Hầu đồng trong đời sống tâm linh người Việt ở Lâm Đồng
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
HẦU ĐỒNG TRONG ĐỜI SỐNG TÂM LINH NGƯỜI VIỆT
Ở LÂM ĐỒNG
Bùi Thị Thoaa*
aKhoa Quốc tế học, Trường Đại học Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam
*Tác giả liên hệ: Email: [email protected]
Tóm tắt
Hầu đồng là nghi lễ quan trọng nhất trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở
Lâm Đồng. Hiện nay, nghi lễ này đã và đang có những ảnh hưởng nhất định đối trong đời
sống tâm linh của một bộ phận cư dân Việt nơi đây. Thông qua quá trình điền dã, tham dự
và khảo sát trên 40 vấn hầu vào các dịp lễ khác nhau, cùng với phương pháp phỏng vấn sâu
một số thanh đồng tại Lâm Đồng, bài viết sẽ tập trung nghiên cứu những đặc trưng của nghi
lễ hầu đồng nơi đây. Qua đó, bài viết sẽ chỉ ra những tác động tích cực cũng như một số hạn
chế do hầu đồng mang lại đối với một số nhóm cư dân Việt nơi đây.
Từ khóa: Hầu đồng, tín ngưỡng thờ Mẫu, người Việt, Lâm Đồng.
197
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
MEDIUMSHIP IN THE SPIRITUAL LIFE OF ETHNIC
GROUP VIET IN LAM DONG
Bui Thi Thoaa*
a Faculty of International Studies, Dalat University, Lamdong, Vietnam
*Corresponding author: Email: thoabt@dlu.edu.vn
Abstract
Mediumship is the most important ritual in the practices related to the Viet beliefs in the
Mother Goddesses of ethnic group Viet in Da Lat, Lam Dong. Nowadays, this ritual plays
important roles in the spiritual life of Viet in Lam Dong. Through the fieldwork, attendance
and survey on over 40 different occasions, along with in-depth interviews with some of the
fields in Lam Dong, the paper will focus on the characteristics of rituals for the homeland
here. Accordingly, the article will show positive effects as well as some restrictions brought
by Vietnamese dong for some groups of Vietnamese residents here
Keywords: Mediumship; beliefs in the Mother Goddesses; ethnic group Viet; Lam Dong.
198
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
1.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguyễn Duy Hinh cho rằng: “Hiện tượng lên đồng là một hiện tượng bệnh lý
xuất phát từ tiềm thức. Nói hiện tượng bệnh lý là chỉ hiện tượng bất bình thường của con
người trong trạng thái ý thức không kiểm soát được hành vi, hành vi ngôn ngữ do tiềm
thức điều khiển. Cơ chế đó chỉ có ở một số người đặc biệt mà người ta gọi là người có
“căn đồng” (Nguyễn Duy Hinh, 2004: 70).
Ngô Đức Thịnh nhận định: “Lên đồng không phải là một tín ngưỡng độc lập mà
chỉ là một nghi lễ đặc trưng của Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Hiện tượng lên đồng thực
chất là sự nhập hồn nhiều lần của các thần linh Tứ phủ vào thân xác của các bà Đồng,
ông Đồng để trị bệnh, cầu sức khỏe, tài lộc, may mắn… (Ngô Đức Thịnh, 2007: 7).
Ngày 01/12/2016, sau khi UNESCO công nhận Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu
Tam phủ của người Việt là Di sản văn hóa thế giới, sinh hoạt tín ngường thờ Mẫu tại Việt
Nam nói chung, Lâm Đồng nói riêng đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực. Bài viết
sẽ tập trung tìm hiểu một số đặc trưng của hầu đồng này tại mảnh đất nam Tây Nguyên,
đồng thời nhận diện những tác động của nó trên cả phương diện tích cực và tiêu cực đối
với một số nhóm cư dân Việt tại đây.
Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp quan sát -
tham dự, phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp so sánh… Thông qua đó, bài viết
sẽ thực hiện những mục tiêu đề ra.
2.
MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG TRONG NGHI LỄ HẦU ĐỒNG Ở LÂM ĐỒNG
Đầu thế kỷ XX, người Việt bắt đầu di cư đến Lâm Đồng. Bên cạnh những hành
trang thiết yếu phục vụ cuộc sống, họ còn mang theo trong hành trang tâm linh của mình,
tín ngưỡng thờ Mẫu tới nhiều vùng đất mới. Tuy cùng gốc với tín ngưỡng thờ Mẫu ở châu
thổ Bắc bộ; song tục thờ Mẫu nói chung và nghi lễ hầu đồng nói riêng tại mảnh đất này
vẫn mang những nét đặc trưng nhất định:
Thứ nhất: Tại Lâm Đồng hiện nay đang song song tồn tại hai hình thức hầu đồng
kiểu miền Bắc (sau đây gọi là hầu Bắc) và hầu đồng kiểu miền Trung (hầu hội/hầu Huế)
trong sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu.
- Hầu Bắc tại Lâm Đồng được thực hiện bởi các thanh đồng gốc miền Bắc. Mỗi
vấn hầu/buổi hầu do một thanh đồng thực hiện tuần tự từ giá Quan Lớn, hàng Chầu, hàng
Ông Hoàng, hàng Cô và hàng Cậu
- Hầu hội tại Đà Lạt được thực hiện bởi những người Việt gốc miền Trung. Mỗi
vấn hầu có nhiều thanh đồng ( từ 3, 4, thậm chí là 10, 15 người) cùng tham gia theo tuần
tự theo các cõi Thượng Thiên, cõi Trung Thiên, cõi Thượng Ngàn, cõi Thoải phủ
Thứ hai: so với khu vực châu thổ Bắc bộ, dù Lâm Đồng tồn tại hai dạng thức hầu
đồng nhưng đều là dạng lên đồng Mẫu - tức là các vấn hầu các vị Thánh Mẫu và các vị
Thánh Tam phủ, Tứ phủ nhằm cầu xin sức khỏe, may mắn, tài lộc… theo kiểu “mì ăn
199
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
liền” cho cuộc sống hiện tại. Ở Lâm Đồng hiện nay hoàn toàn không tồn tại hình thức hầu
của dòng thanh đồng thờ Đức Trần Triều với những hình thức hầu xiên lình, lấy dấu nặn,
trừ tà sát quỷ… như một số đền phủ phía Bắc.
Thứ ba: dù tồn tại hình thức hầu đồng kiểu miền Bắc, song so với Bắc bộ, cách
xử lý một số việc Thánh ở một số lễ hầu tại Lâm Đồng vẫn có sự khác biệt. Chẳng hạn
trong nghi lễ cắt tiền duyên: Ở miền Bắc, các thầy Đồng thường thực hiện nghi lễ này
trong giá Quan Lớn Tuần Tranh bởi theo quan niệm dân gian ông là vị thánh có khả năng
“thông chi tam giới: Thiên - Địa - Thoải” với năng lực trừ tà sát quỷ, đảo bệnh, di cung
hoán số, cắt tiền duyên, cầu tình duyên, cầu công danh… Do đó, ông là vị thánh duy nhất
có khả năng cắt giải tiền duyên cho con nhang đệ tử. Ngoài khả năng “thông chi tam giới”
với những pháp thuật, năng lực siêu phàm kể trên; căn nguyên của việc Quan Đệ Ngũ
Tuần Tranh có khả năng cắt giải duyên âm hay tiền duyên còn liên quan tới một nỗi oan
tình rất lớn trong cuộc đời trần thế của ông1.
Tuy nhiên từ năm 2014 đến nay, các vấn hầu chúng tôi đã tham dự tại Lâm Đồng
tuyệt đối không có bất kỳ ông đồng, bà đồng nào thực hiện việc cắt tiền duyên cho khách
hàng tại giá Quan Lớn Tuần Tranh. Họ thường thực hiện công việc này ở giá của vị thánh
mà họ hợp căn hay dân gian gọi là được “ăn lộc”. Chẳng hạn bà đồng L - chủ đền Cô Đôi
(huyện Đức Trọng) - là người có căn Cô Đôi nói cách khác là được “ăn lộc” Cô Đôi, khi
lên đồng bà sẽ thực hiện việc cắt duyên âm cho khách hàng ở giá của vị thánh này. Qua
trao đổi với chúng tôi, những thầy đồng thực hiện lễ cắt tiền duyên theo dạng thức này
cho biết: “Việc thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ ở Lâm Đồng chỉ mang tính chất thờ vọng; theo
đó, việc thờ Quan Lớn ở đây cũng chỉ là vọng thờ thôi. Do đó, họ sẽ cắt tiền duyên cho
khách ở giá của vị thánh mà họ hợp căn bởi họ tin rằng nếu làm như thế thì pháp lực của
vị thánh ấy sẽ đạt mức cao nhất và việc cắt sẽ hiệu quả (Trích phỏng vấn sâu, nữ thanh
đồng N.T.L, 65 tuổi, Đức Trọng).
Thứ tư: dù tồn tại hình thức hầu đồng kiểu miền Trung, song các giá hầu đồng
dòng này tại Lâm Đồng vẫn có đôi chút khác biệt. Chẳng hạn trường hợp giá Quan lớn
Đệ Nhất Thượng Thiên. “Ở Huế, các thanh đồng chỉ hầu giá Quan lớn Đệ Nhất trong
các vấn hầu lễ (đại đàn) để chứng lễ; các vấn hầu tiệc, hầu vui thường chỉ có Quan Lớn
Đệ Nhị giáng đồng” (Trích phỏng vấn sâu, nữ thanh đồng H.T.Đ, 57 tuổi, Đà Lạt). Thực
tế, tất cả các vấn hầu hội do các thanh đồng người Huế hoặc gốc miền Trung ở Lâm Đồng
1
Truyền thuyết kể rằng: “Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông
Tranh. Tại quê nhà, ông có cảm tình với một người thiếu nữ xinh đẹp, người thiếu nữ ấy vốn là vợ lẽ của quan huyện ở đó, nhưng vốn
không hạnh phúc với cảnh “chồng chung”, nàng cũng đáp lại tình cảm của ông mà không hề nói cho ông biết là nàng đã có chồng.
Khi viên quan huyện kia biết chuyện, vu oan cho ông đã quyến rũ vợ mình. Quan Tuần Tranh bỗng nhiên mắc hàm oan, bị đem đày
lên chốn Kì Cùng, Lạng Sơn. Tại đây, ông đã tự sát mong rửa oan và hoá xuống dòng sông Kì Cùng. Về lại nơi quê nhà, ông hiện
thành đôi bạch xà, thử lòng ông bà nông lão, sau đó được ông bà nông dân nuôi nấng như thể con mình. Khi quan phủ biết chuyện đã
giết chết đôi rắn kia đi. Hai ông bà thương xót, xin thả rắn xuống dòng sông Tranh. Thời Thục Phán An Dương Vương, vua tập hợp
thuyền bè để chống giặc Triệu Đà ở ngay bến sông Tranh, nhưng tại chỗ dòng xoáy đó, thuyền bè không tài nào qua được mà lại có
cơn giông tố nổi lên giữa dòng. Vua bèn mời các vị lão làng đến lập đàn cầu đảo thì lập tức sóng yên bể lặng, hơn nữa, quân sĩ ra trận
cũng được thắng to. Ghi nhớ công đức, vua Thục giải oan cho ông và phong là Giảo Long Hầu. Sau này ông còn hiển thánh linh ứng,
có phép nhà trời, cai quản âm binh, ra oai giúp dân sát quỷ trừ tà, dẹp hết những kẻ hại nước hại dân”. Dẫn theo
200
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
mà chúng tôi đã tham dự nhiều năm gần đây dù là hầu tiệc vui hay hầu lễ (cần chứng lễ
đại đàn), các thanh đồng đều hầu giá Quan Đệ Nhất Thượng Thiên.
3.
TÁC ĐỘNG CỦA HẦU ĐỒNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TÂM LINH NGƯỜI VIỆT
Ở LÂM ĐỒNG
3.1. Đối với nhóm thanh đồng
3.1.1. Một số tác động tích cực
Thứ nhất, hầu đồng như một phương pháp trị liệu, giúp những người có căn mạng
thoát khỏi những rối loạn tâm sinh lý
Cũng như nhiều ông đồng, bà đồng khác trong cả nước, tại Lâm Đồng, việc ai đó
trở thành thầy đồng thường không phụ thuộc vào bản thân họ mà do thần linh lựa chọn,
dân gian gọi là người có “căn đồng”. Qua khảo sát và phỏng vấn sâu các thanh đồng tại
đây, chúng tôi nhận thấy hầu hết trong số họ đều trải qua khoảng thời gian đau ốm bất
thường, điên dại, thậm chí là “thập tử nhất sinh”… mà không rõ nguyên nhân. Hầu hết
trong số họ đã chạy chữa, thuốc thang nhiều nơi nhưng không khỏi (dân gian gọi đó là
hiện tượng bị cơ đày). Sau cùng, bệnh nhân phải tìm đến “cửa Mẫu” để cúng khấn. Họ
được các đồng đền/chủ đền phán rằng đó là “bệnh nghề nghiệp” hay là người có “căn
mạng”. Để chấm dứt tình trạng cơ đày, họ sẽ được các “vị tiền bối” hướng dẫn tập sự.
Trước khi trở thành thầy Đồng thực sự, những người này phải trải qua trình đồng mở
phủ2.
Trường hợp cô đồng D (xã Mê Linh - Lâm Hà) là một ví dụ. Cô D sinh năm 1959,
quê ở Vĩnh Phúc, cùng gia đình di cư vào Lâm Hà năm 1989. Vài năm sau khi mới định
cư tại vùng quê mới, công việc làm ăn canh tác cây công nghiệp của gia đình cô khá thuận
lợi. Tuy nhiên từ năm 1997 đến 2001, tự nhiên cô D đổ bệnh như “ốm đứng”.
Một tháng 30 ngày tôi đều bị các Ngài hành, đang yên đang lành bỗng dưng lăn
đùng ra toàn thân tím tái, lạnh ngắt như người chết đuối. Trong khoảng thời gian
từ năm 1997 đến 2001, tôi đã đi chữa trị nhiều nơi không khỏi, cũng chẳng tìm ra
bệnh gì, thậm chí còn bị người thân cho rằng ốm giả vờ để trốn việc nặng nhọc.
(Trích phỏng vấn sâu, nữ thanh đồng D, 58 tuổi, Lâm Hà, Lâm Đồng)
Cũng trong khoảng thời gian này, cô D cũng được nhiều đồng bói phán có căn
đồng, phải ra trình đồng mới mong khỏi bệnh. Cuối năm 2001, cô D được một thầy đồng
làm lễ bốc bát nhang rồi trình đồng mở phủ.
Sau lễ hầu trình đồng mở phủ, bệnh tình của tôi đã thuyên giảm. Tuy nhiên do
điều kiện kinh tế khó khăn, nên nhiều năm sau tôi không thể thực hiện hầu Thánh.
2Lễ trình đồng mở phủ: những người có căn đồng thì phải ra trình đồng trong khóa lễ trình các giá hàng Quan Lớn giáng ứng đồng
thầy để làm các thủ tục khai phủ gọi là trình đồng mở phủ. Sau lễ này, họ có thể mở phủ riêng để tự mình làm việc thánh và trở thành
các thầy đồng thực sự.
201
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
Vì vậy bệnh tình vẫn tiếp tục kéo dài. Thậm chí ngày mùng một Tết Nguyên Đán
năm 2015, tôi còn phải nhập viện cấp cứu vì bệnh tình quá nặng. Đến năm 2016,
gia đình gom góp xây dựng lại ngôi điện khang trang hơn, bản thân tôi cũng bắt
đầu thực hiện những vấn hầu Thánh đều đặn hơn (1 năm từ 2 đến 3 vấn hoặc
nhiều hơn). Vì thế từ năm 2016 đến nay, sức khỏe của cô D đã tốt hơn nhiều, cân
nặng cũng tăng cả chục kg chứ không còn gày gò ốm yếu như thời gian bị cơ đày,
kinh tế gia đình cũng khá giả hơn với những mối khách đặt làm mã ngày càng
nhiều. (Trích phỏng vấn sâu, nữ thanh đồng D, 58 tuổi, Lâm Hà, Lâm Đồng)
Trường hợp cô đồng H, Đà Lạt là một ví dụ khác:
Tôi vốn là một người buôn bán tại chợ đêm Đà Lạt từ năm 2000, công việc làm
ăn đang “một vốn bốn lời”, nhưng đến năm 2010 thấy người có những biểu hiện
bất thường như thường xuyên ốm yếu, thích ăn thủy tinh, công việc làm ăn sa sút,
có lúc lại đi lang thang bất định. Sự cơ đày này kéo dài gần 4 năm. Cuối năm
2013, các Ngài hành khiến tôi bỏ nhà đi lang thang đúng 100 ngày. Sau đó các
Ngài lại “cơ”/chỉ dẫn xuống Đức Trọng vào Đền Bảo Hà (Nguyễn Đình Chiểu -
Liên Nghĩa). Cuối cùng được đồng đền Đ.X.Q giúp ra đồng mở phủ vào năm 2014
tôi mới khỏi bệnh. (Trích phỏng vấn sâu, nữ thanh đồng H, 55 tuổi, Đà Lạt, Lâm
Đồng)
Tháng 2/2017 sau khi làm lễ hầu tạ kết thúc 3 năm trình đồng, cô H bắt đầu thực
hiện những vấn hầu riêng trong năm. Hiện nay, không chỉ cô H mà chồng và con trai cô
cũng tham gia sinh hoạt tín ngưỡng này. Bản thân người con trai thứ hai của cô cũng đã
trình đồng mờ phủ trở thành cung văn chuyên phục vụ các vấn hầu của mẹ. Để nâng cao
trình độ diễn xướng, cô H còn gửi con ra Hà Nội để theo học các cung văn chuyên nghiệp.
Thầy Đồng O tại Khu phố 10 - Thị trấn Cát Tiên - huyện Cát Tiên cũng là một
trong nhiều trường hợp bị cơ đày theo kiểu điên dại trước khi chính thức đến với nghề
hầu Thánh. Qua lời kể của thầy Đồng O chúng tôi được biết, anh sinh năm 1976, quê
Giao Thủy - Nam Định đã di cư vào Cát Tiên:
Từ năm 26, 27 tuổi; tôi thường xuyên có những biểu hiện điên dại, mất khả năng
nhận thức, hò hét suốt đêm, thậm chí trần truồng nhảy xuống ao... Gia đình đã
chạy chữa tại Sài Gòn, Hà Nội và nhiều nơi khác nhưng vẫn không tìm ra nguyên
nhân của bệnh. Cuối cùng các Ngài đã “cơ”/báo mộng để tôi tìm đến một thầy
đồng ở Hà Nội nhờ làm lễ trình đồng mở phủ. Từ năm 2007 đến nay, tôi thường
xuyên thực hiện nhiều vấn hầu trong năm vào các ngày húy kị hay đản sinh của
các vị thánh hoặc hầu chứng lễ cho khác hàng… (Trích phỏng vấn sâu, nam thanh
đồng O, 42 tuổi, Cát Tiên, Lâm Đồng)
Hiện tại, ngôi đền do thanh đồng O làm chủ là một trong những cơ sở thờ mà việc
thờ tự cũng như thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu khá tiêu biểu tại huyện Cát Tiên.
Qua một số ví dụ trên cho thấy, trước khi trở thành thanh đồng, bản thân một
người nào đó thường trải qua những rối loạn về tâm sinh lý với những biểu hiện điên dại
202
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
bất thường mà dân gian gọi là “cơ đày”. Tuy nhiên, thông qua nghi lễ lên đồng với sự tác
động của các yếu tố như âm thanh, tiếng động, lời ca, nhảy múa, màu sắc, rượu… đã giúp
những người này tự chữa được chứng “bệnh âm” cho bản thân mình. Bởi “Chính trong
cái môi trường tự biến đổi ý thức và tự ám thị đó, cái vô thức tiềm ẩn trong con người
được đánh thức, giải phóng cho các kìm nén được giải tỏa, tạo cho người trở lại thăng
bằng hơn, khắc phục những hành vi lệch chuẩn trong hành vi và tái hòa nhập cộng đồng”
(Ngô Đức Thịnh, 2017: 193).
Một thực tế đã và đang diễn ra tại Lâm Đồng hiện nay là ban đầu do tình trạng cơ
đày, muốn chữa khỏi chứng “bệnh âm” mà một người nào đó thường “bị ép” trở thành
đồng bóng. Nhưng khi đã trở thành ông đồng, bà đồng rồi thì ngược lại bản thân họ lại có
tâm lý mong chờ và háo hức đến với những vấn hầu mới do bản thân thực hiện hoặc tham
gia những vấn hầu của các bạn đồng khác. “Đã là con nhà thánh (tức thanh đồng), mỗi
năm không bắc ghế hầu Mẫu 1 hoặc 2 vấn thì thấy người bứt rứt, khó chịu lắm” (Trích
phỏng vấn sâu, nữ thanh đồng L, 45 tuổi, Bảo Lộc, Lâm Đồng).
Thứ hai, hầu đồng giúp người phụ nữ chuyển đổi vai trò quyền lực trong môi
trường tâm linh và đời sống xã hội
Đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu cụ thể về số lượng cũng như tỷ lệ nam và
nữ thanh đồng tại các địa phương cũng như phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên từ năm 2004
đến nay, qua khảo sát và tiếp xúc với các thanh đồng tại Lâm Đồng, chúng tôi nhận thấy
số lượng các thanh đồng là nữ chiếm số lượng đa số khoảng 70%. Do đó ở một mức độ
nhất định có thể xem tục thờ Mẫu và hầu đồng chính là loại hình văn hóa gắn liền với
giới nữ.
Truyền thống cũng như hiện tại, phụ nữ vẫn được xem là phái yếu. Dù đến nay,
quá trình đấu tranh để tiến tới sự bình đẳng nam nữ đã đạt những kết quả nhất định, song
trong thực tế phụ nữ vẫn là người chịu nhiều thiệt thòi, bất công, thậm chí là bạo lực gia
đình… Khi tham gia sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu, đặc biệt là nghi thức lên đồng đã cho
phép người phụ nữ “có cơ hội thoát ra khỏi cuộc sống thường nhật; mang hình ảnh thần
thánh vừa đẹp đẽ vừa tôn nghiêm và thánh thiện” (Vũ Thị Tú Anh, 2012). Nói cách khác,
ghi lễ này giúp họ bước vào thế giới của các vị thánh - một “xã hội tâm linh” khác hoàn
toàn với thế giới mà họ đang sống. Ở thế giới đó, họ tự biến mình thành các vị Thánh
Mẫu có quyền năng che chở cho con người, thành các vị Quan Lớn với những chiến công
hiển hách, thành các Ông Hoàng, bà Chúa/Chầu đầy quyền lực… Trong lúc hầu đồng, họ
có thể tự do thoải mái thể hiện sự uy nghiêm, quyền lực trong giá các Quan Lớn; hoặc sự
thân thiện, vui tươi, tự do, hòa đồng với con nhang đệ tử như trong giá Ông hoàng, giá
Cô, giá cậu Cậu… Khi đang trong vai trò là các Thánh, họ có “quyền” nhắc nhở, sai khiến
thậm chí quở mắng bất cứ con nhang đệ tử nào tỏ ra bất kính với các thánh hoặc có những
suy nghĩ, biểu hiện không đúng mực trong cuộc sống thường ngày…
Trong những lễ hầu tôi đã tham dự tại Lâm Đồng từ năm 2004 đến nay, bản thân
đã tận mắt chứng kiến không ít cuộc chuyển đổi thân phận và quyền lực giữa nhiều cặp
vợ chồng. Trong đó, đáng chú ý là lễ hầu đồng ngày 10/9/2017 (nhằm ngày 20/7/2017
âm lịch) của thanh đồng H tại Vân Hương Linh Từ trong khuôn viên Chùa Linh Giác cũ
203
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
ấp Đông Tĩnh - Phường 8 - Đà Lạt. Trong suốt buổi hầu, nhất là vào các giá Quan Lớn
và, thanh đồng H luôn tỏ ra rất uy nghiêm, thậm chí có phần hách dịch đối với một bộ
phận nam giới tham gia vấn hầu. Mượn cớ phát lộc, bà đồng H đã gọi một người đàn ông
vào quỳ trước mặt, những thay vì phát lộc ngay, bà H còn phán xét thậm chí trách mắng
và căn dặn ông đủ điều. Người đàn ông kia với khuôn mặt khá dữ tợn song bấy giờ chỉ
biết một dạ hai vâng không ngớt trước dáng vẻ oai phong và cao ngạo của bà mà thôi.
Trong khi bản thân còn đang băn khoăn thắc mắc: “Sao người đàn ông ấy lại được Quan
gọi vào lâu thế nhỉ, lại còn dặn dò nhiều thế? ”, chợt người ngồi bên cạnh tôi nói nhỏ rằng
người đàn ông đang quỳ trong sân chầu chính là chồng bà H. Họ còn rỉ tai tôi bảo rằng,
thường ngày ông này cờ bạc dữ lắm, nhậu nhẹt suốt ngày, thậm chí còn gia trưởng, hách
dịch, đánh vợ nữa cơ… Có lẽ vì lý do này mà nhân trong lúc “trong vai” Quan Lớn, bà
đã mượn cớ để “dạy dỗ” ông chồng kia chăng ?
Một trường hợp khác trong vấn hầu trình đồng mở phủ tại Quang Hòa Điện huyện
Di Linh vào ngày 05/10/2017 (nhằm ngày 16/8/2017 Âm lịch). Trong giá Quan Lớn Đệ
Nhị, cô đồng N.T.L đã quát mắng ầm ĩ những thành viên trong gia đình về những sai sót
trong việc bố trí thờ tự tại bản đền. Sau đó, cô cho gọi một người đàn ông chừng ngoài
40 tuổi (là anh T.V.B - chồng cô) vào quỳ lạy trong chiếu hầu rồi liên tiếp nhắc nhở với
giọng điệu quở trách về những hành vi ứng xử của anh đối với những thành viên trong
gia đình. Sau đó cô lại ra lệnh cho người đàn ông này về những việc sắp tới phải làm…
Trong suốt quá trình quỳ lạy trước Quan Lớn Đệ Nhị (mà ngoài đời là vợ của mình), anh
T.V.B chỉ biết hầu hạ dạ vâng trước những lời thánh dạy rồi xin hứa sẽ thực hiện đúng
như lời các Ngài đã phán.
Ngoài vai trò là các thần linh, sự chuyển đổi thân phận, quyền lực của các nữ
thanh đồng trong mỗi vấn hầu còn thể hiện ở chính thân phận của con người trong mối
quan hệ cụ thể với gia đình hay cộng đồng những người theo tín ngưỡng thờ Mẫu tại
những nơi mà thanh đồng sinh hoạt. Thực tế tại Lâm Đồng hiện nay, ngoài thời gian thực
hiện vấn hầu, vai trò xã hội của một số thanh đồng cũng có những thay đổi nhất định.
Những thanh đồng thâm niên, có nhiều đệ tử không những nhận được sự nể trọng của các
đệ tử và những người từng được họ giúp đỡ mà còn cả những bạn đồng khác và đệ tử của
những người bạn đồng này. Không chỉ tôn trọng các thanh đồng khi họ hóa thân thành
các vị thánh Tam phủ, Tứ phủ mà trong cuộc sống thường nhật, thay vì gọi tên thanh
đồng, các con nhang đệ tử thường gọi thanh đồng bằng tên các vị thánh. Chẳng hạn, Cậu
Bé, Cô Chín, Cô Đôi, Ông Chín, Ông Bảy… (để gọi những người được cho là ăn lộc của
Cậu Bé, Cô Chín, Cô Đôi, Ông Chín, Ông Bảy…)
Thứ ba, hầu đồng giúp các thanh đồng có cơ hội sống đúng với giới tính thật
Khái niệm đồng bóng thường được dùng để chỉ những thầy đồng. Trong thực tế,
những ông đồng, bà đồng thường có tính cách không giống với những người bình thường.
Nếu là nam thường có tính cách ẻo lả, giọng nói the thé, tay chân mềm mại, múa rất khéo,
thích trang điểm hoặc mặc đồ có màu sắc sặc sỡ… Nếu là nữ lại có giọng ồm ồm, tướng
nam nhân, uống rượu, hút thuốc… Những trường hợp như thế thường được dân gian gọi
là “bị bóng”.
204
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
Trường hợp thầy đồng H, sinh năm 1977, chủ một ngôi điện tại xã Liên Hà, huyện
Lâm Hà là một ví dụ. Theo ông T (thân sinh của thầy đồng H), ngay từ nhỏ cậu đã kéo
léo trong việc hát múa, cắm hoa… giọng nói thì the thé kiểu con gái, dáng đi uyển
chuyển… dân gian gọi là “bóng”… Từ năm 13 tuổi, cậu H bị cơ đày. Mỗi đêm cậu thường
mơ nói, hỏi ra mới biết là các Ngài về “dạy âm”. Năm 1995, sau khi được các Ngài báo
mộng, cậu H đã làm lễ trình đồng mở phủ tại một ngôi đền ở Văn Điển - Hà Nội và trở
thành thầy đồng với căn Cơ Đôi.
Một trường hợp khác là cô đồng L, 45 tuổi, Bảo Lộc. Cô L ra đồng từ tháng 6/1998
(Âm lịch) đến nay đã tròn 20 năm. Cũng như nhiều thầy đồng khác, trước khi đến với
công việc nhà Thánh, cô đã trải qua thời kỳ đau ốm điên dại bất thường kéo dài trong
nhiều năm. Sau khi được các đồng thầy phát hiện để chữa trị bằng cách ra đồng mở phủ,
bệnh của cô đã khỏi hẳn. Chúng tôi đã có dịp quen biết với cô L từ năm 2006 khi tiến
hành khảo sát nghiên cứu để thực hiện luận văn thạc sĩ, được biết cô L có căn Cậu Bé Đồi
Ngang. Đây là một nam thần có tính cách vui tươi và tinh nghịch kiểu trẻ con. Trong cuộc
sống thực tế, cô L cũng là người rất tươi vui, nhanh nhẹ và dí dỏm… rất giống với bản
tính Cậu Bé - người mà cô được “ăn lộc”.
Thanh đồng N, 62 tuổi, xã Nam Hà - thị trấn Nam Ban - huyện Lâm Hà lại là một
trường hợp khác. Tuy là thanh đồng nữ nhưng vì cô N được ăn lộc hàng Quan nên giọng
nói có âm lượng lớn và có phần ồm ồm, dân gian hay gọi là tình trạnh “ái nam ái nữ”.
Ở Lâm Đồng hiện nay, tuy chưa có con số thống kê cụ thể song tỷ lệ những thanh
đồng nam được ăn lộc thánh nữ thành “đồng cô” chiếm số lượng vượt trội với khoảng
trên 80%. Trong khi xu hướng các thanh đồng nữ được ăn lộc thánh nam gọi là “đồng
cậu” chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 50%. Trong quá trình thực hiện các vấn hầu, ngoài giá của
các vị Thánh có cùng giới tính, mỗi ông đồng bà đồng còn thực hiện hầu rất nhiều giá của
các vị Thánh không cùng giới tính với mình, như các bà Đồng trong giá các Quan Lớn,
Ông Hoàng, Cậu hoặc các ông Đồng với các giá Chúa, Chầu, Cô. Khi thực hiện những
giá hầu dạng này, bản thân các ông Đồng, bà Đồng sẽ có cơ hội thể hiện những tính cách
bấy lâu tiềm ẩn trong con người của họ mà chưa hoặc ít có cơ hội được thể hiện trong
cuộc sống thường nhật
3.1.2. Những tác động không mong muốn
Thứ nhất, vì lợi lộc trần thế, một số người đã ra trình đồng mở phủ, biến hoạt
động này trở thành một nghề để tăng thu nhập
Lâm Đồng cũng như cả nước hiện chưa có một quy định cụ thể nào về tổng số chi
phí mỗi vấn hầu. Tuy nhiên những con số được các đồng đền, con nhang rỉ tai nhau là
khoảng 15-30 triệu cho những vấn hầu thông thường (tức là vấn hầu vui trong các ngày
đản sinh hay húy kị của các Thánh Tứ phủ), khoảng 60-100 triệu hoặc hơn thế cho các
vấn hầu mang tính đại đàn như lễ trình đồng mở phủ, lễ trả nợ Tứ phủ, lễ phả độ gia
tiên… Rõ ràng đó là những con số không hề nhỏ đối với mức thu nhập của những người
dân lao động bình thường.
205
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
Do sự lạm dụng tôn giáo, tín ngưỡng của một số thầy đồng dởm với những chiêu
trò như phán truyền cho khách rằng họ có căn đồng dù chỉ với những biểu hiện rất bình
thường như (muộn vợ muộn chồng, làm ăn thất bại, sức khỏe không tốt, thường gặp bất
ổn trong cuộc sống…), hoặc nâng giá vấn hầu… đã khiến cho số lượng những người “sợ”
mà tham gia hoạt động thờ Mẫu ngày càng nhiều cũng như giá tiền của mỗi vấn hầu ngày
càng tăng. Vì vậy, thu nhập của một số đồng thầy lợi dụng tục thờ Mẫu ngày càng lớn.
Thực trạng này đã khiến không ít người “bị kích thích” với xu hướng muốn trở thành thầy
đồng để có cơ hội nâng cao thu nhập. Thực tế ở Lâm Đồng hiện nay xuất hiện không ít
trường hợp cả gia đình cùng tham gia hoạt động thờ Mẫu như cha làm thầy cúng kiêm hát
văn, mẹ làm bà đồng, con chơi nhạc cụ hoặc “mô hình” khác là cha hát văn, mẹ hầu đồng,
con chơi nhạc cụ và một ê kíp những bà con họ hàng, đệ tử tham gia sản xuất các sản
phẩm vàng mã phục vụ cho khách hàng theo kiểu “bao trọn gói”. Với những mô hình kiểu
này, khách hàng chỉ cần chi trả tổng kinh phí và đến dự lễ theo ngày giờ đã định, việc còn
lại do đồng thầy và một ê kíp do thầy quả lý thực hiện.
Thứ hai, một số người không có căn đồng vẫn ra trình đồng mở phủ
Dù không phổ biến, song hiện tượng một số người dù không có căn đồng vẫn ra
trình đồng mở phủ đã và đang xuất hiện trong sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lâm
Đồng. Ở dạng này, bản thân người có nhu cầu trình đồng phải trả cho đồng thầy một
khoản tiền khá lớn từ 60 - 100 triệu đồng (tùy vào yêu cầu của thầy hoặc nhu cầu muốn
tiến hành nghi lễ lớn hay nhỏ của bản thân người đó). Đây thực sự là khoản tiền không
nhỏ đối với mức thu nhập bình quân GDP của nước ta hiện nay3. Câu hỏi đặt ra là tại sao
một số người lại sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền không nhỏ để thực hiện nghi lễ mà bản
thân họ không thực sự cần thiết như những người bị điện dại, cơ đày… đã trình bày ở
trên? Theo tôi có hai lý do chính dẫn đến tình trạng này:
Lý do thứ nhất: Một số người muốn thông qua nghi lễ hầu đồng để khoe của,
chứng tỏ sự giàu sang…
Tình trạng này thường xuất hiện ở một số người có kinh tế khá giả, họ thường đến
cúng lễ và xin lộc ở các điện, đền thờ Mẫu và tham dự những vấn hầu đồng. Sự hấp dẫn,
lôi cuốn của âm nhạc, trang phục cùng những lớp nang văn hóa, lịch sử và sự chuyển đổi
thân phận tạm thời của các thanh đồng thông qua mỗi giá đồng… đã dần kích thích nhu
cầu hầu đồng của những người này dù rằng bản thân không có căn đồng.
Giống như những tín đồ đạo Phật cúng dường để xây dựng chùa chiền, một số
người giàu có dù không có căn đồng cũng muốn thông qua hầu đồng để ban phát lộc cho
các thanh đồng khác và những người tham dự, đồng thời có một phần như “giọt dầu”4 đối
với bản điện nơi họ xin hầu. Tuy nhiên, việc ban lộc trong mỗi giá đồng không đơn thuần
3Mức GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2016 là 48,6 triệu đồng (Theo https://vov.vn/kinh-te/gdp-ca-nuoc-nam-2016-
viet-nam-nam-2017-vuot-du-bao-lap-dinh-trong-hon-nua-thap-ky-qua-20171227152801342.htm)
4 Giọt dầu là khoản tiền do con nhang đệ tử phát tâm cúng vào bản đền hoặc các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng.
206
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
chỉ là sự cho đi mà thông quá đó nó còn giúp các thanh đồng thể hiện quyền lực trong vai
trò là các thánh, một sự ban ơn, ban lộc đối với những người tham dự giúp tăng cảm giác
phấn khích. Khi các thánh càng tung nhiều tiền lộc, sự hào hứng đón nhận của người tham
dự càng lớn, đồng nghĩa với đó là sự phấn khích của các thanh đồng càng gia tăng. Thực
tế những người giàu có hiện nay thường thực hiện những vấn hầu từ vài chục đến hàng
trăm triệu. Một số người còn tỏ ra hãnh diện với những vấn hầu đắt tiền, thậm chí coi đó
như một kênh thể hiện đẳng cấp xã hội. Tại Lâm Đồng hiện nay chưa xuất hiện tình trạng
hầu đồng để khoe của và thể hiện sự giàu sang như vừa nêu.
Lý do thứ hai: Hầu vì tin rằng được thánh ban lộc (với những người buôn bán)
Những người hầu đồng thuộc nhóm này thường làm ghề buôn bán. Bởi việc buôn
bán thường có sự may rủi hơn những người làm công ăn lương. Họ cũng quan niệm việc
buôn bán phần nào đó phụ thuộc vào việc có “lộc/duyên” hay không, và đôi khi lộc còn
phụ thuộc vào việc hầu Thánh.
Trường hợp cô đồng T ở thôn 1 - xã Gia Lâm - Lâm Hà - Lâm Đồng lại có biểu
hiện khác. Cô là người gốc Hà Nội, năm 1977 cô đã cùng chồng con di cư đến Lâm Hà.
Cô vốn là bà chủ một Công ty Trách nhiệm hữu hạn chuyên về sản xuất phân bón cung
cấp cho thị trường trong huyện. Cô không có biểu hiện đau ốm bất thường như những
người khác. Khoảng vài năm trước, công việc làm ăn của cô và gia đình có phần sa sút,
bản thân cô mỗi khi đến các đền phủ đều cảm thấy vui hơn và như có “duyên” với cảnh
Phật Thánh. Vì vậy năm 2015, cô L đã làm lễ trình đồng mở phủ, sử dụng toàn bộ lầu hai
của căn nhà đang ở với diện tích khoảng 70m2 làm nơi thờ Thánh. Từ đó cho đến nay,
sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu tại điện thờ của đồng đền T diễn ra thường xuyên vào nhiều
dịp lễ chính cũng như các ngày vía/tiệc của đạo. Qua trao đổi với chúng tôi, cô đồng T
cho biết, bản thân không có căn cao số nặng như một số ông Đồng, bà Đồng khác, nhưng
cô vẫn ra mở phù, hầu đồng với hy vọng công việc làm ăn sẽ gặp nhiều may mắn.
Trường hợp thanh đồng H ở Tân Hà Lâm Hà cũng cho thấy những tác động của
điều kiện kinh tế thị trường đối với việc một ai đó muốn ra trình đồng mở phủ. Anh H
sinh năm 1977 ở Tân Hà - Lâm Hà là chủ một doanh nghiệp nhỏ chuyên sản xuất nước
ép chanh dây. Công việc làm ăn về cơ bản là tốt nhưng theo lời kể của vợ anh H, vài năm
gần đây anh có sa vào việc ăn chơi, cờ bạc nên kinh tế gia đình sa sút. Vợ anh H là người
có căn đồng trong khi anh thì không. Nhưng sau khi được sự góp ý từ vợ và một số người
thân trong gia đình từng đến lễ ở cửa Mẫu, anh H quyết định làm lễ trình đồng mở phủ
tại Đền Đệ Nhị Thượng Ngàn Lâm (Hiệp Thanh - Đức Trọng) ngày 16/9/2017 Âm lịch
với mong muốn cho công việc làm ăn gặp nhiều may mắn.
Thực tế, chính sự “dễ dãi” thậm chí là “xô bồ” trên con đường trở thành thanh
đồng như vừa nêu trên đã có những tác động không tích cực đối với một bộ phận thanh
đồng và những người theo tục tờ Mẫu ở Lâm Đồng. Tình trạng “ghen đồng ghen bóng”
giữa hầu hết các thanh đồng thường xuyên xảy ra. “Bà đồng đó chỉ lợi dụng việc thánh
để tư lợi” hay “buôn thần bán thánh” là những câu mà chúng tôi thường được nghe khi
phỏng vấn các thanh đồng về thực trạng hầu đồng nơi đây. Đối với không ít các thanh
đồng, nhất những thanh đồng cao niên, những vấn hầu theo kiểu “thị trường” đã khiến họ
207
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
giảm lòng tin với sự linh nghiệm hay yếu tố “thiêng” trong tín ngưỡng thờ Mẫu. “Hiện
nay có nhiều thanh đồng vì ham lợi trước mắt mà đã cố tình làm sai không ít những việc
thánh, thường bày vẽ nhiều lễ vật, gia tăng giá cả khiến nhiều người điêu đúng về kinh
tế. Không ít người phải chạy vay mượn để lo cho đủ lễ theo yêu cầu của các thầy mà
nghèo lại càng nghèo hơn.” (Phỏng vấn sâu nam thanh đồng K, 75 tuổi, Đà Lạt). “Vì cách
làm việc thiếu trách nhiệm và tư lợi của một số thanh đồng khiến nhiều nét văn hóa truyền
thống trong sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu không còn được như trước. Tôi thấy nhiều
thanh đồng không còn giữ được cái tâm trong khi làm việc thánh. Buồn lắm ! Hiện tại
những cựu đồng như tôi không còn tha thiết với nghi lễ này bởi có những con sâu làm
rầu nồi canh mà. Buồn lắm !” (Phỏng vấn sâu nữ thanh đồng B, 82 tuổi, Đà Lạt).
3.2. Đối với con nhang đệ tử
3.2.1. Một số tác động tích cực
Thứ nhất: Tạo niềm tin trong cuộc sống vì có thánh che chở
Ngoại trừ những người có căn mạng phải ra trình đồng mở phủ thành thanh đồng
như đã trình bày ở trên, đại đa số những người đến cửa Thánh, cửa Mẫu thường là những
người gặp những khó khăn hoạn nạn trong cuộc sống, không hạnh phúc trong hôn nhân,
làm ăn thất bại… Họ đến để cầu xin sự ban tài tiếp lộc, sự phù hộ che chở từ các vị thánh
Tam phủ, Tứ phủ.
Theo quan niệm dân gian, mỗi vị thánh trong Tam phủ, Tứ phủ đều có những khả
năng nhất định phù trợ cho con người trong mỗi lĩnh vực khác nhau: chẳng hạn muốn có
lộc làm ăn buôn bán người ta xin ở giá Chầu Đệ Nhị, muốn có lộc công danh sự nghiệp
người ta xin ở giá Ông Hoàng Mười; muốn cắt duyên âm lại đợi đến giá Quan Đệ Ngũ
Tuần Tranh, thậm chí muốn xin lộc lô đề xổ số người ta thường thực hiện ở giá Ông
Hoàng Bảy… Do đó một bộ phận người Việt tại Đà Lạt thường tham gia sinh hoạt tín
ngưỡng thờ Mẫu tại các đền thờ Mẫu dạng thức miền Trung, đặc biệt là các vấn hầu hội
cầu xin sức khỏe, tài lộc, may mắn… Mỗi khi các thánh giáng đồng, con nhang đệ tử và
những người tham dự thường dâng lễ vật (bằng cách dùng tiền với số lượng tùy tâm cho
vào chiếc dĩa nhỏ để dâng lên các thánh) kèm theo những lời tấu xin của bản thân. Sự
chứng nhận của các thánh trong mỗi vấn hầu chính là sự “đảm bảo” và tạo niềm tin cho
người tham dự về một tương lai tươi sáng hơn (!)
Thứ hai: Giúp một bộ phận cư dân Việt ở Lâm Đồng nhận thức và tri ân đối với
các vị Thánh có công đối với đất nước.
Bên cạnh các liệt nữ anh thư mang tính huyền thoại, hệ thống các vị thánh trong
điện thần Tam phủ, Tứ phủ còn có những nhân vật lịch sử có thật mà theo quan niệm dân
gian đã “sinh vi tướng tử vi thần” như Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, hoặc một
208
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
số nhận vật thần linh được gắn với những nhân vật lịch sử như Ông Hoàng Bảy5, Ông
Hoàng Mười6…
Bằng việc diễn tả những hành động và điệu bộ đặc trưng của các nhân vật huyền
thoại và lịch sử, lên đồng đã làm sống lại các nhân vật từ xa xưa. Do đó, Trần Hưng Đạo
không chỉ còn là một nhân vật lịch sử nằm khô cứng trong đống sách vở mà đã được sống
lại khi đã nhập vào thân xác của ông Đồng, bà Đồng. Thông qua các giá đồng với những
bộ trang phục và đạo cụ như đao kiếm, cờ, hèo… cùng một số động tác múa đồng phù
hợp với từng vị Thánh, người xem có thể hình dung được những chiến công của các vị
Thánh đối với dân tộc, giúp người xem tự hào với truyền thống đấu tranh dựng nước và
giữ nước bất khuất của dân tộc, càng ý thức hơn vai trò, trách nhiệm của mình trong cuộc
sống hiện tại
3.2.2. Một số tác động không mong muốn
Tại Lâm Đồng hiện nay, bên cạnh những tác động tích cực, nghi lễ hầu đồng này
vẫn còn tồn tại không ít những tác động tiêu cực. Một bộ phận người Việt vì tin tưởng
một cách mù quáng đối với nghi lễ này, đặc biệt là những lời phán truyền thiếu căn cứ và
thiếu trách nhiệm của một số thầy bói hay thầy đồng dởm đã tốn không ít tiền bạc cho
những việc như trình đồng mở phủ cắt duyên âm, hay căn cao số nặng phải trả nợ Tứ
phủ… mà tiêu tốn không ít tiền của vào các nghi thức lễ bái, song kết quả vẫn tiền mất
tật mang.
Theo lời kể của cô T (hiện là giáo viên một trường tiểu học tại Tân Văn - Lâm
Hà) - một người đã từng 4 lần đi “cắt tiền duyên” cho biết: cô đã gần 40 tuổi và trải qua
nhiều mối tình song vẫn chưa thể nên duyên chồng vợ theo ý muốn. Tuy không phải là
một người xinh đẹp, nhưng cô cũng có diện mạo vào loại ưa nhìn. Từ khi 18 tuổi, cô đã
có người “theo đuổi”, cho đến trước khi lấy chồng - cách đây 3 năm - bản thân cô đã trải
qua rất nhiều mối tình, những người đến với cô rất chân thành, bản thân cô cũng vậy. Đã
không ít lần hai trong số họ tính đến chuyện hôn nhân, nhưng cứ gần đến giai đoạn cuối
họ lại tỏ ra thờ ơ, lạnh nhạt với nhau. Sau nhiều lần như vậy, cô T cảm thấy có cái gì đó
không bình thường. Theo lời khuyên của người bạn gái, cô T quyết định đi xem bói (một
đồng đền tại Lâm Hà). Thầy bói phán rằng, cô đã bị người âm theo từ lâu, muốn giải phải
làm lễ cắt duyên âm. Tuy nhiên kết quả của lần cắt thứ nhất rồi thứ hai vẫn không như ý.
5
Truyền thuyết về Quan Hoàng Bảy tại đền Bảo Hà Lào Cai kể lại: “Vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786) khắp vùng
Quy Hóa gồm Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (thuộc Lào Cai bây giờ) luôn bị giặc vùng phương Bắc tràn sang cướp phá, giết hại
dân lành. Trước cảnh đau thương tang tóc ấy, tướng Nguyễn Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng
biên ải. Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc, giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn
cứ lớn. Trong một trận chiến không cân sức với quân giặc, ông đã anh dũng hy sinh, thi thể ông trôi theo sông Hồng tới Bảo Hà thì
dạt vào bờ. Nhân dân trong vùng đã vớt, an táng thi thể ông và lập đền thờ tại đây để ghi nhớ công đức to lớn của ông. Dẫn theo
6Theo một số đền thờ vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong
mười năm kháng chiến chống quân Minh. Vì thế, ông Hoàng Mười còn được nhân dân xứ Nghệ tôn vinh là “Đức thánh minh”, là một
vị quan nằm trong hệ thống điện thần thờ Mẫu Tứ phủ ở Việt Nam. Nơi nào có điện thờ Mẫu là nơi đó có tượng hoặc bàn thờ ông
Hoàng Mười.
209
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
Theo sự giới thiệu của “những người đi trước”, cô tìm đến một thầy “cao tay hơn”
(cũng tại huyện Lâm Hà). Kết quả, cô phải bỏ ra gần hai triệu đồng để làm một số thủ tục
theo yêu cầu của họ. Không lâu sau đó, cô đã lập gia đình (khi đã 34 tuổi). Đây có phải
là kết quả của việc “cắt duyên âm linh nghiệm” hay đúng lúc cô gặp được người thích
hợp - dân gian quen gọi là “đứng số” ? Tuy nhiên, sau khi đã có chồng, cô T vẫn không
cảm thấy hạnh phúc trọn vẹn. Theo như cô tâm sự thì dù đã lấy chồng, nhưng nhiều đêm
dù ngủ bên chồng vẫn không mặn mà với chuyện chăn gối, thậm chí trong giấc mơ, cô
còn thấy hình bóng của một ai đó nằm bên cạnh mà không phải chồng mình. Đó chính là
lí do khiến cô phải tìm đến thầy đồng để cắt duyên âm lần thứ 4. (Xem Bùi Thị Thoa,
2017: 54). Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế có phần khởi sắc cùng tâm lý hầu đồng sẽ
được các thánh ban tài tiếp lộc, nên tại Lâm Đồng hiện nay một số người giàu có dù không
có căn đồng cũng thực hiện lễ hầu đồng dẫn đến tình trạng loạn đồng bóng mà có người
gọi là đồng đua, đồng đú. Thậm chí “Nhiều người lên đồng đã ganh đua nhau trong việc
thể hiện sự giàu có của mình trong các lễ hầu. Một số người thậm chí còn vay nợ để gây
ấn tượng đối với những người tham dự buổi lễ (Kristen W Endres - Nguyễn Thị Thanh
Bình, 2006: 26). Với những vấn hầu dạng này đã khiến hầu hội tại Lâm Đồng mất đi
những giá trị truyền thống vốn có.
4.
KẾT LUẬN
Hiện nay, tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung, hầu đồng nói riêng đã và đang giữ vai
trò nhất định trong đời sống tâm linh một bộ phận cư dân Việt tại Lâm Đồng. Nghiên cứu
cho thấy: Hầu đồng có những tác động nhất định đối với nhóm thanh đồng và những
người được xem là có căn mạng. Tác động này được thể hiện trên cả hai phương diện tích
cực và tiêu cực:
Về mặt tích cực: hầu đồng đóng vai trò như một phương pháp trị liệu có thể giúp
họ chữa trị những rối loạn tâm sinh lý và tái hòa nhập cộng đồng. Bên cạnh đó, nghi lễ
này cũng giúp các thanh đồng, đặc biệt là các bà đồng chuyển đổi vai trò quyền lực trong
môi trường tâm linh và xã hội. Giúp họ tìm thấy sự cân bằng trong cuộc sống và vai trò
xã hội. Hiện tại, tình trạng ái nam ái nữ trong giới thanh đồng ngày càng có những biểu
hiện rõ nét. Vì vậy, thông qua hầu đồng, các ông đồng bà đồng có cơ hội sống đúng với
giới tính thật của họ.
Về mặt hạn chế: Bên cạnh những ảnh hưởng theo chiều hướng tích cực, hầu đồng
vẫn ít nhiều tạo ra những tác động không mong muốn đối với nhóm thanh đồng và những
người có căn mạng: Thứ nhất, vì lợi lộc trần thế, một số người đã ra trình đồng mở phủ,
biến hoạt động này trở thành một nghề để tăng thu nhập; Thứ hai, một số người không có
căn đồng vẫn ra trình đồng mở phủ khiến tình trạng loạn đồng loạn bóng gia tăng.
Với nhóm con nhang đệ tử, hoạt động hầu đồng cũng mang lại những ảnh hưởng
nhất định, đó chính là việc tạo niềm tin trong cuộc sống vì có thánh che chở, giúp họ có
nhận thức đúng đắn và tri ân đối với các vị Thánh có công đối với đất nước cũng như
thêm hiểu biết và trân trọng những giá trị vật chất và tinh thần truyền thống của dân tộc.
Bên cạnh đó, một bộ phận người Việt tại Lâm Đồng hiện nay, vì tin tưởng một cách mù
quáng đối với nghi lễ này nên đã trở thành nạn nhân của không ít các thầy đồng dởm. Để
210
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018
tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung, hầu đồng nói riêng tại Lâm Đồng được bảo tồn và phát
huy đúng với những giá trị vốn có, rất cần sự quan tâm sát sao của các cơ quan hữu quan
trong tỉnh với những biện pháp tăng cường công tác giáo dục để nâng cao nhận thức của
các thanh đồng và con nhang đệ tử. Tổ chức các nghi lễ hầu diễn xướng quy mô toàn tỉnh
để vừa giới thiệu về di sản văn hóa dân tộc, vừa là cơ hội để điều chỉnh sự thống nhất
trong sinh hoạt nghi lễ này trong các thanh đồng, bản điện nơi đây. Ngoài ra, cũng cần có
những biện pháp chế tài đủ mạnh đối với một số thầy đồng lợi dụng việc buôn thần bán
thánh làm biến tướng các giá trị văn hóa, lịch sử do hầu đồng mang lại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Vũ. T. T. A (2012). “Nghi thức lên đồng - phương thức trao quyền lực của người phụ nữ
theo Đạo Mẫu”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 10.
Nguyễn. Đ. D (2001). Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam. Hà Nội, Việt Nam:
NXB Văn hóa Thông tin.
Nguyễn. D. H (2004). “Lên đồng”, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 7.
Vũ. N. K (2009). Tục thờ Đức Thánh Mẫu và Đức Thánh Trần. Hà Nội, Việt Nam: NXB
Văn hóa - Thông tin.
Kirsten. W. E - Bình. N. T. T (2006). “Những khía cạnh tiêu cực và tích cực của hầu bóng
qua cái nhìn của báo chí và nhân học”. Tạp chí Dân tộc học, số 6.
Nguyễn. M. S (1998). Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam. Hà Nội, Việt Nam: NXB
Văn hóa dân tộc
Proschan. F (2004). “Lên đồng (hầu bóng) - Kho tàng sống của di sản văn hóa Việt Nam”.
Bài in trong sách Đạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người ở Việt
Nam và Châu Á. Hà Nội, Việt Nam: NXB Khoa học Xã hội.
Đặng. V. L (2004). Văn hóa Thánh Mẫu. Hà Nội, Việt Nam: NXB Văn hóa - Thông tin.
Hồ. B.T (2014). “Tìm hiểu các định nghĩa khác nhau về tâm linh”. Tạp chí Nghiên cứu
tôn giáo, số 11.
Ngô. Đ. T. (1992). Hát văn. Hà Nội, Việt Nam: NXB Văn hóa Dân tộc.
Ngô. Đ. T (2004). Đạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người ở Việt Nam và
châu Á. Hà Nội, Việt Nam: NXB Khoa học Xã hội.
Ngô. Đ. T (2007). Lên đồng - Hành trình của thần linh và thân phận. Tp Hồ Chí Minh,
Việt Nam: NXB Trẻ.
Ngô. Đ. T (2009). Đạo Mẫu Việt Nam (Tập 1). Hà Nội, Việt Nam: NXB Tôn giáo.
Nguyễn. H. T (2001). Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung. Huế, Việt Nam, NXB: Thuận
Hóa.
Bùi. T. T (2017). “Cắt tiền duyên trong nghi lễ lên đồng của người Việt ở Lâm Đồng”,
Tạp chí Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, số 9.
211
Bạn đang xem tài liệu "Hầu đồng trong đời sống tâm linh người Việt ở Lâm Đồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hau_dong_trong_doi_song_tam_linh_nguoi_viet_o_lam_dong.pdf

