Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
PRESERVE AND PROMOTE THE VALUE OF CULTURAL  
HERITAGE OF ETHNIC MINORITIES IN ORDER TO DEVELOP  
SUSTAINABLE TOURISM IN DAK NONG PROVINCE  
Ton Thi Ngoc Hanh  
People’s Committee of Dak Nong Province  
Received:  
Reviewed:  
Revised:  
Accepted:  
Released:  
27/4/2021  
01/6/2021  
11/6/2021  
20/9/2021  
30/9/2021  
ak Nong is a province with a large number of ethnic minorities living, with extremely rich and  
D
unique traditional cultural values. In that rich cultural treasure, many cultural heritages have been  
preserved and promoted in the lives of ethnic minority communities, in the direction of conservation  
associated with livelihood development, sustainable tourism development. The article focuses on analyzing  
the results achieved in preserving and promoting the value of cultural heritages of ethnic minorities  
in Dak Nong province and at the same time clarifies some contents on conservation and promotion of  
cultural heritage values of ethnic minorities associated with sustainable tourism development in Dak Nong  
province nowaday.  
Keywords: Conservation and promotion; Cultural heritage value; Sustainable tourism development;  
Dak Nong Province.  
1. Đặt vấn đề  
văn hóa, đa dạng sinh học… là tiềm năng, lợi thế  
góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.  
Đắk Nông nằm ở phía Nam Tây Nguyên, có vị  
trí quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội,  
an ninh quốc phòng trong khu vực Tây Nguyên; nơi  
giao thoa và hội tụ của 41 dân tộc anh em và là nơi  
lưu giữ nhiều vốn văn hóa truyền thống phong phú,  
đa dạng và đặc sắc, như: Sử thi (Ót N’rông), đàn đá  
Đắk Kar, dân ca dân vũ, cồng chiêng… Đắk Nông  
có tiềm năng, lợi thế về tài nguyên du lịch tự nhiên,  
có nhiều thác, hồ đẹp như: Thác Đay Sáp - Gia Long  
- Trinh Nữ, thác Đắk Glun, thác Liêng Nung, thác  
Đắk Buk So, thác Lưu Ly, hồ Ea Snô, hồ Tây, khu  
bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung và Khu bảo tồn thiên  
nhiên Tà Đùng... Nhiều sông suối lớn nhỏ chảy qua  
tạo nên nguồn thủy năng lớn khai thác thủy điện và  
phát triển du lịch như: Thủy điện Đồng Nai 3, Thủy  
điện Đồng Nai 4; Thủy điện Đắk R’Tih. Đặc biệt,  
hệ thống Công viên địa chất Đắk Nông trải dài qua  
6 huyện, thị xã với nhiều giá trị về địa chất, địa mạo,  
Trong những năm qua, công tác bảo tồn, phát  
huy các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số  
(DTTS) tại chỗ tỉnh Đắk Nông đã có những bước  
phát triển đáng ghi nhận. Cùng với đổi mới trong  
nhận thức, các cấp, ngành đã đánh giá ngày càng  
đúng hơn về vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự  
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Công tác phát  
triển du lịch được các cấp, các ngành đặc biệt quan  
tâm và được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn  
của tỉnh, với mục tiêu phát triển một ngành kinh tế  
du lịch năng động, nâng cao mức đóng góp vào thu  
nhập của địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu  
kinh tế, tạo công ăn việc làm và cải thiện cán cân  
thanh toán bằng cách tạo môi trường thuận lợi cho  
tăng trưởng và phát triển, đưa du lịch trở thành một  
ngành quan trọng trong chiến lược phát triển kinh  
tế - xã hội của địa phương, chiếm tỷ trọng đáng kể  
Volume 10, Issue 3  
117  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
trong khối ngành dịch vụ - thương mại - du lịch.  
triển bền vững Tây Nguyên. Nhà nghiên cứu văn  
hóa Tây Nguyên Buôn Krông Tuyết Nhung trong  
bài viết “Tây Nguyên với phát triển du lịch”, Kỷ  
yêu Hội thảo Văn hóa Tây Nguyên với phát triển  
du lịch, 2014 đã phân tích vai trò của công tác bảo  
tồn DSVH, giá trị văn hóa đối với phát triển du lịch  
ở Tây Nguyên. Tác giả Buôn Krông Tuyết Nhung  
trong bài “’Nhìn nhận việc bảo tồn di sản văn hóa  
truyền thống ở Tây Nguyên”, Hội thảo khoa học  
Phát triển kinh tế - xã hội đặc thù vùng Tây Nguyên,  
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức  
năm 2014 đã nhận diện những kết quả đạt được và  
những khó khăn, bất cập trong công tác bảo tồn  
DSVH ở Tây Nguyên… Bài viết “Công tác bảo tồn  
và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào  
dân tộc thiểu số huyện Đắk Hà” của tác giả Nguyễn  
vn/ đã phân tích những kết quả đạt được cũng như  
những hạn chế của công tác bảo tồn DSVH của  
đồng bào DTTS ở huyện Đắk Hà. Bài viết cũng đã  
đưa ra quan điểm về bảo vệ các DSVH cần có cơ  
chế, chính sách ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ làm  
công tác nghiên cứu khoa học và ưu tiên dành kinh  
phí cho việc bảo tồn, gìn giữ, kế thừa và phát huy  
từng loại hình DSVH phi vật thể thông qua các đề  
án cụ thể của từng lĩnh vực giữa các Viện nghiên  
cứu, các cơ quan quản lý của Trung ương đối với  
địa phương.  
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều  
trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến công tác bảo tồn  
DSVH và thực trạng bảo tồn phát huy DSVH vùng  
DTTS, vùng Tây Nguyên ở nhiều góc độ lý luận và  
thực tiễn khác nhau. Tuy nhiên, gần như chưa có  
công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, hệ  
thống và quy mô về bảo tồn và phát huy DSVH các  
DTTS nhằm phát triển bền vững du lịch tỉnh Đắk  
Nông. Vì vậy, việc nghiên cứu bảo tồn và phát huy  
giá trị DSVH của đồng bào các DTTS gắn với phát  
triển du lịch bền vững ở tỉnh Đắk Nông và đề xuất  
những giải pháp cho giai đoạn tới có ý nghĩa và hết  
sức cần thiết.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn  
hóa (DSVH) của đồng bào các DTTS đã có nhiều  
học giả quan tâm, nghiên cứu, trong đó tiêu biểu  
là một số công trình nghiên cứu như: Nguyễn Văn  
Huy với công trình “Một số vấn đề bảo tồn và phát  
huy những di sản văn hoá các dân tộc hiện nay”,  
Tạp chí Cộng sản số 20, năm 2003, đã đề cập đến  
những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo  
tồn phát huy DSVH trên phạm vi cả nước. Tác giả  
Ngô Phương Thảo trong bài “Bảo vệ di sản, cuộc  
chiến từ những góc nhìn”, Tạp chí Văn hoá nghệ  
thuật số 289 tháng 07/2008 đã đề cập trực tiếp đến  
vấn đề bảo vệ DSVH. Theo tác giả thì “Mỗi ngày,  
di sản văn hoá càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất  
phát từ những hệ lụy của cuộc sống hiện đại. Cũng  
mỗi ngày, ý thức về trách nhiệm phải gìn giữ các  
giá trị văn hoá đã tồn tại với thời gian càng lan toả  
sâu rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng đồng để  
dẫn tới những chương trình dự án ngày càng có hiệu  
quả hơn trong việc gìn giữ các giá trị văn hoá vật  
thể và phi vật thể”. Tác giả Nguyễn Chí Bền trong  
bài nghiên cứu “Bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể  
ở nước ta hiện nay”, Báo Văn hoá, 2007 đã bàn sâu  
về cách thức bảo tồn văn hóa phi vật thể hiện nay…  
Nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị  
DSVH của đồng bào các DTTS ở Tây Nguyên cũng  
đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,  
một số công trình tiêu biểu như: “Bảo tồn và phát  
huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Ê-đê ở Đắk Lắk”  
của tác giả Y Wái Byă, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế  
“Văn hóa trong thế giới hội nhập”, Nhà xuất bản  
Văn hóa Thông tin – Hà Nội, 2010. Bài viết đã  
phân tích những kết quả đạt được và những tồn  
tại của công tác bảo tồn và phát huy DSVH của  
người Ê-đê. Đồng thời tác giả cũng đã đề xuất một  
số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả công tác bảo  
tồn giá trị DSVH của người Ê-đê như: Tổ chức các  
cuộc thi, sưu tầm nghiên cứu văn hóa các DTTS;  
tổ chức kiểm kê, bảo quản các DSVH hàng năm…  
Công trình “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa  
Cồng chiêng Tây Nguyên giai đoạn 2016-2020”  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Trong bài viết này, tác giả sử dụng chủ yếu  
của tác giả Minh Vương, baotanglichsuquocgia.vn phương pháp nghiên cứu tổng hợp tài liệu sơ cấp,  
đã đánh giá kết quả 10 năm bảo tồn DSVH phi vật thứ cấp bao gồm một số công trình nghiên cứu liên  
thể Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên quan đến việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH của  
đến năm 2020 và đề xuất một số giải pháp bảo tồn đồng bào DTTS, từ đó có định hướng, giải pháp cơ  
hiệu quả DSVH cồng chiêng Tây Nguyên trong giai bản, kết hợp với phát triển du lịch bền vững trên địa  
đoạn hiện nay. Bài viết “Văn hóa truyền thống các bàn tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn tới.  
dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên trong phát  
triển bền vững” của tác giả Nguyễn Trung Bình, Kỷ  
yếu Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy giá trị  
văn hóa trong đồng bào dân tộc thiểu số”, Viện Văn  
hóa Nghệ thuật Quốc gia, 2019 cũng đã đề cập đến  
những thách thức đối với phát triển bền vững Tây  
Nguyên. Đó là những giá trị văn hóa truyền thống,  
những DSVH đang đứng trước nguy cơ bị biến đổi,  
tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Kết quả triển khai thực hiện các đề án, kế  
hoạch của tỉnh trong lĩnh vực bảo tồn giá trị văn  
hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số  
Với bề dày lịch sử của Đắk Nông, ngoài các di  
tích lịch sử, danh lam thắng cảnh thì nét văn hóa  
đặc trưng riêng biệt của con người Đắk Nông còn  
chứa đựng nhiều vốn văn hóa dân gian tiềm ẩn, lưu  
118  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
truyền trong nhân dân. Cộng đồng DTTS tại chỗ - 2030. Các lễ hội được tổ chức như: Lễ mừng lúa  
với lịch sử cư trú lâu đời và đời sống sinh hoạt lao mới, lễ kết nghĩa, lễ cưới của người Mnông, lễ cúng  
động sản xuất gắn liền với núi rừng, nương rẫy… mừng sức khoẻ, lễ phát rẫy (Wer mprang Bri), lễ  
đã hình thành nên một kho tàng DSVH hết sức độc sum họp cộng đồng (Rnglăp bon), lễ mừng công, lễ  
đáo, đa dạng và phong phú, nổi bật như: hát kể Tách Năng Yoh, lễ rước K’pan, lễ vào nhà mới…  
Sử thi, các nghi lễ - lễ hội, văn hóa thổ cẩm, đan của 03 dân tộc Mnông, Mạ, Ê-đê với mục đích  
lát, văn hóa cồng chiêng, các loại nhạc cụ truyền khuyên răn và dạy dỗ con cháu trong việc làm rẫy,  
thống cùng các làn điệu dân ca, dân nhạc… không mong muốn cuộc sống ấm no hạnh phúc, thoát khỏi  
chỉ phản ánh bản sắc riêng của các DTTS tại chỗ, bệnh tật, mong mùa màng bội thu... Ngoài ra, lễ hội  
mà còn làm nổi bật bức tranh đa sắc màu văn hóa còn kết nối và thắt chặt tình đoàn kết giữa các cộng  
của các dân tộc cùng chung sống trên địa bàn tỉnh đồng dân tộc với nhau, qua đó nâng cao ý thức bảo  
Đắk Nông. Nổi bật trong khối DSVH quý báu đó tồn các DSVH truyền thống nói chung và giữ gìn  
là “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân gian trong  
(trong đó có 3 dân tộc Mnông, Mạ và Ê-đê của tỉnh cộng đồng. Nhìn chung, trong những năm qua, tỉnh  
Đắk Nông) đã được UNESCO công nhận là “Kiệt Đắk Nông đã có nhiều cố gắng và đạt được những  
tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại”. Nghệ kết quả nhất định trong việc bảo tồn, tôn tạo và phát  
thuật cồng chiêng hiện đã được tỉnh Đắk Nông khôi huy các giá trị DSVH trên địa bàn tỉnh, góp phần  
phục và làm sống lại ở nhiều nơi trong cộng đồng tích cực vào công tác giáo dục truyền thống văn hóa  
nhằm bảo tồn và phát huy loại hình di sản này. Bên lịch sử và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nhất  
cạnh đó, Sử thi (Ót N’Drong) và Dân ca của dân là các hoạt động du lịch – dịch vụ.  
tộc Mnông đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du  
lịch đưa vào danh mục DSVH phi vật thể cấp quốc  
gia… Đặc biệt, Công viên địa chất Đắk Nông được  
UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu  
đã mở ra một hướng đi mới, cơ hội mới để Đắk  
Nông có thể bảo tồn và phát huy một cách hiệu quả  
vốn di sản của mình; đồng thời xây dựng mục tiêu,  
chiến lược phát triển ngành du lịch Đắk Nông thành  
ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy phát  
triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.  
Giá trị văn hóa truyền thống mang nét đặc trưng  
tỉnh Đắk Nông được thể hiện đậm nét trong tri thức  
bản địa của 3 dân tộc Mnông, Mạ và Ê-đê. Trong đó  
có khoảng 823 nghệ nhân còn sử dụng được cồng  
chiêng, 261 nghệ nhân biết chế tác và sử dụng nhạc  
cụ dân tộc, 301 nghệ nhân biết và hát những làn  
điệu dân ca, 106 nghệ nhân biết và kể được truyện  
cổ, 139 nghệ nhân biết kể luật tục và phong tục tập  
quán truyền thống, 652 nghệ nhân biết dệt thổ cẩm  
truyền thống, 39 nghệ nhân biết làm cây nêu truyền  
Các di tích văn hóa, lịch sử, danh lam thắng thống… Đây sẽ là cơ sở để tỉnh xây dựng hồ sơ xét  
cảnh trong tỉnh đã được khai thác nhằm phát huy tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân  
giá trị, không chỉ góp phần vào việc giáo dục truyền ưu tú” trong lĩnh vực DSVH phi vật thể, từ đó có  
thống văn hóa dân tộc, tinh thần cách mạng cho cán thể xây dựng một số chính sách hoặc chế độ đãi ngộ  
bộ, đảng viên, sinh viên, học sinh mà còn là một nhằm động viên, khuyến khích và tôn vinh các nghệ  
tiềm năng du lịch của tỉnh khi trở thành điểm đến nhân (toàn tỉnh có 41 nghệ nhân đã được Chủ tịch  
cho du khách. Bên cạnh đó, các ngành chức năng nước phong tặng, truy tặng danh hiệu “Nghệ nhân  
phối hợp và hỗ trợ các địa phương tổ chức nhiều ưu tú” và 02 “Nghệ nhân nhân dân” trong lĩnh vực  
hoạt động lồng ghép tại các điểm di tích như: phát văn hóa phi vật thể).  
động các phong trào thi đua, tổ chức lễ tưởng niệm,  
họp mặt truyền thống… Ngoài ra, hàng năm Bảo  
tàng tỉnh Đắk Nông còn tổ chức nhiều đợt trưng  
bày, giới nhiều bộ sưu tập tư liệu, hiện vật, hình ảnh  
quý hiếm… vừa phục vụ nhu cầu giáo dục về lịch  
sử truyền thống cách mạng của Đảng, về đất nước  
con người Việt Nam, về tiềm năng triển vọng Đắk  
Nông vừa phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của  
nhân dân và khách tham quan du lịch.  
Theo đó, công tác tổ chức các lớp tập huấn cũng  
được chú trọng triển khai có hiệu quả. Đến nay,  
cấp tỉnh đã tổ chức được 02 lớp bồi dưỡng nâng  
cao năng lực nghệ nhân tấu chiêng tại thành phố  
Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông (Bon Bu Sóp và Bon  
N’Jriêng); 06 lớp tập huấn nâng cao năng lực nghệ  
nhân cồng chiêng, chỉnh chiêng và truyền dạy đánh  
chiêng cấp tỉnh; tổ chức 05 lớp dệt thổ cẩm; 68 lớp  
cồng chiêng, 14 lớp dân ca, 16 lớp nhạc cụ, 6 lớp  
Hiện nay, tỉnh Đắk Nông đang thực hiện nhiều đan lát làm cây nêu và thành lập được 07 đội văn  
dự án về văn hóa phi vật thể, bảo tồn và đã khôi nghệ dân gian; 06 lớp tập huấn - giới thiệu di sản  
phục được gần 50 lễ hội truyền thống của đồng bào văn hoá tỉnh Đắk Nông tại các trường cấp II, cấp III  
DTTS tại chỗ. Đặc biệt, năm 2018, Ban Dân tộc trên địa bàn 03 huyện gồm: Tuy Đức, Đắk Glong,  
tỉnh Đắk Nông đã tham mưu cho UBND tỉnh phê Krông Nô và trường Dân tộc nội trú các huyện: Cư  
duyệt Đề án đào tạo nghề gắn với phát triển du lịch Jút, Đắk Mil, Đắk R’lấp, tổ chức 05 “Ngày hội văn  
đối với đồng bào Mnông được sự ủng hộ thống nhất hóa - thể thao các dân tộc” với tổng số trên 2.000  
cao và Ủy ban Dân tộc đồng ý đưa vào Chương lượt nghệ nhân tham gia. Cấp huyện tổ chức được  
trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội 14 lớp truyền dạy dân ca, 06 lớp truyền dạy đan lát,  
vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 làm cây nêu; thành lập được 07 đội văn nghệ dân  
Volume 10, Issue 3  
119  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
gian cấp huyện. Đồng thời, tổ chức 03 lớp tập huấn tỉnh. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội được các  
về công tác bảo tồn nghi lễ, lễ hội truyền thống cho cấp chính quyền quan tâm triển khai sâu rộng trên tất  
đối tượng già làng, trưởng bon và các nghệ nhân cả các lĩnh vực, giúp đồng bào DTTS làm quen với  
tiêu biểu; 01 lớp nghiệp vụ quản lý và sử dụng nhà  
văn hóa cộng đồng với tổng số gần 1.000 lượt nghệ  
nhân tham gia.  
phương thức, kiến thức sản xuất mới, tiếp cận với  
công cụ sản xuất hiện đại hơn, dần xóa bỏ phương  
thức canh tác lạc hậu, công cụ sản xuất thô sơ, hiệu  
quả thấp trước kia. Sự phát triển nhanh chóng đó làm  
cho người dân được hưởng thụ chất lượng cuộc sống  
tốt hơn, dịch vụ xã hội được đáp ứng ngày càng đầy  
đủ. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa  
đã và đang làm cho các giá trị văn hóa truyền thống  
của các DTTS đứng trước nguy cơ bị mai một và  
ngày càng ở mức độ báo động.  
Năm 2018 và 2020, được sự quan tâm chỉ đạo,  
lãnh đạo sâu sát của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, sự phối  
hợp chặt chẽ của các sở, ban, ngành, đơn vị, địa  
phương; đặc biệt là sự quan tâm hỗ trợ chuyên môn  
của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Lễ hội Văn  
hóa thổ cẩm Việt Nam lần thứ I và thứ II tại tỉnh  
Đắk Nông được tổ chức thành công; các hoạt động  
của Lễ hội được tổ chức đa dạng, hấp dẫn, có chiều  
sâu và ý nghĩa, góp phần nâng cao nhận thức của  
các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và nhân dân  
cả nước trong việc bảo tồn và phát huy hoa văn thổ  
cẩm, trang phục truyền thống của các dân tộc. Qua  
đó, đã nhận được sự quan tâm của đồng bào, doanh  
nghiệp, người dân, du khách trong và ngoài tỉnh.  
Công tác xã hội hóa trên địa bàn tỉnh đã đạt được  
những kết quả nhất định. Nhất là công tác xây dựng  
cơ sở vật chất nhằm phục vụ cho hoạt động văn hóa,  
thể thao, du lịch tại Đắk Nông những năm gần đây  
có bước phát triển mạnh. Nhiều tập thể, cá nhân đã  
tích cực tham gia vào quá trình xây dựng và phát  
triển sự nghiệp văn hóa - văn nghệ, hiến đất làm  
nhà văn hóa, đóng góp ngày công lao động, đóng  
góp của cải vật chất làm nhà văn hoá ở thôn, bon;  
dịch vụ kinh doanh văn hóa, điểm vui chơi giải trí  
phát triển. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng  
đời sống văn hóa” được đẩy mạnh và đã đạt được  
nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần thúc đẩy kinh  
tế, văn hóa - xã hội của tỉnh ngày càng phát triển,  
góp phần tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống  
trong gia đình Việt Nam tiếp tục được triển khai  
nhân rộng trên địa bàn tỉnh nhằm khơi gợi, tập hợp,  
đoàn kết nhân dân tham gia xây dựng quê hương…  
Qua đó đã xuất hiện nhiều mô hình gia đình tiêu  
biểu làm kinh tế giỏi, gia đình hiếu học, gia đình nề  
nếp, ông bà mẫu mực con cháu thảo hiền, gia đình  
ấm no hạnh phúc. Bên cạnh đó, việc hợp tác quốc tế  
về văn hóa, thể thao, du lịch đặc biệt là với Vương  
quốc Campuchia cũng được quan tâm, trong đó ưu  
tiên công tác tuyên truyền, cổ động trực quan, các  
chương trình giao lưu văn hóa, nghệ thuật. Các hoạt  
động đó đã đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của  
đồng bào các dân tộc trong toàn tỉnh góp phần giao  
lưu, hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh  
bạn và quốc tế.  
Bên cạnh sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là  
sự thay đổi của môi trường sống đã tác động mạnh  
đến đời sống sinh hoạt và thói quen văn hóa truyền  
thống của đồng bào DTTS. Rừng không còn là nhà,  
nơi che chở, cung cấp nguyên vật liệu, thực phẩm,  
nơi của niềm tin và tín ngưỡng đa thần, là nền tảng  
văn hóa bền vững được dẫn dắt qua nhiều thế hệ.  
Bên cạch đó, làn sóng di dân tự phát của đồng bào  
các dân tộc ở một số tỉnh miền núi phía Bắc đến  
tỉnh Đắk Nông cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến  
đời sống văn hóa của cộng đồng địa phương. Các  
công trình đô thị hóa và nền kinh tế thị trường…  
đã thâm nhập và làm thay đổi không gian văn hóa  
truyền thống của người dân nơi đây. Đời sống kinh  
tế của các DTTS còn nhiều khó khăn nên chưa có  
điều kiện và thời gian quan tâm đến việc giữ gìn,  
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Thậm  
chí, ở một số địa phương, người dân phải bán cả tài  
sản văn hóa vật thể như: cồng chiêng, ché, nhà cổ,  
trang phục truyền thống… để lấy tiền làm vốn sản  
xuất và sinh hoạt gia đình. Do đó, không gian xã  
hội của đồng bào các DTTS dần bị xâm phạm, bản  
sắc văn hóa, tập tục truyền thống có nguy cơ bị mất  
đi. Đặc biệt, đối với thế hệ trẻ, nhiều người trong  
số họ đón nhận những yếu tố văn hoá mới không  
có sự chọn lọc... tạo nên thách thức lớn trong việc  
gìn giữ và bảo lưu văn hoá truyền thống đối với các  
cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân các dân tộc  
tỉnh Đắk Nông.  
Trước đây, với tín ngưỡng đa thần, mọi sự vật,  
hiện tượng tự nhiên đều gắn liền với thần linh. Bởi  
vậy, lễ nghi, tín ngưỡng truyền thống của đồng bào  
các dân tộc chính là linh hồn cho sự tồn tại sống  
động của văn hóa lễ hội, nhưng tình hình đó đã  
có nhiều thay đổi. Sự du nhập của các tôn giáo đã  
mang đến những quan niệm mới, tác động mạnh mẽ  
đến tập tục, lễ nghi và quan niệm truyền thống cộng  
đồng. Khi mà đồng bào không còn tin vào các vị  
thần linh, không thực hiện các lễ nghi truyền thống  
thì các giá trị văn hóa truyền thống khó tránh khỏi  
sự thu hẹp.  
4.2. Cơ hội và thách thức đối với công tác bảo  
tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của các dân  
tộc thiểu số  
Sau 16 năm hình thành và phát triển mạnh mẽ  
trên các lĩnh vực, nhiều dự án phát triển kinh tế - xã  
Ngày nay, các loại hình văn hóa truyền thống  
hội ở tỉnh Đắk Nông đã được đầu tư. Những nhà máy, của đồng bào các DTTS vẫn tồn tại và phát triển,  
công trình giao thông công cộng, khu dân cư, tòa nhà nhưng vị trí trong đời sống sinh hoạt của nó đã được  
cao tầng hiện đại đang làm thay đổi diện mạo của chuyển đổi. Một số lễ hội văn hóa truyền thống như:  
120  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
lễ cúng lúa mới, cúng sức khỏe, cúng bến nước, lễ nước và nhân dân cùng làm.  
hội Lồng tồng… chỉ còn xuất hiện trong các hoạt  
động văn hóa do Nhà nước tổ chức.  
Bốn là, tăng cường đầu tư kinh phí, cơ sở vật  
chất, trang thiết bị cho công tác bảo tồn và phát  
Hoạt động văn hóa dân gian trước đây diễn ra huy giá trị DSVH. Kết hợp giữa đầu tư, tôn tạo di  
thường xuyên ở các bon, buôn đồng bào DTTS tại tích, danh lam thắng cảnh với khai thác phát triển  
chỗ thì giờ đây trở nên thưa thớt; nhiều phong tục du lịch. Phát huy vai trò của hệ thống thông tin đại  
tập quán, lễ hội đang bị mai một, không còn tổ chức chúng trong việc tuyên truyền, giáo dục kiến thức  
trong cộng đồng bon, buôn, bản cũng như trong hộ về Luật DSVH đến từng người, từng gia đình.  
gia đình. Do đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị  
văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Đắk Nông là  
hết sức cần thiết trong thời gian tới. Chính vì vậy,  
việc bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá  
truyền thống của các DTTS đã được các cấp lãnh  
đạo Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, đồng thời  
coi đây là một nội dung quan trọng trong sự nghiệp  
xây dựng và phát triển nền văn hóa mang đậm bản  
sắc của tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới.  
Năm là, chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ  
cán bộ quản lý, chuyên môn làm nhiệm vụ bảo tồn  
DSVH. Mở các lớp tập huấn về chuyên môn nghiệp  
vụ cho cán bộ văn hóa cơ sở về lĩnh vực bảo tồn và  
phát huy DSVH. Đồng thời, đầu tư triển khai các dự  
án để sưu tầm và xuất bản các ấn phẩm về DSVH,  
không chỉ để bảo tồn hay làm tài liệu tra cứu mà còn  
là tài liệu tuyên truyền, giảng dạy, quảng bá trong  
cộng đồng các dân tộc giúp đồng bào có thể hiểu  
được những giá trị DSVH để họ tham gia bảo tồn,  
gìn giữ, phát huy nó trong đời sống cộng đồng.  
5. Thảo luận  
Để nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát  
huy giá trị DSVH của các DTTS trên địa bàn nhằm  
Sáu là, tăng cường hội nhập, giao lưu giới thiệu  
thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, trong thời gian về văn hóa Đắk Nông thông qua các hoạt động văn  
tới, tỉnh Đắk Nông cần quan tâm, nghiên cứu và xác hóa, du lịch. Tăng cường hợp tác với các tỉnh, thành  
định một số giải pháp trọng tâm sau:  
phố, các trường đại học, cơ quan Trung ương về tổ  
chức và tham gia biểu diễn văn hóa nghệ thuật, hợp  
tác thực hiện các chương trình hội thảo, nghiên cứu  
khoa học trong công tác bảo tồn và phát huy DSVH.  
Một là, tăng cường công tác quản lý Nhà nước  
đối với hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH  
của các DTTS. Kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở, xử  
lý nghiêm những hành vi cố ý xâm hại DSVH.  
Hoàn thiện cơ chế chính sách về bảo tồn và phát  
huy DSVH trên địa bàn tỉnh, tạo môi trường văn  
hóa lành mạnh cho sự phát triển du lịch bền vững.  
Đồng thời, tổ chức các hoạt động tuyên truyền  
giáo dục pháp luật cho người dân, đề cao vai trò  
của nhân dân trong việc tham gia quản lý DSVH;  
gắn trách nhiệm của chính quyền, các tổ chức đoàn  
thể và người dân trong việc bảo tồn và phát huy  
giá trị DSVH.  
6. Kết luận  
Trong quá trình phát triển, đồng bào các DTTS  
tại chỗ Tây Nguyên nói chung và đồng bào các  
DTTS ở tỉnh Đắk Nông nói riêng đã sáng tạo nên  
một nền văn hóa truyền thống rất phong phú, đa  
dạng, với những DSVH vật thể, phi vật thể hết sức  
quý giá. Đắk Nông còn là nơi lưu giữ được nhiều  
DSVH phi vật thể, vừa có giá trị du lịch, vừa có  
giá trị thẩm mỹ độc đáo (Nhà rông, nhà dài, tượng  
nhà mồ, lễ hội cơm mới, lễ bỏ mả, các lễ hội cồng  
Hai là, xây dựng quy hoạch tổng thể bảo vệ và chiêng). Đặc biệt, còn có một kho tàng văn học dân  
phát huy giá trị DSVH gắn với quy hoạch phát triển gian với những bản trường ca, truyện cổ, truyện ngụ  
du lịch. Đối với các DSVH vật thể tiến hành rà soát, ngôn, lời nói vần, những làn điệu dân ca đậm đà bản  
kiểm kê, bảo quản bằng công nghệ hiện đại, đưa sắc lưu truyền qua nhiều thế hệ. Trong đó, di sản  
lên trang thông tin điện tử của tỉnh để phục vụ tốt nổi tiếng là không gian văn hóa cồng chiêng Tây  
công tác bảo tồn và tra cứu. Xây dựng các kế hoạch Nguyên (đã được UNESCO công nhận là DSVH  
cụ thể đối với công tác khai quật khảo cổ, tôn tạo, phi vật thể đại diện của nhân loại). Đây thực sự là  
xác định giá trị cổ vật; có kế hoạch bảo vệ, bảo tồn những giá trị tài nguyên đặc biệt, là sự khác biệt so  
và quảng bá, nhất là việc giữ gìn các hiện vật cách với các khu vực khác ở nước ta để khai thác phát  
mạng, di tích kháng chiến. Đối với DSVH phi vật triển các sản phẩm du lịch mang thương hiệu của  
thể thì chú trọng đầu tư phục dựng các lễ hội đặc Đắk Nông.  
trưng thành hoạt động văn hóa thường niên, kết hợp  
với các hoạt động du lịch. Thành lập và phát triển  
các làng nghề truyền thống bằng nhiều hình thức và  
đẩy mạnh quảng bá các sản phẩm.  
Để bảo tồn, phát huy giá trị DSVH của đồng bào  
các DTTS trên địa bàn tỉnh Đắk Nông gắn với phát  
triển du lịch bền vững, cần có điều kiện thuận lợi để  
tạo nên những sản phẩm đặc trưng, hấp dẫn, riêng  
Ba là, đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo tồn và biệt, thông qua khai thác cảnh quan thiên nhiên, di  
phát huy giá trị DSVH. Việc bảo tồn và phát huy tích văn hóa, lịch sử và DSVH các dân tộc nơi đây.  
DSVH không chỉ là trách nhiệm của ngành văn hóa Đây sẽ là cơ sở, tiền đề quan trọng, cần tiếp tục  
mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Tạo mọi điều quan tâm, nghiên cứu và có những giải pháp đồng  
kiện mở rộng nguồn đầu tư trong xã hội tham gia bộ phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra tại địa  
bảo tồn và phát huy DSVH theo phương châm nhà phương trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.  
Volume 10, Issue 3  
121  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
Tai lieu tham khao  
Binh, X. (2020, ngay 04 thang 12). Bao ton,  
phat huy gia tri cac di san van hoa. Bao Ninh  
Thuan online.  
Dinh, Q. (2020, ngay 30 thang 12). Phat huy cac  
gia tri van hoa truyen thong. Bao Kon Tum  
online.  
Hien, N. T. (2016, ngay 03 thang 4). Bao ton va  
phat huy di san van hoa cac dan toc thieu so.  
Bao Nhan dan dien tu.  
Hung, N. T. (2020, ngay 26 thang 8). Cong tac  
bao ton va phat huy di san van hoa phi vat  
the cua dong bao cac dan toc thieu so huyen  
Dak Ha. Trang thong tin dien tu Ban Dan toc  
tinh Kon Tum.  
Nhan, T. (2021, ngay 28 thang 2). Phu Yen: Di  
san van hoa duoc bao ton va phat huy gia tri.  
Trang thong tin Doanh nghiep va Dau tu, So  
Ke hoach va Dau tu tinh Phu Yen.  
So Van hoa, The thao va Du lich tinh Phu Tho.  
(2014, ngay 8 thang 4). Bao ton va phat huy  
cac gia tri di san van hoa phi vat the vung dat  
Thy, N. (2020, ngay 19 thang 10). Bao ton va  
phat huy di san van hoa phi vat the cua dong  
bao dan toc thieu so. Bao dien tu Chinh phu.  
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA  
ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ NHẰM PHÁT TRIỂN  
DU LỊCH BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG  
Tôn Thị Ngọc Hạnh  
Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông  
Ngày nhận bài:  
27/4/2021  
Ngày phản biện: 01/6/2021  
Ngày tác giả sửa: 11/6/2021  
Ngày duyệt đăng: 20/9/2021  
Ngày phát hành: 30/9/2021  
ắk Nông là tỉnh có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, với những giá trị văn hóa truyền  
Đ
thống vô cùng phong phú, đặc sắc. Trong kho tàng văn hóa phong phú đó, nhiều di sản văn hóa đã,  
đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống của cộng đồng dân tộc thiểu số, theo hướng bảo tồn gắn với  
phát triển sinh kế, phát triển du lịch bền vững. Bài viết tập trung phân tích những kết quả đạt được trong  
công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Nông, đồng thời làm rõ  
một số nội dung về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch  
bền vững ở tỉnh Đắk Nông hiện nay.  
Từ khóa: Bảo tồn và phát huy; Giá trị di sản văn hóa; Phát triển du lịch bền vững; Tỉnh Đắk Nông.  
122  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
pdf 6 trang Thùy Anh 12160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Nông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_ton_va_phat_huy_gia_tri_di_san_van_hoa_cua_dong_bao_cac.pdf