Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn lao động chất lượng cao phục vụ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Bình Dương

HUFLIT International Conference On Ensuring A High-Quality Human Resource In The Modern Age - Oct 16, 2020  
doi: 10.15625/vap.2020.0072  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN LAO ĐỘNG  
CHẤT LƢỢNG CAO PHỤC VỤ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ  
NƢỚC NGOÀI TẠI BÌNH DƢƠNG  
Trần Minh Đức  
Khoa KHXH&NV, Trƣờng Đại học Thủ Dầu Một, Bình Dƣơng  
TÓM TẮT: Trƣớc xu thế hội nhập vào nền kinh tế tri thức thế giới, tỉnh Bình Dƣơng cần có các nguồn lực nhƣ nguồn tài nguyên  
thiên nhiên, nguồn tài chính, nguồn lực khoa học - công nghệ, nguồn lực con ngƣời… Trong đó, nguồn lực con ngƣời đƣợc coi là  
nguồn lực quan trọng nhất, có tính chất quyết định sự tăng trƣởng và phát triển xã hội, là một trong những yếu tố quyết định sự  
thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh  
doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động đƣợc đào tạo cùng với công  
nghệ tiên tiến, phƣơng tiện và phƣơng pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Từ kết quả khảo sát nguồn  
lao động chất lƣợng cao hiện tại ở Bình Dƣơng, bài viết đƣa ra một số giải pháp cơ bản để phát triển nguồn lao động chất lƣợng cao  
tại địa phƣơng này trong thời gian tới.  
Từ khóa: Doanh nghiệp, kinh tế, nguồn lao động chất lƣợng cao.  
I. KHÁI QUÁT CHỦ TRƢƠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TẠI  
BÌNH DƢƠNG  
Trong vài thập niên qua, đặc biệt từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO), đã tạo ra những  
cơ hội to lớn cho Việt Nam mở rộng khả năng trao đổi, hợp tác kinh tế trên nhiều lĩnh vực với các nƣớc mà trong đó có  
lĩnh vực kinh tế. Vận dụng quan điểm, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc, Đảng bộ tỉnh Bình Dƣơng đã xác định đúng  
hƣớng thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (FDI) là cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội (KT - XH) của địa phƣơng.  
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dƣơng lần thứ VIII (2005) xác định: “cần cân nhắc lựa chọn các dự án có công  
nghệ cao, công nghệ sạch, những nhà đầu tƣ có tiềm lực và khả năng tài chính lớn để tạo sự bức phá trong phát triển  
công nghiệp của vùng và của tỉnh” (Đảng bộ tỉnh Bình Dƣơng, 2005). Về đối tác thu hút vốn FDI, Đảng bộ tỉnh Bình  
Dƣơng xác định: “thu hút các đối tác mạnh, các tập đoàn có công nghệ nguồn từ các nƣớc tiên tiến, tránh làm tràn lan  
kém hiệu quả” (Đảng bộ tỉnh Bình Dƣơng, 2005). Trên cơ sở những kết quả đạt đƣợc về thu hút vốn FDI của địa  
phƣơng trong những năm (2005 - 2010), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dƣơng lần thứ IX (2010) tiếp tục xác  
định: “Tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp (DN) xúc tiến đầu tƣ nhằm thu hút các tập đoàn kinh tế lớn, các  
DN nƣớc ngoài có trình độ kĩ thuật và công nghệ sản xuất hiện đại; chú trọng kêu gọi đầu tƣ nƣớc ngoài vào các lĩnh  
vực thƣơng mại, dịch vụ, công nghệ phụ trợ, các ngành công nghệ cao,..” (Đảng bộ tỉnh Bình Dƣơng, 2010). Đại hội  
đặt ra nhiệm vụ đối với toàn hệ thống chính trị cần phải nâng cao tính hiệu quả trong công tác xúc tiến đầu tƣ, thực  
hiện tốt cải cách thủ tục hành chính, ban hành các chính sách ƣu đãi và nâng cao chất lƣợng nguồn lao động nhằm tạo  
môi trƣờng thuận lợi, đủ sức cạnh tranh với các tỉnh, thành trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nƣớc để thu  
hút các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài.  
Thực hiện chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Bình Dƣơng về thu hút vốn FDI, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dƣơng đã ban  
hành nhiều kế hoạch để tăng cƣờng công tác thu hút vốn FDI. Có thể kể đến nhƣ: Nghị quyết số 30/2010/NQ-HDND  
về kế hoạch phát triển KT - XH tỉnh Bình Dƣơng giai đoạn 2010-2015 xác định thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài cả thời  
kì đạt trên 5 tỉ đô la Mĩ. Trong Nghị quyết số 19/2013/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dƣơng về kế  
hoạch phát triển KT - XH năm 2014 cũng xác định mục tiêu tổng quát trong năm 2013 là thu hút vốn FDI khoảng 1 tỉ  
USD. Nghị quyết số 25/2014/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dƣơng cũng đánh giá kết quả thu hút vốn  
đầu tƣ nƣớc ngoài năm 2014 tăng cao, “ƣớc đạt 1,6 tỉ USD và đặt mục tiêu thu hút vốn FDI năm 2015 là khoảng 1 tỉ  
USD” (Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dƣơng, 2014). Trong báo cáo số 101/BC-UBND đánh giá kết quả thu hút vốn  
FDI trong 5 năm (2011- 2015) là 10, 2 tỉ USD và vƣợt gấp đôi so với kế hoạch đề ra với 725 dự án đăng kí mới và 685  
dự án điều chỉnh và đề ra mục tiêu trong giai đoạn 2015 - 2020, Bình Dƣơng cần phải thu hút trên 7 tỉ USD vốn đầu tƣ  
nƣớc ngoài và nhấn mạnh các biện pháp thực hiện: “Tích cực chủ động tạo dựng môi trƣờng quốc tế thuận lợi, tranh  
thủ khai thác các nguồn lực từ bên ngoài,… triển khai các giải pháp đồng bộ, nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác  
thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài, thu hút mạnh nguồn vốn đầu tƣ vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp kĩ thuật  
cao, công nghiệp phụ trợ và các ngành dịch vụ” (Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dƣơng, 2011).  
II. THỰC TRẠNG NGUỒN LAO ĐỘNG CHẤT LƢỢNG CAO TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU  
TƢ NƢỚC NGOÀI TẠI BÌNH DƢƠNG  
Bƣớc vào thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH), đặc biệt từ khi Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài có hiệu lực  
128  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN  
LAO ĐỘNG CHẤT LƢỢNG CAO PHỤC VỤ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TẠI BÌNH DƢƠNG  
năm 1988, mức thu hút FDI vào Bình Dƣơng từng bƣớc đáp ứng với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa  
phƣơng. Khu vực kinh tế FDI ngày càng bổ sung thêm nguồn vốn đầu tƣ cho phát triển KT - XH, đồng thời giải quyết  
đƣợc việc làm cho một lực lƣợng lao động đáng kể tại địa phƣơng và các vùng lân cận.  
A. Quy mô, cơ cấu nguồn lao động chất lượng cao  
Đến nay Bình Dƣơng đã hình thành 29 khu công nghiệp (KCN) với diện tích 12.743 ha và 12 cụm công nghiệp với  
diện tích 790 ha (có 9 cụm đã đi vào hoạt động). Trong đó có một số KCN có hệ thống hạ tầng hiện đại đạt tiêu chuẩn  
quốc tế (nhƣ KCN Việt Nam - Singapore I, II, KCN Kĩ thuật cao Mapletree) đảm bảo cung cấp đầy đủ tiện ích phục  
vụ, tạo điều kiện thu hút hiệu quả các dự án đầu tƣ FDI có quy mô lớn, công nghệ kĩ thuật cao vào địa bàn tỉnh. Bình  
Dƣơng hiện đứng thứ 3 cả nƣớc (sau TP. HCM và Hà Nội) về thu hút vốn đầu FDI với 3.702 dự án đƣợc cấp giấy  
chứng nhận đầu tƣ còn hiệu lực, có tổng vốn đầu tƣ 33,8 tỉ USD. Quy mô trung bình dự án khoảng 9,1 triệu USD. Tính  
đến nay, tại Bình Dƣơng có 65 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tƣ hoạt động (Cục Thống kê Bình Dƣơng, 2019).  
Bảng 1: Danh sách 10 quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn FDI đứng đầu tại Bình Dƣơng (thời điểm 31/12/2019)  
(Nguồn: Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Dương, 2020)  
Vốn đăng ký  
STT  
Quốc gia/vùng lãnh thổ  
Dự án  
Tỉ lệ  
(tỉ USD)  
5,65  
5,42  
4,14  
3,27  
3,14  
2,36  
1,85  
1,34  
1,69  
1,07  
1
2
Nhật Bản  
Đài Loan  
313  
838  
241  
129  
742  
167  
205  
19  
16,3 %  
15,8 %  
12,1 %  
9,6 %  
9,2 %  
6,9 %  
5,4 %  
3,9 %  
3,4 %  
3,1 %  
3
Singapore  
4
Samoa  
5
Hàn Quốc  
6
British Virgin Islands  
Hồng Kông  
Cayman Islands  
Trung Quốc  
Hà Lan  
7
8
9
401  
41  
10  
Tính đến hết năm 2019, toàn tỉnh có khoảng 4.000 DN FDI và hơn 40.000 DN trong nƣớc với tổng số lao động làm  
việc tại thời điểm cuối năm 2019 là 1,2 triệu, trong đó có khoảng 85 % lao động là ngƣời ngoài tỉnh. DN trong nƣớc tại  
Bình Dƣơng chiếm tỉ trọng 90 % về số DN và 70 % về lao động; DN FDI tuy chỉ chiếm tỉ trọng 10 % về DN nhƣng  
chiếm 30 % về lao động tại địa phƣơng (Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Dƣơng, 2020).  
Qua số liệu khảo sát cuối năm 2019 tại 10 DN FDI Bình Dƣơng (SNP Co., Ltd; ABE Industrial Vietnam Co., Ltd; Dai  
Hoa Company Limited; Kaiser Furniture (VietNam) Joint Stock Company; Grand Wood (VietNam) Co., Ltd; Foster  
Electric (Vietnam) Co., Ltd; Wonderful Sai Gon Electrics Co., Ltd (WSE); Prosper Joint Stock Company; SV Probe  
Vietnam Co.,Ltd ; Tae Young Vina) cho thấy, lực lƣợng lao động tại các DN FDI từ 20 tuổi đến 40 tuổi chiếm 90 %  
trong các nhóm tuổi tham gia lao động, nhóm tuổi 20-25 chiếm 30 %, nhóm tuổi 26-35 chiếm 40 %, nhóm tuổi 35-40  
chiếm 30 %. Lực lƣợng lao động nữ chiếm tỉ lệ 51,06 % tổng số lao động, tỉ lệ lao động nữ trong các nhóm tuổi cao  
hơn tỉ lệ lao động nam trung bình từ 2- 4 %.  
Tỉnh Bình Dƣơng hiện nay là một trong những trung tâm đào tạo nguồn lực lớn của khu vực Đông Nam Bộ, nguồn  
cung lao động đã qua đào tạo, đặc biệt là lao động chất lƣợng cao (CLC) của tỉnh ngày một tăng. Hằng năm tại Bình  
Dƣơng có 40.000 sinh viên các trƣờng đại học, cao đẳng, trung cấp, công nhân kĩ thuật, các lớp đào tạo ngắn hạn tốt  
nghiệp ra trƣờng. Tuy vậy, xét về số lƣợng, số lao động này (kể cả sử dụng hết), vẫn chƣa thể đáp ứng đủ nhu cầu về  
lao động đã qua đào tạo cho các DN đặc biệt là các DN FDI trong KCN. Đó là chƣa kể số lao động này ra trƣờng còn  
đƣợc nhiều địa phƣơng khác ở các tỉnh thành phía Nam thu hút, nhƣ TP. HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng  
Tàu,… Do vậy thực tế tình trạng thiếu hụt lao động CLC vẫn diễn ra hàng năm, việc tham gia của các cơ sở đào tạo về  
nguồn lao động vẫn chƣa có bƣớc nhảy vọt trong việc đáp ứng đủ nhu cầu của các DN. Có 70 % chủ DN qua khảo sát  
cho biết gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động đƣợc đào tạo đúng ngành nghề và 90 % DN cho biết rất khó tuyển  
dụng lao động có trình độ cao sau khi nâng cao công nghệ và đầu tƣ nhiều vốn sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, còn hai  
điểm thách thức nữa là có tới 60 % DN sử dụng lao động phản ánh rằng các kĩ năng mà lao động đƣợc đào tạo bị lệch  
so với các kĩ năng mà DN cần và 30 % cho biết các kĩ năng đƣợc đào tạo của lao động mới chƣa phù hợp với nhu cầu  
DN. Hiện nay, do chất lƣợng đào tạo của các cơ sở đào tạo còn nhiều hạn chế nên chƣa có sự thay đổi mới trong việc  
Trần Minh Đức  
129  
nâng cao chất lƣợng đào tạo. Trong đó, số lao động đã qua đào tạo, chỉ có khoảng 40 % đáp ứng đƣợc nhu cầu của các  
nhà tuyển dụng. Vì khi tuyển dụng nguồn lao động, đặc biệt là đội ngũ lao động CLC các DN thƣờng chú trọng đầu  
tiên đến năng lực thực tế của ứng viên.  
Thời gian gần đây, để có đƣợc số lao động CLC tối thiểu vận hành công việc, các DN phải cạnh tranh, linh hoạt trong  
việc tuyển dụng. Ngoài hình thức đăng quảng cáo trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, thông qua kênh Trung  
tâm Dịch vụ việc làm, quảng cáo bằng tờ rơi, áp phích,… nhiều DN còn tuyển dụng lao động thông qua môi giới hoặc  
liên hệ trực tiếp với các cơ sở đào tạo. Nhƣ vậy, so với các DN trong nƣớc, các DN FDI thể hiện sự năng động trong  
tuyển dụng lao động CLC. Các DN này không chỉ năng động trong việc tuyển dụng lao động CLC từ các cơ sở đào tạo  
mà còn lôi kéo lao động CLC từ các DN trong nƣớc bằng nhiều chính sách ƣu đãi khác nhằm thu hút lao động nhƣ: thu  
nhập cao, điều kiện làm việc, cơ hội sự thăng tiến,...  
B. Thể lực của nguồn lao động chất lượng cao  
Trong nền sản xuất hiện đại, vấn đề sức khỏe thể lực và thần kinh ngƣời lao động giữ vai trò rất quan trọng trong quá  
trình vận hành công việc. Nội dung của phẩm chất này thể hiện ở các thông số nhƣ chiều cao, cân nặng, các chỉ số về  
sức khỏe thể lực, nhất là sự dẻo dai và tâm lý. Các chỉ số nói trên của ngƣời lao động càng tiếp cận các tiêu chuẩn quy  
định quốc tế thì phẩm chất này của ngƣời lao động càng đƣợc cải thiện. Trong phiên họp thƣờng kỳ tháng 7 năm 2013,  
Chính phủ thảo luận về dự thảo đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH  
trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN và hội nhập quốc tế”. Góp ý cho đề án, Bộ trƣởng Bộ Văn hóa,  
Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh nêu thực trạng báo động về tầm vóc và thể lực của ngƣời Việt Nam. Theo đó,  
chiều cao trung bình của nam thanh niên là 1,61m, nữ 1,53m; lần lƣợt thấp hơn mức chuẩn thế giới là 8 và 9 cm. Trong  
30 năm qua, chỉ số chiều cao của ngƣời Việt tăng không đáng kể. So với tầm vóc của thanh niên các nƣớc trong khu  
vực nhƣ Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, tầm vóc của thanh niên Việt Nam kém hơn rất nhiều.  
Theo kết quả khảo sát tại các DN FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng, tình trạng thể lực của nguồn lao động CLC theo  
đánh giá chỉ dừng ở mức trung bình, mới đáp ứng với cƣờng độ làm việc bình thƣờng (chƣa tăng ca, chƣa sử dụng  
công cụ nặng). Theo quan điểm chung của đại diện hầu hết các DN khảo sát, nếu ngƣời lao động không có thể lực tốt  
sẽ thiếu nhanh nhẹn, hoạt bát, dẻo dai trong công việc và sẽ không đảm bảo đủ sức khoẻ để sẵn sàng tăng ca khi DN có  
nhiều đơn hàng. Ngoài ra, khi lao động có nền tảng thể lực mức trung bình trở xuống sẽ rất khó khăn trong sử dụng và  
vận hành các máy móc, thiết bị hiện đại, kích cỡ lớn, làm việc trong môi trƣờng không thuận lợi (trên cao, dƣới sâu)  
với cƣờng độ lao động cao, điều kiện lao động nặng nhọc, gánh nặng thần kinh tâm lý lớn. Điều này cũng trùng với ý  
kiến của Bộ trƣởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh tại phiên họp thƣờng kỳ tháng 7 năm 2013 của  
Chính phủ là nếu không cải thiện thể lực và tầm vóc hụt chuẩn gần 10 cm thì ngƣời Việt Nam không thể đáp ứng yêu  
cầu CNH - HĐH.  
Bảng 2: Thống kê đánh giá của các DN FDI Bình Dƣơng về thể lực lao động (thời điểm 31/12/2019)  
(Nguồn: Phân tích của tác giả từ kết quả khảo sát tại 10 DN FDI)  
Mức đánh giá của DN (%)  
Các tiêu chí đánh giá  
Yếu  
Trung bình  
Khá  
Tốt  
Rất tốt  
Nhanh nhẹn, hoạt bát, dẻo dai trong công việc  
15  
70  
10  
5
0
Khả năng chống chọi với bệnh tật (mật độ nghỉ  
phép vì lý do sức khỏe)  
20  
60  
20  
0
0
Chịu đựng những tác động của môi trƣờng một  
cách bền bỉ  
30  
10  
60  
70  
10  
10  
0
0
0
Khả năng làm thêm giờ dựa trên sức khoẻ  
10  
Nhƣ vậy có thể thấy, thể lực của lao động CLC tại các DN FDI tỉnh Bình Dƣơng hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế.  
Điều này có sự tác động nhất định đến chất lƣợng và hiệu quả công việc của các DN cũng nhƣ khả năng tăng thu nhập  
của chính bản thân ngƣời lao động. Tuy vậy đây cũng là những khó khăn chung của các địa phƣơng khác ở Việt Nam  
chứ không riêng Bình Dƣơng. Việc khắc phục khó khăn hạn chế về thể lực của nguồn lao động CLC trong các DN FDI  
là vấn đề lâu dài cần có sự chung tay của các cơ quan chức năng từ Trung ƣơng đến địa phƣơng và đƣợc tiến hành  
trong một thời gian dài 10, 20 năm chứ không thể thực hiện trong sớm chiều.  
C. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ nguồn lao động chất lượng cao  
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là kiến thức và kĩ năng cần thiết để thực hiện yêu cầu công việc của vị trí đang đảm  
nhận. Trình độ chuyên môn của ngƣời lao động trong DN là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá chất lƣợng ngƣời  
lao động, bởi lẽ trình độ học vấn cao tạo ra những điều kiện và khả năng để tiếp thu và vận dụng một cách  
130  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN  
LAO ĐỘNG CHẤT LƢỢNG CAO PHỤC VỤ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TẠI BÌNH DƢƠNG  
nhanh chóng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực tiễn sản xuất kinh doanh; sáng tạo ra những sản phẩm mới góp  
phần thúc đẩy sự phát triển của DN đó nói riêng và nền KT - XH nói chung. Thực tế cho thấy, ở phần lớn các DN  
ngƣời lao động có trình độ chuyên môn cao thì DN đó phát triển nhanh, ngƣợc lại với những DN có trình độ lao động  
thấp thì phát triển chậm và năng suất lao động khó cải thiện.  
Theo khảo sát, đội ngũ lao động CLC làm việc trong khu vực FDI tỉnh Bình Dƣơng trong những năm qua có xu hƣớng  
năm sau cao hơn năm trƣớc. Tuy vậy mức chuyển biến này diễn ra chậm và vẫn còn thiếu nhiều so với nhu cầu xã hội  
để phát triển các ngành kinh tế chủ lực của địa phƣơng, nhất là để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng nhƣ nâng  
cấp vị thế của Bình Dƣơng trong chuỗi giá trị đó.  
Bảng 3: Trình độ lao động qua đào tạo tại các DN FDI Bình Dƣơng (thời điểm 31/12/2019)  
(Nguồn: Phân tích của tác giả từ kết quả khảo sát tại 10 DN FDI)  
Số lƣợng lao động khảo sát  
tại 10 DN FDI Bình Dƣơng Trung  
ĐT  
ĐT  
Trung  
ĐT sơ  
cấp  
ĐT  
trung  
cấp  
ĐT cao  
đẳng  
ĐT đại ĐT sau  
học  
đại học  
học cơ sở học phổ  
thông  
13.100  
%
3.799  
29  
9.301  
71  
5.606  
42,8  
3.117  
23,8  
2.554  
19,5  
1.781  
13,6  
3
0,02  
Phân tích số liệu Bảng 3 cho thấy, trình độ học vấn nguồn lao động CLC tại Bình Dƣơng tốt nghiệp THCS đạt 29 %,  
THPT đạt tỉ lệ 71 %; Cơ cấu trình độ chuyên môn kĩ thuật có trình độ Sơ cấp: 42,8 %, Trung cấp: 23,8 %, Cao đẳng:  
19,5 %, Đại học: 13,6 % Sau đại học: 0,02 %. Trong khi các DN FDI cho biết họ cần tối thiểu 70 % lao động làm việc  
đạt trình độ qua đào tạo từ trung cấp trở lên. Việc thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kĩ thuật bậc cao là  
một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh nói chung và bản thân từng  
DN nói riêng.  
Bảng 4: Đánh giá mức độ hài lòng của DN FDI về nguồn lao động CLC (tại thời điểm 31/12/2019)  
(Nguồn: Phân tích của tác giả từ kết quả khảo sát 10 DN FDI)  
Mức độ đánh giá của DN  
Các tiêu chí đánh giá  
Yếu  
Trung bình  
Khá  
Tốt  
Rất tốt  
Ý thức kỷ luật, tính tự giác  
Về thể lực làm việc  
3
6
8
1
0
0
0
1
1
0
Sự tỉnh táo, sáng tạo, sảng khoái tinh thần khi  
làm việc  
1
5
8
2
9
5
2
7
1
0
0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
Kĩ năng mềm, khả năng hợp tác, làm việc nhóm  
Trình độ ngoại ngữ, kĩ năng giao tiếp với ngƣời  
nƣớc ngoài  
Khả năng làm cùng 1 công việc ở nƣớc ngoài  
Bên cạnh đó, với riêng số lao động có trình độ chuyên môn, kĩ thuật đạt chuẩn về bằng cấp đào tạo thì vẫn có khuynh  
hƣớng nặng về hiểu biết lý thuyết nhƣng lại kém về năng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi trƣờng cạnh  
tranh công nghiệp. Lao động qua đào tạo, nhất là đào tạo nghề, kĩ năng, tay nghề của sinh viên ra trƣờng vẫn còn yếu,  
đặc biệt là so với tiêu chuẩn nghề của khu vực và thế giới, dẫn đến thiếu nghiêm trọng lao động kĩ thuật trình độ cao,  
các nhà quản lý và chuyên gia giỏi để bắt kịp xu thế chung của thời kỳ công nghiệp 4.0.  
D. Nhân cách nguồn lao động chất lượng cao  
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng với nền sản xuất công nghiệp hiện đại, lao động nƣớc ta nói chung  
đang bộc lộ những nhƣợc điểm rất cơ bản. Ngƣời lao động còn bị ảnh hƣởng nặng nề tƣ tƣởng, thói quen của nền sản  
xuất tiểu nông manh mún, thiếu tính toán hiệu quả kinh tế, lãng phí; tác phong công nghiệp chƣa trở thành phổ biến, ý  
thức chấp hành luật pháp, kỷ luật trong lao động còn yếu bởi tính tự do của nền văn hóa tiểu nông; khả năng làm việc  
theo nhóm, làm việc trong môi trƣờng đa văn hóa, đa sắc tộc còn rất hạn chế, đặc biệt là những rào cản về văn hóa, về  
ngôn ngữ khi có yếu tố lao động nƣớc ngoài hoặc làm việc ở nƣớc ngoài. Là trung tâm kinh tế, văn hóa lớn của khu  
vực phía Nam thu hút đƣợc nhiều lao động từ khắp các vùng miền đất nƣớc đến sinh sống, học tập và lao động, vì thế  
nhân cách của đội ngũ lao động chất lƣợng cao tỉnh Bình Dƣơng cũng bị ảnh hƣởng bởi những truyền thống ấy. Tuy  
Trần Minh Đức  
131  
nhiên qua khảo sát lao động làm việc trong các DN FDI, do đây là đội ngũ lao động chủ yếu đã qua đào tạo nên có  
những bƣớc tiến bộ hơn so với đội ngũ lao động phổ thông.  
Bảng 5: Thống kê mô tả điểm đánh giá của các DN FDI về nhân cách ngƣời lao động (thời điểm 31/12/2019)  
(Nguồn: Phân tích của tác giả từ kết quả khảo sát tại 10 DN FDI)  
Điểm đánh giá của DN  
Các chỉ tiêu đánh giá về nhân cách  
Yếu  
Trung bình  
Khá  
Tốt  
Rất tốt  
Hạnh kiểm  
0
2
8
0
0
Trách nhiệm trong chuyên môn  
Tinh thần cầu tiến trong chuyên môn  
Tác phong làm việc nghiêm túc  
Trách nhiệm với đồng nghiệp  
0
0
0
0
2
1
2
1
2
8
8
2
6
1
0
7
0
0
0
0
Tuân thủ chủ trƣơng - pháp luật của Nhà  
0
1
7
2
0
nƣớc và nội quy của công ty  
Có thể thấy một số yếu tố đƣợc các DN đánh giá cao nhất đối với lao động CLC ở Bình Dƣơng hiện nay là tinh thần  
trách nhiệm trong chuyên môn và trách nhiệm với đồng nghiệp. Một điểm đáng ghi nhận nữa là hạnh kiểm, tinh thần  
cầu tiến trong chuyên môn, tác phong làm việc và việc tuân thủ chủ trƣơng của đảng, pháp luật của nhà nƣớc và nội  
quy DN đã đạt ở mức khá, các tiêu chí này từ năm 2015 trở về trƣớc theo các DN chỉ ở mức trung bình, thậm chí trong  
một vài DN còn biểu hiện yếu. Qua kết quả phân tích hồi quy cho thấy yếu tố nhân cách có sự tác động nhất định đến  
chất lƣợng của nguồn lao động. Thực tiễn chỉ ra, việc lao động không tuân thủ các nội quy, quy định; không có trách  
nhiệm, thiếu tinh thần cầu tiến và hoà đồng với đồng nghiệp sẽ ảnh hƣởng đáng kể đến chất lƣợng công việc và năng  
suất lao động, qua đó gián tiếp ảnh hƣởng đến thu nhập và cơ hội thăng tiến của chính ngƣời lao động, và sâu xa hơn là  
ảnh hƣởng đến quá trình phát triển, cạnh tranh của DN.  
E. Việc sử dụng nguồn lao động chất lượng cao  
Sự ràng buộc giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động tại các DN chính là Hợp đồng lao động. Trong hợp đồng  
lao động, nội dung đƣợc xem là quan trọng nhất chính là thỏa thuận về chế độ tiền lƣơng, thƣởng và bảo hiểm. Tiền  
lƣơng là khoản tiền DN trả cho ngƣời lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận không thấp hơn mức lƣơng tối  
thiểu của từng vùng theo quy định của nhà nƣớc. DN có quyền lựa chọn hình thức trả lƣơng theo thời gian, sản phẩm  
hoặc khoán, có thể trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của ngƣời lao động đƣợc mở tại ngân hàng sao cho  
phù hợp tính chất công việc của lao động DN mình. Về mặt hình thức, các DN FDI ở Bình Dƣơng hiện nay đang phổ  
biến 03 hình thức trả lƣơng qua tài khoản cá nhân: Theo Thời gian; Theo Lƣơng khoán; Theo Sản phẩm. Cụ thể:  
- Trả lƣơng theo thời gian  
+ Tiền lƣơng theo tháng đƣợc trả cho một tháng làm việc xác định trên cơ sở hợp đồng lao động;  
+ Tiền lƣơng theo giờ đƣợc trả cho một giờ làm việc xác định trên cơ sở tiền lƣơng ngày chia cho số giờ làm việc bình  
thƣờng trong ngày theo quy định tại Điều 104 Bộ Luật Lao động.  
Qua khảo sát, các DN FDI tại Bình Dƣơng tồn tại 2 cách tính lƣơng nhƣ sau:  
Cách 1: Lƣơng tháng = Lƣơng + Phụ cấp (nếu có) / Ngày công chuẩn (ngày công hành chính trong tháng) của tháng ×  
Số ngày làm việc thực tế. Theo cách tính này lƣơng tháng thƣờng là con số cố định, chỉ giảm xuống khi ngƣời lao động  
nghỉ không hƣởng lƣơng. Với hình thức trả lƣơng này ngƣời lao động ít băn khoăn về mức thu nhập của mình trong  
mỗi tháng bởi số tiền trừ cho mỗi ngày công không lƣơng là cố định, nghỉ bao nhiêu ngày thì họ bị trừ bấy nhiêu tiền  
trong trƣờng hợp không có biến động về lƣơng và ngƣợc lại tháng nào đi làm đủ ngày theo quy định thì hƣởng đủ mức  
tiền lƣơng theo quy định.  
Cách 2: Lƣơng tháng = Lƣơng + Phụ cấp (nếu có) / 26 × Ngày công thực tế làm việc (hầu hết các DN tự quy định 26  
ngày làm việc mỗi tháng). Theo cách tính này lƣơng tháng không là con số cố định vì ngày công chuẩn hàng tháng  
khác nhau, vì có tháng 28, 30, 31 ngày nên cũng có tháng công chuẩn 24 ngày, có tháng 26 và cũng có tháng 27.  
Ngoài ra các DN cũng có cách tính tiền lƣơng trong thời gian nghỉ lễ, tết, nghỉ việc riêng có hƣởng lƣơng. Các ngày  
nghỉ đƣợc hƣởng lƣơng trong năm phổ biến gồm: Tết dƣơng lịch 01 ngày, Tết âm lịch 05 ngày, Ngày quốc tế lao động  
01 ngày, Ngày quốc khánh 01 ngày, Ngày giỗ tổ Hùng Vƣơng 01 ngày, Kết hôn 03 ngày, Con kết hôn 01 ngày, Bố mẹ  
đẻ, bố mẹ vợ hoặc chồng, vợ hoặc chồng hoặc con mất 03 ngày.  
- Trả lƣơng khoán  
132  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN  
LAO ĐỘNG CHẤT LƢỢNG CAO PHỤC VỤ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TẠI BÌNH DƢƠNG  
Đây là hình thức trả lƣơng khi ngƣời lao động hoàn thành một khối lƣợng công việc theo đúng chất lƣợng đƣợc giao.  
Lƣơng = Mức lƣơng khoán × tỉ lệ % hoàn thành công việc  
Ở hình thức trả lƣơng này, các ngày nghỉ đƣợc hƣởng lƣơng trong năm cũng giống nhƣ hình thức trả lƣơng theo thời  
gian.  
- Trả lƣơng theo sản phẩm  
Tiền lƣơng theo sản phẩm đƣợc trả cho ngƣời lao động hƣởng lƣơng theo sản phẩm, căn cứ vào mức độ hoàn thành số  
lƣợng, chất lƣợng sản phẩm theo định mức lao động và đơn giá sản phẩm đƣợc giao. Đây là hình thức trả lƣơng gắn  
chặt năng suất lao động với thù lao lao động, có tác dụng khuyến khích ngƣời lao động nâng cao năng suất lao động  
góp phần tăng sản phẩm làm ra.  
Lƣơng sản phẩm = Sản lƣợng sản phẩm × Đơn giá sản phẩm.  
Ở hình thức trả lƣơng này, các ngày nghỉ đƣợc hƣởng lƣơng trong năm cũng giống nhƣ hình thức trả lƣơng theo thời  
gian và trả lƣơng khoán.  
Khảo sát cho thấy, để đi đến ký kết hợp đồng lao động chính thức, ngƣời lao động thƣờng phải trải qua trung bình từ 3-  
6 tháng thử việc / tập sự, nếu đảm bảo đƣợc các yêu cầu chuyên môn của DN đề ra, lao động sẽ đƣợc chính thứ ký kết  
hợp đồng lao động dài hạn và đƣợc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ lƣơng, thƣởng khác. Số liệu  
khảo sát tại 10 DN FDI Bình Dƣơng đến hết năm 2019 có 70 % lao động đƣợc ký hợp đồng dài hạn; số hợp đồng lao  
động dƣới 03 tháng chiếm 24 %; 06 % còn lại là số lao động dịch vụ, tƣ vấn, cộng tác viên đối với một số công việc  
thƣờng xuyên,…  
Theo thống kê, tiền lƣơng bình quân tháng/ ngƣời tính đến cuối năm 2019 tại các DN FDI Bình Dƣơng đạt trung bình  
7,2 triệu đồng. Trong đó, mức lƣơng của lao động nam đạt 7,5 triệu đồng; lao động nữ đạt 6,7 triệu đồng. Có trên 73 %  
lao động đƣợc hƣởng tháng lƣơng thứ 13 (do đã có thời gian làm việc từ 01 năm trở lên); các lao động sau khi đƣợc ký  
hợp đồng làm việc dài hạn đều đƣợc thƣởng vào các ngày lễ, tết với mức thƣởng trung bình 18 triệu đồng/ năm. Ngoài  
tiền lƣơng cơ bản, đa số các DN FDI ở Bình Dƣơng đều có hỗ trợ bữa ăn giữa ca cho ngƣời lao động trị giá 15.000  
đồng/ ngƣời/ suất. Trong 10 DN khảo sát có 05 DN áp dụng thời gian làm việc 8 giờ/ngày, 48 giờ/tuần; 03 DN áp dụng  
áp dụng chế độ tăng ca và 02 DN trả lƣơng theo sản phẩm. Tính đến tháng 12/2019, có 70 % số DN có tổ chức công  
đoàn và đoàn viên. Qua khảo sát cũng cho thấy hàng năm tại các DN FDI có khoảng 13 % trong tồng số lao động nghỉ  
việc, trong đó có tới 19 % ngƣời lao động nghỉ việc do áp lực công việc (tăng ca, định mức cao); 31 % lao động nghỉ  
việc là do công việc nặng nhọc, nguy hiểm; 18 % lao động nghỉ việc do sức khỏe không đảm bảo, mất sức lao động;  
32 % bị thôi việc không lý do vi phạm kỷ luật.  
Qua tìm hiểu, hiện nay ở Bình Dƣơng vẫn còn xẩy ra tình trạng lao động ngƣng việc đình công, xuất phát từ tranh chấp  
liên quan đến tiền lƣơng, tiền thƣởng, nợ bảo hiểm xã hội, không đóng bảo hiểm xã hội, đối xử thô bạo…Tuy vậy tình  
trạng này diễn ra không đáng kể so với giai đoạn từ năm 2015 trở về trƣớc.  
Bảng 6: Mô tả mức độ hài lòng của ngƣời lao động tại các DN FDI Bình Dƣơng (thời điểm 31/12/2019)  
(Nguồn: Phân tích của tác giả từ kết quả khảo sát tại 10 DN FDI)  
Điểm đánh giá của ngƣời lao động  
Các mặt đánh giá  
Yếu  
0
Trung bình  
Khá  
5
Tốt  
0
Rất tốt  
Mức lƣơng đƣợc trả tƣơng ứng với trình độ, năng  
lực ngƣời lao động  
5
5
0
0
Tiền thƣởng, tăng ca, lễ tết, hiếu hỷ  
Chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế  
2
3
0
0
0
0
2
0
3
2
7
7
8
7
8
2
1
2
0
0
1
0
0
0
0
0
0
0
Môi trƣờng làm việc, vệ sinh, an toàn lao động  
Tổ chức việc ăn, ở, nghỉ ngơi  
Tổ chức thể dục thể thao, văn nghệ, du lịch  
Máy móc, trang thiết bị hỗ trợ để làm việc  
Qua bảng mô tả Bảng 6 có thể thấy hầu hết lao động CLC tại Bình Dƣơng đánh giá môi trƣờng nơi mình làm việc đạt  
mức trung bình khá. Tuy vậy, điều quan tâm nhất với họ khi làm việc cho các DN đó là chế độ lƣơng, thƣởng. Với mức  
thu nhập bình quân 6 - 7 triệu/ tháng (không tăng ca) và 7,5 - 8 triệu/ tháng (có tăng ca) nhƣ hiện nay là thấp so với  
mức trƣợt giá của xã hội và thu nhập này rất khó có dƣ để tích lũy, đặc biệt với những lao động có 2 con nhỏ trở lên thì  
Trần Minh Đức  
133  
khoản thu nhập nhƣ vậy mới đủ ăn và đóng tiền học cho con. Mong muốn chung của đa số lao động là mức thu nhập  
hợp lý là mỗi tháng từ 9,5 - 10 triệu đồng.  
Cũng qua khảo sát cho thấy, nhận thức của ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động về quan hệ lao động tại các DN  
FDI Bình Dƣơng đến nay đã có nhiều chuyển biến. Ngƣời lao động từ chỗ chủ yếu phụ thuộc vào ngƣời sử dụng lao  
động hoặc ngƣời sử dụng lao động áp đặt các chính sách, chế độ đã chuyển sang thực hiện cơ chế thƣơng lƣợng, thỏa  
thuận về các vấn đề liên quan đến quyền lợi và lợi ích của cả hai bên. Ngƣời lao động đã chủ động đối thoại, thƣơng  
lƣợng với ngƣời sử dụng lao động để bảo vệ và đảm bảo các quyền lợi và lợi ích chính đáng của mình. Việc tuân thủ  
pháp luật lao động của ngƣời sử dụng lao động cũng ngày càng đƣợc coi trọng và có nhiều chuyển biến tích cực, đã có  
nhiều DN quan tâm đến cải thiện điều kiện làm việc, tăng thu nhập, chăm lo các điều kiện văn hóa tinh thần cho ngƣời  
lao động,… Chức năng quản lý nhà nƣớc về quan hệ lao động đƣợc xác định cụ thể hơn, ngoài chức năng thực thi pháp  
luật lao động, hƣớng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động, công đoàn các cấp  
còn có chức năng tham gia hỗ trợ, thúc đẩy quan hệ lao động trong DN, giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ  
lao động,…  
III. HÀM Ý MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN LAO ĐỘNG CHẤT LƢỢNG CAO  
TỈNH BÌNH DƢƠNG  
Từ kết quả khảo sát nguồn lao động CLC hiện tại ở Bình Dƣơng, bài viết đƣa ra một số giải pháp cơ bản để phát triển  
nguồn lao động CLC thời gian tới, trong đó nhấn mạnh một số nhóm giải pháp liên quan đến cơ chế, chính sách phát  
triển nguồn lao động; quy mô cơ cấu nguồn lao động; chất lƣợng nguồn lao động; giáo dục đào tạo nguồn lao động;  
khoa học - công nghệ (KH - CN) đối với nguồn lao động và chính sách sử dụng đối với phát triển nguồn lao động.  
A. Giải pháp về chính sách của nhà nước trong việc phát triển nguồn lao động chất lượng cao  
- Xây dựng chiến lƣợc phát triển nguồn lao động CLC. Chính quyền tỉnh Bình Dƣơng cần thực hiện vai trò tổ chức  
trong chuẩn bị, cung cấp nguồn lao động CLC cho mỗi giai đoạn của quá trình phát triển tỉnh bằng chức năng hoạch  
định chiến lƣợc của mình. Trên cơ sở những mục tiêu cơ bản của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) tỉnh  
Bình Dƣơng đến năm 2020 và đang xây dựng đến năm 2030, các cơ quan chức năng tỉnh cần có chiến lƣợc cho nguồn  
lao động CLC đáp ứng yêu cầu với từng giai đoạn về những tiêu chí cơ bản: Số lƣợng nguồn lao động CLC cần có, cơ  
cấu lao động CLC giữa các ngành nghề, trong đó chất lƣợng nguồn lao động đƣợc đào tạo là yêu cầu quan trọng nhất.  
Tỉnh phải làm cầu nối cho hoạt động cung cầu lao động trên thị trƣờng, từng cơ sở đào tạo, từng đơn vị DN cần ngồi  
lại với nhau để trao đổi thông tin về hoạt động của mình, từ đó những thông tin phản hồi chính xác đến với ngƣời cần  
tiếp nhận.  
- Tạo hành lang pháp lý cho phát triển nguồn lao động CLC. Vì trong mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong mỗi  
thành phần kinh tế là mối quan hệ đƣợc thể hiện ở 3 khía cạnh: Sở hữu tƣ liệu sản xuất, tổ chức quản lý sản xuất và  
phân phối sản phẩm lao động. Chính quyền tỉnh Bình Dƣơng sử dụng công cụ pháp lý và các chính sách vĩ mô để tác  
động vào các mối quan hệ đó nhằm điều chỉnh, định hƣớng sự phát triển của đội ngũ lao động CLC sao cho phù hợp  
với mục tiêu phát triển của quá trình hội nhập ở địa phƣơng.  
- Xây dựng hệ thống chính sách phát triển nguồn lao động CLC. Quản lý nhà nƣớc về phát triển nguồn lao động CLC  
chính là sự chuẩn bị, cung cấp và sử dụng các chính sách nhằm phát triển nguồn lao động CLC một cách có hiệu quả  
nhất. Hệ thống các chính sách nhƣ: Giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, văn hoá, dân số, chính sách KH - CN, chính  
sách tuyển dụng, sử dụng, đánh giá đối với đội ngũ lao động CLC. Thông qua việc ban hành các chính sách mà Bình  
Dƣơng sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các giai đoạn hình thành, phát triển đội ngũ lao động CLC bám sát vào  
mục tiêu định hƣớng của địa phƣơng.  
- Phát triển nguồn lao động CLC theo nhu cầu thị trƣờng. Trong chính sách phát triển nguồn lao động CLC, tỉnh Bình  
Dƣơng cần chú trọng đến yêu cầu của thị trƣờng, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xu hƣớng yêu cầu của nhà  
tuyển dụng để có những chính sách phù hợp. Là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Dƣơng nên có  
chính sách quy hoạch và đầu tƣ có trọng điểm vào một số trƣờng theo chuẩn quốc gia, khu vực Đông Nam Á và thế  
giới. Chính sách phát triển nguồn lao động phải hƣớng tới việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của  
địa phƣơng.  
B. Giải pháp về quy mô, cơ cấu nguồn lao động chất lượng cao  
- Cùng với TP. HCM, Bình Dƣơng là hạt nhân của vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có thế  
mạnh phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao; công nghiệp sạch, tiết kiệm nguyên liệu; phát triển công nghiệp  
theo chiều rộng sang phát triển công nghệp hiện đại với hàm lƣợng KH - CN cao. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi  
hỏi phải chuyển dịch cơ cấu nguồn lao động CLC cho phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập. Phát triển về số  
lƣợng lao động CLC theo đó sẽ là nội dung rất quan trọng của phát triển nguồn lao động CLC. Phát triển số lƣợng lao  
động chất lƣợng cao liên quan trực tiếp đến mạng lƣới giáo dục đào tạo, mạng lƣới này sẽ quyết định phát triển hệ đào  
tạo nào, số lƣợng đầu vào từng loại,… để tạo ra số lƣợng lao động CLC tƣơng ứng sau thời gian đào tạo.  
134  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN  
LAO ĐỘNG CHẤT LƢỢNG CAO PHỤC VỤ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TẠI BÌNH DƢƠNG  
- Bình Dƣơng cần phân luồng học sinh ngay từ các bậc học thấp bằng cách quy hoạch một hệ thống trƣờng dạy nghề,  
trung cấp nghề thích hợp, để giảm bớt lƣu lƣợng học sinh hƣớng vào đại học. Riêng đối với học sinh hƣớng vào đại  
học, cần phân thành hai dòng chính: Dòng thứ nhất hƣớng vào các trƣờng đại học công lập truyền thống, dòng thứ hai  
hƣớng vào các trƣờng đại học ngoài công lập. Cả hai dòng này đều cần có biện pháp đảm bảo chất lƣợng, bằng cấp đạt  
chất lƣợng tƣơng đƣơng, và về phía nhà nƣớc không có sự phân biệt đối xử với hai loại bằng. Về đầu vào, các trƣờng  
đại học phải đòi hỏi cao về chất lƣợng và cần hạn chế số lƣợng sinh viên ở mức có thể đảm bảo đƣợc chất lƣợng đào  
tạo, không nên tuyển sinh quá đông. Biện pháp để đảm bảo chất lƣợng hai dòng này là phải dùng cách đánh giá chuẩn  
đầu vào, đầu ra của từng trƣờng theo từng ngành học.  
- Các trƣờng học, các đơn vị truyền thông cần nỗ lực tham gia tốt công tác tƣ vấn tuyển sinh cho học sinh về việc chọn  
ngành, chọn nghề. Các trƣờng cần phối hợp với Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Bình Dƣơng để nắm rõ yêu cầu phát  
triển nguồn lực hiện tại và tƣơng lai để định hƣớng nghề nghiệp cho học sinh trƣớc khi đăng ký dự thi và lựa chọn  
nghề nghiệp sau khi ra trƣờng. Các trƣờng cần chủ động khảo sát nhu cầu đào tạo, tái đào tạo, phát triển nguồn lực của  
các DN trong các KCN, khu chế xuất (KCX) để xây dựng kế hoạch đào tạo đáp ứng yêu cầu DN. Phải đào tạo theo yêu  
cầu DN chứ không phải đào tạo những ngành nghề mà trƣờng đã có sẵn lợi thế. Cơ sở đào tạo cần tổ chức tốt ngày hội  
thông tin, ngày hội hƣớng nghiệp, thu hút đông đảo phụ huynh và học sinh các trƣờng THPT, THCS đến tham quan để  
trƣờng có cơ hội giới thiệu những ngành nghề tƣ vấn cho học sinh chọn nghề phù hợp với sở trƣờng, sở thích của các  
em và phù hợp với nhu cầu phát triển nguồn lực địa phƣơng.  
C. Giải pháp về chất lượng nguồn lao động chất lượng cao  
- Phát triển thể lực cho nguồn lao động CLC ở Bình Dƣơng. Mục tiêu cơ bản là cải thiện một cách bền vững tầm vóc  
ngƣời Bình Dƣơng nói chung và ngƣời lao động nói riêng thể hiện bằng việc tăng chiều cao trung bình của thanh niên.  
Trong thời kỳ trung hạn lên ngang bằng với thanh niên các nƣớc trong khu vực Đông Á, và trong tƣơng lai lâu dài lên  
ngang bằng với chuẩn quốc tế. Đồng thời cải thiện thể trạng nguồn lao động để đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa  
chiều cao và trọng lƣợng cơ thể. Tăng cƣờng thể lực là sự phát triển hài hoà về các tố chất thể lực cần thiết (sức bền,  
sức mạnh, sức nhanh, mềm dẻo, khéo léo,…), đảm bảo thực hiện lao động, học tập, sáng tạo và các hoạt động bình  
thƣờng khác của mỗi ngƣời. Do vậy, những giải pháp cơ bản cần thực hiện là: Có chính sách hợp lý để gia tăng hoạt  
động thể chất cho ngƣời lao động; Tăng khẩu phần ăn để tăng cƣờng lƣợng calo tiếp thu và cải thiện cơ cấu dinh dƣỡng  
bữa ăn. Nâng cao chất lƣợng, kết quả hoạt động của chƣơng trình phòng chống suy dinh dƣỡng trẻ em. Thực hiện  
chƣơng trình tổng hợp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao thể lực cho phụ nữ; Coi trọng và đổi mới việc tổ chức giáo dục  
thể chất trong nhà trƣờng và đẩy mạnh phong trào toàn dân tập thể dục, rèn luyện thân thể trong xã hội; Xây dựng hệ  
thống y tế dự phòng rộng khắp và hiệu quả, để giảm tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến tỉnh; Nâng cao chất lƣợng  
dịch vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho ngƣời dân.  
- Giáo dục nhân cách cho ngƣời học là một việc làm cấp thiết. Cần xác định việc nghiên cứu giảng dạy các môn khoa  
học Mác - Lênin không chỉ đơn thuần là các môn khoa học chính trị, mà mục tiêu của các môn học này nhằm hƣớng  
đến những ý thức đúng đắn cho ngƣời học: Đó là ý thức đạo đức, ý thức dân tộc, tính nhân văn, những lý tƣởng trong  
cuộc sống và những khát vọng, hoài bảo của tuổi trẻ; Giúp sinh viên hiểu thấu đáo về lịch sử dân tộc, lịch sử cách  
mạng; Khơi dậy tinh thần sáng tạo - cạnh tranh và kĩ năng làm việc nhóm, đồng đội và rèn luyện cả việc tuân thủ  
những quy định của tổ chức.  
- Giáo dục ngƣời học theo hƣớng năng động của thị trƣờng hội nhập. Đổi mới chƣơng trình dạy học cần chú trọng và  
thay đổi chƣơng trình dạy học, trong đó, cần tăng số lƣợng và chất lƣợng hai môn căn bản là tin học và ngoại ngữ. Khi  
đã vững về tin học và ngoại ngữ, sinh viên có thể tiếp xúc với kho tàng tri thức của nhân loại và chính là nền tảng để  
sinh viên khi ra trƣờng có điều kiện học tập suốt đời, cập nhật những thông tin mới nhất về ngành, về tri thức.  
D. Giải pháp về giáo dục đào tạo nguồn lao động chất lượng cao  
- Cần đổi mới chƣơng trình đàotạo. Xây dựng mục tiêu, nội dung chƣơng trình đào tạo nghề phải đảm bảo sự quản lý,  
điều phối và sử dụng của Nhà nƣớc, đảm bảo yêu cầu thực tiễn nền sản xuất và thị trƣờng lao động. Việc xây dựng  
chƣơng trình đào tạo sát hơn với yêu cầu thực tiễn nền sản xuất hiện đại sẽ làm cho chất lƣợng đào tạo nghề đƣợc đánh  
giá cao hơn. Để đạt đƣợc điều đó, cần có sự liên kết, phối hợp giữa nhà trƣờng, DN, cơ quan quản lý đào tạo và cả  
ngƣời học trong quá trình xây dựng chƣơng trình đào tạo: Những nhà quản lý DN tại các KCX, KCN, khu công nghệ  
cao trên địa bàn Bình Dƣơng căn cứ vào thực tế sản xuất và hƣớng phát triển của mình để đƣa ra các yêu cầu về phẩm  
chất, năng lực, tác phong công nghiệp, kinh nghiệm làm việc mà ngƣời học nghề phải đạt đƣợc sau khi tốt nghiệp; Nhà  
trƣờng, căn cứ vào chƣơng trình khung quốc gia và tham chiếu các ý kiến đóng góp của các DN và ngƣời học để điều  
chỉnh mục tiêu, nội dung chƣơng trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của thị trƣờng lao động.  
- Cần đổi mới phƣơng pháp đào tạo. Tổ chức, hƣớng dẫn, giới thiệu cho học sinh (đầu khoá đào tạo) tham quan thực tế  
nghề nghiệp tƣơng lai ở các DN, nhà máy, dây chuyền sản xuất thực tế, điều này sẽ tạo động lực hơn cho ngƣời học;  
Tổ chức quá trình dạy - học thực tập sản xuất ngay trong môi trƣờng thực tiễn sản xuất ở các nhà máy, công xƣởng với  
những trang thiết bị hiện đại đang vận hành. Điều này sẽ giảm bớt sự bỡ ngỡ cho ngƣời học sau khi tốt nghiệp và DN  
cũng không phải mất thêm thời gian, tiền bạc để đào tạo lại.  
Trần Minh Đức  
135  
- Hoàn thiện cơ cấu hệ thống đào tạo nghề nâng cao theo hƣớng đào tạo lao động kĩ thuật thực hành với ba cấp độ đào  
tạo: Cấp I (học sinh đã tốt THCS), đào tạo công nhân kĩ thuật bán lành nghề với thời gian dƣới 1 năm, phát huy đào tạo  
ngành nghề từ trung tâm dạy nghề. Cấp II (học sinh đã tốt nghiệp THPT hoặc đƣợc đào tạo công nhân kĩ thuật bán lành  
nghề ở cấp I), đào tạo công nhân kĩ thuật lành nghề với thời gian từ 1-2 năm; Cấp III (đã đƣợc đào tạo công nhân kĩ  
thuật lành nghề ở cấp II), đào tạo công nhân kĩ thuật có trình độ kiến thức tƣơng đƣơng cao đẳng và có kĩ năng nghề  
thành thạo của kĩ sƣ thực hành với thời gian 3 năm.  
- Phân luồng đào tạo và liên thông đào tạo: Hiện nay, trong các KCN, KCX tỉnh Bình Dƣơng đòi hỏi một số lƣợng lớn  
nguồn lao động CLC có trình độ kĩ thuật viên cao đẳng, các công nhân này phải có lý thuyết chuyên môn và tay nghề  
thành thạo. Các cấp trình độ đào tạo phải đƣợc liên thông bằng chƣơng trình đào tạo để ngƣời lao động có cơ hội tham  
gia vào quá trình đào tạo và thụ hƣởng các thành quả phát triển của đào tạo. Muốn thực hiện đƣợc nhiệm vụ trên thì  
các chƣơng trình đào tạo cần đƣợc thiết kế theo mô đun, hiện đang là xu thế chung của nhiều nƣớc trên thế giới mà các  
cơ sở dạy nghề ngắn hạn đang tổ chức thực hiện. Đó là một căn cứ để tiếp cận quá trình xây dựng chƣơng trình đào tạo  
liên thông với các cấp trình độ khác nhau.  
- Đào tạo lại nguồn lao động CLC. DN, dƣới tác động của sự cạnh tranh, sự cuốn hút của một số ngành nghề có thu  
nhập cao có thể tạo ra những dòng di chuyển lao động từ ngành nghề này sang ngành nghề khác. Do vậy, nhu cầu đào  
tạo lại ngày càng trở nên bức xúc và ngành giáo dục - đào tạo cần đáp ứng đƣợc nhu cầu bức xúc đó thông qua việc mở  
rộng các hình thức đào tạo, đặc biệt là đào tạo lại. Cùng với sự đẩy mạnh CNH - HĐH là sự hội nhập nhanh chóng với  
kinh tế khu vực và thế giới, những kiến thức thu đƣợc của ngƣời lao động sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu, những đòi  
hỏi mới đối với kiến thức, kĩ năng của ngƣời lao động luôn đƣợc đặt ra bởi thực tiễn, do vậy, cần đẩy mạnh đào tạo bổ  
sung và đào tạo nâng cao cho ngƣời lao động. Tỉnh Bình Dƣơng nên đầu tƣ có trọng điểm vào một số trƣờng để đào  
tạo lại cho đội ngũ này, thậm chí các DN có thể ký hợp đồng đƣa lao động của mình sang đào tạo nâng cao.  
- Xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy. Với sự phát triển nhanh chóng vƣợt bậc của tri thức trên các lĩnh vực, nhất là  
KH - CN, thì đội ngũ cán bộ giảng dạy là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong đổi mới nội dung, phƣơng pháp giáo  
dục. Tỉnh Bình Dƣơng cần tăng cƣờng đầu tƣ xây dựng phát triển nâng cao chất lƣợng của đội ngũ này. Nhanh chóng  
đƣa những nội dung mới, những tri thức mới, thời sự nhất vào bài giảng. Chú trọng nội dung nghiên cứu cơ bản, gắn  
chặt nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng. Phƣơng pháp giáo dục cũng cần đƣợc đổi mới theo hƣớng lấy ngƣời  
học làm trung tâm, khơi dậy tính năng động sáng tạo độc lập tự chủ trong học tập của ngƣời học, tạo cho họ sẵn sàng  
trong học tập theo phƣơng pháp mới; kết hợp chặt chẽ các phƣơng pháp giáo dục truyền thống với phƣơng pháp hiện  
đại; mạnh dạn sử dụng các các phƣơng pháp dạy học mới; trang bị cho ngƣời học những phƣơng pháp học tập một  
cách khoa học.  
E. Giải pháp về khoa học - công nghệ đối với nguồn lao động chất lượng cao  
- Với lợi thế là một trong những trung tâm kinh tế - văn hoá phía Nam, Bình Dƣơng có thể thu hút đƣợc rất nhiều nhà  
nghiên cứu, các chuyên gia giỏi trong và ngoài nƣớc, vì vậy tỉnh cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý KH - CN nhằm  
nâng cao hiệu quả, chất lƣợng hoạt động KH - CN. Tỉnh nên có kế hoạch mua những sản phẩm NCKH và phát triển  
công nghệ theo đơn đặt hàng, cải tiến những thủ tục cấp phát và thanh quyết toán kinh phí, tạo sự chủ động sử dụng  
kinh phí NCKH cho các cơ quan thực hiện và các chủ nhiệm đề tài.  
- Thực hiện đồng bộ ba nhiệm vụ chủ yếu để phát triển KH - CN: Nâng cao trình độ nghiên cứu và năng lực sáng tạo  
KH - CN, đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ cao; Tăng đầu tƣ ngân sách  
hàng năm bên cạnh việc hình thành và khai thác có hiệu quả các quỹ phát triển KH - CN; Nâng cao tính chặt chẽ trong  
việc xét duyệt và nghiệm thu đề tài. Những đề tài NCKH cần đƣợc gửi trực tiếp đến các DN liên quan đến đề tài  
nghiên cứu và nên có các chuyên gia của ngành đó tham gia đánh giá phản biện. Tổ chức NCKH và nhà nghiên cứu  
liên kết với DN phải có sự gắn kết, hỗ trợ lẫn nhau. Không chỉ có DN tìm đến nhà khoa học mà nhà khoa học cũng  
phải tìm đến với DN để có những ý tƣởng nghiên cứu sản phẩm mới.  
- Đẩy mạnh khai thác các quan hệ quốc tế theo hƣớng phối hợp, liên kết trong đào tạo, NCKH. Từ đó tích cực gửi cán  
bộ đi đào tạo ở các nƣớc có trình độ KH - CN tiên tiến. Khuyến khích và tạo điều kiện để các DN đầu tƣ xây dựng các  
trung tâm nghiên cứu trong các trƣờng học, tạo cơ hội cho việc đào tạo nguồn lao động CLC gắn với yêu cầu của DN  
đồng thời những kết quả NCKH sẽ gần gũi và phục vụ trực tiếp các yêu cầu thực tế của DN. Nâng cao hơn nữa chất  
lƣợng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ KH - CN.  
- NCKH trong nhà trƣờng là một biện pháp hữu hiệu giúp ngƣời dạy nâng cao tay nghề và ngƣời học tiếp cận với thực  
tiễn. Vì vậy đối với các trƣờng trực thuộc quản lý của tỉnh, Bình Dƣơng nên chủ động ban hành chế độ đãi ngộ thoả  
đáng cho các giảng viên tham gia NCKH, tạo điều kiện cho các cán bộ tìm học bổng du học nƣớc ngoài, thực hiện tặng  
thƣởng vật chất thoả đáng cho các công trình nghiên cứu phục vụ cho sự phát triển của tỉnh và các bài báo đƣợc đăng  
trên các tạp chí quốc tế có uy tín để khuyến khích nghiên cứu hƣớng đến chuẩn quốc tế.  
F. Giải pháp về chính sách sử dụng nguồn lao động chất lượng cao  
- Tạo nhiều việc làm cho ngƣời lao động. Sức mạnh của nguồn lao động CLC trong quá trình CNH - HĐH và hội nhập  
136  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN  
LAO ĐỘNG CHẤT LƢỢNG CAO PHỤC VỤ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TẠI BÌNH DƢƠNG  
kinh tế quốc tế phụ thuộc không chỉ số lƣợng và cơ cấu nguồn lao động mà còn ở chỗ nguồn lao động đó đƣợc khai  
thác, sử dụng nhƣ thế nào. Vấn đề này bao gồm nhiều yếu tố, từ việc tạo việc làm cho ngƣời lao động đến việc tổ chức,  
quản lý lao động xã hội, điều kiện môi trƣờng lao động cũng nhƣ động lực kích thích tính tích cực của ngƣời lao động.  
Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, chính sách lao động và việc làm phải hƣớng vào việc khai thác triệt để, hợp lý,  
có hiệu quả, tạo điều kiện cho mọi ngƣời có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm nhƣ nhau. Điều này đòi hỏi  
phải xã hội hoá việc làm, đồng thời tỉnh Bình Dƣơng phải tạo môi trƣờng, điều kiện thuận lợi về pháp lý để giúp ngƣời  
lao động bình đẳng trong cơ hội tìm kiếm việc làm; bảo vệ quyền lợi tự do lao động của chính họ.  
- Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần. Chú trọng tạo việc làm cho lao động đã qua đào tạo, nhất là  
đối với lao động trí tuệ, tăng vốn đầu tƣ tạo việc làm, phát triển thị trƣờng lao động. Giải quyết việc làm cho ngƣời lao  
động là vấn đề lớn, bức xúc và nan giải đối với hầu hết các địa phƣơng ở nƣớc ta. Để đạt đƣợc điều này phải thực hiện  
xã hội hoá việc làm trong đó nhà nƣớc đóng vai trò tạo ra các tiền đề, điều kiện và môi trƣờng cần thiết về pháp lý, KT  
- XH, đồng thời trợ giúp có hiệu quả nhƣ cho vay vốn để tạo việc làm, thực hiện chính sách thuế và tín dụng ƣu đãi cho  
DN tạo đƣợc nhiều việc làm.  
- Tổ chức lao động xã hội hợp lý, khai thác tốt năng lực ngƣời lao động. Vấn đề không phải chỉ ở chỗ tạo việc làm, mà  
điều quan trọng hơn là việc làm phải có hiệu quả và đạt đƣợc sự phân công lao động xã hội hợp lý, bởi vì ngƣời lao  
động chỉ có thể phát huy tốt năng lực của mình khi họ làm việc đúng sở trƣờng và có điều kiện, môi trƣờng lao động  
thuận lợi. Vì thế, sự hợp lý trong tổ chức lao động xã hội trở thành yêu cầu cấp thiết và là tiêu chí quan trọng đánh giá  
trình độ tổ chức, quản lý của một nền sản xuất xã hội phát triển. Để tăng khả năng khai thác, sử dụng lao động hợp lý  
và có hiệu quả, phù hợp với cơ chế chung của nền kinh tế, chính sách tuyển dụng và sử dụng lao động ở Bình Dƣơng  
phải thực sự gắn với cơ chế thị trƣờng có sự quản lý, hƣớng dẫn của nhà nƣớc.  
- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động CLC. Phải có chiến lƣợc đúng đắn trong việc sử dụng nguồn lao động  
CLC, trƣớc hết cần phải điều tra, nắm chắc thực trạng sử dụng nguồn lao động hiện có ở các DN, phát hiện những bất  
hợp lý về quy mô, cơ cấu, việc làm, để có sự điều chỉnh kịp thời, bố trí đúng ngƣời, đúng việc. Đồng thời mở rộng  
phân công lao động xã hội, gắn phân công lao động tỉnh Bình Dƣơng với các tỉnh thành lân cận, phát triển các ngành  
nghề mới, sử dụng một cách có hiệu quả cao nguồn lao động CLC hiện có ở Bình Dƣơng. Phát triển mạnh mẽ thị  
trƣờng lao động, cung cấp thông tin đầy đủ cho ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động để họ có thể gặp nhau, đáp  
ứng cả nhu cầu công việc lẫn nhu cầu làm việc.  
- Thu hút nguồn lao động CLC trong cộng đồng ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài. Cần có một cơ chế hợp lý để thu hút  
các trí thức Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nƣớc ngoài đến Bình Dƣơng làm việc bằng những việc làm cụ thể  
nhƣ: Tạo môi trƣờng làm việc cởi mở, hoà đồng, giúp đỡ tận tình về thủ tục hành chính để họ cảm thấy đƣợc quan tâm  
và đƣợc tôn trọng khi họ trở về nƣớc làm việc. Tỉnh cần có chính sách trải thảm đỏ đón tri thức thế giới bằng những  
việc làm cụ thể nhƣ vấn đề lƣơng bổng, ƣu đãi chổ ở, ƣu đãi về thuế; Có những cơ chế, chính sách sử dụng nguồn lao  
động CLC để thu hút đƣợc nhân tài, tránh tình trạng chảy máu chất xám nhƣ hiện nay.  
IV. KẾT LUẬN  
Với chủ trƣơng đổi mới, đƣợc cụ thể hóa qua những chính sách thông thoáng, mở đƣờng cho quá trình CNH - HĐH,  
tỉnh Bình Dƣơng đã và đang đạt đƣợc những thành công bƣớc đầu trong việc xây dựng môi trƣờng đầu tƣ cho các DN  
FDI. Tuy vậy để trở thành một tỉnh công nghiệp theo hƣớng hiện đại, Bình Dƣơng cần quan tâm hơn nữa đến đội ngũ  
lao động, đặc biệt là nguồn lao động CLC. Đây là vấn đề lớn, hệ trọng, cơ bản, lâu dài, do đó đòi hỏi phải phân tích,  
đánh giá đúng thực trạng nguồn lao động CLC hiện có trên tất cả các mặt, từ kinh tế, chính trị, xã hội, quản lý, sử dụng  
nguồn lao động,… đến các chính sách về thu hút, đãi ngộ ngƣời lao động, từ đó có nhận thức đúng đắn và đƣa ra hệ  
thống các giải pháp phù hợp cho sự phát triển. Trƣớc mắt Bình Dƣơng cần quan tâm ba vấn đề lớn. Đó là:  
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, trọng tâm là rà roát, đơn giản hóa thủ tục hành chính theo  
thẩm quyền, hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền cắt giảm, sửa đổi, bãi bỏ thủ tục hành chính không cần thiết, thủ tục  
gây phiền hà, khó khăn cho DN; công khai, minh bạch trong giải quyết thủ tục hành chính, lấy sự hài lòng của cộng  
đồng DN làm thƣớc đo hiệu quả trong hoạt động của chính quyền các cấp;  
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin thị trƣờng lao động  
kết nối hệ thống dữ liệu quốc gia về thị trƣờng lao động để đảm bảo cung cấp thông tin thị trƣờng lao động theo ngành  
nghề, lĩnh vực mà các DN đang cần, để hỗ trợ DN tuyển dụng đƣợc nguồn lao động đáp ứng yêu cầu của mình.  
Thứ ba, sắp xếp lại mạng lƣới cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các cơ sở đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ thuộc phạm  
vi quản lý của tỉnh, nâng cao hiệu quả của công tác tuyển sinh và chất lƣợng đào tạo phải gắn với DN. Chú trọng việc  
liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nƣớc với các cơ sở giáo dục đào tạo và các cơ quan, nơi sử dụng nguồn lao động.  
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đảng bộ tỉnh Bình Dƣơng (2005), Văn kiện đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VIII, tr. 18.  
[2] Đảng bộ tỉnh Bình Dƣơng (2005), Văn kiện đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VIII, tr. 30.  
Trần Minh Đức  
137  
[3] Đảng bộ tỉnh Bình Dƣơng (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ IX, tr. 112.  
[4] HĐND tỉnh Bình Dƣơng (2014), Nghị quyết 25/2014/NQ-HĐND về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015:  
Công báo số 1 + 2, tr. 4-5.  
[5] UBND tỉnh Bình Dƣơng, (2011), Báo cáo số 101/BC-UBND về tình hình kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-  
2015, tr. 17.  
[6] Cục Thống kê tỉnh Bình Dƣơng (2019), Tình hình kinh tế - xã hội năm 2018.  
[7] Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Dƣơng (2020), Công đoàn đổi mới vì quyền và lợi ích của người lao động, Bản tin  
số 19, tr. 11.  
CURRENT SITUATION AND SOLUTIONS FOR DEVELOPING HIGH-  
QUALITY LABOR RESOURCES FOR FOREIGN INVESTMENT  
ENTERPRISES IN BINH DUONG  
Tran Minh Duc  
ABSTRACT: Facing the trend of integration into the world knowledge economy, Binh Duong province needs resources such as  
natural resources, financial resources, science, technology resources and human resources,… In particular, human resources are  
considered the most important resources, decisive to the growth and social development, one of the decisive factors for the success  
of the industrialization and modernization. chemistry; a radical and comprehensive transformation of production, business and social  
activities, from manual labor is popular to popular use of trained labor force and advanced technology. advanced, modern means and  
methods to create high social labor productivity. From the results of the current high quality labor force survey in Binh Duong, the  
article gives some basic solutions to develop high quality labor resources in this locality in the near future.  
pdf 11 trang Thùy Anh 13400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn lao động chất lượng cao phục vụ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Bình Dương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_giai_phap_phat_trien_nguon_lao_dong_chat_luong.pdf