Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
THU HÖT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO HẢI PHÕNG  
TRONG CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Ths Trần Kim Hƣơng  
Khoa Kinh tế & QTKD, trƣờng đại học Hải Phòng  
TÓM TẮT  
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là việc làm rất  
cần thiết đối với Việt Nam nói chung và đối với các tỉnh thành phố nói riêng. Không ngoại lệ,  
trong những năm gần đây Hải Phòng có nhiều chính sách, biện pháp tăng cường thu hút vốn  
FDI và đạt được những thành công đáng kể. Trong 6 năm gần đây, từ 2011 đến 2016 Hải  
Phòng nằm trong top 10 địa phương thu hút FDI lớn nhất cả nước. Đến hết năm 2016 thành  
phố có 564 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 15 tỷ USD. Các nhà đầu tư chính đến từ các  
quốc gia Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc), Mỹ, Singapore. Lĩnh vực đầu tư chủ  
yếu đó là công nghệ cao, bất động sản, xây dựng mà điển hình là một số dự án đầu tư quy mô  
tỷ USD đến từ các nhà đầu tư LG Display Hàn Quốc, Bridgestone Nhật Bản.  
Từ khóa: đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn đầu tư, vốn đăng ký, dự án, nhà đầu tư, lĩnh  
vực, địa phương.  
1. MỞ ĐẦU  
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cách mạng 4.0) đang trong giai đoạn khởi phát và  
sẽ tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đồng thời thay đổi hoàn toàn hệ thống sản xuất  
và quản trị hiện nay. Cách mạng 4.0 có thể mang lại cho kinh tế Việt Nam nói chung và kinh  
tế Hải Phòng nói riêng một cơ hội hiếm để bứt phá và Hải Phòng đang có sự chuẩn bị tích cực  
cho cơ hội này. Hải phòng tập trung thu hút đầu tư các khu công nghệ cao, mục tiêu thu hút  
các nguồn lực công nghệ cao trong nước và nước ngoài, tạo động lực thúc đẩy phát triển công  
nghệ cao theo hướng cách mạng công nghiệp 4.0.  
Với ưu thế về vị trí địa lý, hiện nay Hải Phòng là một trong 5 địa phương có quy mô  
công nghiệp lớn nhất cả nước. Để phát huy tối đa những tiềm năng của thành phố cảng, Hải  
Phòng có các chính sách để phát triển kinh tế của thành phố đặc biệt đó là chính sách thu hút  
FDI.  
Từ những năm đầu đổi mới, khi Thành ủy ban hành NQ 05 tháng 3 năm 1992 về kinh  
tế đối ngoại tới các định hướng trong các nghị quyết của Đại hội Đảng bộ thành phố và các  
nghị quyết chuyên đề của Thành ủy; các quy định, quyết định của UBND thành phố nhằm tạo  
môi trường thông thoáng, thuận lợi để thu hút FDI. Nhờ những quan điểm nhất quán, chính  
sách cởi mở, các mô hình phù hợp, trong 30 năm đổi mới Hải Phòng luôn là một trong những  
địa phương đi đầu cả nước về thu hút và sử dụng FDI. Các doanh nghiệp FDI đã góp phần  
quan trọng trong xây dựng và phát triển thành phố.  
257  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
2. NỘI DUNG  
2.1.TỔNG QUAN VỀ THU HÖT FDI CỦA VIỆT NAM  
Bảng 1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngo i đƣợc cấp phép (lũy kế) giai đoạn 2010-2016  
Cả nƣớc  
Vốn đ ng ký  
Đồng bằng sông Hồng  
Hải Phòng  
N m  
Số dự  
án  
Vốn đ ng ký  
Số dự án  
Số dự  
Vốn đ ng ký  
(triệu USD)  
(triệu USD)  
án  
(triệu USD)  
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
12.463  
13.440  
14.522  
15.932  
17.768  
20.069  
22.594  
194.572,20  
199.078,90  
210.521,60  
234.142,00  
252.716,00  
281.882,50  
293.700,40  
3.305  
3.682  
4.034  
5.431  
5.290  
6.186  
7.031  
39.099,40  
47.443,20  
48.753,70  
56.117,70  
63.350,50  
72.257,90  
78.531,40  
316  
338  
369  
392  
452  
513  
564  
5.143,20  
6.133,20  
7.247,80  
9.978,50  
11.281,20  
11.651,30  
14.694,50  
(Nguồn: Tính toán từ số liệu của tổng cục thống kê)  
Tính đến hết 31/12/2016 trên cả nước có 22.594 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn  
đăng ký đạt hơn 290 tỷ USD. Trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng có 7.031 dự án FDI còn  
hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt hơn 78 tỷ USD. Riêng Hải Phòng có 564 dự án FDI còn  
hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt gần 15 tỷ USD chiếm 18% so với khu vực đồng bằng sông  
Hồng, tương ứng 5% so với cả nước, đứng thử 6/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Xét bình  
quân, dự án FDI khu vực Hải Phòng đạt 25 triệu USD/dự án, trong khi trung bình của khu vực  
Đồng bằng sông Hồng đạt 11 triệu USD/dự án và cả nước đạt 13 triệu USD/dự án.  
2.2.THU HÖT FDI VÀO HẢI PHÕNG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY  
Quy mô đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Phòng  
Bảng 2. Quy mô FDI v o Hải Phòng giai đoạn 2010-2016  
Chênh lệch  
số dự án  
Chệnh lệch  
vốn đ ng ký  
Vốn đ ng  
ký  
(triệu USD)  
Vốn đ ng ký  
bình quân  
(triệu USD)  
Số dự  
án  
N m  
+/-  
%
+/-  
%
2010  
2011  
2012  
2013  
20  
22  
31  
23  
61.20  
990.00  
1114.60  
2730.70  
3.06  
45.00  
35.95  
118.73  
2
9
10.00  
40.91  
-25.81  
928.80  
124.60  
1616.10  
1517.65  
12.59  
-8  
144.99  
2014  
2015  
2016  
60  
61  
54  
1170.70  
920.70  
19.51  
15.09  
56.36  
37  
1
160.87 -1560.00  
-57.13  
-21.35  
230.53  
1.67  
-250.00  
2122.50  
3043.20  
-7  
-11.48  
(Nguồn: Tính toán từ số liệu của tổng cục thống kê)  
2.2.1. FDI v o Hải Phòng n m 2010  
Từ những năm 2010 trở về trước, vốn FDI thu hút vào địa bàn thành phố chỉ đạt  
khoảng 60 tỷ USD/năm chỉ tương đương quy mô trung bình một dự án hiện nay. Trong một  
năm mới thu hút được 20 dự án đầu tư.  
2.2.2. FDI v o Hải Phòng n m 2011  
258  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Năm 2011 đạt được sự bứt phá đáng kể với tổng số vốn đầu tư FDI đăng ký lên đến 990  
triệu USD, giúp Hải Phòng lọt top 10 địa phương thu hút FDI của cả nước, nâng tổng vốn FDI lũy  
kế của Hải Phòng lên 5,14 tỷ USD. Trong đó vốn thực hiện đạt 49%. Đáng kể đến trong giai đoạn  
này đó là một số dự án: Kyocera Mita (Nhật Bản) với số vốn đầu tư 187,5 triệu USD; dự án 2 cảng  
cửa ngõ quốc tế Hải Phòng tại Lạch Huyện liên doanh giữa các doanh nghiệp Nhật Bản và  
Vinalines với số vốn 321 triệu USD... [1]  
2.2.3. FDI v o Hải Phòng n m 2012  
Hải Phòng đã thu hút được 31 dự án FDI đăng ký mới, tăng 40,9% so với năm 2011  
về số dự án, với tổng số vốn đầu tư đạt hơn 1,1 tỷ USD, tăng 12,6% về số vốn so với năm  
2011. Cùng với đó, năm 2012 thành phố Hải Phòng có 25 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn đã  
đưa tổng số vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm vào thành phố Hải Phòng trong năm 2012 đạt  
1,233 tỷ USD, tăng gấp 1,27% so với năm 2011.[2]  
Đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chiếm 64,1% tổng số dự án và 98,9% về số vốn đầu  
tư vào Hải Phòng trong năm 2012. Đây cũng là lĩnh vực địa phương có nhiều lợi thế và đang  
đẩy mạnh thu hút đầu tư. Một số dự án tương đối lớn, được đánh giá cao và do các tập đoàn  
có tên tuổi đầu tư đó là: dự án đầu tư nhà máy sản xuất lốp xe cao su của tập đoàn  
Bridgestone đến từ Nhật Bản; dự án có vốn đầu tư 574,8 triệu USD, sử dụng 102ha đất tại  
KCN Đình Vũ; dự án sản xuất thuốc tiêu chuẩn cao Nipro Pharma với tổng số vốn đầu tư 250  
triệu USD, sử dụng 15ha đất tại KCN VSIP; dự án sản xuất máy in, máy photocopy và máy  
đa năng của Fuji Xerox với tổng vốn đầu tư 119 triệu USD tại KCN VSIP…[3]  
Được đánh giá chiếm lĩnh thị trường FDI trên địa bàn thành phố là Nhật Bản và Hàn  
Quốc, hai đối tác này có số vốn đầu tư chiếm tới 40% tổng vốn FDI tại Hải Phòng, những  
năm qua chủ yếu cũng chỉ đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, bất động sản… Nhật Bản  
đầu tư vào công nghiệp chiếm tới 91% tổng vốn đầu tư.  
2.2.4. FDI v o Hải Phòng n m 2013  
Hải Phòng là địa phương đứng thứ 3 cả nước trong thu hút FDI với tổng số vốn đăng  
kí cấp mới và tăng thêm 2,73 tỉ USD (sau Thái Nguyên với tổng vốn đăng kí cấp mới và tăng  
thêm là 3,4 tỉ USD, Thanh Hóa với 2,921 tỉ USD). Dự án FDI quan trọng nhất đầu tư vào Hải  
Phòng năm 2013 là dự án của Tập đoàn LG (Hàn Quốc) vào KCN Tràng Duệ (thuộc Khu  
kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, Hải Phòng). Dự án có tổng vốn đầu tư 1,5 tỉ USD. Dự án FDI quan  
trọng thứ 2 ở Hải Phòng là việc tăng vốn đối với Dự án Bridgestone của nhà đầu tư Nhật  
Bản.[4]  
Trong năm 2013 Hải Phòng tập trung phát triển lĩnh vực có thế mạnh, mang tính đột  
phá là các ngành dịch vụ cảng biển, sân bay, du lịch, kinh tế biển và vận tải biển, logicstics,  
tài chính, xuất nhập khẩu... bằng việc khởi động nhiều dự án quan trọng về hạ tầng.  
Đó là khởi công xây dựng cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện (huyện Cát Hải) ngày 14-  
4-2013. Với độ sâu 14 mét, cảng Lạch Huyện có khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải lên đến  
100.000 tấn. Đây là một trong 2 cảng biển cửa ngõ quốc tế của nước ta năm trong quy hoạch  
phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, được Thủ  
tướng Chính phủ phê duyệt .  
2.2.5. FDI v o Hải Phòng n m 2014  
Tổng số dự án FDI cấp mới trên địa bàn thành phố là 60 dự án, tăng 160% so với năm  
2013. Tuy nhiên tổng số vốn đăng ký đạt 1,17 tỷ; giảm 57% so với năm 2013. Đồng thời vốn  
trung bình một dự án giảm còn 19,51 triệu USD/dự án.  
Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu vấn là công nghiệp chế biến chế tạo, kinh doanh bất động  
sản, xây dựng, nghệ thuật và giải trí.  
259  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Biểu đồ 1. Lĩnh vực đầu tƣ v o Hải Phòng đến hết n m 2014  
(Nguồn: bộ kế hoạch đầu tư – cục đầu tư nước ngoài)  
Biểu đồ 2. Top 10 quốc gia đầu tƣ v o Hải Phòng đến hết n m 2014  
(Nguồn: bộ kế hoạch đầu tư – cục đầu tư nước ngoài)  
Hiện nay đã có33 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Hải Phòng. Xét theo vốn đầu  
tư đăng ký thì Nhật Bản đứng đầu với 107 dự án và 3,3 tỷ USD vốn đăng ký (chiếm 25,4%  
tổng số dự án và 31,5% tổng vốn đầu tư), Hàn Quốc đứng thứ hai với 58 dự án và 2,7 tỷUSD  
vốn đăng ký (chiếm 13,7% tổng số dự án và 26,1% tổng vốn đầu tư), Hoa Kỳ đứng thứ ba với  
13 dự án và 1,2 tỷ USD vốn đăng ký (chiếm 3,1% tổng số dự án và 11,6% tổng vốn đầu tư).[5]  
Bảng 3. Hình thức FDI vào Hải Phòng đến hết n m 2014  
TT  
1
Hình thức đầu tƣ  
100% vốn nước ngoài  
Liên doanh  
Số dự án  
Tỷ trọng (%)  
71.24  
322  
92  
2
20.36  
3
Công ty cổ phần  
10  
2.21  
4
Hợp đồng hợp tác KD  
28  
6.19  
(Nguồn: bộ kế hoạch đầu tư – cục đầu tư nước ngoài)  
2.2.6. FDI v o Hải Phòng n m 2015  
Thành phố có 61 dự án đầu tư tăng 1,67% với tổng số vốn đầu tư 920,7 triệu USD giảm  
21,35% so với năm 2014; nâng tổng số vốn đầu tư vào thành phố Hải Phòng đến năm 2015 lên 11,6 tỷ  
USD. Phần lớn các dự án FDI là dự án sản xuất công nghiệp có công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi  
260  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
trường, dự án của các nhà đầu tư lớn có thương hiệu toàn cầu từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc... tập trung  
vào công nghiệp chế tạo, sản xuất điện tử, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng  
thông minh. Với lượng vốn thu hút mới gần 1 tỷ USD Hải Phòng đứng thứ 7 cả nước về thu hút FDI.  
Biểu đồ 3. Top 10 địa phƣơng thu hút FDI lớn n m 2015  
(Nguồn: Tổng cục thống kê)  
2.2.7. FDI vào Hải Phòng năm 2016  
Trong năm 2016 thành phố có 54 dự án đầu tư giảm 11,48% với tổng số vốn đầu tư  
3043,2 triệu USD tăng 2230,53 so với năm 2015; nâng tổng số vốn đầu tư vào thành phố Hải  
Phòng đến năm 2015 lên 15tỷ USD. Có thể nói đây là năm mà Hải Phòng có những bước đột  
phá mới về thu hút FDI, đưa Hải Phòng thành địa phương đứng thứ 3 cả nước sau thành phố  
Hồ Chí Minh và Hà Nội.  
Biểu đồ 4. Top 10 địa phƣơng thu hút FDI lớn n m 2016  
(Nguồn: Tổng cục thống kê)  
Các dự án lớn được cấp phép trong năm 2016 là: Dự án LG Display Hải Phòng, cấp  
phép ngày 15/4/2016, tổng vốn đầu tư đăng ký 1,5 tỷ USD do LG Display Co.,Ltd (Hàn  
Quốc) đầu tư với mục tiêu sản xuất và gia công sản phẩm màn hình OLED nhựa cho các thiết  
bị di động như điện thoại di động, đồng hồ thông minh, máy tính bảng....[6] Dự án nhà máy  
LG Innotek Hải Phòng, tổng vốn đầu tư đăng ký 550 triệu USD do LG Innotek Co.,Ltd (Hàn  
Quốc) đầu tư với mục tiêu sản xuất modul camera tại Hải Phòng.[6]  
Một số dự án tập trung vào công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chế tạo các thiết bị  
điện tử, chi tiết và linh kiện công nghiệp điện, điện tử, cơ khí, các sản phẩm đất hiếm... như:  
dự án sản xuất linh phụ kiện cho máy giặt, tủ lạnh và xe có động cơ với tổng vốn đầu tư 42,25  
261  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
triệu USD của nhà đầu tư SL Electronics Co., Ltd. (Hàn Quốc); dự án nhà máy kính năng  
lượng mặt trời Flat Việt Nam của Công ty TNHH Flat (Hồng Kông) với tổng vốn đầu tư 200  
triệu USD...  
Để tiếp tục tăng cường hoạt động thu hút FDI, ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành  
quyết định 12/QĐ-UBND năm 2016 về chiến lược thu hút vốn FDI của TP Hải Phòng giai  
đoạn 2016-2020.  
2.2.8. FDI vào Hải Phòng năm 2017  
Hiện nay, trên địa bàn Hải Phòng đã có 36 quốc gia và vùng lãnh thổ đến đầu tư.  
Trong 9 tháng đầu năm, tổng số vốn FDI thông qua cấp mới và tăng vốn tại thành phố Hải  
Phòng đạt hơn 870 triệu USD, chỉ bằng gần 30% kế hoạch năm 2017.[7] Nguyên nhân chính  
do các khu công nghiệp nằm ngoài khu kinh tế có ưu đãi thấp hơn nên gặp khó khăn trong thu  
hút đầu tư; thêm nữa, một số chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp năng lực và kinh nghiệm  
còn hạn chế, chưa quyết liệt trong đầu tư.  
Hải Phòng sẽ có những giải pháp để khắc phục những vấn đề còn tồn tại như: quy  
hoạch đất khu công nghiệp; tục nâng cấp, cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt đối với hạ  
tầng giao thông; chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương đẩy nhanh tiến độ các dự  
án lớn trên địa bàn thành phố. Dự kiến thu hút FDI sẽ đạt khoảng 1,1 tỷ USD trong năm 2017.  
Các dự án FDI tại Hải Phòng cơ bản tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, bất động  
sản và xây dựng, công nghiệp chế biến, chế tạo các thiết bị điện tử, chi tiết và linh kiện công  
nghiệp điện, điện tử, cơ khí... Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có 382 dự án,  
với hơn 10,7 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 67,7% số dự án và 74,2% tổng vốn đầu tư. Tiếp  
theo là hoạt động kinh doanh bất động sản và lĩnh vực xây dựng, lần lượt đứng thứ 2 và thứ 3,  
với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,37 tỷ USD và 832 triệu USD.[8]  
Cách mạng công nghệ 4.0 sẽ tác động mạnh tới một số ngành kinh tế cột trụ như:  
nhóm ngành năng lượng; nhóm ngành dệt may, giày dép, thủ công mỹ nghệ; nhóm ngành  
công nghiệp chế tạo trong đó nhóm ngành công nghiệp chế tạo chịu ảnh hưởng mạnh nhất vì  
nó luôn bị ảnh hưởng bởi những biến đổi của công nghệ trong kinh tế toàn cầu, cơ chế lan  
truyền công nghệ qua hoạt động xuất nhập khẩu. Các tập đoàn lớn đầu tư vào Hải Phòng như  
LG (Hàn Quốc); Bridgestone, Kyocera Mita, Fuji Xerox (Nhật Bản), các công ty của Hong  
Kong... chủ yếu là những dự án ứng dụng công nghệ cao, công nghệ chế tạo.  
3.KẾT LUẬN  
Trong vòng 6 năm trở lại đây, tổng số vốn FDI đăng ký vào Hải Phòng luôn nằm trong  
top 10 so với cả nước. Đạt được vị trí như vậy có thể do các nguyên nhân sau:  
Thứ nhất, Hải Phòng có lợi thế về vị trí địa lý mà trong hội nhập ít nơi được như vậy.  
Đó là nơi có cảng rất tốt, luôn đứng đầu khu vực phía Bắc, tập trung hàng hóa cho miền Bắc.  
Thứ hai, từ cơ sở hạ tầng giao thông, đến việc cải thiện môi trường đầu tư kinh  
doanh, Hải Phòng thực sự đã hội tụ đầy đủ các yếu tố, thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp  
đến đầu tư, đồng thời cũng sẽ là một điểm đến thành công của các nhà đầu tư.  
Theo đó, địa phương đã nâng cấp sân bay Hải Phòng, hoàn thành đường cao tốc Hà  
Nội – Hải Phòng, hoàn thành cầu và đường ra đảo Cát Hải, với 6 km - dài nhất Đông Nam Á,  
tập trung hoàn thành đường cao tốc Hạ Long-Hải Phòng vào năm 2017; đối với cảng quốc tế  
Lạch huyện tại đảo Cát Hải sẽ hoàn thành vào đầu năm 2018, để đón nhận các loại tầu lớn  
nhất của thế giới.  
Song song đó, thành phố đã khởi công tuyến đường ven biển, để kết nối với các tỉnh Quảng  
Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và tỉnh Thanh Hóa; đồng thời khởi công Cầu Hoàng Văn  
Thụ, để kết nối trung tâm thành phố với khu đô thị mới Bắc Sông Cấm.  
Với những đầu tư vào cơ sở hạ tầng như vậy không chỉ góp phần tăng thu hút FDI mà  
còn tạo thêm cơ hội thành công cho các nhà đầu tư nước ngoài.  
Thứ ba, thành phố có nhiều chính sách thu hút đầu tư, cải thiện môi trường kinh  
doanh, hỗ trợ doanh nghiệp, xúc tiến đầu tư. Đặc biệt phải kể đến Hải Phòng đã áp dụng cổng  
262  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
dịch vụ công trực tuyến cho phép các cơ quan hành chính Nhà nước phối hợp giải quyết thủ  
tục hành chính xuyên suốt trên môi trường mạng, đảm bảo cung cấp thông tin tự động, trực  
tuyến về tình trạng giải quyết hồ sơ, cấp phép, công khai thông tin về tình trạng giải quyết thủ  
tục hành chính trên cổng dịch vụ công trực tuyến thành phố. Doanh nghiệp và người dân có  
thể tham gia giám sát việc giải quyết hồ sơ thông qua mạng internet.  
Hơn nữa, Hải Phòng có truyền thống năng động, đi lên từ cơ sở công nghiệp miền Bắc  
và khá nổi tiếng.  
Việc hội tụ các yêu tố kể trên trong giai đoạn cách mạng 4.0 hiên nay thúc đẩy Hải  
Phòng phát huy tiềm lực, tiềm năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[7]  
ATTRACT FOREIGN DIRECT INVESTMENT INTO HAI PHONG  
IN INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
Abstract  
Attracting foreign direct investment (FDI) is a necessity for Vietnam in general and  
for provinces in particular. No exception, in recent years Hai Phong has many policies and  
measures to attract FDI and achieved considerable success. In the last 6 years, from 2011 to  
2016, Hai Phong is in the top 10 provinces attracting the largest FDI. By 2016, the city has  
564 projects with a total investment capital of nearly $ 15 billion. Major investors came from  
Korea, Japan, Taiwan, USA and Singapore. The main areas of investment are high  
technology, real estate, construction, which is typical of a number of billion-dollar investment  
projects from LG Display Korea, Bridgestone Japan.  
Keywords: foreign direct investment, investment capital, registered capital, projects,  
investors, sectors and localities.  
263  
pdf 7 trang Thùy Anh 13120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthu_hut_dau_tu_truc_tiep_nuoc_ngoai_vao_hai_phong_trong_cuoc.pdf