Từ nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch Pleime năm 1965 đến những bài học lịch sử mang tính thời đại

Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 107-115  
TỪ NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN DỊCH PLEIME NĂM 1965 ĐẾN  
NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ MANG TÍNH THỜI ĐẠI  
Hoàng Việt Trung  
Trường Trung học phổ thông Pleime, Chư Prông, Gia Lai  
Tác giả liên hệ: [email protected]  
Lịch sử bài báo  
Ngày nhận: 18/9/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 03/12/2020; Ngày duyệt đăng: 23/4/2021  
Tóm tắt  
Chiến dịch Pleime năm 1965 là trận mở đầu đánh Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên, với thắng  
lợi đó đã mở ra nhận định bộ đội ta hoàn toàn có thể đối đầu và đánh thắng quân đội Mỹ cũng như  
đồng minh của chúng tại Tây Nguyên. Không chỉ vậy, chiến thắng Pleime còn thể hiện sự linh hoạt  
và sáng tạo của Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trong việc triển khai nghệ thuật chỉ đạo chiến  
dịch. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử khoa học bài viết tập trung làm rõ nghệ thuật chỉ đạo  
trong chiến dich Pleime năm 1965, qua đó rút ra được những bài học cho việc xây dựng nền quốc  
phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay.  
Từ khóa: Chiến dịch Pleime, nghệ thuật quân sự.  
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
FROM THE LEADERSHIPART OF THE 1965 PLEIME CAMPAIGN TO  
THE HISTORIC LESSONS OF THE AGE  
Hoang Viet Trung  
Pleime High School, Chư Prông, Gia Lai  
Corresponding author: viettrung88.quynhon@gmail.com  
Article history  
Received: 18/9/2020; Received in revised form: 03/12/2020; Accepted: 23/4/2021  
Abstract  
The 1965 Pleime campaign was the opening battle against the US on the battlefield of the Central  
Highlands and the campaign victory indicated that our army forces were able to confront and defeat  
the American army and their allies in the Central Highlands. Not only that, the Pleime victory also  
showed the flexibility and creativity of the Central Highlands Front Commands in implementing the  
art of campaign leadership. On historic data, the article focuses on clarifying the art of leadership  
in the 1965 Pleime campaign, thereby drawing lessons to building an all-people defense, people's  
security in developing and defending the country today.  
Keywords: Military arts, Pleime campaign.  
Trích dẫn: Hoàng Việt Trung. (2021). Từ nghệ thuật chỉ đạo Chiến dịch Pleime năm 1965 đến những bài học lịch sử  
mang tính thời đại. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 10(4), 107-115.  
107  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
1. Đặt vấn đề  
lồ ôm lấy đồn Pleime, tạo chỗ dựa vững trãi cho  
trung tâm biệt kích này.  
Chiến dịch Pleime mở màn vào ngày 19  
tháng 10 năm 1965 và kết thúc sau hơn một  
tháng chiến đấu quyết liệt trên địa bàn rộng  
lớn thuộc khu 5 (huyện Chư Prông) bao gồm  
tứ giác: Pleime - Bàu Cạn - Ia Đrăng - Đức Cơ  
với không gian rộng khoảng 1.200 km2. Mục  
tiêu của chiến dịch là tấn công trung tâm huấn  
luyện biệt kích Pleime (đồn Pleime) nằm ở phía  
Tây Nam Pleiku, qua đó tiêu diệt một bộ phận  
chủ lực ngụy, sẵn sàng chiến đấu với quân Mỹ  
và quân đồng minh nếu như chúng tham chiến;  
mở rộng vùng giải phóng, xây dựng căn cứ địa,  
củng cố tuyến đường 14 đảm bảo lưu thông an  
toàn từ Bắc vào Nam. Tuy nhiên, trong quá trình  
tác chiến, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên đã  
mưu trí và linh hoạt trong việc lựa chọn địa điểm  
mở màn chiến dịch, chủ động tạo thế trận đánh  
địch, dụ địch, buộc địch phải phân tán lực lượng,  
bị động đối phó với chủ lực của ta trên một địa  
bàn tác chiến rộng lớn và hiểm trở; đồng thời  
sáng tạo trong việc lợi dụng các yếu tố thế và  
thời để đánh địch. Nét độc đáo trong nghệ thuật  
tổ chức chiến dịch Pleime đã để lại nhiều bài  
học lịch sử sâu sắc trong xây dựng quốc phòng  
toàn dân ngày nay.  
Như vậy, về mặt bố phòng của trung tâm  
biệt kích Pleime được xây dựng rất thuận tiện  
cho việc phòng thủ trong công sự. Nếu bộ đội  
chủ lực của ta tổ chức tấn công trực diện, áp sát  
và thọc sâu vào bên trong cứ điểm của địch thì sẽ  
gặp nhiều bất lợi cho ta về tương quan lực lượng,  
hỏa lực và hậu cần. Bởi lẽ muốn đánh vào nơi  
địch đã có bố phòng, có phòng ngự, có trận địa  
vững chắc. Muốn đột phá thành công phải có sức  
mạnh. Thường lực lượng phải hơn địch gấp vài ba  
lần mới dễ thành công (Hoàng Minh Thảo, 2007,  
tr. 22), trong khi đó lực lượng chính của ta tham  
gia chiến dịch Pleime chỉ có một tiểu đoàn thuộc  
trung đoàn 320, trung đoàn 33 và trung đoàn 66.  
Vì vậy, cách tốt nhất để đánh địch không phải chỉ  
dùng sức mạnh để chống, mà còn phải dùng thuật  
để lừa (Trần Quốc Tuấn, 2002, tr. 208).  
Trên cơ sở so sánh tương quan lực lượng và  
khảo sát thực địa chiến trường, Bộ tư lệnh Mặt  
trận Tây Nguyên (B3) đã lựa chọn cách đánh  
vây đồn, diệt viện, đánh địch ngoài công sự, lên  
phương án “nhử địch” về hướng Đức Cơ, Tân  
Lạc, đồng thời tổ chức tấn công liên tục vào cứ  
điểm trọng yếu Pleime làm cho địch bị rối loạn  
và phán đoán sai hướng tấn công chính của bộ  
đội chủ lực ta.  
2. Sự sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo  
chiến dịch của ta  
2.1. Chủ động lừa địch và kiên quyết vây  
đồn, diệt viện  
Để đánh lạc hướng nhận định của quân đội  
Sài Gòn và cố vấn Mỹ tại Pleime, Bộ Tư lệnh Mặt  
Trung tâm biệt kích Pleime được chính trận Tây Nguyên quyết định chọn điểm “khêu  
quyền Sài Gòn xây dựng và bố phòng rất kiên cố  
như một tiền đồn để bảo vệ Pleiku từ phía Tây  
Nam, lợi dụng địa thế hiểm yếu của núi rừng Tây  
Nguyên, đồn Pleime được xây dựng trên ngọn  
đồi có độ cao 400 m, bên trong có sân bay dã  
chiến, có hệ thống giao thông hào, lương thực,  
quân dụng, máy truyền tin đều được cất dưới  
hầm. Để bảo vệ từ xa cho đồn Pleime, quân đội  
Sài Gòn đã xây dựng đài quan sát trên núi Chư  
Ho nằm ở phía Nam, cao 469 m. Từ phía Đông  
có núi Chư Gô cao 758 m như hai cánh tay khổng  
ngòi” đầu tiên là cứ điểm Đức Cơ và uy hiếp  
đồn Tân Lạc làm điểm nghi binh. Đúng 19 giờ  
30 phút, ngày 19 tháng 10 năm 1965 Tiểu đoàn  
pháo binh 200 tấn công vào căn cứ Đức Cơ, cùng  
lúc đó một đại đội của Tiểu đoàn 952 nổ súng tấn  
công vào đồn Tân Lạc. Khi bị bất ngờ tấn công,  
địch đã huy động máy bay, thả pháo sáng bắn  
phá xung quanh hai căn cứ này. Để tiếp tục đánh  
lạc hướng của địch, buộc chúng phải điều động  
lực lượng từ Kon Tum - Pleiku về ứng cứu và di  
chuyển lực lượng biệt kích ra ngoài công sự tại  
108  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 107-115  
đồn Pleime, Đại đội 2, Tiểu đoàn 15 Tỉnh đội Gia An Khê lên và từ Buôn Mê Thuột sang chi viện  
Lai tập kích tiêu diệt trung đội dân vệ của địch cho chiến trường Pleime.  
đang đóng giữ nhà thờ Mỹ Thạch (huyện Đức  
Cơ), buộc địch phải dùng máy bay C47 đến bắn  
phá và chi viện (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh  
Gia Lai, 2009, tr. 407). Với việc đánh lừa địch  
ở hướng Đức Cơ cách trại huấn luyện Pleime  
khoảng 30 km về phía Tây Bắc đã tạo điều kiện  
cho Trung đoàn 33 của ta bao vây, áp sát trung  
tâm biệt kích Pleime.  
Sáng ngày 23 tháng 10 năm 1965, Biệt khu  
24 của địch đã ra lệnh cho Chiến đoàn 3 thiết giáp  
cùng 2 Tiểu đoàn biệt động số 21 và 22 và Tiểu  
đoàn 1 Trung đoàn 42 sử dụng 12 máy bay ứng  
cứu cho chiến trường Pleime. Quân địch hành  
quân từ Pleiku đến ngã ba Phú Mỹ, theo đường  
21 (tỉnh lộ 665) tiến thẳng vào trận địa Pleime.  
Ngoài ra, để đỡ đòn cho Chiến đoàn 3 thiết giáp  
có thể dễ dàng giải vây cho Pleime bằng đường  
bộ và đồng thời làm phân tán lực lượng chủ lực  
của ta, Quân đoàn II của địch còn cho dừng cuộc  
hành quân Thần Phong 6 ở Bình Định, điều hai  
tiểu đoàn kỵ binh bay từ An Khê lên Pleiku và  
huy động Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 42 với tổng  
số quân lên đến 1000 quân sẵn sàng ứng cứu giải  
vây cho Pleime.  
Tại chiến trường Pleime, đúng 22 giờ 55  
phút ngày 19 tháng 10 năm 1965, các chiến sĩ  
Đại đội 3, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 33 có nhiệm  
vụ dùng một đại đội bộ binh tăng cường súng  
máy phòng không 12,7 mm nổ súng tấn công  
đồn Pleime, lấy hướng Tây Nam làm chủ yếu,  
các hướng Đông Nam và Đông Bắc làm nghi  
binh. Mục tiêu đầu tiên là tiêu diệt cứ điểm ngoại  
vi trên đồi Chư Ho, nơi đây có đài quan sát của  
địch, có hệ thống phòng không kiên cố do lính  
Việt Nam Cộng hòa canh giữ. Không nhằm tiêu  
diệt cứ điểm Chư Ho chớp nhoáng trong một đêm  
mà thực hiện chiến thuật áp sát địch, đánh công  
kiên liên tục, buộc chúng cô lập bị động trong  
chiến hào và phải nhờ sự ứng cứu, chi viện từ  
Quân đoàn II, tạo cơ hội để ta tiêu diệt viện binh  
của địch, hoàn thành kế sách vây đồn, diệt viện.  
Nắm chắc phương châm vây đồn diệt viện,  
tiêu diệt sinh lực địch, sẵn sàng đối đầu với quân  
Mỹ khi chúng ứng cứu cho Pleime. Bộ Tư lệnh  
chiến dịch đã điều động Trung đoàn 320 xây dựng  
trận địa phục kích tiến hành đào hào, lập công sự  
trên đoạn đường dài 4 km tại đường 21 (đoạn từ  
Phú Mỹ đến Pleime). Đến 16 giờ 30 phút ngày  
23 tháng 10, lực lượng địch hành quân lần lượt  
tiến vào khu vực trận địa phục kích của ta. Bằng  
cách đánh bất ngờ, kết hợp tiến công bao vây,  
chia cắt từ nhiều hướng quân ta đã tiêu diệt được  
Chiến đoàn 3 thiết giáp, 1 tiểu đoàn và 1 đại đội  
bộ binh của địch (Dương Đình Lập, 2015).  
Kết cục chiến sự ở Pleime sau ba ngày tác  
chiến, bộ đội ta đã đào địa đạo áp sát hàng rào  
của trại biệt kích, có chỗ chỉ còn cách 50 m, bao  
vây, cô lập 400 tên lính ngụy và 12 cố vấn Mỹ  
trong công sự và làm chủ trận địa. Tình hình  
đó làm cho quân địch vô cùng hoảng loạn, nhất  
là tại tiền đồn quan sát trên đồi Chư Ho đã bị  
khống chế hoàn toàn, quân địch bắt đầu bộc lộ  
những hạn chế trong công sự như việc tiếp tế  
lương thực, tản thương, nước uống đều phải sử  
dụng trực thăng tiếp tế, trong khi đó pháo kích  
của Trung đoàn 33 phía ta đang nắm giữ trận  
địa, liên tục oanh kích trận địa đã làm phá sản  
kế hoạch tiếp tế bằng đường hàng không của  
chúng. Trong lúc hoảng loạn vì bị vây đồn, địch  
đã phải cầu cứu viện binh từ Pleiku xuống, từ  
Như vậy kế hoạch ứng cứu Pleime của địch  
có sự kết hợp cả không quân và bộ binh, với sự  
tham gia cả quân ngụy và quân viễn chinh Mỹ  
đã không diễn ra theo đúng ý đồ của chúng. Kế  
hoạch vây đồn diệt viện của Bộ Tư lệnh mặt trận  
đã phát huy hiệu quả ngay từ những ngày đầu  
của chiến dịch Pleime.  
2.2. Chủ động tạo lập thế trận liên hoàn  
đánh địch có chiều sâu  
Với sức mạnh về hỏa lực hiện đại, binh lực  
đông và tinh nhuệ, trong chiến lược Chiến tranh  
109  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Cục bộ, Mĩ và chính quyền Sài Gòn muốn thực Sư đoàn số 1 không vận đổ bộ xuống Bàu Cạn  
hiện âm mưu đẩy lùi chủ lực của ta về phía bên  
kia vĩ tuyến 17, làm cho cuộc chiến tranh ở miền  
Nam Việt Nam tàn lụi dần. Đặc biệt, trong chiến  
lược Chiến tranh Cục bộ, Mỹ còn huy động thêm  
hai vạn lính đánh thuê cùng tham chiến ở miền  
Nam. Chính vì vậy, khi đặt chân lên địa bàn Tây  
Nguyên chúng muốn được phô trương sức mạnh  
quân sự áp đảo chủ lực của ta, giành thế chủ động  
trên chiến trường và tạo thanh thế với quân đội  
đồng minh. Tuy nhiên, trận giải cứu trại biệt kích  
Pleime đã không diễn ra như kế hoạch ban đầu  
của chúng, do đó bằng mọi cách chúng đã tăng  
cường lực lượng từ sân bay Pleiku và Buôn Ma  
Thuột cho Pleime, hỗ trợ cho Chiến đoàn 3 rút  
lui khỏi trận địa phục kích của ta.  
và Plei Ngo.  
Với phương châm chủ động tấn công ngay  
khi chúng vừa đặt chân xuống địa bàn huyện 5  
(huyện Chư Prông), đồng thời làm thất bại âm  
mưu phân tán chủ lực ta thành nhiều mảng để dễ  
dàng tiêu diệt của quân đội Mĩ, buộc chúng phải  
chiến đấu trên địa bàn chiến lược mà ta đã chuẩn  
bị sẵn. Bộ Tư lệnh mặt trận B3 đã tổ chức cho bộ  
đội chủ lực gồm Trung đoàn 320, Trung đoàn 33  
và Trung đoàn 66 phục kích tại khu vực thung  
lũng Ia Đrăng sẵn sàng tiêu diệt địch, đồng thời  
sử dụng lực lượng bộ đội địa phương, dân quân  
du kích đón lõng, đánh địch tại mặt trận Ia Mơ  
và mặt trận Bàu Cạn, Plei Ngo.  
Tại mặt trận Ia Mơ: Trong các ngày 4 và 5  
tháng 11 năm 1965, Trung đội du kích các xã Ia  
Mơ (huyện Chư Prông), xã Ia Pnôn (huyện Đức  
Cơ) phục kích tiêu diệt địch, bảo vệ hậu phương  
và căn cứ quân y của chiến dịch đóng quân tại  
phía Tây Nam Ia Đrăng.  
Nhận thấy, trận mở màn tại Đức Cơ, Tân  
Lạc và trận đánh vây đồn, diệt viện tại Pleime  
đã đủ làm cho địch lúng túng và phản ứng theo  
dây chuyền, phải điều động lực lượng ứng cứu  
từ nhiều nơi, quân Mỹ đã trực tiếp phải tham  
chiến. Ngày 26 tháng 10 năm 1965, Bộ Tư lệnh  
mặt trận Tây Nguyên quyết định rút lui khỏi  
đồn Pleime, di chuyển Trung đoàn 33 và Trung  
đoàn 320 về phía Đông Nam Ia Đrăng, tạo lập  
thế trận then chốt, nhử địch vào trận địa phục  
kích chiến lược của ta để tiêu diệt quân Mỹ khi  
chúng vừa đổ bộ. Đây là sự linh hoạt và sáng  
tạo của Bộ Tư lệnh mặt trận trong việc tạo thế  
trận tiêu diệt địch.  
Tại mặt trận Bàu Cạn, Plei Ngo: Ngày 10  
tháng 11, tướng Kina, Tư lệnh Sư đoàn số 1  
không vận gấp rút điều Lữ đoàn 3 không vận  
từ căn cứ An Khê đổ bộ xuống Bàu Cạn và Plei  
Ngo. Đêm ngày 11 tháng 11, tiểu đoàn đặc công  
952 có du kích xã E5 (Ia Phìn) và các chiến sĩ  
đội vũ trang biệt động thị xã Pleiku dẫn đường  
bất ngờ tập kết vào sở chỉ huy hành quân và sân  
bay dã chiến Bàu Cạn. Bị bất ngờ tấn công, địch  
đã điều động Tiểu đoàn 1 của Lữ đoàn 3 tấn  
công vào Bắc Chư Prông, Tiểu đoàn 2 tiến vào  
Plei Klăh và Nam Ia Đrăng. Tuy nhiên, tại Chư  
Prông chúng đã lọt vào trận địa phục kích của  
Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66 chặn đánh, tiêu diệt  
một đại đội địch. Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66  
chặn đánh địch tại Plei Klăh và Nam Ia Đrăng,  
tiêu diệt Đại đội 2 của địch.  
Ngay khi phát hiện hướng di chuyển của  
Trung đoàn 33, 320 của ta theo hướng Ia Đrăng  
cách Pleime 25km về phía Tây Bắc, Quân đoàn  
2 của địch đã vội vã tổ chức cuộc hành quân  
“Long Reach” huy động lực lượng của Sư đoàn  
số 1 không vận Hoa Kỳ đóng tại căn cứ An Khê  
có khả năng di chuyển nhanh nhất thế giới lúc  
bấy giờ làm chủ lực, kết hợp với Lữ đoàn dù Việt  
Nam Cộng hòa đổ bộ vào Ia Đrăng. Để thuận lợi  
cho lực lượng dù của địch tiếp cận địa điểm Ia  
Đrăng, chúng đã cho Lữ đoàn 1 của Sư đoàn số  
1 không vận tấn công Ia Mơ cách đồn Pleime 10  
km về phía Tây Nam, đồng thời cho Lữ đoàn 3,  
Như vậy, với cách đánh vu hồi và phân tán  
trong kế hoạch tấn công vào thế trận chiến lược Ia  
Đrăng của Mĩ và quân đội Sài Gòn nhằm yểm trợ  
cho không quân khi tiếp cận Ia Đrăng đã không  
110  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 107-115  
diễn ra như những gì chúng mong đợi. Sự thất thủ quanh thung lũng Ia Đrăng, đồng thời tạo hỏa  
tại hai mũi tấn công đầu tiên của địch trước khi mù để quân Mỹ rút khỏi thung lũng tử thần này.  
đánh Ia Đrăng đã gây bất lợi lớn cho lực lượng  
địch tại thung lũng tử thần này.  
Cuộc chiến đấu ở thung lũng Ia Đrăng tiếp  
tục diễn ra từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 11  
Quyết chiến chiến lược tại thung lũng năm 1965. Tuy nhiên, lần này Mĩ đã cân nhắc  
Ia Đrăng: Ngày 17 tháng 11 năm 1965, cuộc và chuyển giao nhiệm vụ trọng yếu cho quân đội  
chiến diễn ra quyết liệt, quân ta gồm Tiểu đoàn Sài Gòn, chúng huy động gần hết lực lượng lính  
8, Trung đoàn 66 kết hợp với Trung đoàn 320 dù thuộc Chiến đoàn 1 và 2, tiểu đoàn 3, 5, 6, 7  
và Trung đoàn 33 chủ động đánh địch ngay khi và 8, cả năm tiểu đoàn này được tập hợp từ Sài  
lính dù của địch vừa đổ bộ xuống mặt đất. Cuộc Gòn, Biên Hòa, Vũng Tàu, Phú Yên tập trung  
đổ bộ bằng đường không do Tiểu đoàn 1 thuộc về Pleiku, riêng các Lữ đoàn lính Mỹ thuộc Sư  
Sư đoàn số 7 không vận và chia thành 4 Đại đội đoàn số 1 không vận chỉ làm nhiệm vụ yểm trợ  
A, B, C và D đáp xuống phía Tây và Tây Nam. đường không và không dám tham chiến trực tiếp,  
Tuy nhiên, khi Đại đội A và B của địch vừa đổ cuộc hành quân này được gọi là “Thần phong 7”  
bộ đã bị chủ lực ta tấn công liên tục cả hai bên với chiến thuật “nhảy cóc sâu”, “khoanh vùng  
sườn trái và phải khiến chúng lâm vào thế cô rộng”. Mặc dù được tổ chức quy mô lớn và rất  
lập, hai Đại đội C và D của địch vừa đáp xuống bài bản, nhưng chủ lực tham chiến là quân đội  
đã phải căng sức chống đỡ đòn tấn công bất ngờ Sài Gòn nên đã bộc lộ nhiều hạn chế trong tác  
như trời giáng khiến chúng hoảng loạn và không chiến, chúng khó khăn trong việc phối hợp tác  
thể ứng cứu cho hai đại đội đang cô lập giữa chiến giữa các tiểu đoàn trên địa bàn rừng núi và  
thung lũng, toàn bộ Tiểu đoàn 1, Sư đoàn số 7 liên tục bị tấn công đột kích, đánh áp sát.  
không vận của địch bị xé lẻ thành nhiều mảng.  
Cuộc chiến diễn ra nhanh và bị áp sát nên địch  
không phát huy được ưu thế về binh lực và hỏa  
lực, chỉ huy địch không kịp xác định được vị trí  
của các trung đội, đại đội trực thuộc, pháo kích  
của địch không thể phát huy trong địa hình cây  
cối um tùm, rậm rạp, chúng chỉ có thể bắn pháo  
yểm trợ vào sườn núi. Đến 20 giờ ngày 17 tháng  
11 Trung tá Moore quyết định rút lui các đại đội  
dù co cụm về phòng thủ đêm. Đồng thời tướng  
Oétmolen tăng cường thêm Tiểu đoàn 2 Sư đoàn  
số 7 không vận dùng máy bay trực thăng đến  
ứng cứu quân Mỹ đang bị bao vây. Sáng ngày  
18 tháng 11, hai chiến đoàn lính dù số 1 và số 2  
của Ngụy đổ bộ xuống Ia Pơman và Ia Lâu đã  
rơi vào trận địa phục kích của Trung đoàn 320,  
quân ta tiếp tục chiến thuật đánh giáp lá cà, áp sát  
quân địch, không cho chúng phát huy sở trường  
về hỏa lực, cuộc chiến diễn ra quyết liệt làm địch  
không thể ứng cứu cho nhau. Trước tình thế bất  
lợi như vậy, ngày 19 tháng 11 tướng Oétmolen  
đã cho máy bay B52 ném bom rải thảm xung  
Vì vậy, ta đã chủ động tạo lập thế trận liên  
hoàn, vững chắc, có chiều sâu nhằm hạn chế và  
vô hiệu hóa biện pháp tác chiến này của địch.  
Theo đó, thay vì bố trí đội hình tập trung, đón  
lõng,… có tính ổn định như trước đây vẫn làm,  
quân ta chủ trương đánh vu hồi, linh hoạt đánh  
địch đổ bộ trên các hướng. Đồng thời, tổ chức  
bố trí các bộ phận làm nhiệm vụ nghi binh, kiềm  
chế, thu hút địch trên từng khu vực và có lực  
lượng luân phiên làm nhiệm vụ dự bị. Với thế  
trận này, nếu địch liều lĩnh đổ bộ vào bất cứ khu  
vực nào ở Ia Đrăng cũng đều bị đánh từ trước  
mặt, sau lưng hoặc bên sườn. Không những thế,  
cách bố trí này còn tạo thuận lợi cho các đơn vị  
chủ động phối hợp, chi viện lẫn nhau trong suốt  
quá trình tác chiến; khi cần thiết vẫn có thể dễ  
dàng tập trung lực lượng đánh tiêu diệt lần lượt  
từng đại đội, tiểu đoàn quân Mỹ, giành thắng lợi  
(Nguyễn Đông, 2005). Kết cục, ngày 26 tháng  
11 năm 1965, quân địch rút khỏi toàn bộ thung  
lũng Ia Đrăng trong sự truy kích quyết liệt của  
chủ lực ta.  
111  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
2.3. Vận dụng linh hoạt mưu kế thế - thời  
để đánh địch  
14 xuống ngã ba Phú Mỹ theo đường 21 đi vào  
hướng Tây Nam 25 km, tuy nhiên con đường này  
rất dễ bị phục kích tại các điểm cao trên đồi Độc  
lập, đồi le dọc hai bên đường.  
Đối đầu với lực lượng quân đội tinh nhuệ  
của Mỹ tại chiến dịch Pleime mà chỉ sử dụng lực  
lượng đông gấp nhiều lần để áp đảo và tiêu diệt  
địch là một bất lợi cho bộ đội ta. Vì vậy, phải vận  
dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc ngàn năm  
của cha ông là phải dùng mưu kế thế- thời, tránh  
dùng lực, trong đó: “Thế là vị trí, hoàn cảnh, điều  
kiện, xu hướng, chỗ đứng trong không gian; là  
địa điểm so với đối tượng tác động. Thời là thời  
cơ, thời điểm, cơ hội, là hoàn cảnh, điều kiện  
vận động phát triển của sự vật. Là đấu tranh khi  
mâu thuẫn phát triển đến cực điểm, đến cái nút  
cần tháo gỡ. Thời cơ do sự năng động chủ quan  
hoặc do sai lầm của địch đưa đến. Thời cơ thường  
xuất hiện đột ngột và cũng mất đi nhanh chóng.  
Cho nên phải biết chớp lấy thời cơ, nhanh chóng  
hành động giành thắng lợi” (Hoàng Minh Thảo,  
2007, tr. 33).  
Ngoài ra, địa hình ở Pleime còn bị chia cắt  
thành nhiều thung lũng nhỏ, hẹp bởi các dòng  
chảy Ia Lốp, Ia Đrăng, Ia Mơ, cây cối um tùm  
vì vậy rất thuận lợi cho quân ta trong việc hành  
quân dưới sự che chở của cây rừng và thực hiện  
cách đánh áp sát, vu hồi, đột kích bất ngờ từ nhiều  
phía, trong trường hợp rút lui đã có nui cao làm  
“cửa hậu”.  
Về vị trí đắc lợi của thung lũng Ia Đrăng  
nằm ngay dưới chân núi Chư Pông, cách xa hậu  
phương của địch, gần căn cứ của ta, nơi đây là  
một thung lũng nhỏ, hẹp được bao phủ bởi cây  
cối. Việc hành quân của địch buộc phải đi theo  
con đường từ Pleiku tới Bàu Cạn và tiến vào vùng  
huyện 5, con đường này khá dài và rất dễ bị phục  
kích. Ngoài ra sử dụng vận chuyển bằng đường  
hàng không là một lợi thế nhưng lại không tiện  
lợi cho cách tác chiến dàn trận, đánh lớn vì địa  
hình liên tục bị chia cắt bởi sông, suối và đồi núi.  
Xét về yếu tố thế, trong chiến dịch Pleime,  
quân ta chọn Pleime là điểm mở đầu chiến dịch  
và lấy Ia Đrăng là điểm kết thúc chiến dịch bởi  
cả hai địa điểm này có nhiều địa thế đắc lợi cho  
ta và bất lợi cho địch vì:  
Do vậy, chọn đánh địch ở Pleime và Ia  
Đrăng là sự sáng tạo của bộ đội B3 trong việc  
lợi dụng địa thế để tạo lập thế trận đánh giặc. Lợi  
dụng những ưu thế của địa hình, quân ta phát huy  
được các chiến thuật như đánh gần, đánh đêm,  
đánh thọc sâu và chia cắt địch.  
Pleime nằm trên địa thế hiểm trở, bao bọc  
bởi các ngọn núi Chư Ho, Chư Hoa, Chư Gô,  
đồn nằm trên một quả đồi cao chừng 400 m so  
với mực nước biển, với cách bố trí của địch tại  
Pleime chỉ thuận cho việc phòng thủ trong công  
Xét về yếu tố thời, trong chiến dịch Pleime,  
sự không thuận cho việc tấn công bên ngoài công quân ta chủ động tổ chức chiến dịch vào thời  
sự, nhất là khi cứ điểm tiền đồn trên núi Chư Ho điểm giữa tháng 10 năm 1965 và kết thúc vào  
bị tiêu diệt, pháo binh ta làm chủ trận địa thì sẽ cuối tháng 11. Đây là thời điểm Tây Nguyên ở  
vào giai đoạn cuối mùa mưa đầu mùa không,  
thường xuyên xuất hiện những cơn mưa giông  
rất lớn, cây cối phát triển, tán lá rậm rạp che kín  
mặt đất rất thuận lợi cho việc di chuyển và tác  
chiến của ta và bất lợi cho địch trong hành quân  
di chuyển, sức mạnh hỏa lực không thể phát huy  
trong điều kiện như vậy.  
làm thất bại mọi khả năng giải cứu bằng đường  
hàng không. Bên cạnh đó, các tuyến đường bộ di  
chuyển vào trung tâm biệt kích Pleime chỉ có hai  
con đường duy nhất, một lối đi từ quốc lộ 14 từ  
Pleiku tới Phú Nhơn rẽ theo hướng Tây dọc chân  
núi Chư Gô đến Pleime, con đường này có tới  
5 chiếc cầu đều bị ta đánh sập nên việc chi viện  
của địch không thể thực hiện được. Con đường  
thứ hai vào Pleime là đi từ Pleiku theo quốc lộ  
Yếu tố thời trong chiến dịch Pleime còn  
được thể hiện ở chỗ ta chọn đánh Mỹ ngay khi  
112  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 107-115  
3. Bài học lịch sử từ chiến dịch Pleime đối  
với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc hiện nay  
chúng vừa đặt chân lên chiến trường Gia Lai,  
chúng cần thời gian để củng cố, chuyển giao  
địa bàn chiếm đóng và nắm bắt tình hình trận  
địa: “Gia Lai là địa bàn quân viễn chinh Mỹ  
và chư hầu đến sớm nhất Tây Nguyên. Tháng  
7/1965, đơn vị tiền tạm đầu tiên của Sư đoàn số  
1 không vận Mỹ đã đến sân bay Tân Tạo (An  
Khê), tháng 8/1965 Mỹ đưa Lữ đoàn 3 Sư đoàn  
đoàn 25 bộ binh vào cắm chốt ở Kơ ti (Biển  
Hồ); Lữ đoàn dù 173 được đưa vào chố ở Đông  
Bắc Biển Hồ, Sư đoàn 22 của Sài Gòn về các  
sân bay Cù Hành, Area…” (Lịch sử Đảng bộ  
huyện Chư Prông, 2010, tr. 264). Đặc biệt, sau  
thất bại nặng nề ở Đức Cơ và Kon Tum, “địch  
thay đổi cơ cấu tổ chức, nhằm củng cố và tăng  
cường sức chiến đấu cho lực lượng chủ lực và  
địa phương, thực hiện ý đồ co cụm lớn, bảo vệ  
những nơi xung yếu như quận lỵ, thị trấn, thị  
xã, đường giao thông chiến lược, ngăn chặn  
ta tiến công. Tiểu khu Kon Tum, Pleiku tách  
khỏi vùng chiến thuật 2, thành lập Biệt khu 24.  
Chúng tổ chức thêm trong một trung đoàn bộ  
binh tiểu đoàn chiến đấu thứ tư và tăng cường  
cho Biệt khu 24 Trung đoàn 42 Cộng hòa, bỏ  
tổ chức vùng chiến thuật, thành lập Quân khu  
2” (Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên  
trong kháng chiến chống Mỹ, 1980, tr. 45). Như  
vậy, quân đội Mỹ sẽ chiếm đóng các vùng chiến  
thuật quan trọng như Biển Hồ, Pleiku, Kon Tum,  
các tuyến đường giao thông huyết mạch như  
sân bay Tân Tạo, sân bay Pleiku…còn quân  
đội Sài Gòn tiến sâu vào địa bàn các huyện, xã  
làm nhiệm vụ “Bình định an dân”, quá trình này  
cần rất nhiều thời gian và chia thành ba bước đó  
là: “Càn quét, cày ủi và phát quang nhằm đánh  
Nghệ thuật tác chiến trong chiến dịch Pleime  
năm 1965 của Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên  
là sự đúc kết và kế thừa nghệ thuật truyền thống  
đánh giặc giữ nước nghìn năm của cha ông ta,  
đồng thời đó còn là việc vận dụng sáng tạo quan  
điểm của Mác-xit về chiến tranh nhân dân. Thắng  
lợi của quân và nhân dân các dân tôc Tây Nguyên  
trong trận đầu đánh Mĩ năm 1965 đã để lại nhiều  
bài học kinh nghiệm, cụ thể:  
Thứ nhất là bài học về phát huy tinh thần yêu  
nước của nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân.  
Bởi lẽ, nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch chỉ có  
thể phát huy sức mạnh tối ưu khi nó được xây  
dựng trên tinh thần yêu nước, ý chí đánh giặc  
quật cường của nhân dân ta. Qua diễn tiến chiến  
dịch Pleime đã cho thấy Bộ Tư lệnh mặt trận Tây  
Nguyên đã phát huy tối đa tinh thần yêu nước của  
nhân dân các dân tộc Tây Nguyên và tạo được  
thế trận lòng dân vững chắc. Trước khi mở màn  
chiến dịch Pleime, Tỉnh ủy và Tỉnh đội Gia Lai  
đã cử các đoàn cán bộ xuống các xã thuộc địa  
bàn huyện 5 (Chư Prông) vận động đồng bào đi  
dân công, huy động vật chất cho chiến dịch đến  
vụ mùa năm 1965 đồng bào trong vùng căn cứ  
đã quyên góp hết lúa, ngô cho chiến dịch, chỉ giữ  
lại số ít đủ ăn và làm giống cho vụ sau. Kết quả,  
đã có 1.200 tấn lương thực, thực phẩm của nhân  
dân khu 4 và khu 5 huy động cho chiến dịch và  
hơn 2.500 thanh niên các dân tộc tham gia chiến  
dịch này. Đó chính là cơ sở cho bộ đội ta thực  
hiện triệt để phương châm ba bám là “bám đánh  
địch”, “bám dân lãnh đạo” và “bám ruộng rẫy  
bạt dân ra khỏi vùng giải phóng; gom xúc dân sản xuất”(Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Chư  
vào khu dồn trong vùng địch kiểm soát; tổ chức  
phân loại dân, lập bộ máy hành chính cảnh sát”  
(Lịch sử Đảng bộ huyện Chư Prông, 2010, tr.  
266). Đây là thời cơ thuận lợi để quân ta chủ  
động mở chiến dịch, buộc quân Mỹ và chư hầu  
của chúng phải bị động đối phó với ta trong khi  
tổ chức của chúng chưa thực sự ổn định.  
Prông, 2010, tr. 282). Có thể nói, xây dựng thế  
trận lòng dân là quan điểm nhất quán của Đảng  
và Nhà nước ta trong suốt chiều dài hai cuộc  
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như  
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện  
nay, điều đó thể hiện quan điểm cách mạng là sự  
nghiệp của quần chúng nhân dân. Chính vì vậy,  
113  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
phát huy truyền thống yêu nước của nhân dân, thường xuyên của Đảng.  
xây dựng thế trận lòng dân là một trong những  
nguyên nhân chủ quan đưa đến mọi thắng lợi  
của Đảng ta.  
Thứ ba là bài học về tạo lập thế trận có lợi  
cho ta, phá vỡ thế trận của địch.  
Theo tác giả Phạm Bá Toàn việc tạo lập thế  
trận có lợi cho ta để thuận lợi cho việc phá thế  
trận của địch xuất phát từ: “ý định và cách đánh  
của ta, từ điều kiện bảo đảm vật chất, điều kiện  
địa hình và từ so sánh lực lượng giữa ta và địch”  
(Phạm Bá Toàn, 2015, tr. 175). Mục đích của việc  
tạo lập thế trận có lợi cho ta là nhằm chia cắt thế  
trận của địch, làm cho địch bị phân tán lực lượng  
hoặc bị cô lập từ đó phá vỡ thế liên hoàn của địch,  
làm hạn chế khả năng cơ động chiến lược của  
địch. Trong chiến dịch Pleime, Bộ Tư lệnh mặt  
trận Tây Nguyên đã chủ động tạo lập thế trận,  
chủ động chia cắt địch buộc chúng phải tác chiến  
trên địa bàn có lợi cho ta. Như vậy, chủ động tạo  
lập thế trận đánh địch có lợi cho ta là một tư duy  
nghệ thuật sáng tạo trong chỉ đạo chiến dịch của  
bộ đội ta. Vì vậy, xây dựng và bảo vệ vững chắc  
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay cần  
phải kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn  
dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng  
thế trận lòng dân vững chắc luôn được coi là nền  
tảng "gốc rễ", là nghệ thuật đặc sắc, yếu tố quyết  
định tạo nên thế trận liên hoàn, toàn diện, tạo lên  
sức mạnh tổng hợp của dân tộc ta.  
Thứ hai là bài học về giữ thế chủ động tiến  
công trong mọi hoàn cảnh.  
Trong chiến tranh chỉ có kiên trì tiến công  
mới hình thành được thế mạnh, giữ vững và mở  
rộng quyền chủ động, đẩy địch vào thế yếu, thế  
bị động. Lênin đã khẳng định: “Đứng trên quan  
điểm vô sản thì bá quyền lãnh đạo trong chiến  
tranh thuộc về bên nào kiên trì hơn cả, bên nào  
lợi dụng mọi cơ hội để tiến đánh kẻ thù” (Nguyễn  
Xuân Tú, 2003, tr. 220). Tiến công là quy luật  
giành thắng lợi của cách mạng và chiến tranh  
cách mạng ở nước ta, trước bất kỳ một kẻ thù  
nào. Nắm vững tư tưởng kiên quyết thực hành  
chiến lược tiến công, trong chiến dịch Pleime  
Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên đã chủ động  
lên phương án nhử địch làm chúng phán đoán  
sai hướng tấn công của chủ lực ta, tiếp đó là chủ  
động vây đồn, diệt viện với phương châm dụ  
địch ra ngoài công sự. Tính chủ động trong chiến  
dịch Pleime còn được thể hiện ở chỗ bộ đội ta  
chủ động chọn hướng tấn công, chủ động rút lui  
và tạo lập thế trận có lợi cho ta, buộc địch phải  
bị động đối phó với ta trên địa bàn mà chúng  
gặp nhiều bất lợi. Chỉ có tiến công mới tiêu diệt  
được địch, chủ động đánh địch đó chính là tư  
Thứ tư là phát huy sức mạnh tổng hợp lực  
lượng ba thứ quân, tận dụng tối đa nguồn lực  
tưởng quyết chiến quyết thắng của quân đội ta tại chỗ.  
trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ dưới  
sự lãnh đạo của Đảng.  
Với vai trò là lực lượng xung kích, chủ lực  
trong đấu tranh vũ trang và là chỗ dựa cho quần  
Ngày nay, chủ động trong đấu tranh quốc chúng nhân dân trong đấu tranh vũ trang, lực  
lượng ba thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội  
địa phương và dân quân du kích đã phát huy sức  
mạnh tổng hợp để tiêu diệt địch, tạo thế trận vững  
chức chắc trong hợp đồng tác chiến. Trong chiến  
dịch Pleime, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên  
đã sáng tạo và linh hoạt trong việc sử dụng các  
tiểu đoàn chủ lực của Trung đoàn 33, Trung đoàn  
320, Trung đoàn 66 tập trung vào những vị trí  
then chốt để bao vây, tiến công địch tại cứ điểm  
phòng - an ninh là một trong những mục tiêu  
trọng tâm được Đảng nêu trong Cương lĩnh Xây  
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ  
nghĩa xã hội, Cương lĩnh đã khẳng định phải  
chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu  
và hành động chống phá của các thế lực thù địch  
đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.  
Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc  
gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu,  
114  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 107-115  
Tài liệu tham khảo  
mạnh nhất của địch như căn cứ Chư Ho, căn cứ  
trại biệt kích Pleime và thung lũng Ia Đrăng, bên  
cạnh đó có sự phối hợp nhịp nhàng với lực lượng  
bộ đội địa phương là Tiểu đoàn 952 và dân quân  
du kích tại chỗ chiến đấu ngẵn chặn các mũi tấn  
công vu hồi của địch tại Ia Mơ và Bàu Cạn tạo  
điều kiện cho bộ đội chủ lực tiêu diệt các mũi  
tấn công chính diện của địch tại Ia Đrăng. Ngoài  
ra, lực lượng dân quân du kích và bộ đội địa  
phương thường xuyên tổ chức những trận đánh  
giao thông, chia cắt vận chuyển của địch, góp  
phần ngăn cản quá trình tiếp viện quân sự của  
địch. Từ sự phối hợp nhịp nhàng giữa lực lượng  
chủ lực với lực lượng địa phương đã tạo ra sức  
mạnh tổng hợp cho bộ đội ta.  
Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Gia Lai. (2009).  
Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Gia Lai (1945-2005).  
Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.  
Ban Chấp hành Đảng bộ Huyện Chư Prông.  
(2010). Lịch sử Đảng bộ Huyện Chư Prông  
(1945-2010). Hà Nội: NXB Chính trị Quốc  
gia.  
Dương Đình Lập. (2015). Lập thế, tạo thế trong  
trận then chốt. Quân đội nhân dân Online.  
phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/lap-the-  
tao-the-trong-tran-then-chot-257878.  
Hoàng Minh Thảo. (2007). Bàn về nghệ thuật  
quân sự. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.  
4. Kết luận  
Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong  
kháng chiến chống Mỹ (1980). Hà Nội.  
NXB Quân đội nhân dân.  
Chiến dịch Pleime năm 1965 nổ ra và giành  
thắng lợi đã khẳng định rằng quân đội chủ lực của  
ta có thể tiêu diệt các tiểu đoàn lính Mỹ, đánh bại  
các chiến thuật trực thăng vận cơ động của quân  
đội Mỹ với vũ khí hiện đại và những đội quân  
tinh nhuệ của chúng. Qua đó càng thôi thúc và  
củng cố niềm tin vào khả năng đánh thắng giặc  
Mỹ của đồng bào các dân tộc tỉnh Gia Lai. Đặc  
biệt với nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch như chủ  
động lừa địch, tạo lập thế trận đánh địch và vận  
dụng mưu kế thế, thời để đánh địch trong chiến  
dịch Pleime đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm  
có giá trị, góp phần làm phong phú hơn kho tàng  
lý luận quân sự của dân tộc ta. Đồng thời còn là  
bài học quan trọng cho việc xây dựng nền quốc  
phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong thời  
kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội hiện nay./.  
Nguyễn Đông. (2015). Nét đặc sắc của nghệ thuật  
tác chiến trận Ia Đrăng năm 1965. Tạp chí  
Quốc phòng toàn dân. Truy cập từ http://  
tapchiqptd.vn/vi/tim-hieu-truyen-thong-  
quan-su/net-dac-sac-cua-nghe-thuat-tac-  
chien-tran-ia-drang-nam-1965/8339.html.  
Nguyễn Xuân Tú. (2003). Đảng chỉ đạo giành  
thắng lợi từng bước trong cuộc kháng chiến  
chống Mỹ cứu nước thời kỳ 1965 - 1975. Hà  
Nội: NXB Lao động.  
Phạm Bá Toàn. (2015).Quyết định lịch sử. Hà  
Nội: NXB Quân đội nhân dân.  
Trần Quốc Tuấn. (2002). Binh thư yếu lược. Hà  
Nội: NXB Công an Nhân dân.  
115  
pdf 9 trang Thùy Anh 17920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Từ nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch Pleime năm 1965 đến những bài học lịch sử mang tính thời đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_nghe_thuat_chi_dao_chien_dich_pleime_nam_1965_den_nhung_b.pdf