Quan hệ thương mại giữa Nam Bộ Việt Nam và Trung Hoa (thế kỷ III BC - Thế kỷ XII AD)
74
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA
NAM BỘ VIỆT NAM VÀ TRUNG HOA
(THẾ KỶ III BC - THẾ KỶ XII AD)
NGUYỄN NHỰT PHƯƠNG*
Văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ với đặc điểm nổi bật là giao thương và giao lưu văn
hóa từ Tây sang Đông, trong đó có quan hệ về mặt thương mại với Trung Hoa.
Qua tìm hiểu từ nhiều công trình nghiên cứu, di vật khảo cổ đã cho thấy các
thương nhân vùng đất Nam Bộ, Đông Nam Á, Ấn Độ và Tây Á có vai trò quan
trọng trong hoạt động thương mại, vận chuyển sản phẩm từ Trung Hoa đi nhiều
nơi trên thế giới. Mối quan hệ giữa Phù Nam và Trung Hoa thực chất là bang
giao để thực hiện mục đích quan trọng nhất là duy trì và phát triển thương mại.
Từ khóa: Nam Bộ, văn hóa Óc Eo, Phù Nam, thương mại, Trung Hoa, bang giao
Nhận bài ngày: 07/11/2021; đưa vào biên tập: 08/11/2021; phản biện: 09/11/2021;
duyệt đăng: 03/12/2021
thương rộng từ Địa Trung Hải đến
Trung Hoa của nền văn hóa này. Trong
đó, quan hệ giữa văn hóa Óc Eo và
văn hóa Trung Hoa hầu như chỉ được
đề cập đến mà chưa đánh giá cụ thể.
1. DẪN NHẬP
Theo Lược sử vùng đất Nam Bộ -
Việt Nam, thời cổ đại, trung tâm văn
hóa Óc Eo và nước Phù Nam ở phía
nam Việt Nam – vùng đất Nam Bộ
ngày nay, là một trong ba trung tâm
văn minh và nhà nước vào loại sớm
nhất ở Đông Nam Á.
Những sứ thần Trung Hoa đến nước
Phù Nam và những nhà viết sử nước
này là những người đầu tiên đề cập
đến Phù Nam trong các thư tịch Tấn
thư, Tống thư, Nam Tề thư, Lương
thư… Hầu hết những nội dung trong
các thư tịch này đều miêu tả về địa lý,
dân cư, phong tục, bang giao…, rất ít
đề cập đến hoạt động thương mại,
giao lưu văn hóa với Phù Nam.
Văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ được hình
thành và phát triển trên cơ tầng văn
hóa bản địa và những yếu tố văn hóa
du nhập. Một trong những hoạt động
kinh tế chủ lực của văn hóa Óc Eo là
thương mại biển.
Khi nghiên cứu vấn đề thương mại
trong văn hóa Óc Eo, hầu hết các học
giả đều đồng thuận về tính chất cảng
thị quốc tế với mối quan hệ thông
Dựa trên những tư liệu khảo cổ học
thu thập được từ thập niên 40 của thế
kỷ trước đến nay, kết hợp với sử liệu
Trung Hoa, bài viết tìm hiểu mối quan
hệ thương mại giữa vùng đất Nam Bộ
ngày nay và Trung Hoa, qua các giai
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
75
NGUYỄN NHỰT PHƯƠNG – QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA NAM BỘ…
đoạn: tiền Óc Eo, Óc Eo sớm đến Óc 130-131), đoàn thuyền từ Trung Hoa
qua vùng biển Đông Nam Á đến các
điểm cuối cùng là nước Hoàn Chi
(nam Ấn Độ), nước Dĩ Trình Bất
(Srilanka), tại đây sứ đoàn buôn bán
với các thương thuyền của La Mã.
Eo phát triển, Óc Eo muộn và hậu Óc
Eo.
2. QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA
NAM BỘ VIỆT NAM VỚI TRUNG
HOA QUA TƯ LIỆU KHẢO CỔ HỌC
Quan hệ giữa những cư dân giai đoạn
sắt sớm ở Nam Bộ (Việt Nam ngày
nay) với Trung Hoa chủ yếu là quan
hệ thương mại với các mặt hàng
nguyên liệu đá ngọc (từ mỏ đá ngọc ở
Đài Loan) làm đồ trang sức, gương
đồng và tiền ngũ thù. Nghiên cứu của
Hsiao-Chun Hung và các cộng sự
(2007) về loại hạt chuỗi và vòng đeo
tay bằng đá ngọc nephrite xanh ở
nhiều địa điểm khảo cổ học trong khu
vực Đông Nam Á, trong đó có Giồng
Cá Vồ, Giồng Lớn. Điều này chứng tỏ
Hoạt động thương mại giữa khu vực
Nam Bộ Việt Nam với Trung Hoa đã
có những bằng chứng cho thấy việc
trao đổi đã diễn ra từ trước Công
nguyên kéo dài đến giai đoạn văn hóa
Óc Eo và hậu Óc Eo.
2.1. Giai đoạn tiền Óc Eo (thế kỷ III -
I BC)
Đây là giai đoạn tiền đề với nền tảng
văn hóa bản địa bên cạnh các yếu tố
ngoại nhập, làm cơ sở cho sự hình
thành và phát triển của giai đoạn văn
hóa Óc Eo sớm đầu Công nguyên. hoạt động trao đổi của các cư dân cổ
Đông Nam Á với khu vực Đài Loan đã
có từ rất sớm.
Giai đoạn này, những nhóm cư dân
phân bố ở vùng cận biển Đông Nam
Bộ, trong nội địa và những nơi có địa
hình cao ở miền Tây Nam Bộ hầu hết
đều ghi nhận hiện tượng giao lưu văn
hóa trong khu vực và rộng hơn, như
với Ấn Độ. Những di vật có nguồn gốc
từ Trung Hoa thuộc giai đoạn này chủ
yếu ghi nhận ở các di tích khu vực
Đông Nam Bộ như Phú Chánh, Giồng
Lớn.
Hình 1. Gương đồng Phú Chánh
Nguồn: Bui Chi Hoang, 2008.
Hoạt động thương mại trên biển Trung
Hoa có thể bắt đầu từ thời Hán Vũ Đế,
năm 111 BC, sau khi bình định Nam
Việt, bắt đầu lập các cảng biển Hợp
Phố, Từ Văn hoạt động dưới hình
thức quan doanh (Chử Bích Thu,
2007: 130) để tìm kiếm sản phẩm cho
triều đình. Theo Chử Bích Thu (2007:
Gương đồng là một sản phẩm đặc
trưng của văn hóa Trung Hoa, được
trao đổi nhiều trên thế giới. Gương
đồng Phú Chánh là loại gương “Tứ
nhũ tứ ly”, gồm bốn núm tròn nổi, xen
kẽ bốn con ly cách điệu, niên đại cuối
Tây Hán (Hình 1). Đây là di vật thể
76
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
hiện đẳng cấp, địa vị của người sở phẩm như gương đồng, đồ gốm,
hữu, đồng thời phản ánh rõ tính chất tượng Phật... nhưng với số lượng ít,
thương mại, giao lưu văn hóa của cư không tăng đột biến như các sản
dân cổ Phú Chánh với thế giới bên phẩm có nguồn gốc từ Ấn Độ hay
ngoài. Một tiêu bản tiền đồng ngũ thù Đông Nam Á, nhưng diện phân bố của
được tìm thấy tại di tích Giồng Lớn, chúng rộng hơn, được tìm thấy ở
hình tròn, lỗ vuông, đúc nổi 2 chữ ngũ nhiều di tích thuộc văn hóa Óc Eo ở
Nam Bộ.
thù (
), loại tiền này có niên đại
cách đây khoảng 2.000 (Bùi Chí
Hoàng và nnk, 2017: 112).
Một số lượng lớn hạt chuỗi bằng thủy
tinh và đá quý được tìm thấy ở Gò Óc
Eo và ven Lung Lớn A, nhiều nhất là
hạt chuỗi Indo-Pacific với hơn
181.904 hạt chuỗi thủy tinh đơn sắc
(Đặng Ngọc Kính, 2019: 423), một số
hạt dính liền nhau hoặc nguyên liệu
thủy tinh được ghi nhận ở đây, cho
Những bằng chứng khảo cổ trên cho
thấy giai đoạn này đã bắt đầu xuất
hiện hoạt động trao đổi với Trung Hoa
của các cư dân cổ với những mặt
hàng tiêu biểu như nguyên liệu chế
tác trang sức, gương đồng và tiền ngũ
thù. Những kết quả nghiên cứu trên di thấy Óc Eo là một công xưởng chế tác,
cốt ở Giồng Phệt và Giồng Cá Vồ đã
chỉ ra tính chất đa dạng về tộc người
ở một cảng biển, nơi tập trung nhiều
nhóm cư dân có nguồn gốc khác nhau
từ bản địa đến bên ngoài. Yếu tố này
phản ánh tính chất “thương cảng” sơ
khai với sự tập hợp của nhiều cư dân
có nguồn gốc khác nhau cùng tiến
hành hoạt động sản xuất, mua bán từ
tây sang đông và ngược lại.
nhập - xuất khẩu hạt chuỗi thủy tinh,
đá quý. Theo Nguyễn Kim Dung và
nnk (2020), đối tượng mua/nhận biếu,
cống nạp(?) hạt chuỗi thủy tinh Indo-
Pacific Óc Eo là tầng lớp cung đình,
vua chúa vùng Đông Á (Hàn Quốc,
Nhật Bản) và Trung Hoa, nó thể hiện
vị trí, đẳng cấp xã hội. Bằng chứng là
ở Hàn Quốc và Nhật Bản đều tìm hạt
chuỗi Indo-Pacific sản xuất ở Óc Eo,
2.2. Giai đoạn Óc Eo sớm đến Óc từ đó cho thấy “kinh tế sản xuất hạt
Eo phát triển (thế kỷ I - VII AD)
chuỗi thương mại Indo-Pacific để xuất
khẩu là một trong những nguồn kinh
tế chủ đạo ở Óc Eo” (Nguyễn Kim
Dung và nnk, 2020: 84, 85). Đồng thời,
trong đợt khai quật Lung Lớn A, B
(2018 - 2019), đã phát hiện được một
đồng tiền ngũ thù (Lê Hoàng Phong,
Lâm Kiêm Lợi, 2020: 12), đây là bằng
chứng cho thấy yếu tố thương mại với
Trung Hoa đã diễn ra tại Óc Eo - Ba
Đây là giai đoạn định hình và phát
triển thịnh đạt của văn hóa Óc Eo, với
sự hình thành nhiều khu vực sản xuất,
thương mại có quy mô lớn, tiêu biểu
nhất là địa điểm Óc Eo, nơi tập trung
các thương nhân đến từ Tây Á, Ấn Độ,
Đông Nam Á với số lượng sản phẩm
phong phú, đa dạng. Quan hệ giao
thương với Trung Hoa ở giai đoạn này
vẫn được duy trì và trao đổi các sản Thê và tuyến đường thủy Lung Lớn là
77
NGUYỄN NHỰT PHƯƠNG – QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA NAM BỘ…
lộ tuyến quan trọng trong việc di tiêu bản gương đồng, dáng tròn, ở
giữa núm là hình bán cầu có lỗ, xung
quanh đúc nổi hình người, thú, niên
đại khoảng đầu thời Đông Hán (thế kỷ
III Công nguyên).
chuyển mua bán ở Óc Eo. Số lượng
di vật có nguồn gốc Trung Hoa ở khu
vực này không nhiều, sự xuất hiện
của tiền ngũ thù có thể là từ một số
thương nhân có nguồn gốc Trung Hoa
đến Óc Eo.
Đồ gốm và vải là những mặt hàng
xuất khẩu nổi tiếng của Trung Hoa. Ở
giai đoạn này, một số đồ gốm chủ yếu
là các vật dụng sinh hoạt, niên đại từ
thế kỷ IV - VII được tìm thấy ở nhiều
địa điểm trong văn hóa Óc Eo như
Nền Chùa, Gò Tháp. Trong đợt khai
quật chân Gò Minh Sư (năm 2003),
ghi nhận một số mảnh sứ của loại bát,
vò men ngọc khá dày, thuộc nhóm đồ
sứ miền Bắc (Việt Nam) hay Trung
Quốc thời Lục triều, niên đại khoảng
thế kỷ IV - V (Masanari, 2004: 742). Ở
di tích Nền Chùa tìm thấy một vò gốm
men trắng, có 4 quai ngang, một mảnh
đế bát men trắng xanh cùng niên đại
với vò gốm, thuộc thời Tùy (581 - 618).
Trong đợt khai quật năm 2018, tại đây
cũng đã tìm thấy nhiều mảnh gốm
thuộc loại hình bát, đĩa, bình, vò có
quai xuất xứ từ Trung Hoa, thuộc thời
Tùy đến đầu thời Đường (trong khoảng
thế kỷ VII) (Bùi Minh Trí, 2020: 44, 45).
Hình 2. Mảnh gương đồng
Nguồn: Bùi Chí Hoàng và nnk, 2018.
Ngoài tiền trong văn hóa Óc Eo còn
phát hiện 3 tiêu bản hoặc mảnh vỡ
của gương đồng có nguồn gốc từ
Trung Hoa. Mảnh gương đồng ký hiệu
MBB.No.4237, đường kính 14,4cm, vỡ
còn lại 1/4, mặt lưng có núm hình bán
cầu, hoa văn hình chim đối đầu nhau,
rìa mép có chữ “chủ chí” giống với
tiêu bản “chủ chí tam công”, niên đại
khoảng 105 AD (Hình 2). Mảnh gương
đồng tại An Giang (BTAG.434), vành
gương trang trí nổi hình răng cưa gồm
hai vòng, niên đại khoảng thế kỷ II - III.
Thành phần hợp chất của gương
đồng được tìm thấy ở Óc Eo, Đông
Sơn và Kedal (Mã Lai) đều có kiểu
Ngoài ra, những mảnh gốm mang đặc
điểm gốm văn in kiểu Hán (thế kỷ I - III)
xương cứng, bề mặt in nổi ô vuông,
và gốm Lục triều thời Tùy, Đường (thế
mẫu thời hậu Hán, không khác biệt kỷ III - VII) được tìm thấy ở Óc Eo - Ba
nhau lớn, có thể các gương đồng này Thê, Nền Chùa, Nhơn Thành... Tuy
và cả gương đồng ở Harappa (Ấn Độ)
đều có nguồn gốc từ Trung Quốc
(Malleret, 1962: 164; Phạm Đức Mạnh,
2019: 794, 816). Trong đợt khai quật
năm 2018 - 2019, tại Gò Giồng Cát,
Viện Khảo cổ học đã phát hiện một
nhiên, theo Bùi Minh Trí (2020) các
loại gốm này có thể xuất xứ từ các lò
ở miền Bắc Việt Nam, sản xuất theo
kiểu dáng, kỹ thuật của gốm Trung
Hoa cùng thời kỳ nhưng có những đặc
78
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
trưng riêng biệt. Nhận định này cũng này tuy pha trộn nhiều phong cách
nhưng tượng có thể được đúc ở phía
bắc Trung Quốc bởi người thợ chịu
ảnh hưởng nghệ thuật Phật giáo Ấn
Độ và dung hòa với hình ảnh Phật
giáo theo quan niệm trong nước, sau
đó tượng được đưa đến Óc Eo - Phù
Nam qua con đường thương mại hoặc
qua các sứ đoàn ngoại giao.
tương thích với những nghiên cứu về
thương mại Trung Hoa của Wang
Gungwu (1958) giai đoạn này, từ thời
Đông Hán đến Đường về mặt chính trị
có nhiều bất ổn, do đó hoạt động
thương mại trên đất nước Trung Hoa
bị hạn chế. Trong khi đó, miền Bắc
Việt Nam tình hình chính trị ổn định đã
giữ vị trí quan trọng về thương mại với
các nước ở giai đoạn này.
Từ thế kỷ III - VI, Phù Nam phát triển
như một đế chế hùng mạnh ở Đông
Nam Á, nắm quyền chi phối hầu hết
những thương cảng quan trọng trên
tuyến đường thương mại Đông - Tây
trong khu vực, do đó ngoại thương với
các nước rất phát triển. Các mặt hàng
Trung Hoa đa dạng xuất hiện ở nhiều
nơi trong khu vực Nam Bộ so với giai
đoạn trước đó như đồ gốm, tượng
Phật, hạt chuỗi, gương đồng và tiền
ngũ thù... nhưng lại không tìm thấy
nhiều tại Óc Eo - Phù Nam. Có thể lý
giải, Óc Eo - Phù Nam chỉ là nơi trung
chuyển sản phẩm xuất khẩu của
Trung Hoa đến các nước Đông Nam
Á, Ấn Độ, Tây Á và ngược lại.
Hình 3. Tượng Phật ảnh hưởng phong
cách Bắc Ngụy
Nguồn: Bùi Chí Hoàng và nnk, 2018.
Đi cùng với thương mại là sự du nhập
về mặt tôn giáo. Vào các thế kỷ đầu
Công nguyên, Óc Eo - Phù Nam là
một trung tâm Phật giáo của khu vực
Đông Nam Á. Thông qua hoạt động
thương mại cũng như hoạt động bang
giao giữa Trung Hoa và Phù Nam,
những di vật Phật giáo Trung Hoa
được mang đến Phù Nam. Tại khu
vực Óc Eo - Ba Thê đã tìm thấy hai
tượng Phật bằng đồng có niên đại
khoảng thế kỷ V, mang nhiều phong
cách nghệ thuật, trong đó có ảnh
hưởng của nghệ thuật thời Bắc Ngụy.
2.3. Giai đoạn Óc Eo muộn (thế kỷ
VIII - X AD) và hậu Óc Eo (thế kỷ XI -
XII AD)
Thời kỳ này Chân Lạp đã chiếm Phù
Nam, tuyến hải thương đã dịch
chuyển qua eo Malacca, do đó cảng
thị Óc Eo không còn vai trò quan trọng
về mặt thương mại đối với các thương
nhân trên tuyến hải trình từ đông sang
tây. Các di vật khảo cổ tìm thấy trong
giai đoạn này ở Óc Eo - Ba Thê giảm
về số lượng và loại hình so với giai
đoạn trước. Tính chất di vật ở giai
đoạn này cho thấy hoạt động kinh tế
Theo L. Malleret (1960: 241) tượng
79
NGUYỄN NHỰT PHƯƠNG – QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA NAM BỘ…
đã có sự thay đổi lớn, thương mại Âm… Triều đình đặt “Thị bạc ty” để
quốc tế không còn vai trò quan trọng quản lý hoạt động thông thương với
bậc nhất như trước, thay vào đó là
hoạt động kinh tế hướng nội.
bên ngoài (Cát Kiếm Hùng, 2005: 619).
Các yếu tố này đã góp phần đưa sản
phẩm Trung Hoa gia nhập nhiều hơn
vào tuyến thương mại Đông - Tây,
đặc biệt là đồ sứ thời Tống.
Về quan hệ ngoại thương ở thế kỷ
VIII - IX, tại các di tích không ghi nhận
các di vật có nguồn gốc từ Trung Hoa,
có thể thời kỳ này có sự biến động
mạnh về mặt chính trị của hai nước và
sự chuyển đổi vị thế của cảng thị Óc
Đồ sứ thời Tống tìm thấy ở một số di
tích thuộc giai đoạn hậu Óc Eo chủ
yếu là các loại hộp sứ dùng để đựng
Eo nên hàng hóa không được nhập vào phấn hoặc hương, phân bố nhiều ở
Nam Bộ. Tại Trung Hoa cuộc nổi dậy các địa điểm có kiến trúc tôn giáo. Tại
của Hoàng Sào năm 878, đã sát hại
120.000 người Hồi giáo ở Quảng Châu
và phá hủy các khu vực trồng dâu làm
triệt tiêu ngành xuất khẩu chính của
Trung Hoa là tơ lụa, Quảng Châu rơi
vào tình trạng suy thoái và hoạt động
ngoại thương chuyển dịch dần về
cảng Tuần Châu ở eo biển Đài Loan -
Tuyền Châu (Bernstein, 2018: 123).
Gò Sáu Thuận trong đợt khai quật
2017 - 2020, có 30 mảnh vỡ hoặc tiêu
bản là thân hộp hoặc nắp hộp sứ có
nguồn gốc từ Trung Hoa (Trung tâm
Khảo cổ học, 2020: 79) (Hình 4). Qua
sử
liệu
Hình 4. Nắp và hộp sứ
Trung Hoa thời Tống ở Óc Trung Hoa,
Eo - Ba Thê
việc buôn
bán gốm
sứ
giữa
Thời kỳ Nam Tống (thế kỷ XII), triều
đình Trung Hoa chuyển xuống phía
nam, nhu cầu sản phẩm ngoại nhập
ngày càng nhiều và kỹ thuật hàng hải
của Trung Hoa đã có sự phát triển
vượt bậc, như thiết kế tàu lớn, sử
dụng đinh sắt, thân tàu nhiều lớp,
nhiều boong, cải tiến bánh lái đặt ở
phía sau, sử dụng la bàn định hướng,
điều chỉnh buồm… (Bernstein, 2018:
139) làm cho hoạt động thương mại
của nước này phát triển mạnh hơn.
Mặt khác vào thời này, thương mại
Trung Hoa
và Chân
Lạp là do
thương
Nguồn: Trung tâm Khảo cổ
học.
nhân xuất
khẩu các
mặt hàng sứ Tuyền Châu. Thực tế
nguồn gốc của các dòng sứ này từ
nhiều lò (Cảnh Đức Trấn, Tuyền Châu,
Định Diêu, Long Tuyền…), với đặc
trưng màu men, chất lượng sứ và
trang trí hoa văn rất khác biệt. Tại di
được chính quyền khuyến khích phát tích Gò Tháp, ghi nhận các mảnh sứ
triển, với sự gia tăng của nhiều men ngọc thời Tây Kim, nguồn gốc từ
thương cảng ven biển như Quảng
Châu, Tuyền Châu, Minh Châu, Hàng
Châu, Mật Châu, Ôn Châu, Giang
Trung Quốc, thế kỷ XII (Đặng Văn
Thắng và nnk, 2017: 624). Những đồ
gốm sứ ngoại nhập này hầu như chỉ
80
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
phân bố ở khu vực kiến trúc tôn giáo, một cảng thị quan trọng của Phù Nam,
là một “trung tâm liên thế giới”
(Nguyễn Văn Kim, 2008) nối kết
thương mại giữa đông và tây, không
chỉ là nơi dừng chân mua, bán hàng
hóa, bổ sung nhu yếu phẩm, sửa
chữa tàu của các thương nhân từ Tây
Á, Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Hoa
mà còn trực tiếp tham gia vào hoạt
động thương mại. Nam Tề thư chép
rằng người Phù Nam “thuyền họ đóng
dài tới 8, 9 trượng, lòng thuyền rộng 6,
7 thước, đầu và đuôi giống như con
cá” (dẫn theo Nguyễn Hữu Tâm, 2008:
271). Phù Nam đóng vai trò là một
cảng thị quốc tế tập trung sản phẩm
từ khắp nơi, hàng hóa từ Đông Á đến
Óc Eo sẽ tiếp tục tái xuất sang Ấn Độ,
Tây Á và ngược lại. Trung Hoa có nhu
cầu về vải bông Ấn Độ, cánh kiến, san
hô, đá quý, ngọc, hổ phách, thủy tinh
của Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải,
ngược lại Ấn Độ cần các sản phẩm
như tơ lụa, gốm và sản phẩm mỹ nghệ
từ Trung Hoa để buôn bán với các thị
trường Tây Á và Địa Trung Hải. Đông
Nam Á cũng tham gia đóng góp vào
dòng hàng hóa này với các sản phẩm
chủ yếu là thủ công được chế tác, gia
công tại chỗ, hương liệu, gia vị mà
nhu cầu thị trường Trung Hoa, Ấn Độ
đều cần. Wang Gungwu khi nghiên
cứu về mậu dịch của khu vực Đông
Nam Á với Trung Hoa (thế kỷ III - V)
đã trích dẫn những tường thuật của
Pháp Hiển(1) cho thấy, những chiếc
thuyền lớn của Ấn Độ sức chứa hơn
200 người đã thực hiện chuyến hải
trình trực tiếp có thể là từ Java đến
thẳng Quảng Châu mà không dừng ở
do vậy có thể suy đoán chúng được
mua để dùng cho các hoạt động nghi
lễ.
Nhìn chung, trong 12 thế kỷ đầu Công
nguyên, Trung Hoa đã tham gia vào
tuyến đường thương mại Đông - Tây,
tuy nhiên thương nhân Trung Hoa
không hoạt động nổi trội hơn những
thương nhân của khu vực khác, đặc
biệt là thương nhân Tây Á. Do đó ảnh
hưởng của văn minh Trung Hoa đối
với cư dân văn hóa Óc Eo chưa mạnh
mẽ, trong khi đó văn hóa Ấn Độ đã
ảnh hưởng đến đời sống, tín ngưỡng,
tôn giáo, chính trị của văn hóa Óc Eo
nói riêng và Đông Nam Á nói chung.
3. QUAN HỆ THƯƠNG MẠI, BANG
GIAO QUA SỬ LIỆU HỌC
Trung Hoa là một thị trường quan
trọng trên con đường thương mại biển
từ tây sang đông, là nơi tiêu thụ
hương liệu, gia vị, trang sức và cung
cấp vàng, thiếc, sắt cho các nước;
đặc biệt, tơ lụa, gốm sứ của Trung
Quốc là mặt hàng được ưa chuộng
khắp thế giới. Hoạt động ngoại giao
và thương mại Trung Hoa ở mỗi thời
kỳ có những biến động khác nhau,
chịu sự chi phối của yếu tố chính trị,
do đó hoạt động của thương nhân
Trung Hoa trong tương quan với các
thương nhân ở Đông Nam Á, Ấn Độ
hay Tây Á có vai trò khác nhau.
Vào thế kỷ III - VI, Phù Nam vượt lên
thành một đế quốc hùng mạnh kiểm
soát cả vùng phía bắc Vịnh Thái Lan
và con đường hải thương giữa châu
thổ sông Mekong và Mã Lai, Óc Eo -
81
NGUYỄN NHỰT PHƯƠNG – QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA NAM BỘ…
thương cảng nào dọc đường. Ở Ấn yếu là “quan thương” do nhà cầm
Độ và Sri Lanka không có thương quyền tiến hành. Thời Đường cho lập
nhân người Trung Hoa trực tiếp đến “Thị Bạc Sứ” ở Quảng Châu để kiểm
mua bán nhưng những vật phẩm có soát, thu thuế thương thuyền buôn
nguồn gốc từ Trung Hoa có mặt ở đây bán ra ngoại quốc, trong khi đó mậu
do các thương nhân hoặc thủy thủ dịch của thương nhân tự do từ Iran,
của Ấn Độ hoặc Sri Lanka đem về Ấn Độ, Pakistan, Lâm Ấp, Chân Lạp,
(Wang, 1958: 43).
Hàn Quốc, Nhật Bản… diễn ra thường
xuyên với Trung Hoa. Ở các cảng thị
của Trung Hoa vào khoảng thế kỷ VII -
VIII, hoạt động của các thương nhân
ngoại quốc vẫn chiếm số lượng lớn và
giữ vai trò chính trong thương mại
biển. Tại Quảng Châu và một số vùng
duyên hải đông - nam là khu vực buôn
bán với bên ngoài từ lâu nên các vùng
này có nhiều thương nhân Ả Rập đến
và lưu trú, định cư lâu dài, lập gia đình,
lập nghiệp (Cát Kiếm Hùng, 2005: 376,
377). Đáng chú ý là các thương nhân
Hồi giáo (khả năng là người Ba Tư)
không chỉ đến buôn bán tại các cảng
ven biển Trung Hoa mà còn có mặt ở
những thành phố nội địa của nước
này. Năm 758, người Hồi giáo ở
Quảng Châu đông đến mức họ có thể
tấn công và thiêu rụi thành phố, rồi
mang chiến lợi phẩm tẩu thoát ra biển
(Bernstein, 2018: 109, 116). Điều này
chứng tỏ thương nhân ngoại quốc đã
thâm nhập và có vai trò rất lớn ở thị
trường Trung Hoa, ngược lại các
thương nhân Trung Hoa lại không
thường đến các quốc gia này.
Nửa cuối thế kỷ VI, hoạt động thương
mại của Phù Nam bắt đầu suy yếu do
sự thay đổi tuyến hải trình và sự tiến
bộ hơn về mặt kỹ thuật hàng hải cho
phép thương thuyền các nước thực
hiện những chuyến đi dài hơn. Các
yếu tố này đã góp phần hình thành nên
nhà nước Srivijaya giữ vai trò kiểm
soát tuyến đường thương mại ở Đông
Nam Á. Con đường thương mại ở thời
kỳ này theo lộ trình từ nam Trung Hoa
(chủ yếu là Quảng Châu) qua Chiêm
Bất Lao Sơn, eo biển Malaca, nước
La Việt (Thái Lan), nước Phật Triết
(nam Sumatra), Kha Lăng (Java), Ca
Cốc La (bắc Sumatra), nước Sư Tử
(Srilanka), nước Mạc Lai (tây nam Ấn
Độ), nước Bạt Phong Nhật (Bombay -
Ấn Độ), đến Phất Lơi Thích (Euphrate -
Iraq), đến nước Mạc La (Palestine)
(Cát Kiếm Hùng, 2005: 373). Sự thay
đổi hải trình này đã làm cho thuyền
buôn không cập bến cảng Óc Eo như
trước, do đó mà vai trò của Óc Eo
trong tuyến đường thương mại biển
cũng dần suy yếu hơn so với thế kỷ
III-VI, thay vào đó là những thương Đến thời nhà Tống thế kỷ X - XII, mậu
cảng mới hình thành trên dọc tuyến dịch được khuyến khích phát triển, các
hải trình qua eo Malacca, tiêu biểu mặt hàng thiết yếu của Trung Hoa như
nhất là Srivijaya đã thay thế vị trí của tơ, lụa, gốm sứ là những mặt hàng
Phù Nam. Hoạt động thương mại ở chính được lưu chuyển đi khắp nơi.
Trung Hoa vào thời kỳ này vẫn chủ Trong số những sản phẩm nhập từ
82
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
Trung Hoa, đồ sứ Tuyền Châu được Qua những tư liệu và phân tích trên
đề cập đến là một trong những mặt cho thấy trong thời kỳ tồn tại của mình
hàng được ưa chuộng ở Chân Lạp. Phù Nam đóng vai trò kiểm soát tuyến
Giá trị của hàng hóa Trung Hoa còn đường thương mại Đông - Tây ở khu
dùng làm vật ngang giá trong trao đổi vực Đông Nam Á, trong mối quan hệ
nhỏ bên cạnh lúa gạo, vải và vàng bạc giữa Phù Nam với Trung Hoa thực
(Châu Đạt Quan, 2017). Trong các di chất là quan hệ bang giao giữa hai
chỉ khai quật cũng ghi nhận nhiều sản nước nhằm mục đích duy trì, phát
phẩm gốm sứ Trung Hoa có xuất sứ triển thương mại biển.
từ lò Tuyền Châu và nhiều lò khác,
4. KẾT LUẬN
chủ yếu là các dạng hộp nhỏ có thể
Văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ với đặc
dùng đựng hương liệu.
trưng là kinh tế thương mại biển, có
Từ thế kỷ III đến thế kỷ VII, các vua
Óc Eo là một cảng thị mang tính quốc
Phù Nam đều cử sứ đoàn đến Trung
tế, nơi tụ họp thương nhân, giao dịch,
Hoa để đặt quan hệ ngoại giao. Đặt
cung cấp hàng hóa từ khắp nơi. Hoạt
biệt là các vua Jayavarman và người
động buôn bán giữa Phù Nam với
kế nhiệm là Rudravarman ở thế kỷ thứ
Trung Hoa đã diễn ra từ trước Công
VI nhiều lần cử sứ đoàn đến Quảng
nguyên nhưng muộn hơn giai đoạn
Đông để duy trì quan hệ bang giao với
văn hóa Ấn Độ bắt đầu du nhập đến
tư cách là một quốc gia độc lập
Nam Bộ thời kỳ đồ sắt. Giai đoạn này,
(Nguyễn Văn Kim, 2019: 202). Các sứ
hoạt động trao đổi chủ yếu ghi nhận
giả được vua Phù Nam cử đến Trung
qua một số di vật gương đồng, tiền
Hoa với tư cách là những nhà ngoại
ngũ thù. Đến giai đoạn văn hóa Óc Eo,
giao nhằm mục đích đặt mối quan hệ
giao thương giữa hai nước phát triển
thương mại. Ngoài thiết lập quan hệ
hơn về sản phẩm mua bán, nhưng số
với Trung Hoa, vua Fan Chan (Phạm
lượng cũng hạn chế, chủ yếu là gốm
Chiên) cũng cử sứ đến Ấn Độ để đặt
sứ, gương đồng, hạt chuỗi. Giai đoạn
quan hệ thông thương giữa hai nước.
hậu văn hóa Óc Eo, các mặt hàng
Đến đầu thế kỷ VII, khi Phù Nam suy
buôn bán là gốm sứ thời Tống.
yếu về mặt kinh tế do sự thay đổi về
Việc giao thương hàng hóa giữa
tuyến đường thương mại, để củng cố
Trung Hoa và vùng đất Nam Bộ xưa
vị thế của mình trong khu vực, vua
có thể do chính những thương nhân
Jayavarman đã nhiều lần cử sứ sang
người Phù Nam hoặc thương nhân
triều đình Trung Hoa nhằm giữ gìn
Đông Nam Á, hoặc thậm chí là người
quan hệ bang giao và duy trì hoạt
Ấn Độ và Tây Á thực hiện. Các
động hải thương ở vùng Đông Nam Á.
thương nhân này đã đến định cư và
Các yếu tố này cho thấy, bản chất của
mua bán ngay tại các thương cảng
bang giao giữa Phù Nam và các triều
lớn của Trung Hoa. Mặt khác, có thể
đình Trung Hoa là đặt quan hệ về mặt
chính người Trung Hoa cũng tham gia
thương mại.
83
NGUYỄN NHỰT PHƯƠNG – QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA NAM BỘ…
trên tuyến hải thương này, mua bán hữu nhưng hoạt động ngoại thương
hàng hóa trong nước và đem đi bán ở của nước này kém hơn so với các
một thương cảng khác. Tiền ngũ thù nước khác. Do sự hạn chế về thương
được tìm thấy ở nhiều hải cảng tại mại này nên sự ảnh hưởng, tiếp biến
Đông Nam Á có thể là bằng chứng văn hóa Trung Hoa thời kỳ này đến
cho hoạt động giao thương ra nước các quốc gia cổ ở Đông Nam Á không
ngoài của họ. Vì hoạt động thương mạnh như văn hóa Ấn Độ - vốn đã
mại của Trung Hoa bị hạn chế bởi sự xâm nhập vào hoạt động kinh tế, đời
quản lý của nhà nước nên trong tuyến sống, xã hội, tôn giáo, ngôn ngữ và cả
hàng hải từ Tây Á đến Trung Hoa có chính trị. Về quan hệ chính trị thường
thể nhận thấy vai trò chủ yếu của các được Trung Hoa xem là “triều cống”
thương nhân Tây Á, Ấn Độ và Đông nhưng thực tế đây là quan hệ bang
Nam Á tạo nên sự sôi động và phát giao giữa Phù Nam và Trung Hoa
triển của khu vực. Trung Hoa tuy là nhằm duy trì mối quan hệ ổn định để
một thị trường tiêu thụ và cung cấp phát triển về mặt thương mại.
hàng hóa lớn với các mặt hàng đặc
CHÚ THÍCH
(1) Pháp Hiển là nhà sư Trung Quốc, năm 399, đã đi bộ từ Trường An đến Ấn Độ để học hỏi
kinh điển Phật giáo và quay trở lại Trung Quốc năm 414 bằng đường biển.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Bernstein, William J. 2018. Lịch sử giao thương - thương mại định hình thế giới như thế
nào? Hà Nội: Nxb. Thế giới.
2. Bui Chi Hoang. 2008. “The Phu Chanh Site: Cultural Evolution and Interaction in the Later
Prehistory of Southern Vietnam”. Indo-Pacific Prehistory Association Bulletin 28, pp. 67-72.
3. Bùi Chí Hoàng, Nguyễn Khánh Trung Kiên, Đặng Ngọc Kính. 2017. Khảo cổ học Nam Bộ
thời tiền sử. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
4. Bùi Chí Hoàng, Nguyễn Quốc Mạnh, Lê Hoàng Phong. 2018. Khảo cổ học Nam Bộ thời
sơ sử. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
5. Bùi Minh Trí. 2020. “Đồ gốm nước ngoài trong văn hóa Óc Eo và một vài nhận thức mới
về văn hóa Óc Eo, tiếp cận từ nghiên cứu so sánh”. Tạp chí Khảo cổ học, số 2/2020, tr. 43-
62.
6. Cát Kiếm Hùng. 2005. Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, nhà
Đường, Lưỡng Tống, Nguyên. Hà Nội: Nxb. Văn hóa - Thông tin.
7. Châu Đạt Quan. 2017. Chân Lạp phong thổ ký (Hà Văn Tấn dịch). Hà Nội: Nxb. Thế giới.
8. Chử Bích Thu. 2007. “Con đường tơ lụa trên biển” thời Hán: Tuyến đường thương mại
biển sớm nhất của Trung Quốc”, in trong Việt Nam trong hệ thống thương mại Châu Á thế kỷ
XVI - XVII. Hà Nội: Nxb. Thế giới, tr. 127-137.
84
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (280) 2021
9. Đặng Ngọc Kính. 2019. “Hạt chuỗi thủy tinh Indo-Pacific tại kênh cổ Lung Lớn khu di tích
Óc Eo - Ba Thê (An Giang)”. in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Khu di tích Óc Eo - Ba Thê,
Nền Chùa: Khai quật, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị. Long Xuyên, 11/2019, tr. 422-
431.
10. Đặng Văn Thắng, Hà Thị Sương, Võ Thị Huỳnh Như. 2017. “Khu di tích Gò Tháp (Đồng
Tháp) qua đợt thăm dò và khai quật khảo cổ năm 2016”. in trong Những phát hiện mới về
Khảo cổ học năm 2016. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 621-626.
11. Hung, Hsiao-chun, Yoshiyuki Iizuka, Peter Belwood, Nguyen Kim Dung, Berenice Bellina,
Praon Silapanth, Eusebio Dizon, Rey Santiago, Ipoi Datan. 2007. Ancient Jades Map 3000
Years of Prehistoric Exchange in Southeast Asia. Proceedings of the National Academy of
Science of the United Stated of America 104(50): 19745-19750.
12. Malleret, Louis. 1960. Khảo cổ học Đồng bằng sông Cửu Long -Tập 2, Văn hóa vật chất
ở Óc Eo. Bản dịch Bảo tàng Lịch sử Việt Nam năm 1970.
13. Malleret, Louis. 1962. Khảo cổ học Đồng bằng sông Cửu Long - Tập 3, Văn hóa Phù
Nam. Bản dịch Bảo tàng Lịch sử Việt Nam năm 1970.
14. Masanari, Nishimura. 2004. “Nhận thức bước đầu về đồ gốm địa điểm chân Gò Minh Sư
(Gò Tháp - Đồng Tháp)”. in trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2003. Hà Nội:
Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 740-745.
15. Nguyễn Hữu Tâm. 2008. Khái quát về Phù Nam - Chân Lạp qua ghi chép của các thư
tịch cổ Trung Quốc. in trong Văn hóa Óc Eo và Vương quốc Phù Nam. Hà Nội: Nxb. Thế giới,
tr. 256-316.
16. Nguyễn Kim Dung, Nguyễn Khánh Trung Kiên, Lê Hoàng Phong. 2020. “Từ hiện vật
trang sức mới phát hiện góp thêm những nhận xét về hải thương quốc tế trong văn hóa Óc
Eo”. Tạp chí Khảo cổ học, số 2/2020, tr. 79-100.
17. Nguyễn Văn Kim. 2008. “Óc Eo - Phù Nam vị thế lịch sử và các mối quan hệ khu vực” in
trong Văn hóa Óc Eo và Vương quốc Phù Nam. Hà Nội: Nxb. Thế giới, tr. 328-347.
18. Nguyễn Văn Kim. 2019. Biển Việt Nam và các mối giao thương biển. Hà Nội: Nxb. Đại
học Quốc gia Hà Nội.
19. Phạm Đức Mạnh (chủ biên). 2019. Di tích khảo cổ học thời văn hóa Óc Eo - Hậu Óc Eo
trên đất An Giang. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia TPHCM.
20. Trung tâm Khảo cổ học. 2020. Báo cáo sơ bộ kết quả khai quật khảo cổ học di tích Gò
Sáu Thuận. Tư liệu Trung tâm Khảo cổ học.
21. Vũ Minh Giang (chủ biên). 2019. Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam. TPHCM: Nxb.
Nxb. Đại học Quốc gia TPHCM
22. Wang, Gungwu. 1958. “The Nanhai trade: A Study of the Early History of Chinese Trade
in the South China Sea” (Ngô Bắc dịch). Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic
Society, Vol. 31, No. 2(182). Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society, Kuala Lumpur.
Bạn đang xem tài liệu "Quan hệ thương mại giữa Nam Bộ Việt Nam và Trung Hoa (thế kỷ III BC - Thế kỷ XII AD)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quan_he_thuong_mai_giua_nam_bo_viet_nam_va_trung_hoa_the_ky.pdf

