Mối quan hệ giữa trống thạch Trại Sơn với trống đồng của văn hóa Đông Sơn
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỐNG THẠCH TRẠI SƠN
VỚI TRỐNG ĐỒNG CỦA VĂN HÓA ĐÔNG SƠN
Nguyễn Văn Hảo
Viện Khảo cổ học Việt Nam
Email: [email protected]
uộc tranh luận của các học giả khảo cổ học về nguồn gốc
của trống đồng kéo dài từ cuối thế kỷ 19 cho đến hôm nay
C
vẫn chưa “hạ hồi phân giải”. Câu hỏi “Dân tộc nào sáng chế ra
trống đồng?”, “Trống đồng xuất phát từ miền Bắc Việt Nam hay
miền Nam Trung Quốc?” vẫn đang là mối quan tâm sâu sắc, thu
hút sự vào cuộc nhiệt thành của giới làm khảo cổ học Việt Nam và
Trung Quốc, đặc biệt từ khi 19 chiếc trống đồng được khai quật tại
khu mộ cổ ở Thạch Trại Sơn (Tấn Ninh, Vân Nam, Trung Quốc)
(từ năm 1955 đến năm 1966) và được người Trung Quốc đặt tên là
trống Điền hay trống loại hình Thạch Trại Sơn, cho đến hôm nay.
Ngày nhận bài:
15/3/2021
Ngày phản biện: 18/3/2021
Ngày tác giả sửa: 21/3/2021
Ngày duyệt đăng: 24/3/2021
Ngày phát hành: 30/3/2021
DOI:
Sau rất nhiều năm nghiên cứu, trải qua nhiều lần thực địa, qua
nhiều cuộc hội thảo trong nước và quốc tế với nhiều tranh luận
giữa các học giả chuyên ngành khảo cổ, tác giả bài viết đã đưa ra
nhiều luận điểm để khẳng định: Trống đồng không phải do người
Điền (Trung Quốc) sáng tạo ra, mà trống đồng thuộc về văn hóa
Đông Sơn của người Việt. Việc xác định mối quan hệ giữa trống
Thạch Trại Sơn (hay còn gọi là trống Điền của người Điền ở Vân
Nam, Trung Quốc) với trống đồng của văn hóa Đông Sơn cũng là
một trong những luận điểm quan trọng tiếp theo để làm sáng tỏ vấn
đề nguồn gốc trống đồng.
Từ khóa: Trống đồng; Loại hình Thạch Trại Sơn; người Điền;
Người Lạc Việt; Trống Lạc Việt; Văn hóa Đông Sơn.
1. Đặt vấn đề
Trống đồng cổ Trung Quốc, 1968).
Từ năm 1955 đến năm 1966, tại khu mộ cổ ở
Thạch Trại Sơn (Tấn Ninh, Vân Nam, Trung Quốc)
đã phát hiện 19 chiếc trống đồng, trên 40 đồ vật có
quan hệ mật thiết với trống đồng và trên 4.000 hiện
vật khác. Theo cuốn sách “Trống đồng cổ Trung
Quốc” (1968) do Hội Nghiên cứu trống đồng cổ
Trung Quốc biên soạn, những chiếc trống tàng trữ
tại Trung Quốc được phân thành 8 loại hình, trong
đó loại hình thứ hai gọi là loại hình Thạch Trại Sơn,
hay loại hình Thạch Trại Sơn Trung Quốc. Và các
học giả Trung Quốc đã “lấy trống đồng tìm được
trong nhóm mộ cổ ở Thạch Trại Sơn, tỉnh Vân Nam,
Trung Quốc làm “vật tiêu chuẩn” của loại hình
này” (Hội Nghiên cứu Trống đồng cổ Trung Quốc,
1968). Đối với vấn đề tộc thuộc của trống đồng, các
học giả Trung Quốc cho rằng: “Khu vực phân bố
của trống loại hình Thạch Trại Sơn, đại thể là khu
vực phân bố của người Điền, Lao Tẩm, Mi Mạc, Dạ
Lang, Câu Đinh và người Lạc Việt, có thể suy ra
trống loại hình Thạch Trại Sơn chính là di vật chế
tạo, sử dụng của nhóm người này” (Hội Nghiên cứu
Tuy nhiên, trong đồ tùy tang của nhóm mộ
người Điền ở Thạch Trại Sơn, ngoài trống đồng và
những đồ vật có liên quan mật thiết với trống đồng,
còn trên 4.000 đồ vật khác. Chẳng lẽ tất cả đồ vật
đó cũng do người Điền chế tạo? Hơn nữa, trong số
các dân tộc này, ngoài người Điền, người Lạc Việt,
còn các dân tộc khác, đến nay vẫn chưa phát hiện đồ
đồng do họ chế tạo, chưa nói đến văn hóa đồ đồng
của họ. Lẽ nào người Điền vẫn có thể chế tạo ra đồ
đồng có quy mô to lớn và phức tạp như trống đồng?
Do vậy, vấn đề mối quan hệ giữa trống Thạch Trại
Sơn với trống đồng của văn hóa Đông Sơn cần được
nghiên cứu và phân tích cụ thể. Bởi rõ ràng những
gì khai quật được mới chỉ chứng tỏ chủ nhân của
những ngôi mộ này là “người sử dụng”, mà không
hẳn là “người chế tạo” ra di vật.
2. Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề nguồn gốc trống đồng đã được khơi lên
từ năm 1682 tại Phương Tây khi các nhà nghiên cứu
bắt đầu tìm thấy dấu vết của trống đồng. Nhưng mãi
Volume 10, Issue 1
117
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
tới cuối thế kỷ 19 mới có học giả Hirth (1890) chính
Sưu tập trống phát hiện trong nhóm mộ của
thức lên tiếng bàn về trống đồng, tác giả này cho rằng người Điền ở Thạch Trại Sơn không phải là sản
trống đồng là của Trung Quốc. Rồi De Grooth (1901) phẩm của một dân tộc. Cơ sở của hoa văn trang trí
cho rằng trống đồng là của người Việt Nam. Trong trên trống là sự tái hiện tiêu chí của dân tộc đã sáng
cuốn “Trống kim loại cổ Đông Nam Á” ra mắt năm chế ra trống. Do vậy, trong sưu tập trong nhóm mộ
1902, nhà khảo cổ học người Áo Franz Heger khẳng ở Thạch Trại Sơn, bên cạnh số đông là trống Đông
định: Trống đồng xuất phát từ miền Bắc Việt Nam và Sơn do người Việt chế tạo, là một số trống do người
trung tâm các cuộc tìm kiếm sau này về trống đồng Điền chế tạo và trống Điền là loại trống phái sinh
phải là ở vùng này. Heger phân chia 165 chiếc trống từ trống Đông Sơn do người Việt chế tạo. Việc xác
được biết đến lúc đó thành 04 loại – phân loại Heger. định mối quan hệ giữa trống Thạch Trại Sơn với
Trước thập niên 1950, một số phân loại khác đã được trống đồng của văn hóa Đông Sơn là nghiên cứu
đề xuất, nhưng không có cách nào được chấp nhận quan trọng để khẳng định thêm quan điểm của giới
rộng tãi như phân loại của Heger.
làm khảo cổ học về nguồn gốc trống đồng.
Di cảo về trống đồng, đặc biệt là về nguồn gốc
trống đồng gần như không có. Tuy nhiên, trong quá
trình nghiên cứu, các nghiên cứu về trống đồng mãi
đến cuối thế kỷ 19 mới chính thức được bắt đầu.
Trước thập niên 1950, hầu hết các nghiên cứu quan
trọng đều do các học giả phương Tây viết, đặc biệt
nhất là Heger. Sau khi Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa được thành lập vào năm 1949 và Việt Nam bị
chia cắt vào năm 1954, các học giả Việt Nam và
Trung Quốc bắt đầu chiếm lĩnh lĩnh vực nghiên cứu
về trống đồng. Đến cuối thập niên 1970 và đầu thập
niên 1980, đã có những tranh luận xung quanh việc
phân loại trống, ý nghĩa các họa tiết trang trí, niên
đại trống…, nhưng chủ đề tranh luận chính yếu là
trống đồng xuất phát từ đâu: Miền Bắc Việt Nam
hay miền Nam Trung Quốc?
3. Phương pháp nghiên cứu
Di cảo về trống đồng, đặc biệt là nguồn gốc
trống đồng gần như không có. Hơn nữa, cuộc tranh
luận xung quanh vấn đề dân tộc nào sang chế ra
các loại trống đó vẫn đang tiếp tục, chưa đi đến kết
luận cuối cùng. Do đó, việc xác định mối quan hệ
giữa trống Thạch Trại Sơn với trống đồng của văn
hóa Đông Sơn sẽ làm rõ hơn vấn đề nguồn gốc của
trống đồng để trả lời câu hỏi “Dân tộc nào chế tạo
ra trống đồng?”, trống đồng xuất phát từ miền Bắc
Việt Nam hay miền Nam Trung Quốc?
Tác giả chủ yếu dựa vào các di vật khảo cổ học
đã được khai quật – phương pháp nghiên cứu căn
bản và cốt yếu của giới khảo cổ học. Đồng thời
tham khảo thêm các ghi chép về lịch sử phát triển
của các vùng đất nơi khai quật trống đồng, cùng
phong tục tập quán của chủ nhân các vùng đất đó.
Các công trình nghiên cứu được công bố cho đến
thời điểm này đã mang tới một tổng quan chung về
trống đồng như sau: Trống đồng là loại nhạc cụ của
dân tộc cổ đại, có phạm vi phân bố khá rộng, vượt xa
phạm vi cư trú của một dân tộc. Tại một số tỉnh phía
Nam Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, có
nhiều loại hình trống cùng phân bố trong một khu
vực. Tuy nhiên, dân tộc nào đã sáng chế ra loại trống
đó, đến nay, vẫn là vấn đề khá nhạy cảm…
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Trống loại hình Thạch Trại Sơn là phái
sinh của trống Đông Sơn
Đối với người Điền, các học giả nói rằng:
“Người Điền chế tạo, sử dụng trống đồng, tuy rằng
sử sách không có ghi chép, nhưng trong nhóm mộ
nói trên đã phát hiện một khối lượng lớn trống đồng
và những đồng vật có liên quan đến trống đồng,
không những chứng minh người Điền chế tạo, sử
dụng trống đồng, mà khu vực người Điền là trung
tâm phân bố trống loại hình Thạch Trại Sơn” (Hội
Nghiên cứu Trống đồng cổ Trung Quốc, 1968).
Các nhà nghiên cứu trống đồng ở Việt Nam đã
coi đặc điểm của thân trống, bộ phận cộng hưởng
âm thanh là tiêu chí cơ bản để xếp loại, tất cả trống
đồng có cùng đặc điểm, đã phát hiện được thuộc
“trống Đông Sơn”, trong đó có trống do người Lạc
Việt chế tạo. “Trống Đông Sơn” là loại trống đa dân
tộc… Còn những người nghiên cứu trống đồng ở
Trung Quốc đã lấy sưu tập trống phát hiện trong
nhóm mộ cổ của người Điền ở Thạch Trại Sơn (tỉnh
Vân Nam) làm “trống tiêu chuẩn” và xếp tất cả loại
trống có đặc điểm như trống tìm được ở Thạch Trại
Sơn vào chung một loại hình trống, gọi là “loại hình
Thạch Trại Sơn” do 06 dân tộc, trong đó có người
Lạc Việt, cùng chế tạo.
Với người Lạc Việt, các học giả nói: “Trống
Đông Sơn là sản phẩm mà trống loại hình Thạch
Trại Sơn Trung Quốc truyền bá vào Việt Nam”.
Quan điểm này vẫn còn xuất hiện trên một số ẩn
phẩm gần đây…! (Hội Nghiên cứu Trống đồng cổ
Trung Quốc, 1968).
Trong nhóm mộ người Điền ở Thạch Trại Sơn
đã tìm được 19 chiếc trống và trên 40 đồ vật (chủ
yếu là thùng đựng vỏ ốc) có quan hệ với trống đồng,
118
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
trong đó trống “hoa văn người lông chim” là chủ lông chim, tức là trống Đông Sơn, có một số không
yếu. Nếu coi những chiếc trống này là đồ vật của nhiều trang trí hoa văn người mặc áo dài, như trống
văn hóa Điền, là sản phẩm của người Điền, thì vì sao số 3 mộ 13, trống số 51 một số 1 (ở Thạch Trại
các đồ vật khác của văn hóa Điền lại không trang Sơn), trống số 3 Hội Lý (ở Tứ Xuyên)… và ở Việt
trí loại hoa văn này? Ngược lại, trong văn hóa Đông Nam cũng phát hiện được một số trống thuộc loại
Sơn, ngoài trống đồng, còn nhiều đồ vật khác cùng này. Các nhân vật trang trí trên trống mặc áo dài, có
trang trí loại hoa văn này, như: thạp, thố, chậu, rùi trường hợp tay cầm qua đồng, một đồ vật của văn
các loại, hộ tâm phiến… Điều đó đã nói lên loại hoa hóa Điền, có trường hợp là kỵ sĩ, là võ sĩ…, cũng với
văn người lông chim là hoa văn của văn hóa Đông các nhân vật là quần động vật sinh sống trong rừng
Sơn, là tiêu chí của văn hóa Đông Sơn… Như trong núi như hổ, khỉ, chim công, uyên ương… Những
ngôi mộ Hán số 8 ở trường Cao trung thuộc Quý điều đó thể hiện cảnh sinh hoạt của người Điền ở
huyện, Quảng Tây, Trung Quốc đã phát hiện một khu vực Điền Trì. Người Điền là dân tộc chủ thể
chiếc trống mang ký hiệu “Thổ 1011” và đã được của nước Điền. Loại trống này có đặc điểm chung
các học giả Trung Quốc xếp vào giai đoạn muộn là bảo lưu hình dáng và hoa văn hình học của trống
của loại hình Thạch Trại Sơn. Nhưng, hoa văn trang Đông Sơn, chỉ khác trống Đông Sơn trong hoa văn
trí trên trống là hoa người lông chim, nó phải là tả thực. Chứng tỏ loại trống này là loại trống phái
trống Đông Sơn. Sau này, kết quả phân tích đồng sinh từ trống Đông Sơn, chúng có niên đại muộn
vị chì của trống đã xác nhận trống được chế tạo tại hơn trống Đông Sơn có mặt trên đất người Điền
khu vực phân bố của văn hóa Đông Sơn ở vùng Bắc và chúng thường được xếp vào giai đoạn muộn
bộ Việt Nam. Tương tự như vậy, những chiếc trống của trống loại hình Thạch Trại Sơn, là sản phẩm
người lông chim tìm được trong mộ người Điền ở của người Điền, là một bộ phận của trống loại hình
Thạch Trại Sơn là trống đồng của văn hóa Đông Thạch Trại Sơn.
Sơn, là sản phẩm của người Lạc Việt. Niên đại của
sưu tập trống tìm được trong nhóm mộ người Điền
không sớm. Chúng đều được xếp vào giai đoạn giữa
hoặc muộn của loại hình Thạch Trại Sơn. Theo Sở
Khảo cổ Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc, trong
đồ tùy táng của nhóm mộ thứ hai, nhóm mộ có niên
đại từ trung kỳ đến vãn kỳ Tây Hán, mới có trống
đồng chôn theo. Do vậy, niên đại trống đồng xuất
hiện trong cuộc sống Điền không vượt quá trung kỳ
Tây Hán.
4.2. Học giả Trung Quốc công nhận kết quả
nghiên cứu
Những minh chứng từ hoa văn trang trí, niên
đại… để đi đến kết luận về chủ nhân của trống đồng
trên đã được trình bày tại Hội thảo khoa học quốc
tế nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh của nhà Khảo
cổ học lão thành Tổ Bình Kỳ (diễn ra vào tháng
10/2019 tạ Bắc Kinh, Trung Quốc) và đã nhận được
sự tán thành của nhiều học giả Trung Quốc. Nhà
khảo cổ học Tưởng Đình Du - Chủ tịch Hội nghiên
cứu trống đồng cổ Trung Quốc, sau đó đã có những
trao đổi về học thuật bằng văn bản gửi tác giả thảo
luận về vấn đề này. Trong bài viết gửi tác giả, ông
Tưởng Đình Du thừa nhận: “Trống Thạch Trại Sơn
và trống Đông Sơn đã có ảnh hưởng lẫn nhau, đó là
điều khẳng định “trong anh có tôi, trong tôi có anh”.
Ai sớm ai muộn, còn cần nhiều tư liệu khảo cổ để
chứng minh. Chúng tôi cũng đang cố gắng để làm
sáng tỏ vấn đề này”.
Các tác giả không thỏa mãn với niên đại nói
trên, đã kéo dài niên đại của trống loại hình Thạch
Trại Sơn về trước một giai đoạn, gọi là giai đoạn
sớm của trống loại hình Thạch Trại Sơn. Tiêu biểu
cho giai đoạn này chỉ có 4 chiếc trống, chúng đều
được phát hiện ở ngoài khu vực mộ người Điền
ở Thạch Trại Sơn. Quan trọng hơn, chúng không
có đặc điểm của “trống tiêu chuẩn” của loại hình
Thạch Trại Sơn, trái lại “Hoa văn của những chiếc
trống này tương đối giản đơn, bảo lưu đặc điểm của
trống trung và vãn kỳ loại hình Vạn Gia Bá” (Hội
Nghiên cứu Trống đồng cổ Trung Quốc, 1968). Về
sau, nhà khảo cổ học Trung Quốc – Lý Công Thanh
đã xếp chúng vào các kiểu III, IV của loại hình Vạn
Gia Bá. Giai đoạn sớm của trống loại hình Thạch
Trại Sơn bị phủ định, niên đại sớm nhất của trống
loại hình Thạch Trại Sơn vẫn là trung kỳ Tây Hán.
Và muộn hơn niên đại của trống đồng thuộc văn
hóa Đông Sơn ở vùng Bắc bộ Việt Nam.
Như vậy, Chủ tịch Hội nghiên cứu trống đồng
cổ Trung Quốc đã thừa nhận trong sưu tập trống
gồm 19 trống phát hiện trong nhóm mộ cổ của
người Điền ở Thạch Trại Sơn gồm 02 loại: trống
Đông Sơn và trống Thạch Trại Sơn. Điều này khác
với quan điểm của các tác giả cuốn “Trống đồng cổ
Trung Quốc” vốn quan niệm sưu tập trống chỉ có
một loại trống là trống Thạch Trại Sơn. Tuy nhiên,
hai loại trống đó khác nhau và giống nhau thế nào,
ông Tưởng Đình Du lại không đề cập đến, vì đó
là điểm mấu chốt, quyết định trống nào sớm, trống
nào muộn, hoặc song hành với nhau.
Trong 46 chiếc trống được xếp vào loại hình
Thạch Trại Sơn, đa số là trống có hoa văn người
Volume 10, Issue 1
119
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
Rõ ràng, nếu dựa vào hoa văn trang trí - yếu trống đoản mệnh, không phát triển thành trống loại
tố cơ bản để xác định tộc thuộc của trống, trên 19 hình Lãnh Thủy Xung sau đó.
chiếc trống này, đa số được trang trí hoa văn người
lông chim – hoa văn của văn hóa Đông Sơn, thì đó
là trống của văn hóa Đông Sơn. Còn một số không
nhiều trống được trang trí hoa văn người mặc áo
dài – hoa văn của văn hóa Điền, thì đó là trống của
văn hóa Điền. Hai loại hoa văn này thường tồn tại
riêng trên từng cá thể riêng biệt; nhưng cũng có một
số trường hợp, hai loại hoa văn mà chủ yếu là hoa
văn tả thực lại “bài xích”, “đả phá” lẫn nhau trên
cùng một chiếc trống khiến chiếc trống từ trống
Đông Sơn biến thành trống Điền. Chiếc trống số 3
trong mộ 13 ở Thạch Trại Sơn là một ví dụ. Trống
vốn là trống Đông Sơn, nhưng người sử dụng trống
lúc đó là người Điền đã xóa phần hoa văn tả thực
của văn hóa Đông Sơn, khắc đè lên hoa văn tả thực
của văn hóa Điền. Trống Đông Sơn đã biến thành
trống Điền. Trong trường hợp này, trống Đông Sơn
là loại trống có trước trống Điền, là một ví dụ cụ thể
“Trong tôi có anh, trong anh có tôi”.
Trong văn hóa Đông Sơn, trống Đông Sơn ra
đời từ rất sớm, muộn nhất cũng từ cuối Chiến quốc.
Niên đại C14 của mộ thuyền Việt Khê, trong đó có
một chiếc trống là 2.500 năm cách ngày nay. Đến
Tây Hán sơ trung kỳ, trống Đông Sơn mới xuất hiện
trong đồ tùy tang của loại mộ thứ hai của người
Điền. Nghĩa là trống Điền (trống Thạch Trại Sơn)
còn xuất hiện muộn hơn, chính các tác giả cuốn
“Trống đồng cổ Trung Quốc” đã xếp chúng vào giai
đoạn cuối cùng của quá trình phát triển trống Điền.
Như vậy, một loại hình trống như những trống
Thạch Trại Sơn Trung Quốc, liệu có thể thúc đẩy
các dân tộc khác, trong đó có dân tộc Lạc Việt chế
tạo ra những chiếc trống tương tự như trống Thạch
Trại Sơn không? Vấn đề đó có lẽ đã rõ nét trong
những luận điểm được chỉ ra ở nghiên cứu này.
6. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mối quan hệ giữa
trống Thạch Trại Sơn (hay còn gọi là trống Điền
của người Điền ở Vân Nam, Trung Quốc) với trống
đồng của văn hóa Đông Sơn là mối quan hệ mà như
Chủ tịch Hội nghiên cứu trống đồng cổ Trung Quốc
Tưởng Đình Du nhận định: “Trong tôi có anh, trong
anh có tôi”, chứ không phải như các tác giả cuốn
“Trống đồng cổ Trung Quốc” quan niệm trước đó:
sưu tập trống chỉ có một loại trống là trống Thạch
Trại Sơn.
Những trống đồng Điền có trong bộ sưu tập,
có một số đặc điểm chung là: Dáng trống, hoa văn
hình học trang trí trên trống… bảo lưu đặc điểm
của trống Đông Sơn (trong hoa văn của văn hóa
Điền không có hoa văn hình học như trống Đông
Sơn). Sự khác biệt giữa trống Đông Sơn và trống
Điền chủ yếu thể hiện ở hoa văn tả thực: Trên trống
Đông Sơn là hoa văn người lông chim và quần động
vật cùng sinh tồn với người Lạc Việt, là động vật
sống ở miền trung du, vùng ven biển; và cũng như
con người, chúng đều chuyển động theo hướng
ngược kim đồng hồ, hướng di chuyển của bão gió
từ biển Đông đổ vào lục địa. Còn trên trống Điền,
nhân vật là những người mặc áo dài, đôi khi tay
còn cầm chiếc qua đồng, di vật của văn hóa Điền.
Đây là hình ảnh của người Điền, dân tộc chủ thể
của nước Điền, quần động vật cùng sinh sống trong
môi trường Điền Trì là hổ, khỉ, chim công, uyên
ương… Từ những chứng cứ có thể quan sát được
trên hai loại trống, có thể khẳng định, trống Điền
là sản phẩm phái sinh từ trống Đông Sơn, có nghĩa
trống Đông Sơn xuất hiện sớm hơn trống Điền.
Cùng với những phân tích khoa học, dựa trên
hoa văn trang trí, niên đại trống, các ghi chép về
lịch sử phát triển của các vùng đất nơi khai quật
trống đồng và phong tục tập quán của chủ nhân
các vùng đất đó, có thể khẳng định thêm lần nữa:
Trống Điền của người Điền là trống phái sinh của
trống Đông Sơn do người Lạc Việt chế tạo. Dù giới
khảo cổ học Trung Quốc cho rằng, vấn đề cần tiếp
tục nghiên cứu thêm, song bước đầu đã công nhận
nghiên cứu khoa học có cơ sở luận chứng rõ ràng.
Đây là những luận điểm quan trọng, tiếp diễn chuỗi
luận điểm đang được tranh luận bấy lâu để làm sáng
tỏ vấn đề nguồn gốc trống đồng.
5. Thảo luận
Nói đến trống Điền, không thể không nhắc đến
nước Điền, người Điền đã có một nền văn hóa đồ
đồng rực rỡ, có một lịch sử phát triển lâu dài, nhưng
đến những năm vãn kỳ Tây Hán, nước Điền lâm vào
thời kỳ suy vong và đến trung kỳ Đông Hán, lịch sử
Vân Nam không còn nhắc đến nước Điền đã từng
có một thời vàng son, trong lòng các dân tộc Tây
Nam Trung Quốc. Cùng với số mệnh của dân tộc
đã chế tạo ra trống Điền, trống Điền trở thành loại
120
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
Tài liệu tham khảo
Hảo, N. V. (2019). Trống Điền - loại hình phái
sinh của trống đồng Đông Sơn. Tạp Chí
Nghiên Cứu Dân Tộc, 8(4).
Kỳ, T. T. (1998). Tấn Ninh - Thạch Trại Sơn.
Nxb. Mỹ thuật Vân Nam.
Sở Khảo cổ Viện Hàn lâm Khoa học Trung
Quốc. (1962). Thu hoạch khảo cổ của Trung
Quốc mới. Nxb. Văn vật.
Hội Nghiên cứu Trống đồng cổ Trung Quốc.
(1968). Trống đồng cổ Trung Quốc. Nxb.
Văn vật.
THE RELATIONSHIP BETWEEN
THE THACH TRAI SON DRUM AND THE BRONZE DRUMS OF
DONG SON CULTURE
Nguyen Van Hao
Vietnam Archeology Institute
Email: [email protected]
Abstract
Thedebateofarcheologicalscholarsabouttheoriginofthebronze
drums, which lasted from the late 19th century until today, has not
yet "lowered the resolution". The question "Which people invented
the bronze drum?", "The bronze drum comes from North Vietnam
or South China?" still a deep concern, attracting the enthusiasm of
archaeologists Vietnam and China, especially since 19 bronze drums
were unearthed at the ancient tomb in Thach Trai Son (Tan Ninh,
Yunnan, China) (from 1955 to 1966) and was named by the Chinese
as the Dien drum or the Thach Trai Son type drum, until today.
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
15/3/2021
18/3/2021
21/3/2021
24/3/2021
30/3/2021
DOI:
After many years of research, many field visits, through many
domestic and international seminars with many debates among
archeologyscholars, theauthorofthisarticlehasgivenmanypointsto
confirm: Bronze drums were not created by Dien people (China), but
bronze drums belonged to Dong Son culture of Vietnamese people.
The relationship between the Thach Trai Son drums (also known as
the Dien drums of the Dien people in Yunnan, China) and the bronze
drums of Dong Son culture is also one of the next important points
to clarify reveals the problem of bronze drum origin.
Keywords
Bronze drums; Type of Thach Trai Son; Dien people; Lac Viet
people; Lac Viet drums; Dong Son culture.
Volume 10, Issue 1
121
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa trống thạch Trại Sơn với trống đồng của văn hóa Đông Sơn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
moi_quan_he_giua_trong_thach_trai_son_voi_trong_dong_cua_van.pdf

