Thực hiện hợp tác thành công – nghiên cứu khám phá đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đà Nẵng

HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
THỰC HIỆN HỢP TÁC THÀNH CÔNG – NGHIÊN CỨU KHÁM PHÁ ĐỐI VỚI  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở ĐÀ NẴNG  
SUCCESSFUL COLLABORATION IMPLEMENTATION – EXPLORATORY RESEARCH FOR  
DANANG SMEs  
TS. Nguyễn Thị Bích Thủy, NCS. ThS. Cao Trí Dũng  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Hợp tác là một cách quan trọng để các Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tăng cường nguồn lực, tạo thêm những lợi  
thế cạnh tranh trên thị trường mà nó không sẽ không thể đạt được trong trường hợp hoạt động đơn lẻ. Nghiên cứu này  
khám phá thực trạng của việc thực hiện hợp tác và làm thế nào để các DNVVN tại thành phố Đà Nẵng tiến hành hợp tác  
thành công. Các kết quả nghiên cứu dựa trên các cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc đối với một số nhà quản trị/chủ  
doanh nghiệp của các DNVVN cho thấy ưa thích cho hợp tác là thời gian ngắn; dựa trên các mối quan hệ cá nhân; mối  
quan hệ hợp tác hiếm xảy ra với các thủ cạnh tranh trực tiếp. Các mối quan hệ hợp tác được thúc đẩy khi có nhu cầu  
hợp tác rõ ràng và sẵn có nguồn lực, với chiến lược tạo khả năng nhảy vào các thị trường mới, giảm chi phí đầu vào, có  
công nghệ/quy trình sản xuất sản phẩm mới v.v. Để hợp tác thành công, các doanh nghiệp phải giải quyết những khó  
khăn chính của các yếu tố quyết định cho sự tham gia trong hợp tác về xác định nhu cầu/lợi ích, thiết lập sự tin tưởng và  
khả năng kiểm soát. Sự thành công của hợp tác phụ thuộc vào bốn giai đoạn quan trọng của tiến trình hợp tác là hứa  
hẹn hợp tác, lựa chọn chiến lược, thực hiện và đánh giá được quản lý tốt hay không.  
Từ khóa: Hợp tác, nghiên cứu định tính, DNVVN, tiến trình hợp tác, Đà Nẵng  
ABSTRACT  
Collaboration is an important way for small and medium enterprises (SMEs) to increase resources, create additional  
competitive advantages in the market that will not be achieved in case of single business. This study explored the reality  
of collaborative implementation and how SMEs in Danang conducted successful collabration. The results of the study  
based on semi-structured interviews for some executives/business owners of SMEs show that collaboration is preferred  
for a short time; based on personal relationships; collaborative relationships rarely occur with direct competitors.  
Collaborative relationships are enhanced when there is a clearly collaborative demand and resource availabilities, the  
strategy makes it possible to enter into new markets, reduce input costs, technology /manufacturing process of new  
products etc. To cooperate successfully, enterprises must address the main difficulties of the decisive factors of the  
participation in collaboration on identifying needs /benefits, trust establishment and control capabilities. The success of  
collaboration depends on four critical stages of the collaboration process including collaboration promises, strategy  
selection, implementation and management evaluation.  
Key Words: Collaboration; qualitative research, SME, Collaboration Process, Danang  
1. Giới thiệu  
Đảm bảo duy trì ổn định và tăng trưởng trong môi trường cạnh tranh gay gắt mang tính chất  
toàn cầu hóa như hiện nay là một thách thức rất lớn đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các Doanh  
nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Tìm kiếm các giải pháp nằm bên ngoài tổ chức là xu hướng ngày càng  
được nhiều nhà quản trị cấp cao quan tâm. Các nhà lãnh đạo của các tổ chức đã nhìn thấy rõ ràng sức  
mạnh để đối mặt với cạnh tranh là làm sao xây dựng được các liên minh, đối tác để cùng nhau chống  
đỡ và phát triển thay vì đơn độc hoạt động riêng lẻ. Hợp tác để giành lợi thế cạnh tranh đã tăng nhanh  
đến mức đang trở thành một yêu cầu cấp bách mang tính chiến lược tại nhiều công ty và năm 2008 đã  
có tới hơn 60% các công ty trên toàn thế giới theo đuổi chính sách tìm kiếm các cơ hội hợp tác (CEO  
refreshe, 2012). Ngày nay sự phát triển của nhiều hình thức liên doanh, liên kết đã mở ra một viễn  
cảnh hợp tác mới theo những chiều hướng tích cực. Các công ty nhận thấy rằng bằng việc thúc đẩy và  
phát triển các mối quan hệ thân thiện cả khi vượt ra khỏi biên giới về vùng địa lý và nằm ngoài khuôn  
46  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
khổ của tổ chức, họ có thể tận dụng được nhiều cơ hội để tăng lợi nhuận. Hơp  
̣
tac giưa cac công ty đa  
́ ́  
̃ ̃  
̉
̣
phần quan trong trong knh doanh bởi với cách thức đó sẽ giúp các doanh nghiệp bô sung  
trơ thanh môt  
̣
̉
̀
̉
̉
kiến thức, chia se các công cu,  
̣
chi phi va y tương đê co thê hiên  
̣
thưc  
như môt sư  
i va thach thức liên quan đến vô số vấn đề. Vi  
̀
̣
hoa môt sang kiến hay va cac bên  
̉
̣
"hôn phối" giưa hai ca thê, bên  
̃
́
̣
̉
̉
̀
́
́
́
́
̀
́
́
hơp  
̣
tac se cung thu đươc  
̣
lơi  
̣
nhuân  
̣
. Tuy nhiên, tương tư  
c rô  
̣
tac với các đối tác thành công là điều mà các doanh nghiệp luôn phải hiểu biết  
̣
̣
́
̃
̀
trong mô  
́
i quan hê  
̣
hơp  
̣
tac thương gặp không it ră  
́
́
́
̀
̀
́
́
thê, làm thế nào để hơp  
́
́
kỹ trước khi tiến hành hợp tác, tránh dẫn đến thất bại ngoài mong muốn. Trong bài báo này chúng tôi  
sẽ tập trung vào các câu hỏi quan trọng sẽ trả lời thông quan nghiên cứu khám phá tại Đà Nẵng, bao  
gồm:  
• Những hình thức hợp tác nào DNNVV thấy có khả năng đưa đến thành công?  
• Những rào cản/thách thức mà DNNVV phải vượt qua khi thực hiện hợp tác?  
• Làm thế nào để DNNVV vượt qua những rào cản đối với sự hợp tác để thành công?  
Bài viết này trình bày về việc thực hiện các giai đoạn chiến lược hợp tác liên quan đến doanh  
nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) để đi đến thành công – nghiên cứu đối với các doanh nghiệp tại thị  
trường Đà Nẵng. Quá trình thực hiện chiến lược hợp tác thực tế giải quyết bốn giai đoạn chính của nó  
theo nghiên cứu của Popel & Mubipe (2005) về những gì đặc biệt dẫn đến thành công trong hợp tác  
liên quan đến DNNVV. Bốn giai đoạn quan trọng đối với sự hợp tác của DNNVV thành công là: sự  
hứa hẹn tham gia hợp tác, lựa chọn chiến lược, thực hiện và đánh giá. Trong bài báo này, sự hợp tác  
được nhìn từ phương diện chiến lược và bao gồm tất cả các hình thức hợp tác liên tổ chức có tiềm  
năng tăng cường lợi thế cạnh tranh mà nó sẽ không thể đạt được nếu thiếu sự hợp tác. Sự hợp tác thành  
công đưa lại tổng lực tác động tích cực vào hiệu quả kinh doanh. Do đó, chúng tôi đã quan tâm đến tất  
cả các loại hợp tác bao gồm các liên minh chiến lược, cụm/nhóm, quan hệ đối tác chiến lược (quản trị  
chuỗi cung ứng), thuê ngoài, chia sẻ dịch vụ liên tổ chức, mạng lưới liên kết v.v.  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Hợp tác và cạnh tranh  
Theo Montiel &Overall (2005), sự hợp tác là ít nhất hai cá nhân làm việc cùng nhau để đạt  
được một cái gì đó, và cố gắng để tạo ra một cái gì đó lớn hơn nếu từng cá nhân làm một mình. Tương  
tự, hợp tác được hiểu là những hành động tập thể của các cá nhân/tổ chức để có thể đạt được lợi ích  
chung lớn hơn nếu mỗi cá nhân/tổ chức đó thực hiện một mình (Ansari và ctg, 2001). Các nhà nghiên  
cứu ủng hộ sự hợp tác là cần thiết cho sức mạnh tổng hợp, cũng như thừa nhận rằng sự hợp tác ít nhất  
phải tạo ra một số giá trị gia tăng đối với các mục tiêu chung. Robert và Bradley (1991) cho rằng hợp  
tác như là "một sự thỏa thuận xã hội tạm thời, trong đó hai hay nhiều tác nhân làm việc cùng nhau  
hướng đến một kết thúc chung duy nhất và đòi hỏi sự chuyển đổi về vật liệu, ý tưởng, các mối quan hệ  
xã hội để đạt được điều kết thúc đó". Quan điểm này nhấn mạnh đến sự hợp tác là một sự sắp xếp xã  
hội tạm thời và được chấm dứt khi mục tiêu chung được hoàn thành.  
Các nhà hoạch định chính sách ngày càng nhận thức rằng hợp tác là một trong những đòn bẩy  
quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và từ đó là khả năng cạnh tranh của nền  
kinh tế quốc gia. Sự phát triển và phổ biến của ý tưởng sử dụng hợp tác như là một cách để tăng khả  
năng cạnh tranh có thể có được nguồn gốc từ sự thành công của những mạng lưới hợp tác giữa các  
doanh nghiệp nhỏ, chẳng hạn các giữa các doanh nghiệp nhỏ ở miền bắc Ý, Đan Mạch, và Norway  
(Rosenfeld, 1996). Hơn nữa, ý tưởng về hợp tác như là một công cụ chính sách cạnh tranh vượt ra khỏi  
47  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
tầm quan trọng của vấn đề về vị trí trong nền kinh tế toàn cầu. Michael Porter, một trong những người  
đề xuất có ảnh hưởng nhất về ý tưởng các cụm/nhóm ngành công nghiệp/kinh doanh như một dạng  
hợp tác, đã thúc đẩy ý tưởng đó như một công cụ chính sách quan trọng (Porter,1998). Porter lập luận  
rằng các động lực của "nền kinh tế dựa trên tri thức" mới như thông tin, công nghệ, và đổi mới là thành  
công nhất khi địa phương hóa (Porter, & Ackerman, 2001). Các nhà hoạch định chính sách trên toàn  
cầu của Ngân hàng thế giới cho các chính phủ ở Pháp, Đức, Hà Lan, Bồ Đào Nha, New Zealand và  
Anh đã ngày càng mong muốn thúc đẩy tạo lập các cụm kinh doanh và nhiều người đã tư vấn Porter về  
vấn đề này (Martin & Sunley, 2001).  
2.1.2. Hợp tác và chiến lược của công ty  
Dựa trên các nghiên cứu đã được thực hiện cho thấy rằng các DNVVN đã luôn hợp tác với nhau  
trong cách này hay cách khác. Khả năng tăng cường các nguồn lực của công ty thông qua các đối tác  
hợp tác là rất hấp dẫn (Huxham & Vangen, 2005). Do đó, logic kinh tế của sự hợp tác là rõ ràng; nó  
cho thấy sự tăng trưởng, thịnh vượng và lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh. Một chiến  
lược hợp tác hỗ trợ cả chiến lược cạnh tranh và chiến lược của doanh nghiệp (Child & Faulkner 1998):  
• Chiến lược cạnh tranh - là chiến lược tạo ra, duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của công ty  
vượt qua đối thủ trong ngành.  
• Chiến lược doanh nghiệp - nhằm xác định cơ cấu sản phẩm của công ty, cơ cấu thị trường, và  
thiết kế tổ chức sao cho đạt được tốt nhất vị trí cạnh tranh của công ty trên thị trường. Trong trường  
hợp nghiên cứu này, chiến lược doanh nghiệp và chiến lược kinh doanh được nhìn từ phương diện  
DNVVN nên nó có ý nghĩa tương tự.  
Hình 1 dưới đây minh họa sự tương tác của chiến lược hợp tác, chiến lược cạnh tranh và chiến  
lược doanh nghiệp với chuỗi hệ giá trị.  
Hình 1: Chuỗi hệ giá trị và Chiến lược (Child & Faulkner,1998)  
Trong sự tương tác của các chiến lược nói trên, có 3 nội dung nổi bật. Thứ nhất, chiến lược cạnh  
tranh của một công ty được mở rộng trong toàn bộ quá trình tạo ra giá trị trong khi chiến lược của công  
ty là tập trung hơn vào các khía cạnh sau của quá trình tạo giá trị, kết quả đầu ra của quá trình chuyển  
đổi (sản phẩm/dịch vụ), thị trường, và các giá trị đòi hỏi (ví dụ như lợi nhuận trên đầu tư) được tạo ra  
từ các doanh nghiệp và thị trường đã chọn của công ty. Thứ hai, một chiến lược hợp tác cũng có thể  
mở rộng toàn bộ quá trình tạo ra giá trị nhưng theo cách mà nó hỗ trợ chiến lược cạnh tranh và chiến  
lược doanh nghiệp. Do đó, một công ty có thể hợp tác với các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào quan  
trọng (hợp tác trong chuỗi cung ứng), có thể phối hợp với một tổ chức nghiên cứu và phát triển (R &  
D) cho một quá trình hoặc cải tiến công nghệ sản phẩm (hợp tác quá trình chuyển đổi và đầu ra) hoặc  
có thể cộng tác với một tổ chức có một kỹ năng đặc biệt trong tiếp thị (hợp tác thị trường). Thứ ba,  
chiến lược hợp tác của một công ty nên nhằm tăng cường năng lực tạo ra giá trị như đã được xác định  
bởi chiến lược công ty của nó.  
48  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Hiện nay, những phát triển và xu hướng đang diễn ra trong thế giới kinh doanh đang làm thay  
đổi các yếu tố quyết định chiến lược. Những phát triển và xu hướng này bao gồm: Sự biến mất dần của  
biên giới địa lý quốc gia trong kinh doanh (do toàn cầu hoá và tiến bộ trong công nghệ và truyền  
thông); Các ranh giới tổ chức ngày càng mờ nhạt; Trình độ đào tạo và kiến thức của người tiêu dùng  
ngày càng cao là một trong những yếu tố đó kết hợp dẫn đến cạnh tranh gia tăng; Chu kỳ sống của sản  
phẩm giảm, và áp lực cho các công ty để cung cấp giá trị vượt trội cho khách hàng và các cổ đông gia  
tăng. Trong môi trường kinh doanh mới này, các công ty nhanh chóng nhận ra rằng họ không thể đủ  
khả năng để dàn trải nguồn lực hạn chế của họ qua nhiều hoạt động, và phải quyết định tập trung vào  
những hoạt động quan trọng mà nó đại diện để có hiệu quả kinh tế nhất. Các kết quả cuối cùng được  
quan sát của những thay đổi này tạo nên một môi trường kinh doanh ở đó các công ty đang ngày càng  
phụ thuộc vào các công ty khác đối với dịch vụ hỗ trợ và đầu vào sản phẩm/dịch vụ thông qua các mô  
hình hợp tác như các liên minh chiến lược, gia công bên ngoài, dịch vụ chia sẻ, sáp nhập, quan hệ đối  
tác nhà cung cấp, liên doanh, liên minh, mạng, vv.  
2.1.3. Lợi ích của hợp tác đối với các DNVVV  
Những lợi thế của hợp tác đã được trình bày khá nhiều trong các tài liệu nghiên cứu. Kanter  
(1994) lập luận rằng một cách tốt để đạt được lợi thế cạnh tranh đã phát triển mối quan hệ hợp tác trên  
cơ sở hệ thống mở và chia sẻ thông tin. Một số tác giả nhấn mạnh mối quan hệ giữa hợp tác và đổi mới  
[30,37,38]. Trong trường hợp các DNVVN, điều đó lại cành đúng hơn do nhu cầu cần bổ sung thêm  
kiến thức bên trong với các nguồn bên ngoài của họ và những khó khăn của họ trong việc thiết lập  
thành công các mối quan hệ đối tác. Củng cố những quan điểm đó, một số nhà nghiên cứu khẳng định  
rằng sự thành công của các DNVVN đối phó với đối thủ cạnh tranh lớn hơn có thể được xác định bởi  
khả năng của họ sử dụng các mạng lưới bên ngoài một cách hiệu quả và tạo ra các liên minh hữu ích.  
Những nghiên cứu đã cho thấy tầm quan trọng về hợp tác của các SME và mối quan hệ của hợp  
tác với đổi mới và thành công đã giúp hiểu được lý do tại sao các chính phủ trong nhiều thập kỷ và các  
tổ chức công cộng đã nỗ lực tạo cơ chế để thúc đẩy nó. Mặc dù mối quan hệ giữa đổi mới và hợp tác là  
một lý do quan trọng, nhưng không phải là lý do duy nhất. Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu phân tích  
các lý do và lợi ích của các công ty nhỏ tiếp cận hợp tác. Mỗi nghiên cứu nói đến các kết quả khác  
nhau, Francesc (2010) đã tổng hợp những lý do giải thích tại sao DNVVN nên xem xét tiếp cận hợp  
tác. Nó bao gồm những lý do bên trong và lý do bên ngoài cho sự hợp tác DNVVN, được tổng hợp ở  
bảng 1 sau:  
Bảng 1. Lý do hợp tác của các DNVVN  
Lý do bên trong  
Học tập và chia sẻ kinh nghiệm. Có một mối quan hệ chặt chẽ giữa đổi mới và việc hợp tác học  
tập của DNVVN.  
Đổi mới. Các doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài để đổi mới trên cơ  
sở chia sẻ các ý tưởng, kiến thức, nguồn lực.  
Tìm kiếm sự bổ trợ. Đôi khi liên quan đến tính kinh tế quy mô, hợp tác cho phép các SMEs để bổ  
sung cho nguồn lực của họ, bao gồm R & D, sản xuất, tiếp thị hoặc năng lực quản trị. Một số  
nghiên cứu kết luận rằng sự hợp tác với các đối tác bổ sung đạt được kết quả tốt hơn về hiệu suất  
và đổi mới.  
Tiết kiệm chi phí bằng cách chia sẻ nguồn lực (ví dụ: không gian, vận chuyển, vv). Chia sẻ nguồn  
49  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
lực đem đến kết quả trong việc giảm chi phí cá nhân.  
Tăng doanh thu. Một số loại giấy phép hợp tác để đạt được một vị trí bán hàng tốt hơn và thâm  
nhập vào các thị trường mới, do đó kết quả sản lượng và doanh số bán hàng tăng.  
Đạt được sức mạnh mua sắm. Nếu một số công ty cùng nhau hành động, thông thường chúng làm  
tăng sức mạnh quan hệ với các nhà cung cấp của họ, cho phép họ có được giao dịch tốt hơn.  
Truyền thông với bên ngoài. Làm việc với các liên minh dẫn đến cải thiện việc xây dựng thương  
hiệu và sức mạnh truyền thông.  
Cải thiện đầu tư. Nằm trong liên minh nên khả năng đầu tư cho cá nhân công ty gia tăng.  
Tiếp cận được các dự án lớn và quĩ tài trợ. Việc phối hợp với các tổ chức khác giúp doanh nghiệp  
nó có thể tham gia vào các dự án lớn hơn và tiếp cận được nguồn tài trợ từ nhiều các chương trình  
tài trợ đang có.  
Có quyền lực vận động hành lang. Hoạt động cùng nhau, các công ty có thể tăng quyền lực đàm  
phán và chính trị của họ; và ảnh hưởng đến chính quyền và những quyết định của họ.  
Gia tăng chất lượng sản phẩm. Sự hợp tác với các đối tác với sự hiểu biết tốt hơn về một số giai  
đoạn phát triển sản phẩm có thể ảnh hưởng tích cực đến chất lượng.  
Tăng tính linh hoạt. Thuê ngoài và hợp tác với các công ty khác cho phép các donh nghiệp giảm  
các khoản đầu tư vào công việc bên trong và linh hoạt hơn nhu cầu thị trường. Ngoài ra, nếu một  
công ty đối tác không phù hợp, có thể dễ dàng thay đổi nó với một công ty khác.  
Cải thiện năng lực cạnh tranh. DNVVN có thể cải thiện khả năng cạnh tranh của họ bằng cách  
tiếp cận các nguồn lực bên ngoài.  
Hiệu quả hoạt động: Hợp tác giúp cung cấp nguồn kiến thức quan trọng cho hầu hết các DNVVN  
nên ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả hoạt động của công ty.  
Tự chủ kinh doanh. Hợp tác là một lựa chọn chiến lược đầy hứa hẹn cho các DNVVN, mà theo  
truyền thống họ muốn giữ quyền tự chủ kinh doanh.  
Lý do bên ngoài  
Quốc tế hoá: Liên minh chiến lược cho phép các DNVVN tiếp cận với thị trường quốc tế, lựa  
chọn đối tác về chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp, độc lập với họ.  
Vượt qua những giai đoạn kinh tế khó khăn: Như một phản ứng đối với sự bất an để phát triển,  
thích nghi với mạng lưới công nghệ mới, bổ sung năng lực cho doanh nghiệp, làm giảm các rào  
cản phát triển hoặc thích ứng với công nghệ mới hoặc thay đổi công nghệ.  
Cơ hội kinh doanh mới: Từ quan điểm chiến lược, hợp tác mở ra khả năng tạo ra mô hình kinh  
doanh mới hoặc tham gia phát triển trong mối quan hệ hợp tác với các đối tác khác, điều mà  
không thể xảy ra nếu không có sự hợp tác.  
Danh tiếng.  
Vị trí tốt hơn để đối mặt với thị trường toàn cầu thay đổi nhanh chóng và sự cạnh tranh ngày càng  
gia tăng.  
Chia sẻ rủi ro. Các hoạt động phi nội bộ là một hình thức dễ thay đổi của đầu tư. Chia sẻ những  
50  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
rủi ro các hoạt động nằm ngoài phạm vi hoặc khả năng của một công ty duy nhất là một cách tiếp  
cận thông minh để khám phá những ý tưởng và thị trường mới.  
Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu của Francesc (2011)  
2.1.4. Các vấn đề và rào cản đối với sự hợp tác của các DNVVN  
Các nghiên cứu thực hiện trong lĩnh vực này cũng đã xác định một loạt các vấn đề và các rào cản  
mà DNVVN đối mặt khi hợp tác. Một số tác giả đề cập đến những yếu tố đó như là nhược điểm của sự  
hợp tác, cho thấy rằng bất lợi phát sinh từ loại hình hành vi không phù hợp. Chính vì vậy, mặc dù có  
những lợi thế được mô tả trong phần trước nhưng hợp tác không phải là phổ biến trong các DNVVN.  
Những rào cản của hợp tác DNVVN cũng có thể nhóm các rào cản vào nội bộ và bên ngoài (Bảng 2).  
Bảng 2. Các vấn đề và rào cản hợp tác của các DNVVN  
Các vấn đề và rào cản bên trong  
Tìm kiếm và lựa chọn đối tác. Thiếu thời gian cho việc tìm kiếm đối tác và các vấn đề liên quan  
đến tìm kiếm đối tác thích hợp.  
Thiếu sự phân tích chiến lược. Đạt được phương thức hợp tác phải là một phần của văn hóa và  
chiến lược của công ty và thông thường các DNVVN không nghiên cứu các lựa chọn kinh doanh  
do thiếu thời gian.  
Sự khan hiếm các nguồn lực. các DNVVN truyền thống có ít để cung cấp.  
Xây dựng kế hoạch hợp tác tồi. Phần lớn các quyết định của DNVVN được thực hiện bởi các  
chủ sở hữu, lại thiếu một kế hoạch chiến lược rõ ràng. Điều quan trọng là phải có một ý tưởng rõ  
ràng về các mục tiêu hợp tác và các loại hình hợp tác trước khi bắt đầu.  
Hành vi cá nhân và sự lo sợ. Xu hướng hợp tác của DNVVN là ít hơn nhiều so với các công ty  
lớn bởi vì họ không muốn chia sẻ bí quyết công việc nội bộ.  
Không quan tâm trong hợp tác. Sự thiếu hiểu biết về các yếu tố thành công cụ thể của liên minh  
là một trong những lý do chính tại sao doanh nghiệp nhỏ không phát triển phương pháp tiếp cận  
hợp tác.  
Thiếu nhân sự trình độ chuyên môn cao. Việc thiếu nhân sự có tay nghề cao (IT, quản lý, vv) cản  
trở việc thực hiện tiếp cận hợp tác.  
Không có khả năng đưa ra các cơ hội kinh doanh mới. Do thiếu thời gian và hiểu biết, rất nhiều  
DNVVN mất đi khả năng tạo ra cơ hội kinh doanh mới, thị trường mới hoặc tạo ra các sản phẩm  
mới trong sự hợp tác với các DNVVN khác.  
Đầu tư. các DNVVN với nguồn lực hạn chế không sẵn sàng đầu tư vào các dự án hợp tác với  
những kết quả và lợi ích không rõ ràng.  
Các vấn đề và rào cản bên ngoài  
Hiệu quả kém. Một số nghiên cứu cho thấy kết quả nghèo nàn của hợp tác và tỷ lệ thất bại  
khoảng 50 %.  
Thiếu cơ chế hiệu quả để đánh giá sự hợp tác. Không có sự đồng thuận về cách đánh giá hiệu  
quả của một sự hợp tác.  
Năng lực của các tập đoàn lớn. Thông thường các công ty lớn có nhiều khả năng để cung cấp  
51  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
hơn và do đó có nhiều khả năng để thành lập liên minh hơn DNVVN.  
Khó khăn về tổ chức. Liên minh là khó khăn và tốn kém để quản lý, vì nó cần thiết phải đầu tư  
vào các nguồn lực giám sát và quản lý cụ thể.  
Niềm tin, sự cam kết và thỏa hiệp. Thiếu cơ chế để khắc phục các vấn đề liên quan đến sự tin  
tưởng, tín nhiệm và thỏa hiệp để đem lại hợp tác thắng lợi cho cả đôi bên.  
Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu của Francesc (2011)  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Chúng tôi tiếp cận nghiên cứu trên cơ sở mô hình FMA của Checkland (Checkland & Scholes,  
1990). Trong đó A (Area of Application) là vùng mà chúng tôi muốn tìm hiểu bản chất, trong trường  
hợp nghiên cứu này là thực trạng tại Đà Nẵng về hợp tác của DVVN; những gì là quan trọng để sự hợp  
tác liên quan đến DNVVN thành công. Cụ thể là ba câu hỏi được chúng tôi nêu ở trên. M (Research  
Methodology) là cách tiếp cận được sử dụng để hiểu biết về lĩnh vực đang tìm hiểu bằng cách sử dụng  
khuôn khổ những ý tưởng và dữ liệu thu thập được. Trong trường hợp này phương pháp định tính  
được tiếp cận sử dụng và thu thập dữ liệu bằng phỏng vấn chuyên sâu bán cấu trúc, thực hiện trực tiếp  
với 8 nhà quản trị cấp cao/chủ sở hữu của DNVVN đại diện trong 8 lĩnh vực: sản xuất công nghiệp;  
xây dựng và vật liệu xây dựng; sản xuất nông lâm nghiệp; chế biến thủy hải sản; kinh doanh thương  
mại; dịch vụ, du lịch; tư vấn, đào tạo; và hoạt động tài chính. F (theoretical framework) là khung lý  
thuyết chúng tôi sử dụng để đưa ra phương pháp và quá trình đưa ra những suy luận. Ở đây là các tài  
liệu có liên quan về các dạng khác nhau của hợp tác. Kết quả nghiên cứu là những nội dung liên quan  
được rút ra từ F và A mà cho phép chúng tôi rút ra những kết luận về các giai đoạn chính của quá trình  
hợp tác và những yếu tố làm cho sự hợp tác của DNVVN thành công.  
3. Kết quả nghiên cứu  
Trong phần này, chúng tôi báo cáo những phát hiện từ nghiên cứu liên quan đến bản chất của các  
DNNVV tham gia sự hợp tác, những yếu tố đã thúc đẩy sự hợp tác, những lợi ích doanh nghiệp tìm  
kiếm từ các hợp tác, những rào cản trong hoạt động hợp tác, và những hành động DNNVV cần làm để  
sự hợp tác thành công.  
Bản chất hợp tác của các DNNVV  
Nghiên cứu trong bối cảnh hiện tại chúng tôi đã khám phá một số nội dung phản ảnh bản chất  
của sự hợp tác liên quan đến thời gian hợp tác, tính phức tạp của việc thực hiện hợp tác, các hình thức  
của sự hợp tác, các loại hình DNVVN hợp tác với và các hình thức hợp tác. Thường các DNNVV  
tham gia vào không nhiều mối quan hệ hợp tác (tối đa là 2) trong cùng một mảng kinh doanh và cùng  
một thời điểm; đó là những hợp tác ít phức tạp; ít đối tác tham gia đồng thời (thường là 2 đối tác); và  
có tính chất ngắn hạn (thường là 2 năm). Các hình thức ưa thích của sự hợp tác là quan hệ đối tác  
chính thức và liên doanh chính thức. Hai đặc điểm chính của các DNNVV ảnh hưởng đến tính chất của  
sự hợp tác, đó là qui mô và cấu trúc sở hữu. Không giống như các công ty lớn có đặc điểm là quản lý  
tách biệt quyền sở hữu, trong các DNNVV giám đốc điều hành thường là một trong những chủ sở hữu  
chính của công ty, các nguồn lực của công ty cũng là nguồn lực cá nhân của Giám đốc điều hành. Điều  
đó dẫn đến sự hợp tác chủ yếu là dựa vào các mối quan hệ cá nhân mạnh mẽ ở mức độ nào trong các tổ  
chức thực hiện sự cộng tác.  
Về đối tượng tổ chức là đối tác hợp tác với các DNNVV, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng  
các trường đại học, các cơ quan quản lý Nhà nước (có khả năng cung cấp miễn phí về tư vấn chuyên  
gia/đào tạo), các tổ chức phi chính phủ và các dự án hỗ trợ từ nước ngoài được DNVVN ưa thích và  
52  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
mong muốn được hợp tác. Một trong những kết quả nổi bật nhất nữa là các DNVVN không ưa thích  
hoặc hiếm khi hợp tác với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của họ, vì họ tin rằng hình thức hợp tác này  
sẽ nhanh chóng làm cho họ có nguy cơ hay rủi ro bởi lợi ích cá nhân của các đối tác và những hậu quả  
tiêu cực của nó. Các kết quả này thực tế là không ngạc nhiên vì quan điểm của các DNVVN thường là  
hoạt động với một phạm vi tương đối hẹp về sản phẩm và phục vụ thị một trường ngách và DNNVV  
thường muốn đơn giản trong hợp tác.  
3.1. Động lực hợp tác của các DNNVV  
Để hiểu được lý do tại sao các DNNVV hợp tác, các giám đốc điều hành của các DNVVN đã  
được mời trao đổi chi tiết nhằm đạt được cái nhìn sâu sắc về những lý do cơ bản này. Kết quả nghiên  
cứu đã tổng hợp về các lý do điển hình liên quan đến sự tham gia hợp tác: Doanh nghiệp không đủ khả  
năng nguồn lực để tăng thị phần/mở rộng thị trường; chi phí cao vì qui mô nhỏ; không có được tiếng  
nói với cơ quan quản lý Nhà nước; thiếu thông tin thị trường và môi trường nói chung. Như vậy kết  
quả cho thấy những hợp tác đã được thúc đẩy bởi sự tồn tại của nhu cầu cụ thể rõ ràng của các tổ chức  
và nhu cầu này liên quan chính đến các DNVVN chỉ có nguồn lực và khả năng hạn chế cần thiết để  
phát triển và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Các kết quả này hoàn toàn phù hợp vì hầu hết các  
doanh nghiệp nhỏ có nguồn lực (nhân lực, tài chính và vật chất) rất hạn chế và việc tiếp cận nguồn tài  
chính phù hợp thường rất khó khăn. Do đó hợp tác cung cấp cho các DNNVV cách thức tìm đến các  
nguồn lực mà thường có thể được miễn phí, nhờ đó họ có tiềm năng cho chiến lược nhảy vào các thị  
trường mới, đạt được chi phí đầu vào thấp hơn, có thể cải thiện được công nghệ sản xuất sản phẩm.  
3.2. Lợi ích từ hợp tác của các DNNVV  
DNNVV tìm kiếm gì từ sự hợp tác? Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng các DNNVV tham  
gia hợp tác đang tìm kiếm những lợi ích kinh tế điển hình của quy mô lớn (tức là để có tính kinh tế  
theo quy mô và nhờ đó kết quả là chi phí hoạt động giảm). Một lợi ích khác mà DNNVV đạt được khi  
họ tìm cách hợp tác được khẳng định nữa là nhờ hợp tác họ có thể cung cấp cho khách hàng với các  
dịch vụ tốt hơn, thậm chí là cạnh tranh được với các công ty lớn, điều đó không thể có được nếu cung  
cấp chỉ bằng nguồn lực của chính mình. Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy rằng để đạt được hiệu  
quả cao hơn, các DNNVV sẵn sàng cộng tác thông qua việc chia sẻ kiến thức, tận dụng các mối quan  
hệ và chia sẻ thông tin thị trường; khai thác những lợi thế của nhau trong kinh doanh; trao đổi kinh  
nghiệm, hỗ trợ các công cụ, phương pháp thực hiện các chức năng văn phòng (như kế toán, tài chính,  
cách tính lương, và các khía cạnh hoạt động của nguồn nhân lực…) và các dịch vụ tuyến đầu và chi  
phí tiếp thị. Các lợi ích được cho là đáng quan tâm khác như là khai thác các tài nguyên của đối tác  
(thường đạt được với hình thức gia công hoặc hợp đồng thầu phụ). Khi đó các công ty thường phải hợp  
tác chặt chẽ hơn và cam kết trong lâu dài hơn. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu cho thấy rằng  
những lợi ích đó rõ ràng không phải là dễ dàng để đo lường chính xác và thường các doanh nghiệp còn  
mơ hồ khi bắt đầu sự hợp tác. Chính vì thế, trong giai đoạn đầu của quá trình hợp tác, sự tin tưởng lẫn  
nhau và các mối quan hệ cá nhân sâu sắc dường như là hai yếu tố cần thiết quyết định trong trường  
hợp các bên không dự tính được lợi ích từ sự hợp tác mang lại. Trong bối cảnh quản lý Nhà Nước đối  
với các DNVVN được thực hiện bởi các cơ quan công quyền vẫn còn nhiều bất cập như hiện nay, có  
quan điểm cho rằng sự hợp tác tạo nên sức mạnh để có được tiếng nói với cơ quan quản lý Nhà nước  
và do đó đảm bảo ý kiến của cộng đồng DNVVN được quan tâm hơn.  
53  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
3.3. Rào cản đối với sự hợp tác của DNNVV  
Như đã nói ở trên, sự hợp tác trong các DNNVV có được đa phần nhờ mối quan hệ cá nhân nên  
đặc trưng hợp tác giữa các DNNVN mang tính chất mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân và ít xảy ra  
đơn thuần là sự hợp tác giữa công ty với công ty. Lý do chính của việc này là trong hầu hết các  
DNNVV, việc kiểm soát và quyền lực đang nằm trong nhà quản trị đồng thời là chủ sở hữu mà đó  
thường là Giám đốc điều hành, người đưa ra quyết định quan trọng, và một trong những người tin  
tưởng vào con người trong mạng lưới cá nhân. Các giám đốc điều hành của các DNNVV trong nghiên  
cứu đã đưa ra một số khó khăn và thách thức gặp phải trong việc quản lý hợp tác. Những khó khăn  
chính là các DNNVV phải đương đầu với một số thất bại liên quan đến ba yếu tố cơ bản đối với việc  
tham gia hợp tác bao gồm: nhu cầu/lợi ích, sự tin tưởng và sự kiểm soát. Nếu các doanh nghiệp bắt đầu  
thấy sự hợp tác là không đáp ứng được nhu cầu ban đầu, có được lợi ích họ mong muốn, sự cam kết  
lâu dài sẽ bị lung lay. Sự thất bại trong việc xác định nhu cầu, lợi ích hợp tác sẽ dẫn đến thất bại trong  
việc xác định các ưu tiên trong thực hiện hợp tác. Các DNVVN đều khẳng định việc không đảm bảo  
các lợi ích kỳ vọng của các bên là lý do cơ bản dẫn đến thất bại trong hợp tác. Không có niềm tin hoặc  
niềm tin bị phá vỡ hay có những hiểu lầm sẽ dẫn đến những hành động tư lợi. Nếu không xác định  
được khả năng doanh nghiệp kiểm soát như thế nào về số phận của chính mình bị ảnh hưởng bởi sự  
hợp tác thì có thể dẫn đến việc tổ chức thực hiện hợp tác không phù hợp và có những khó khăn trong  
việc đối phó với sự thay đổi.  
Những khó khăn trên chính là những rào cản đối với sự hợp tác thành công. Do đó các DNNVV  
tham gia hợp tác cần đảm bảo rằng các cơ chế để quản lý những khó khăn này phải được thiết lập để  
tránh sự hợp tác sụp đổ. Nghiên cứu của chúng tôi sẽ xác định các hành động mà các DNNVV cần  
phải thực hiện để đảm bảo sự hợp tác thành công và trình bày kết quả ở phần tiếp theo.  
3.4. Thực hiện tiến trình hợp tác để thành công  
Xem xét các lợi ích và khó khăn thường có của sự hợp tác của DNVVN cho thấy rõ ràng là các  
nhà quản lý sẽ không đơn giản đưa ra quyết định hợp tác mà sẽ xem xét nhiều vấn đề ở bên ngoài cũng  
như bên trong doanh nghiệp. Những vấn đề thuộc nội bộ doanh nghiệp bao gồm đặc điểm cơ cấu tổ  
chức; nhu cầu của tổ chức đối với sự hợp tác, các mục tiêu đạt được riêng cho cả cho doanh nghiệp và  
chung cho sự hợp tác; văn hóa của tổ chức; giai đoạn trong chu kỳ sống của doanh nghiệp, trình độ của  
đội ngũ nhân sự. Các yếu tố bên ngoài bao gồm xu hướng toàn cầu hóa ảnh hưởng đến công ty; văn  
hóa của quốc gia; và đặc điểm ngành công nghiệp; cấu trúc cạnh tranh và chu kỳ sống của ngành công  
nghiệp mà công ty hoạt động trong đó. Ngoài ra, các yếu tố bên ngoài cũng có thể là số lượng các hợp  
tác mà công ty đang tham gia vào, qui mô của các công ty tham gia trong hợp tác, vai trò của các tổ  
chức nghề nghiệp, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương.  
Nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy rằng các DNVVN thành công nên thực hiện tốt tiến trình  
hợp tác với bốn giai đoạn. Những giai đoạn đó bao gồm: hứa hẹn ban đầu về việc hợp tác, lựa chọn  
chiến lược hợp tác, thực hiện hợp tác và đánh giá kết quả hợp tác. Bốn giai đoạn này không nhất thiết  
phải tuần tự nhưng thường phải liên kết với nhau. Các hoạt động cụ thể cho bốn giai đoạn này thường  
như sau:  
Hứa hẹn hợp tác  
Như kết quả nghiên cứu chúng tôi đã trình bày ở trên, có ba yếu tố quan trọng cần phải có trong  
một hợp tác tiềm năng là nhu cầu đòi hỏi hay lợi ích tìm kiếm; sự tin tưởng; và khả năng kiểm soát. Do  
đó đây là những yếu tố quyết định chính quyết định khả năng hứa hẹn về sự tham gia vào hợp tác của  
các DNNVV.  
54  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Yếu tố nhu cầu/lợi ích  
Hầu hết các cuộc trao đổi đã ủng hộ đây là yếu tố quyết định sự tham gia vào hợp tác và nhấn  
mạnh rằng công ty cần hợp tác chỉ khi nó không thể cạnh tranh thành công riêng một mình. Do đó, yếu  
tố nhu cầu đòi hỏi DNVVN đánh giá được việc hợp tác trong tương lai sẽ giúp giải quyết một nhu cầu  
quan trọng cụ thể của doanh nghiệp như thế nào, và kết quả là có được những lợi ích từ sự hợp tác mà  
nhờ đó sẽ nâng cao vị thế cạnh tranh của nó trên thị trường như thế nào.  
Các yếu tố sự tin tưởng và khả năng kiểm soát  
Các vấn đề về sự tin tưởng và khả năng kiểm soát đóng một vai trò quan trọng vì có thể xuất  
hiện mâu thuẫn những mục tiêu giữa các công ty hợp tác. Nhiều tác giả đề xuất thiết lập các hợp đồng  
pháp lý chặt chẽ như là một cách để giải quyết vấn đề này. Blomqvist & ctg, (2005) cho rằng, mặc dù  
các hợp đồng không thể đảm bảo sự hợp tác thành công, nhưng chính quá trình ký kết hợp đồng có thể  
tăng sự hiểu biết lẫn nhau và do vậy sẽ gia tăng niềm tin giữa các đối tác. Tương tự như vậy, Coletti &  
ctg, (2005) cho rằng thiết lập các hệ thống kiểm soát có thể gia tăng sự tin tưởng trong các thỏa thuận  
hợp tác. Mặt khác, Deering và Murphy (2003) phân biệt giữa các phương diện của niềm tin, tùy thuộc  
theo giai đoạn của quan hệ đối tác, mức độ cam kết và tầm nhìn dài hay ngắn hạn mà quan hệ đối tác  
theo đuổi. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng tất cả đều khẳng định niềm tin được coi là tối quan  
trọng trong mọi trường hợp hợp tác. Các DNVVN không sử dụng những hợp đồng như là cái thay  
thế cho niềm tin vào đối tác của mình. Ngoài ra, vì bản chất hợp tác của các DNNVV là hợp tác giữa  
các cá nhân hơn là giữa công ty và công ty nên những thỏa thuận không chính thức, không có thủ tục  
pháp lý phức tạp với sự tin tưởng vào các mối quan hệ cá nhân lại được ưa thích. Tuy nhiên kết quả  
cũng cho thấy rằng mặc dầu nhận thức là rất quan trọng đối với thành công của hợp tác nhưng đưa ra  
phương thức thực hiện kiểm soát quá trình hợp tác của doanh nghiệp trong nhiều trường hợp còn mơ  
hồ.  
Lựa chọn chiến lược  
Giai đoạn thứ hai của tiến trình hợp tác là lựa chọn chiến lược hợp tác. Đây là giai đoạn quan  
trọng cho sự thành công của sự hợp tác cũng như giai đoạn quyết định tham gia vào hợp tác. Các giai  
đoạn lựa chọn chiến lược gồm ba nội dung chính. Đầu tiên, nó liên quan đến việc quyết định các mục  
tiêu của sự hợp tác, điều này phụ thuộc vào nhu cầu cần thiết phải hợp tác giữa các DNVVN. Tất cả  
những người được phỏng vấn khẳng định rằng việc đặt ra các mục tiêu và các chỉ tiêu đạt được là rất  
quan trọng cho sự thành công của sự hợp tác. Điều này liên quan đến việc thiết lập những kỳ vọng và  
mục đích phải đạt thông qua hợp tác. Nó đòi hỏi các bên phải tập trung suy nghĩ về kết quả của sự hợp  
tác và thiết lập cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả đó. Vấn đề thứ hai là lựa chọn đối tác để hợp tác. Đối  
với các DNVVN, quyết định này cần tập trung nhiều vào việc đánh giá các nguồn lực của các đối tác  
hợp tác tiềm năng sẽ giải quyết nhu cầu đối với việc hợp tác như thế nào, liệu những bên hợp tác tiềm  
năng là hoàn toàn đáng tin cậy hay không. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng hiện nay các  
DNVVN chủ yếu tìm kiếm các đối tác hợp tác bằng các mối quan hệ xã hội của riêng họ. Nội dung thứ  
ba trong sự lựa chọn chiến lược hợp tác là việc quyết định hình thức và cơ cấu hợp tác. Bởi vì các  
DNVVN sẽ có xu hướng chọn các đối tác hợp tác từ các mối quan hệ xã hội của riêng họ nên hợp tác  
của DNNVV có xu hướng là những quan hệ đối tác phi chính thức được thiết lập trên niềm tin giữa các  
cá nhân. Tuy nhiên, những hình thức hợp tác phi chính thức đó nhiều khi không được ủng hộ bởi vì sự  
hợp tác không chính thức thường gặp phải vấn đề là trách nhiệm tương ứng của các bên tham gia hợp  
tác không rõ ràng. Điều này sau đó sẽ liên quan với vấn đề kiểm soát trong hợp tác của các DNVVN.  
Thực hiện  
55  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
Giai đoạn này thực hiện nội dung các công việc cụ thể khi hợp tác. Để có được cái nhìn sâu sắc  
vào những gì đặc biệt phải làm để hợp tác của DNVVN thành công, nghiên cứu của chúng tôi đã tìm  
hiểu các hoạt động quan trọng (mà nếu không có những hoạt động này trong hợp tác thì hầu hết các  
hợp tác sẽ có khả năng đổ vỡ) trực tiếp góp phần vào thành công của sự hợp tác. Trong quá trình thực  
hiện hợp tác, một số nội dung chính người ta cho rằng cần phải quan tâm như sau:  
-Sự cam kết giữa các công ty đối tác với nhau là cần thiết để duy trì và thành công của hợp tác.  
Trong đó tham gia thực sự của nhà quản trị hàng đầu của doanh nghiệp là rất quan trọng trong giai  
đoạn này. Ngoài ra các nguồn lực được doanh nghiệp đưa vào đầu tư trong hợp tác được các đối tác  
coi là một trong những tiêu chí để thể hiện mức độ cao của cam kết.  
-Thông tin liên lạc qua lại giữa các đối tác hợp tác được cho là một yếu tố quan trọng của sự  
hợp tác thành công. Môi trường kinh doanh là năng động nên xu hướng các công ty hợp tác có những  
thay đổi trong thời gian hợp tác là rất cao. Do đó, khả năng của công ty đối với việc truyền thông và  
điều đình về những thay đổi diễn ra về cơ cấu, chiến lược và mục tiêu của công ty sẽ đóng góp vào sự  
thành công của sự hợp tác.  
-Người tư vấn hỗ trợ hợp tác là cần thiết để thực hiện hợp tác, theo dõi mức độ cam kết và  
truyền thông. Tùy thuộc vào loại, hình thức, tính chất và cơ cấu của sự hợp tác, những người hỗ trợ  
bên trong và bên ngoài cần được yêu cầu. Hơn nữa, trong những trường hợp phức tạp, cần tăng cường  
hỗ trợ tư vấn bên ngoài.  
Đánh giá  
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng thành công của các DNVVN hợp tác đòi hỏi họ tìm cách  
đánh giá liên tục về mục đích sự hợp tác đã được hoạch định, sự thay đổi môi trường với việc xem xét  
làm như thế nào để cải thiện liên tục khả năng thực hiện các mục tiêu hợp tác đã đề ra. Về vấn đề này,  
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng điều cần thiết cho các DNVVN là thiết kế một hệ thống cảnh  
báo sớm cung cấp phương án đối phó với những khó khăn có thể phát sinh trong quá trình hợp tác.  
Trong giai đoạn đánh giá, các điểm tham chiếu là ba yếu tố tham gia quan trọng gồm nhu cầu/ lợi ích;  
niềm tin; và sự kiểm soát. Nếu tại bất kỳ một thời điểm nào, không có nhu cầu, niềm tin hoặc sự kiểm  
soát, đánh giá của doanh nghiệp cần phải tập trung là có lợi ích khi thực hiện hợp tác hay không và nên  
chấm dứt hợp tác hay vẫn tiếp tục.  
Thường rất khó khăn để đo lường những lợi ích dài hạn và ngắn hạn của hợp tác. Ngoài lợi ích  
tài chính cần phải thấy rằng những người hợp tác sẽ được học hỏi trong quá trình hợp tác và sẽ nhận  
được những lợi ích phi tài chính như xây dựng được những mối quan hệ, tạo ra những cơ hội và có  
được những kinh nghiệm, kiến thức mới. Giai đoạn đánh giá sẽ cho phép các doanh nghiệp xem xét lại  
cả những lợi ích và hạn chế.  
4. Kết luận  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi bàn đến một số những nội dung về hợp tác của các DNNVV,  
nghiên cứu tại địa bàn Đà Nẵng. Theo kết quả nghiên cứu, vấn đề quan trọng trong việc thúc đẩy hợp  
tác của DNVVN là các họ phải nhận ra được nhu cầu và lợi ích của sự hợp tác, có niềm tin và có khả  
năng kiểm soát. Đây là những yếu tố quan trọng trong quá trình hợp tác, ảnh hưởng đến các giai đoạn  
hợp tác của các DNNVV bao gồm hứa hẹn tham gia, lựa chọn chiến lược, thực hiện và đánh giá. Do  
đó những nội dung quan trọng cần quan tâm để hướng tới thúc đẩy các DNNVV thành công hợp tác là:  
- Cung cấp cho các DNNVV sự nhận thức rõ ràng về nhu cầu và lợi ích của hợp tác.  
56  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
- Phát triển một thái độ tốt đối với các mối quan hệ hợp tác, tạo niềm tin giữa các đối tác, sử  
dụng phối hợp giữa xây dựng niềm tin qua quan hệ cá nhân với những các hợp đồng pháp lý.  
- Cho phép các bên đối tác tham gia nhiều hơn trong việc lựa chọn hình thức hợp tác  
- Thảo luận về cách thức kiểm soát, xây dựng tiêu chí đánh giá đo lường sự thành công của  
hợp tác  
- Hình thành các tổ chức nghề nghiệp (Hội, hiệp hội) để hỗ trợ, tăng cường khả năng hợp tác  
Để hợp tác thành công DNNVV nên tiến hành cụ thể những hành động sau:  
o Xác định nhu cầu: xem xét các nguồn lực và các chiến lược cạnh tranh của công ty  
o Xác định các đối tác có thể: Tìm kiếm đối tác từ bên trong các mối quan hệ xã hội (người  
đáng tin cậy) và đánh giá các nguồn lực và các chiến lược cạnh tranh của họ  
o Xác định cơ hội: Đánh giá lợi ích thực tế có thể có được nhờ sự hợp tác  
o Xác định các mối đe dọa: Đánh giá các mối đe dọa có thể và đánh giá tác động của các mối  
đe dọa đó đến việc đạt được những lợi ích cần thiết từ sự hợp tác  
o Quyết định tham gia: Đánh giá cơ hội về lợi ích so với các nỗ lực/nguồn lực tổng thể cần  
thiết để đầu tư vào hợp tác.  
o Xác định mục tiêu: Xác định những gì cần phải đạt được từ sự hợp tác để giải quyết nhu cầu  
cụ thể đối với sự hợp tác và thiết lập các mục đích và mục tiêu của sự hợp tác.  
o Chọn cơ cấu chủng loại, tính chất và hình thức: Dựa trên phân tích của các công ty tham gia  
và mục đích của sự hợp tác, lựa chọn hình thức hợp tác tốt nhất  
o Phân công trách nhiệm: Thiết kế một khuôn khổ rõ ràng trong đó nêu rõ các trách nhiệm  
tương ứng của mỗi bên đối với hợp tác.  
o Quyết định về người hỗ trợ tư vấn: Xác định người cụ thể để hỗ trợ sự hợp tác. Họ có thể là  
từ bên trong công ty hợp tác hoặc bên ngoài khi cần thiết  
o Đảm bảo cam kết và nhiệt tình: Vạch ra các cơ chế để đảm bảo sự tham gia liên tục của nhà  
quản trị hàng đầu  
o Truyền thông: Thiết kế các cơ chế để chia sẻ liên tục của các ý tưởng, những khó khăn, và  
để đối phó với những thay đổi về các mục tiêu và chiến lược công ty.  
o Thích ứng với những thay đổi: Liên tục đánh giá kết quả đạt được của mục tiêu và những  
thay đổi về hình thức, tính chất hợp tác để đạt được mục tiêu  
o Đánh giá những lợi ích và hạn chế: So sánh những lợi ích dự kiến và thực tế, xem xét những  
khả năng trong tương lai và đo lường cả về lợi ích tài chính và các lợi ích khác  
o Duy trì mục đích: Đánh giá sự tồn tại của nhu cầu, niềm tin và sự kiểm soát trong hợp tác và  
chỉ hợp tác nếu mục đích tồn tại, nếu không thì dừng duy trì các mối quan hệ  
Tóm lại, sự hợp tác của các DNVVN là cách tốt nhất để tăng cường mạnh mẽ nguồn lực, khả  
năng và vị thế cạnh tranh của DNNVV Đà Nẵng trên thị trường trong bối cảnh hội nhập sâu rộng như  
hiện nay. Chúng ta phải thúc đẩy sự hợp tác của các DNVVN để thông qua đó DNVVN có thể đạt  
được khả năng tích hợp vào các công ty lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu hoặc tham gia vào thị trường  
kinh doanh rộng lớn hơn. Do đó, nếu hợp tác được sử dụng một cách thành công thì đó là cách để  
không chỉ các DNVVN tăng lợi nhuận, mà còn tăng khả năng cạnh tranh của khu vực và quốc gia.  
57  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Blomqvist, K., Hurmelinna, P., & Seppanen, R. (2005) Playing Collaboration Game Right –  
Balancing Trust and Contracting, Technovation 25, Elsevier Ltd, pg 497-504  
[2] Checkland, P. & Scholes, J. (1990) Soft Systems Methodology in Action, John Wiley & Sons, Ltd,  
Chichester, England, pg 283  
[3] Rosenfeld, SA (1996), Does Collaboration enhance competitiveness? Assessing the impact of  
inter-firm collaboration, Research Policy, 25, 247-263  
[4] Child J & Faulkner D, (1998), Strategies of Co-operation, Managing Alliances, Networks, and  
Joint Ventures, Oxford, Oxford University Press.  
[5] Coletti, A.L., Sedatole, K.L. & Towry K.L. (2005) The Effect of Control Systems on Trust and  
Cooperation in Collaborative Environments, The Accounting Review, Vol. 80, No2, pg 477-500  
[6] Huxham, C. & Vangen, S. (2005) Managing to Collaborate: The Theory and Practice of  
Collaborative Advantage, Routledge, Abington, UK, pg 3  
[7] Martin, R. & Sunley, P. (2001) Deconstructing Clusters: Chaotic Concept or Policy Panacea?,  
Journal of Economic Geography,  
[8] Porter, M.E. & Ketels, C.H.M. (2003) UK Competitiveness: Moving to the Next Stage, DTI  
economic paper No3, Economic and Social Research Council,  
[9] Porter, M.E. & Ackerman, F.D. (2001) Regional Clusters of Innovation, Washington: Council of  
Competitiveness (www.compete.org)  
[10] Porter, M.E. (1998) Clusters and the New Economics of Competitiveness, Harvard Business  
Review, December, pg 77-90  
[11] Francesc (2011) The SME Co-operation Framework: a Multi-method Secondary Research  
Approach to SME Collaboration, International Conference on E-business, Management and  
Economics IPEDR, vol.3 © (2011) IACSIT Press, Hong Kong, pg 118-124  
58  
pdf 13 trang Thùy Anh 11120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực hiện hợp tác thành công – nghiên cứu khám phá đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_hien_hop_tac_thanh_cong_nghien_cuu_kham_pha_doi_voi_doa.pdf