese community
in central coastal provinces
Dao Vinh Hop1, Vo Thi Anh Tuyet2,*
1Sai Gon University
2University of Social Sciences and Humanities, VNUHCM
*Corresponding author: [email protected]
Received: Dec 15th 2017; Accepted: Feb 6th 2018; Published: Dec 31st 2018.
In the circumstance of the Chinesse
Abstract—
Vietnam, Chinese emigrants have preseved their
traditional culture to gain achievements in this land
region. Besides, they have actively integrated into
native communities, exchanging culture for
prosperity and development. This paper indicates
cultural exchanges, integration and development of
the Hoa in the central coastal provinces in history
and present, which asserts their contributions in the
fields of culture, economy and society to build
Vietnam nation, notably in the age of present
international integration.
emigrants going abroad to seek shelter and find new
lands, especially southeast Asia, Dang Trong of Dai
Viet kingdom has gradually become a point of
arrival which attracts them strongly. Depending on
geographic position of contigous sea and advantage
of Dang Trong context at home and abroad, Chinese
merchants and emigrants have come to the central
coastal parts (especially in Quang Nam, Quang
Ngai, Binh Dinh, and Phu Yen). Having settled in
southeast Asia region as well as in the central part of
the Hoa, the central coastal provinces, exchanges, integration, development
Index Terms—
.
Bạn đang xem tài liệu "Cộng đồng người Hoa ven biển miền Trung trong giao lưu văn hóa, hội nhập và phát triển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cong_dong_nguoi_hoa_ven_bien_mien_trung_trong_giao_luu_van_h.pdf

