Đôi điều cảm nhận về những nét tương đồng và dị biệt trong văn hóa Việt Nam và Nhật Bản

Đôi điều cảm nhận  
về những nét tương đồng và dị biệt  
trong văn hóa Việt Nam và Nhật Bản  
Trần Thị Hoa1  
Tóm tắt  
Về đặc điểm chung: Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia châu Á  
(Nhật Bản nằm ở Đông Bắc Á, Việt Nam ở Đông Nam Á). Trong quá khứ  
đều chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo và Phật giáo từ Trung Quốc, vào  
thời cận đại cũng tiếp thu văn hóa Cơ Đốc giáo từ phương Tây. Cả hai nước  
đều có tín ngưỡng bản địa riêng của mình (Nhật Bản thờ Thần Đạo Shinto,  
Việt Nam có tín ngưỡng thờ Mẫu).  
Điểm khác biệt: Cùng có văn hóa ẩm thực trà, nhưng Việt Nam coi việc  
uống trà là một sinh họat rất đời thường trong cuộc sống, thậm chí với một  
số ít uống trà là một thú tiêu khiển tao nhã. Còn đối với người Nhật uống trà  
đã được nâng lên thành một triết lý sống -Trà đạo, có quy củ, có phép tắc và  
nghi thức rõ ràng. Điều này thể hiện phong cách sống tỉ mỉ, chu đáo, cầu kỳ,  
nâng tâm hồn lên hòa hợp với thiên nhiên.  
Người Nhật coi trọng chữ tín. Người Việt xem trọng chữ tâm.  
Từ khóa: văn hóa Việt, văn hóa Nhật, tương đồng, dị biệt.  
Lâu nay, Nhật Bản thường được biết đến với cái tên: xứ sở mặt  
trời mọc hay xứ sở hoa anh đào. Đất nước này là một quần đảo hình  
cánh cung nằm ở sườn đông của đại lục châu Âu và châu Á, về hướng  
tây bắc Thái Bình Dương, bao gồm bốn hòn đảo chính: Hokkaido,  
Honshu, Shikoku và Kyushu, cùng với nhóm đảo Ryukyu (Okinawa)  
và nhiều hòn đảo nhỏ khác. Với nền văn hóa đa màu sắc, truyền thống  
và hiện đại đan xen nhau.  
Việc xem xét, tìm hiểu những nét tương đồng và dị biệt của nền  
văn hóa giữa hai nước trong bối cảnh quan hệ song phương trên các  
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học,... thiết tưởng cũng là điều cần  
thiết và bổ ích.  
1
TS, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM  
501  
Nhật Bản được xem là một quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân  
và văn hóa. Người nước ngoài đông nhất ở Nhật Bản là người Triều  
Tiên, nhưng nhóm người này được sinh ra tại Nhật và nói tiếng Nhật  
không khác gì người Nhật cả. Người ngoại quốc đông thứ hai là người  
Trung Hoa rồi về sau còn có một số dân lao động gồm người  
Philippines và người Thái. Người dân không có nguồn gốc Nhật chỉ  
chiếm hơn 1% tổng dân số tính đến năm 1993.  
Văn hóa Nhật Bản là một trong những nền văn hóa đặc sắc nhất  
thế giới, chịu ảnh hưởng cả từ văn hóa châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ.  
Trong quá khứ, văn hóa Nhật cũng chịu ảnh hưởng nhiều của Nho  
giáo từ Trung Quốc (khoảng vào thế kỷ thứ V, hoặc sớm hơn) nhưng  
sự phổ biến này phần lớn nằm trong một bộ phận nhất định của giới  
thượng lưu, do phương thức học tập dựa trên sự truyền thụ cá nhân  
nên việc học chỉ phổ biến cho hoàng gia và một số người trong triều  
đình, thứ nữa là do Nho giáo đương thời chú trọng đến cái học huấn  
hổ, nên nó chỉ phù hợp với người có học vấn cao. Chỉ sau khi cải cách  
vào thời Đại Hóa (Đại Hóa cải tân, năm 646), Nhật Bản mô phỏng  
theo chế độ luật lệnh của nhà Tùy, Đường thì Nho giáo chiếm vị trí  
quan trọng hơn và trở thành tư tưởng chính trị quốc gia, là kiến thức  
bắt buộc đối với những người tham chính. Nhật Bản vào thời Nara và  
Heian) cả ba tư tưởng Nho, Phật và Thần đạo đều cùng tồn tại, trong  
đó Phật giáo được coi như Quốc giáo. Nho giáo vẫn được sử dụng,  
nhưng ở phạm vi hẹp, chỉ trong tầng lớp quý tộc và tăng sĩ. Những  
kinh sách Nho giáo được lưu truyền trong hệ thống giáo dục Nhật Bản  
lúc bấy giờ gồm: Chu dịch, Thượng thư, Lễ ký, Chu lễ, Nghi lễ, Kinh  
Thi, Tả truyện,… chế độ khoa cử Nho giáo như nhà Tùy, Đường bên  
Trung Quốc đã không được du nhập vào Nhật Bản, nên Nho giáo  
không phát triển được và nó có khuynh hướng ngả sang “Văn chương  
đạo” một ngành học thuật thuần túy, để rồi từ đó suy thoái dần. Nho  
giáo ở thời kỳ này được xem là sơ kỳ trung đại… và phải đến thời hậu  
kỳ Trung đại (Thời Edo, thế kỷ XVII - 1868) Nho giáo đã thay chỗ cho  
Phật giáo trong đời sống, đẩy Phật giáo xuống vị trí khiêm tốn hơn.  
Chu Tử học phái được Mạc phủ khuyến khích và trở thành học phái  
Nho giáo chính thống của nhà nước gọi là “Quan Nho phái”. Vậy là từ  
sau thế kỷ XV, Việt Nam, Nhật Bản (và Triều Tiên) đều đồng loạt  
chuyển sang mô hình văn hóa Nho giáo.  
502  
1. Văn hóa giao tiếp  
Trong giao tiếp, người Nhật thường cúi chào bằng cách gập  
người xuống và độ hạ thấp tùy thuộc địa vị xã hội của cả hai người.  
Đây là biểu hiện sự kính trọng. Mỗi lần giới thiệu hay gặp mặt đều  
cần tới tấm danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng hai tay là một  
cử chỉ lễ độ. Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay  
trên đó. Trong việc giao thiệp, người Nhật thường không thích sự  
đường đột, trực tiếp và việc qua trung gian đóng một vai trò quan  
trọng. Một đặc điểm nữa trong giao tiếp là người Nhật rất hay dùng từ  
“cám ơn” và “xin lỗi”, trong trường hợp bị kẹt xe, trễ giờ chẳng hạn  
và không biện minh hay giải thích gì thêm, sau này, khi có điều kiện  
sẽ nhờ một bên thứ ba làm trung gian để bày tỏ, giải thích. Nét tính  
cách này nói lên người Nhật rất coi trọng hòa khí, muốn cho mọi sự  
đều yên ổn, tốt đẹp cả.  
Còn người Việt, về đặc điểm, tính cách: vừa thích giao tiếp nhưng  
cũng lại rất rụt rè, do xuất phát từ nền nông nghiệp lúa nước, mọi  
người sống phải phụ thuộc vào nhau nên phải giữ cho cân bằng những  
quan hệ với nhau trong cộng đồng. Tính cộng đồng là nguyên nhân  
khiến người Việt đặc biệt coi trọng giao tiếp: “Dao năng liếc thì sắc,  
người năng chào thì quen”. Cũng vì thích giao tiếp, thích làm quen  
nên người Việt rất hiếu khách: “Khách đến nhà không gà thì gỏi”.  
Cũng do tính cộng đồng, nên trong giao tiếp, người Việt rất coi  
trọng danh dự (tốt danh hơn lành áo) vì đặc điểm này mà người Việt  
thường có tính sĩ diện và vì sĩ diện mà khiến người ta phải sống và  
hành động nhiều khi là giả dối. Cũng cùng một tình huống kẹt xe, trễ  
giờ chẳng hạn, thì người Việt thường nêu lý do, giải thích biện  
minh,… (tại vì, bởi vì, do,…) trước đã, sau đó mới xin lỗi. Có phải  
người Việt coi trọng danh không?  
2. Những phong tục và tập quán  
Thời xưa, Nhật Bản theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có vai trò  
lớn hơn nam giới. Dù rằng tinh thần giải phóng phụ nữ đã được du  
nhập vào Nhật Bản từ cuối thế kỷ XIX nhưng hiện nay trong đời sống  
cộng đồng, người phụ nữ vẫn ở vị thế thấp hơn nam giới và bên ngoài  
xã hội, nam giới vẫn giữ vai trò lớn hơn một chút. Căn bản, nữ giới  
503  
vẫn là người của “bên trong” (uchi no) và nam giới vẫn là người của  
“bên ngoài” (soto no). Phạm vi của người phụ nữ là gia đình và các  
công việc nội trợ, trong khi người chồng là người làm lụng và đưa hết  
tiền lương về cho người vợ là chính.  
Trong dân gian, người Việt có câu: “Nhất vợ nhì trời” hay như  
“Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng”,… để nói lên vị thế  
và vai trò của người phụ nữ trong gia đình và điều này đã đi vào tâm  
thức của các ông chồng Việt như một sự ghi nhận có giá trị văn hóa  
truyền thống dân tộc. Không phải chỉ trước đây mà ngay cả bây giờ,  
sự ghi nhận có tính chất tổng kết đó vẫn còn giá trị lưu truyền. Ngoài  
ra, người Việt cũng rất coi trọng mối quan hệ dòng họ.  
3. Tư tưởng và tôn giáo  
Thờ cúng các sự vật, hiện tượng thiên nhiên như núi, sông, biển,  
mặt trời, mưa, dông, bão,… được coi như đấng có năng lực linh  
thiêng, cũng như luôn tưởng nhớ vinh danh các vị anh hùng và tổ tiên  
để mong được sự phù hộ, chở che trong cuộc sống hiện tại được xem  
là một tôn giáo đa thần, có nguồn gốc từ những tín ngưỡng thời cổ  
xưa ở Nhật Bản - Thần đạo Shinto.  
Nhật Bản cũng là một quốc gia Phật giáo với hơn 85% dân số  
theo đạo Phật. Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển ở Nhật Bản,  
Phật giáo không chỉ đơn thuần là một tôn giáo mà còn góp phần  
đáng kể vào việc làm giàu nền nghệ thuật và vốn tri thức của Nhật  
Bản. Ngoài Thần đạo và Phật giáo ra, Nho giáo, du nhập vào Nhật  
Bản khoảng thế kỷ thứ VI cũng góp phần rất lớn vào việc tạo ra cái  
gọi là tư tưởng Nhật Bản. Tương tự như ở Việt Nam và Triều Tiên,  
Nho giáo đã giúp Nhật Bản tạo ra thiết chế chính trị chặt chẽ và tạo  
ra một xã hội có đẳng cấp trên dưới. Cơ Đốc giáo, một tôn giáo đươc  
truyền vào Nhật Bản từ nửa cuối thế kỷ XVI và được phát triển đến  
đầu thế kỷ XVII. Tôn giáo này đã tạo ra một luồng gió mới thổi vào  
xã hội phong kiến Nhật Bản. Nó đã đóng góp một phần rất lớn vào  
việc tạo nên một nước Nhật Bản cường thịnh như hiện nay. Đặc  
điểm lớn nhất, cơ bản nhất của tôn giáo ở Nhật là sự uyển chuyển  
linh hoạt, được Nhật Bản hóa để cho phù hợp với điều kiện đặc biệt  
và văn hóa của đất nước mình.  
504  
Ở Việt Nam có tín ngưỡng thờ Mẫu, là một tín ngưỡng bản địa  
lâu đời, có trước khi du nhập đạo Phật, về sau này có ảnh hưởng ngoại  
lai từ Đạo giáo, Phật giáo, v.v. Cũng giống như ở Nhật thờ Thần đạo  
(Shinto). Thờ Mẫu ở nước ta đã phát triển hình thành tín ngưỡng Tam  
phủ (Thiên phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ), Tứ phủ (ba phủ trên có thêm  
Địa phủ nữa) theo GS.TSKH Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng  
Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian cho biết, tín ngưỡng thờ Mẫu có  
bốn vấn đề gắn với cộng đồng:  
- Một là, tín ngưỡng thờ Mẫu coi tự nhiên là một người mẹ và  
tôn thờ.  
- Hai là, mang cho con người sống ở trên đời này ba điều: Phúc -  
Lộc - Thọ. Đó là những ước muốn vĩnh hằng của con người.  
- Ba là, thể hiện đậm nét chủ nghĩa yêu nước đã được tâm linh  
hóa, tín ngưỡng hóa. Điều này thể hiện rất rõ qua việc hầu hết khoảng  
50 vị thần mà tín ngưỡng thờ Mẫu tôn thờ là những nhân vật lịch sử  
có công với dân tộc hay đã được dân tộc lịch sử hóa, ví dụ như Đức  
Thánh Trần trong tín ngưỡng thờ Mẫu chính là Trần Hưng Đạo.  
- Bốn là, tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng đa văn hóa. Đây  
là một ý nghĩa duy nhất chỉ có ở tín ngưỡng của Việt Nam.  
Về hệ tư tưởng của người Việt (những nhận thức và đối phó với  
môi trường, xã hội, những cư xử giữa người với người, người với  
thiên nhiên, những quan hệ về tâm linh, v.v.) chịu ảnh hưởng một  
phần từ triết lý Nho giáo, âm dương ngũ hành. Các tôn giáo như Phật  
giáo, Cơ Đốc giáo,... khi vào Việt Nam cũng đã được Việt Nam hóa  
cho phù hợp với văn hóa, phong tục người Việt.  
4. Trang phục truyền thống  
Đối với người Nhật, Kimono là một trong những niềm tự hào và  
là một trong những biểu tượng của đất nước mặt trời mọc. Về cơ bản,  
Kimono là một chiếc áo choàng được giữ cố định bằng một vành khăn  
rộng cố định vào người cùng với một số dây đai và dây buộc. Trang  
phục Kimino cũng đã từng được thay đổi cho phù hợp cho đến ngày  
nay. Cụ thể vào thời trị vì của vua Edo (1603-1868) khi ống tay áo  
được may gọn lại và sự ra đời của obi (một khăn rộng thắt ngang  
505  
bụng), nhằm làm cho trang phục phù hợp hơn với các hoạt động  
thường ngày của người phụ nữ Nhật. Kể từ đó, kiểu dáng của Kimono  
có thay đổi chút ít. Ngày nay, đa số các phụ nữ Nhật xem quần tây và  
áo sơ mi là thường phục thì Kimono vẫn được mặc trong các dịp nghi  
lễ, cưới xin, tang ma, tiệc mừng năm mới và một số ngày lễ khác.  
Từ xưa, người Việt đã có nghề trồng dâu, nuôi tằm dệt vải, nên  
người Việt có câu: “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền”, “Cơm ba bát, áo ba  
manh, đói không xanh, rét không chết”. Trang phục lại được chia ra:  
đồ mặc phía trên, đồ mặc phía dưới, đồ đội đầu, đồ đi chân,… rồi thì  
trang phục lễ hội, trang phục lao động và theo giới tính. Chẳng hạn  
như phụ nữ thì mặc váy, trên thì mặc yếm. Nên có câu: “Váy vận yếm  
mang”. Còn ở đàn ông thì đóng khố, sau này là quần lá tọa.  
Trang phục cũng thay đổi qua các triều đại lịch sử, đến đời nhà  
Nguyễn (thế kỷ XIX) thì trang phục áo dài tương đối phổ biến. Phụ nữ  
có áo tứ thân và năm thân. Còn vào dịp lễ hội thì phụ nữ hay mặc lối  
mớ ba mớ bảy (tức là mặc nhiều áo cánh lồng vào nhau). Chiếc áo dài  
truyền thống đã được cải biên nhiều, đẹp hơn, duyên dáng hơn thành  
tân thời cho tới ngày nay.  
5. Phong tục lễ tết  
Người Nhật chào đón vị thần Toshigamisama đến thăm nhà vào  
dịp năm mới là dịp lễ quan trọng nhất trong năm. Trước khi Tết đến,  
mọi nhà đều trang trí cây Tùng (kadomatsu) trước cửa. Tương truyền  
rằng, vị thần Toshigamis-ama sẽ hạ giới và trú ẩn trong cây Tùng này.  
Ngoài ra, trên khung cửa của không ít gia đình Nhật còn trang trí các  
vật phẩm như đồ đan bằng lá màu trắng, quả quýt, thừng bện bằng cỏ,  
dải giấy trắng,… Tùng tượng trưng cho trẻ mãi không già; quả quýt  
màu da cam, có âm đọc giống như “đời đời” trong tiếng Nhật, tượng  
trưng cho muôn đời thịnh vượng; thừng bện bằng cỏ được treo ở điện  
thờ hoặc nơi thờ cúng, kính dâng lên thần linh cầu tài lộc; lá cây màu  
trắng nói lên sự trinh bạch không tì vết; còn dải giấy trắng mang ý  
nghĩa tẩy sạch vết nhơ và xua đuổi tà ma. Ngoài ra, người Nhật  
thường lấy tôm hùm làm đồ trang sức vì nó có hình dạng giống như  
cụ già khom lưng, ví với cảnh giàu sang phú quý, cả nhà trường thọ.  
Trong khi đó, các bà mẹ cũng chuẩn bị những món ăn ngày Tết như  
506  
làm bánh Tết và nấu món ăn tổng hợp. Bánh Tết tượng trưng cho sự  
may mắn, được làm vào ngày 28 hoặc 30 Tết. Làm bánh trong ngày  
29 bị cho rằng ắt phải ăn bánh khổ, nghĩa là quanh năm phải nếm trải  
khổ đau. Món ăn quan trọng nhất của năm mới là “món Tết” và “đồ  
nấu tổng hợp”. Món Tết thực chất là món ăn ngọt, làm bằng các  
nguyên liệu thông thường như rễ cây ngưu bàng, trứng cá, cá sardin  
khô, tảo ăn, khoai lang, hạt dẻ,… Người Nhật dùng những món ăn  
đơn giản nhưng giàu ý nghĩa tượng trưng này để ăn Tết là xuất phát từ  
tâm lý cầu ước vạn sự tốt lành. Bánh Tết thập cẩm và món ragu khoai  
sọ, cà rốt, rau xanh nấu lẫn trong một nồi càng giàu ý nghĩa tượng  
trưng hơn. Đây là những đồ cúng, đồng thời cũng là món ăn dành cho  
nhiều người, để nhiều người được hưởng lộc thần linh và niềm sung  
sướng. Những lát cà rốt tượng trưng cho mối quan hệ gắn bó hòa  
thuận của mọi thành viên trong gia đình. Còn những củ khoai sọ  
tượng trưng cho sức mạnh tẩy trừ tà khí. Xuất hành đầu năm, đi lễ  
chùa, cầu may cho cả năm cũng là một công việc trọng đại của người  
Nhật, tiếng Nhật gọi là (Hatsumoude). Mỗi năm sẽ có một hướng tốt  
khác nhau gọi là (ehou) nên mỗi năm người ta chỉ đi đền chùa ở  
hướng tốt của năm đó thôi. Tặng nhau thiếp mừng năm mới cũng là  
nét đặc sắc trong phong tục đón mừng năm mới của người Nhật. Nhật  
Bản là nước phát hành thiếp chúc mừng năm mới nhiều nhất trên thế  
giới. Phương pháp đưa thiếp mừng của bưu điện Nhật rất đặc biệt.  
Trước hết, họ tập trung toàn bộ các thiếp chúc mừng năm mới rồi đem  
gửi đến nhà người nhận vào đúng ngày mồng 1 Tết. Ngày này, mọi  
người ngồi ngắm những tấm thiếp chúc Tết muôn hình muôn vẻ từ  
mọi nơi gửi đến, ôn lại quá khứ, chờ đón tương lai. Đây quả thực là sự  
hưởng thụ đặc biệt.  
Các lễ hội khác trong năm như: Lễ hội (Matsuri) bắt nguồn từ  
những tín ngưỡng Thần đạo, Lễ hội búp bê (Hina matsuri). Các gia  
đình có con gái bày một bộ búp bê Hina (gồm có búp bê hình Thiên  
hoàng, Hoàng hậu, những người hầu và nhạc công trong bộ trang  
phục cung đình cổ xưa), tổ chức ăn bánh hishimochi và uống rượu  
shirosake (sake trắng) để mừng ngày hội. Ngày trẻ em (Kodomo no  
Hi) diễn ra vào mồng 5 tháng năm. Ngày xưa gọi là tết Đoan ngọ và  
trở thành ngày nghỉ toàn quốc ở Nhật Bản từ năm 1948. Mặc dù gọi là  
507  
ngày trẻ em nhưng thực ra đó là ngày lễ dành cho các bé trai. Các gia  
đình có con trai thường treo trên nóc nhà mình những dải cờ hình cá  
chép tượng trưng cho sức mạnh và trong nhà bày búp bê hình võ sĩ và  
áo giáp.  
Lễ Vu Lan (hay còn gọi là Lễ xá tội vong nhân) vào dịp rằm  
tháng bảy âm lịch hằng năm là một nét văn hóa truyền thống tốt đẹp  
của người Việt Nam. Ở Nhật cũng có một lễ hội mang ý nghĩa tương  
tự, thường gọi là Obon diễn ra vào tháng 8 dương lịch.  
Đối với người Việt, Lễ Tết được xem là “Tống cựu nghinh tân”  
tiễn năm cũ, đón năm mới. Cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân  
ngõ, dọn dẹp bàn thờ, lau chùi bàn ghế, ấm chén, vứt bỏ những thứ rác  
rưởi, Theo quan niệm truyền thống, “23 tháng Chạp dựng cây nêu,  
mùng 7 tháng Giêng hạ nêu tiễn ông bà về trời”. Tuy nhiên, hiện nay  
tục trồng cây nêu ngày Tết đã dần mai một, thay vào đó là chơi cành  
đào, mai, quất cảnh. Cây nêu là một hình ảnh mang tính chất biểu  
tượng, thường được trồng ngay trước sân nhà mỗi dịp Tết Nguyên  
đán. Trên ngọn cây có treo nhiều vật dụng mang ý nghĩa tâm linh xua  
đuổi ma quỷ và cầu mong một năm mới tốt lành. Nhiều gia đình nhắc  
nhở, dặn dò con cháu từ phút giao thừa trở đi không quấy khóc, không  
nghịch ngợm, cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy, không vứt rác, viết  
vẽ bừa bãi. Cha mẹ, anh chị cũng không quở mắng, tra phạt con em,  
đối với ai cũng tay bắt mặt mừng, vui vẻ niềm nở dẫu lạ dẫu quen.  
Chuẩn bị gói bánh chưng, bánh tét, muối dưa hành, dưa kiệu, làm  
mứt. Sắp đặt bàn thờ ngày Tết cúng Ông bà tổ tiên, cúng Táo quân  
Cúng Giao thừa (hay còn gọi là lễ Trừ Tịch).  
Văn hóa hai nướcViệt Nam - Nhật Bản như đã nói ở trên, có  
chung một đặc điểm đó là hai nước đều chịu ảnh hưởng của nền văn  
minh Trung Hoa từ những thế kỷ trước, nên có không ít những nét  
tương đồng, cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nhưng  
không có nghĩa là không có sự khác biệt, điều đó được thể hiện qua  
cách thức tiếp nhận, ứng xử văn hóa của mỗi quốc gia, dung hòa giữa  
cái cũ và cái mới để tạo ra nét đặc trưng của mỗi nước, bởi do hoàn  
cảnh lịch sử, môi trường địa lý và văn hóa bản địa nữa. Trong khi Việt  
Nam là một bán đảo với diện tích tự nhiên hơn 330.000km2 và hơn  
3.000km bờ biển. Còn Nhật Bản là một quần đảo với 3.600 hòn đảo  
508  
lớn nhỏ, xung quanh có 4 hòn đảo lớn với tổng diện tích: 377.000km2  
và 29.000km bờ biển. Với diện tích phần lớn toàn là đồi núi, dẫn đến  
việc không có đất cư trú, trồng trọt nhưng được bù lại bởi hệ thống  
cảng biển dày đặc, khí hậu cũng có nhiều khác biệt và đối lập nhau.  
Có vùng lạnh quanh năm được bao phủ bởi băng tuyết (Hokkaido), có  
vùng ấm như Đông Nam Á (Okinawa và các đảo cực Nam), luôn có  
bốn mùa rõ rệt. Khí hậu không tốt cho phát triển nông nghiệp nên giá  
các sản phẩm nông nghiệp ở Nhật rất đắt. Ngoài ra, Nhật Bản còn phải  
hứng chịu nhiều thiên tai như núi lửa, sóng thần, động đất,… Do địa  
hình toàn là đồi núi dẫn đến sự chia cắt thành nhiều vùng, nhiều địa  
phương, văn hóa cũng theo đó mà tạo ra sự khác biệt giữa các vùng  
với nhau. Nhật Bản là đất nước nằm giữa biển, với vị trí tương đối khó  
được tiếp cận, nên Nhật thường chủ động du nhập các văn minh từ  
bên ngoài vào, luôn muốn tìm tòi học hỏi cái hay của người khác.  
Còn Việt Nam là đất nước có nhiều dân tộc khác nhau cùng  
chung sống, người dân can đảm, linh hoạt, mềm dẻo, dễ thích ứng,  
giỏi xử lý tình huống,… chinh phục thiên nhiên, bất khuất chống giặc  
ngọai xâm, có ý thức độc lập tự chủ cao,…  
Điểm khác biệt lớn nhất trong văn hóa hai nước đó là phong cách  
ứng xử, một bên thì mềm mỏng, linh hoạt, dễ thích ứng, một bên coi  
trọng nguyên tắc, kỷ luật. Với giá trị đạo đức thì người Việt trọng  
hiếu, còn người Nhật trọng tín.  
Một ví dụ trong cách tiếp nhận văn hóa Trung Hoa như uống trà  
chẳng hạn. Đối với người Nhật được nâng lên thành một nghệ thuật:  
Trà đạo - chính là việc thưởng thức trà và tất cả những gì thuộc về trà  
đạo, gồm các thao tác như pha trà, mời trà và uống trà. Từ đó, uống trà  
trở thành một nghi lễ. Người Nhật gọi nghi lễ uống trà này là trà đạo,  
nó như là một “trường phái” của nghệ thuật ở xứ sở hoa anh đào. Còn  
hơn thế, nó là một triết lý sống nữa, liên quan tới nghệ thuật làm vườn,  
tạo hình, làm gốm. Khi ngồi thưởng trà, người Nhật nhất định phải  
mặc bộ Kimono mà không thể mặc trang phục hiện đại được và phải  
dùng những chén trà là gốm sứ của Nhật để không làm mất đi ý nghĩa  
của trà đạo. Tinh thần của trà đạo được biết đến qua bốn chữ “Hòa,  
Kính, Thanh, Tịch”. “Hòa” có nghĩa là sự hài hòa giữa con người và  
thiên nhiên, sự hòa hợp giữa trà nhân với các dụng cụ pha trà. “Kính”  
509  
là lòng kính trọng, sự tôn kính đối với người khác, thể hiện sự tri ân  
cuộc sống. Khi lòng tôn kính với vạn vật đạt tới sự không phân biệt thì  
tấm lòng trở nên thanh thản, yên tĩnh, thể hiện sự thanh tịnh, đó chính  
là ý nghĩa của chữ “Thanh”. “Tịch” có nghĩa là sự vắng lặng, tĩnh lặng  
mang đến cho con người cảm giác yên tĩnh, vắng vẻ. Vì thế trà đạo từ  
khi ra đời cho đến nay vẫn có một sức sống lâu bền trong đời sống  
tinh thần của người dân Nhật. Nhờ có trà đạo, Nhật Bản đã giữ được  
những truyền thống văn hóa của dân tộc mình.  
Còn ở Việt Nam, có thể nói trà có mặt trong mọi hoạt động của  
xã hội, từ trong gia đình ra ngoài phố, từ nhà hàng, quán chợ cho đến  
những nơi tiếp khách sang trọng. Từ tế lễ, cưới hỏi, sinh nhật, ma  
chay, cúng giỗ,… và cách mà người Việt uống trà cũng rất đa dạng  
không theo chuẩn mực nào, biểu hiện văn hóa ứng xử đầy tính sáng  
tạo của người pha và người được mời uống, mà ít chịu ảnh hưởng của  
người Trung Quốc. Người Việt không có trà đạo như Nhật Bản,  
nhưng không thể nói người việt thưởng thức trà kém nghệ thuật hơn.  
Người xưa thưởng trà rất công phu, phải hứng từng giọt sương trên  
búp sen vào lúc chưa có ánh nắng, hoặc lấy nước mưa để pha trà, sẽ  
giúp cho nước trà tăng thêm vị ngọt, sau khi uống sẽ thấy vị ngọt lưu  
lại nơi cổ họng. Ngày nay, nhiều người cho rằng thưởng trà cho trọn  
vẹn phải đủ năm điều chuẩn mực: sắc - thanh - khí - vị - thần. Điều ấy  
cũng có chút ý nghĩa về tinh thần.  
Với một vài cảm nhận như trên khi xem xét văn hóa giữa hai  
nước, chúng tôi hy vọng rằng, đôi điều này có thể góp phần nhỏ bé  
trong giao lưu, hợp tác cùng phát triển giữa hai nước. Khi mối quan hệ  
trên mọi phương diện, văn hóa, ngọai giao, du lịch, đầu tư phát triển  
kinh tế, du học,… đang diễn ra ngày một tốt đẹp.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Đào Duy Anh (1951), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Bốn  
phương.  
2.  
Đoàn Lê Giang (2009), Nho giáo Nhật Bản và nho giáo Việt Nam,  
510  
3.  
4.  
Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB TP  
HCM.  
Trà đạo trong văn hóa Nhật Bản, https://www.tourchaua.net/van-hoa-  
am-thuc/tra-dao-trong-van-hoa-nhat-ban.  
(Bài đã đăng trong Kỷ yếu: Nghiên cứu, giảng dạy Việt Nam học và tiếng  
Việt - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,  
2017)  
511  
pdf 11 trang Thùy Anh 17580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đôi điều cảm nhận về những nét tương đồng và dị biệt trong văn hóa Việt Nam và Nhật Bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdoi_dieu_cam_nhan_ve_nhung_net_tuong_dong_va_di_biet_trong_v.pdf