Thành hồ ở Phú Yên và mối liên hệ với các di tích Champa
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Quảng Vân Sơn
THÀNH HỒ Ở PHÚ YÊN VÀ MỐI LIÊN HỆ
VỚI CÁC DI TÍCH CHAMPA
HO CITADEL IN PHU YEN PROVINCE AND IT’S RELATIONSHIP
WITH OTHER RELICS OF CHAMPA
QUẢNG VÂN SƠN
TÓM TẮT: Thành Hồ ở Phú Yên được biết đến đầu tiên trong cuốn “Đại Nam nhất thống chí” với
cái tên thành cổ An Nghiệp. Thành Hồ đóng một vai trò như là trung tâm quyền lực về kinh tế, văn
hóa - xã hội, tôn giáo, chính trị trong khu vực. Cùng với thành Hồ, các di tích văn hóa Champa
trên địa bàn tỉnh Phú Yên còn khá nhiều, phần lớn đều là phế tích. Những năm gần đây nhiều tác
giả nghiên cứu về thành Hồ nhưng chưa xem xét vị thế, mối quan hệ thành Hồ với văn hóa
Champa, và khu vực lân cận (tiểu quốc Kauthara). Bằng góc nhìn khảo cổ học, bài viết sẽ trình
bày tổng quan di tích thành Hồ ở Phú Yên và xem xét mối quan hệ với các di tích Champa trong
khu vực thuộc tiểu quốc Kathaura - Champa ở miền Trung Việt Nam.
Từ khóa: thành Hồ ở Phú Yên; Khauthara - Champa; mối quan hệ; các di tích khác.
ABSTRACT: The Ho citadel in Phu Yen province was first known in "Dai Nam nhat thong chi"
with the name An Nghiep ancient citadel. Ho citadel plays a role as a powerful center of economy,
culture, society, religion, and politics in the region. Along with Ho citadel, there are quite many
other cultural relics of Champa in Phu Yen province, but most of them are ruins. In recent years,
many authors have studied the Ho citadel but have not yet considered the position and relation of
Ho citadel with Champa culture, and its vicinity (Kauthara belonging Kingdoms). From the
archaeological perspective, this article presents an overview of Ho citadel relic in Phu Yen and
considers its relation to the Champa relics in the region of Kathaura-Champa state in central
Vietnam.
Key words: Ho citadel in Phu Yen; Khauthara–Champa; realation; other relics.
văn hóa Champa ở tỉnh Phú Yên nói chung và
thành Hồ nói riêng là một công việc cần thiết
nhằm góp phần vào việc giữ gìn, phát huy giá trị
của di tích trong đời sống văn hóa đương đại.
2. NỘI DUNG
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vương quốc Champa tọa lạc ở miền Trung
Việt Nam từ thế kỷ II đến đầu thế kỷ XIX, địa
bàn kéo dài từ Đèo Ngang đến Bình Thuận.
Tỉnh Phú Yên và thành Hồ thuộc tiểu quốc
Khauthara-Champa. Vùng đất Phú Yên hiện tại
còn lưu lại nhiều dấu tích, di vật thuộc văn hóa
Champa như: Tháp Nhạn, thành Hồ, phế tích
tháp Núi Bà, phế tích tháp Phú Lâm, phù điêu
Phật Tuy Hòa, phù điêu Phật đất nung chùa Hồ
Sơn... Những di tích này có giá trị đặc sắc, đặc
biệt là thành Hồ. Chính vì thế, việc nghiên cứu
2.1. Quá trình nghiên cứu và phát hiện
Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc
sử quán triều Nguyễn, trong phần trình bày về
đạo Phú Yên có giới thiệu về thành Hồ như
sau: “Thành cổ An Nghiệp ở phía bắc sông Đà
Diễn, thuộc xã An Nghiệp huyện Tuy Hòa, chu
vi 1400 trượng; tương truyền do người Chiêm
129
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 22, Tháng 7 - 2020
Thành xây, tục gọi thành Hồ. Năm Mậu Dần
(1578) đời Thái Tôn bản triều, Quận công
Lương Văn Chánh đánh lấy được thành này,
nay vẫn còn nền cũ”, [15, tr.87]. Sách “Đại
Nam nhất thống chí” cũng có ghi chép về
Lương Văn Chánh như sau: “Lương Văn Chánh
người huyện Tuy Hòa, đầu bản triều làm chỉ huy
sứ, đánh được nước Chiêm Thành thăng Phụ
quốc Thượng Tướng quân, sau làm Tham Tướng
dinh Trấn Biên, có công chiêu tập dân phiêu tán
khai khẩn ruộng hoang, chết tặng Quận công,
phong phúc thần” [14, tr.93-94].
sông. Về cửa thành, mặt đông gần chỗ xẻ để
nước vào, trông như là có 1 cổng, mặt bắc có 2
cổng, ở hai đầu mặt tây của tòa thành chính
hình vuông có hai cổng, ở dãy rào bên ngoài
mặt tây gần góc tây nam có 1 và có thể là 2
cổng. Gạch xây thành rất lớn, dày hơn 0.10m,
màu đỏ thẫm có khi tím. Công trình được bổ
sung hoàn chỉnh bằng di tích Phước Tịnh, nằm
trên trục bắc nam bên kia sông Đà Rằng và bằng
một ngọn tháp, nằm trên trục đông tây, ở trên
quả đồi tiếp theo bức tường xiên, vị trí này được
nhận ra nhờ nhiều gạch vỡ đổ [9, tr.10-11], [2].
Về sau, các tác giả Việt Nam đều quan
tâm nghiên cứu, đề cập và bổ sung thêm tư liệu
về thành Hồ như Nguyễn Đình Tư, 1965, Non
nước Phú Yên; Ngô Văn Doanh, 1994, Tháp cổ
Champa sự thật và huyền thoại, cố Giáo sư
Trần Quốc Vượng, 2001, tư liệu khảo sát thành
Hồ, Nguyễn Danh Hạnh, 2010, “thành Hồ
chứng tích của một nền văn hóa cổ” …
Năm Tân Hợi (1611), Nguyễn Hoàng mở
rộng lãnh thổ, lấy đất từ đèo Cù Mông đến núi
Đá Bia (Thạch Bi), lập phủ mới là phủ Phú
Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa
thuộc dinh Quảng Nam. “Đại Nam thực lục” ghi
về sự kiện này như sau: “Tân Hợi, năm thứ 54
(1611), bắt đầu đặt phủ Phú Yên. Bấy giờ quân
Chiêm Thành xâm lấn biên giới. Chúa sai chủ sự
là Văn Phong (không rõ họ) đem quân đi đánh
lấy được (đất ấy), bèn đặt làm một phủ, cho hai
huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa lệ thuộc vào. Nhân
sai Văn Phong làm lưu thủ đất ấy” [14, tr.36].
Năm 1909, Henri Parmentier đã công bố
việc khảo sát di tích thành Hồ trong công trình
“Thống kê khảo tả các di tích Chăm ở Trung
kỳ”. Ngoài phần mô tả, ông còn thực hiện bản
vẽ thành, theo mô tả của H.Parmentier: thành
Hồ nằm bên tả ngạn sông Đà Rằng, cách cửa
sông Đà Rằng độ 15km. Tòa thành hình vuông,
cạnh 600m được xây chính hướng, mặt thành
nam bị mất một phần do sông xói lở. Khoảng
tam giác nằm giữa ngọn núi được bảo vệ bởi
một bức tường thành xuyên dọc sườn đồi.
Thành có hào rộng 30m bảo vệ mặt tường bắc
và đông khá cao, mặt tường còn lại rộng 3-5m.
Chỉ mặt được núi bảo vệ là không có tháp canh.
Mặt thành phía bắc có 6 tháp canh, mặt thành
phía đông có 7 tháp canh, kể cả tháp ở góc. Mặt
nam đã bị sụp lở, vẫn còn giữ ở góc tây hai cái
ụ, trong đó có môt cái ụ khá quan trọng, ở góc
thành, có thể được làm chòi cảnh giới mặt
Như vậy, mặc dù đã có nhiều công trình
nghiên cứu nhưng giữa các nhà nghiên cứu đã
có những quan điểm khác nhau trong việc định
niên đại cho di tích thành Hồ. Những ý kiến
của các nhà nghiên cứu đều dựa vào các căn cứ
vật chất (hiện vật) mà họ tìm được trong quá
trình khảo sát hay dựa vào các nguồn thư tịch
cổ. Đến nay, vấn đề niên đại có hai quan điểm
như sau:
Quan điểm cho rằng thành Hồ có niên đại
sớm, từ thế kỷ II đến thế kỷ thứ V, thuộc vào giai
đoạn đầu của việc hình thành nhà nước Champa.
Quan điểm cho rằng thành Hồ có niên đại
muộn hơn, khoảng thế kỷ XII và được sử dụng
kéo dài đến thế kỷ XVI, thuộc nữa cuối của sự
tồn tại nhà nước Champa.
Những ý kiến đã nêu, cần có những kết quả
khai quật khảo cổ tiếp theo mới làm sáng tỏ được.
2.2. Mối liên hệ giữa thành Hồ và các di tích
văn hóa Champa trên địa bàn Phú Yên
Cùng với thành Hồ, các di tích văn hóa
Champa trên địa bàn tỉnh Phú Yên hiện nay còn
lại khá nhiều nhưng phần lớn ở dạng phế tích vì
130
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Quảng Vân Sơn
thế việc nhận dạng các mối quan hệ của chúng
gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy, với những dấu vết
còn lại trên địa bàn, cộng với việc đối sánh với
các di tích còn tương đối nguyên vẹn ở miền
Trung vẫn cho phép chúng ta phát dựng những
mối quan hệ cơ bản giữa thành Hồ và hệ thống
di tích văn hóa Champa ở tỉnh Phú Yên. Tư liệu
vật chất cho thấy: thành Hồ và các di tích văn
hóa Champa ở khu vực này có mối quan hệ đa
chiều và đa tính chất. Đó là mối quan hệ giữa
thành Hồ với các di tích trên địa bàn dưới góc độ
không gian và thời gian.
trên (phía tây) của thành Hồ (tòa thành cổ của
Champa), sát quốc lộ 25 (tỉnh lộ 7 trước đây).
Sở dĩ núi có tên Dinh Ông là vì bên sườn
núi, có đền thờ Cao Các, vị tướng của Lương
Văn Chánh đã tử trận khi đánh thành Hồ vào
cuối thế kỷ XVI. Còn núi đối diện có tên Núi
Bà, vì trên núi có ngôi chùa thờ Bà của người
Việt. Chùa là của người Việt, những vị thần
được thờ và tượng thờ chính trong chùa là
tượng một nữ thần có ba đầu, sáu tay của người
Chăm xưa. Cả hai di tích đối diện nhau qua
dòng sông Đà Rằng, đều nằm trong khu di tích
cổ của Vương quốc Champa.
Khi so sánh mối tương quan giữa di tích
thành Hồ với các di tích văn hóa Chăm ở Phú
Yên, phần lớn các di tích đều tập trung ở đồng
bằng Tuy Hòa và nằm đối xứng với nhau hai
bên bờ sông Đà Rằng. Gần cửa biển về phía
bắc có di tích tháp Nhạn và di tích bia Chợ
Dinh, ở bờ Nam có di tích tháp Đông Tác. Đi
về phía tây đối diện với di tích thành Hồ ở bờ
Bắc là di tích tháp Bà ở bờ Nam. Đây là những
di tích được xây dựng trong nhiều thời kỳ khác
nhau. Di tích bia Chợ Dinh có niên đại vào
khoảng thế kỷ IV; di tích tháp Nhạn có niên đại
vào khoảng thế kỷ IX; di tích tháp Bà có niên
đại vào khoảng thế kỷ XII-XIV. Chúng ta thấy
rằng, nó phát triển liên tục và lâu dài của nền
văn hóa Champa ở Phú Yên. Trong đó di tích
thành Hồ đóng vai trò như là trung tâm của
đồng bằng Tuy Hòa. Do đó di tích thành Hồ có
thể xem là đầu mối quan trọng để tìm hiểu lịch
sử vùng đất Phú Yên, nhất là những thế kỷ đầu
Công nguyên đến thế kỷ XIV, XV.
Thêm một bằng chứng về khu di tích Núi
Bà được ông H.Parmentier mô tả: “Đối diện
với thành Hồ, ở bên kia sông Đà Rằng chảy
men thành, có một cái gò cây cối rậm rịt cao từ
50-60m. Gò thuộc một ngôi chùa gọi là Chùa
Bà và nằm trong địa phận làng Phước Tịnh,
tổng Hòa Bình, phủ Tuy Hòa. Trên đỉnh gò,
còn vết tích một ngôi đền Chăm. Kiến trúc xưa
còn lại có những đống gạch hỗn độn, những
phiến đá trang trí và tượng thần của ngôi đền
thì được tập trung trong ngôi chùa của người
An Nam cũng xây bằng gạch Chăm. Chỉ có
những phiến đá này là đáng lưu ý” [10, tr.282-
286]. Những hiện vật đáng lưu ý mà ông
H.Parmentier mô tả như sau:
“Một phiến đất nung dày 0.04 m, cao và
rộng 0.28 m x 0.21 m, đã bị vỡ thành mảnh,
nhưng vẫn còn đủ các phần. Trên mặt chính có
một hình Phật ngồi trên đài sen trước một cái
tán tạo bởi hình rắn Naga; hai bên hình Phật, có
hai cây tháp mảnh dẻ dựng trên những con thú
(không nhận ra chủng loại gì). Hình người ngồi
xếp bằng, hai bàn tay đặt trong lòng; đầu và sọ
nhọn lên, có thể là Usnisa (chỏm sọ của Phật),
có thể là một kiểu mũ kéo dài lên. Hình người
không đeo một vật trang sức nào. Trên lưng của
phiến đất nung có một dòng chữ.
Cũng xin nói thêm Núi Chùa Bà, là tên của
một quả đồi cao chừng 50-60m nằm sát ngay bên
bờ hữu ngạn sông Đà Rằng thuộc địa phận thôn
Mỹ Thạnh Đông, xã Hòa Phong, huyện Tuy Hòa,
tỉnh Phú Yên (cách Thành phố Tuy Hòa 11km về
phía tây nam. Từ Núi Chùa Bà, phía đối diện
thuộc tả ngạn (phía bắc) của dòng sông, có mỏm
núi cao tên là Dinh Ông. Một sự đối xứng hoàn
hảo: bên Tả - bên Hữu, Ông - Bà, Bắc - Nam,
Đền (hay dinh) - Chùa. Núi Dinh Ông nằm ở phía
Một trán cửa hình lá nhĩ bằng đá của một
khám giả (cao 0.47m, rộng 0.75m, dày 0.13m)
131
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 22, Tháng 7 - 2020
có đầu hình sư tử chạm nổi sơ sài với nanh to
và mắt cuốn thành sừng.
Tượng thần Ganesa bằng đá đã bị vỡ thể
hiện ở tư thế ngồi xếp bằng, tay phải đặt lên
đầu gối, tay trái bị vỡ nát nên không thấy được
tay có cầm chiếc bát đụng đầu vòi voi hay
không. Đầu tượng được tạc khá đẹp, đội một
Mukuta nhọn đầu có năm lớp. Có một dải
Bàlamôn vắt chéo trên tấm thân bụng phệ. Đồ
trang sức duy nhất còn nhận ra được là những
chiếc vòng bằng các hạt ngọc đeo ở bắp tay”.
Ngoài những hiện vật “đáng chú ý” kể
trên, ông H.Parmentier còn kể thêm một số
hiện vật khác: Một phiến đá hình lá nhĩ lớn
(rộng 0.90m, cao 1.20m) có hình người chỉ còn
đầu và thân. Đầu tượng đội một Mukuta hai
tầng cao, nhọn; Một chậu nước thánh (Yoni)
tương ứng với chiếc bệ đá đặt ở trong chùa,
trang trí hoa sen và những hạt ngọc nổi lên như
những hình vú; Phiến đá có hình hoa sen làm
bệ cho chóp tháp bằng đá (cạnh rộng 1m, cao
0.35m); Một bộ phận của phiến đá nóc; Một
loại đá điểm góc, trong đó hai chiếc có hình
Makara; Một hình bò Nandin ở đỉnh tháp bị vỡ
làm hai mảnh.
Một pho tượng đứng gắn vào một tấm bia
có trang trí ở mặt sau (rộng 0.40m, cao 1.30m,
dày 0.25m). Tượng đứng thẳng, mặc ở phía
dưới một sampot (váy quần), ở phía trên một
chiếc áo lót có dải ngang, đội trên đầu một
Mukuta (mũ giữ tóc), có nhiều hình trang trí
trên thân tượng, có một dải Bàlamôn vắt chéo.
Tượng mang nhiều đồ trang sức.
Một trán cửa hình lá nhĩ bằng đá (rộng
0.65m, cao 0.85m, và dày 0.23m ở chỗ có hình
chạm) chạm hình người thể hiện nữ thần
Lakshmi bốn tay ngồi xếp bằng trên một cái
đệm bằng lá sen. Nữ thần có thân hình mảnh và
dài, có cặp vú nhô cao; đôi tay đằng trước song
song với đùi, cầm búp sen; đôi tay đằng sau
đưa lên cao gần bằng vai, cầm chiếc tù và ở tay
trái và chiếc đĩa rỗng ở tay phải; đầu đội một
Mukuta cao và nhọn; thân mặc một chiếc áo lót
mỏng dính vào người làm nổi chỏm nhọn của
cặp vú; đôi chân khoác một tấm sarong (vải
quấn làm váy) với vạt trước gấp nếp. Tượng
đeo nhiều đồ trang sức, trong đó có thể thấy
những chuỗi vòng đeo ở thùy tai căng dài.
Một hình tượng đục trên một phiến đá có
khắc chữ (rộng 0.40m, cao 0.85m, dày 0.24m ở
chỗ chạm hình người). Tượng người là thần
Shiva ngồi trên bò Nandin với chân trái để
thõng, chân phải co gập lên xếp bằng. Các tay
gập lại, tay phải cầm kiếm, tay trái đưa ra xa
ngực và cầm một cái đinh ba. Giữa trán có một
dấu dọc hình hạnh nhân thể hiện con mắt thứ
ba của thần. Một dải Bàlamôn hình con rắn vắt
bắt chéo trước ngực. Đầu đội một Mukuta hai
tầng, phía trước trang trí hình ngọc. Y trang phục
gồm một chiếc áo lót thêm viền ở cổ, một chiếc
sampot có vạt trước lớn, thắt lưng rộng đeo tua có
bốn hạt ngọc và nhiều đồ trang sức. Con bò
Nandin được tạc thô như thường lệ, cổ đeo vòng
nhạc, đuôi quắp ra trước. Trên lưng phiến đá và ở
chính giữa bia ký có ba lỗ khá to (có thể là để
dùng bắt phiến đá vào một vách đứng).
Một số những hiện vật vừa kể trên có chữ
khắc phía sau. Theo H.Parmentier, ở tượng
Phật đất nung, có một câu công thức của Phật
giáo “Ya dharma” và bốn dòng chữ thuộc thế
kỷ VI Saka; tấm bia tượng (hiện vật đáng chú ý
thứ ba đã được mô tả ở trên) viết bằng chữ
Chăm, có 14 dòng; bi ký trên phiến đá viết
bằng chữ Chăm” [10, tr.282-286].
Cuối năm 1990, cán bộ Bảo tàng tổng hợp
tỉnh Phú Yên cùng các nhà khảo cổ ở Viện
Khảo cổ học đã tiến hành khai quật khu di tích
Núi Bà. Các nhà khảo cổ đã làm lộ ra phần
móng ngôi tháp nằm chính giữa mặt bằng đỉnh
Núi Bà. Móng tháp có bình đồ vuông, mỗi cạnh
dài 8.60m và có tường dày 2.30m. Gạch xây
móng có màu đỏ son hoặc vàng nhạt được nung
già, độ cứng cao. Kích thước gạch thường là
35cm x 15cm x 6cm và 40cm x 19cm x 8cm.
Cũng trong đợt khai quật này, Bảo tàng đưa
132
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Quảng Vân Sơn
hầu hết những hiện vật đá Champa của khu di
tích Núi Bà về kho để bảo quản [6, tr.54-61].
Các hiện vật đã được đem về có nhiều
loại, nhưng đáng lưu ý và có giá trị là một số
những hiện vật mà ông H.Parmentier chưa phát
hiện ra. Đó là: “Viên đá trang trí góc phần trên
thân tháp (hiện vật ký hiệu 90NB:06) dài
1.15m, bản rộng nhất 0.85m, chỗ hẹp nhất
0.45m, dày 0.15m, thể hiện mặt thủy quái
Makara nhìn nghiêng; Mảnh phù điêu thể hiện
Linga - Yoni bằng đá (ký hiệu 90NB:11) có
hình trái tim. Linga được tạc chạy dọc ở chính
giữa hình phù điêu và hình Yoni; Phù điêu đá
thể hiện thần Garuda nhìn nghiêng. Ngoài ra,
Bảo tàng còn đem cất giữ cả những vật liệu xây
dựng và các trang trí kiến trúc của ngôi tháp cổ
đã đổ nát. Đó là: Bốn trụ cửa bằng đá vuông
(rộng từ 0.25m đến 0.35m và dài từ 2.70m đến
3m); Một mi cửa bằng đá dài 2.70m, rộng
0.37m và dày 0.27m; Mười chóp đá với trang
trí hình tháp trên các tầng của tháp được tạo
dáng như nhau với phần dưới là đế hình vuông,
phần trên hình trụ tròn nhô lên từ hai lớp cánh
sen (kích thước: cao từ 0.33m đến 0.40m; cạnh
đế từ 0.60m đến 0.63m); Một phiến đá hình
cánh cung được khắc tạc hoa văn hình lá lật
lượn cong (kích thước: dài 0.80m, rộng 0.14m
và dày 0.10m); Hai mươi hai hình trang trí
điểm góc các tầng tháp bằng đá và bằng đất
nung” [10, tr.286-288].
đã từng là một trung tâm tôn giáo lớn và quan
trọng của Champa. Với kích thước tường dày
2.30m và bình đồ vuông lớn (cạnh dài 8.60m),
ngôi tháp chính ở Núi Bà xưa phải cao trên 20m,
tương đương ngôi tháp chính Pô Krông Girai ở
Phan Rang (tường dày 2.14m, cạnh dài 8.20m và
chiều cao 22.30m).
Ngôi tháp ở Núi Bà không còn nữa, vì vậy,
việc định niên đại cho tòa kiến trúc này, chỉ có
cách duy nhất là nghiên cứu phong cách của
các thành phần kiến trúc còn lại. Mà một trong
những thành phần kiến trúc có nhiều và đã
được tìm thấy ở Núi Bà là các hình điểm góc
bằng đá. Do có hình dáng giống đuôi chim
Phượng, nên người dân địa phương thường gọi
các đá điểm góc mà họ phát hiện được ở Núi
Bà là những “hình đuôi Phượng”. Chúng tôi đã
xem những hình đuôi phượng này và nhận thấy
chúng là một khối trang trí đặc có đầu nhọn
vểnh lên uốn cong về phía trước như một cái
móc. Dọc theo hình đuôi phượng có một đường
gờ nổi lên. Ngoài ra, ấn tượng về chiếc đuôi
phượng còn được nhấn mạnh bằng những chĩa
nhỏ nhô ra từ khối móc lớn. Theo các nhà
nghiên cứu, những nét vừa mô tả lại là những
đặc trưng cơ bản tạo nên kiểu đá điểm góc phổ
biến của các tháp cổ Champa thuộc phong cách
Bình Định (thế kỷ XII-XIV), những hiện vật
trên hiện được trưng bày ở Bảo tàng tỉnh Phú
Yên [10, tr.289]. Có thể dễ dàng nhận thấy
những đá điểm góc của Núi Bà giống với các
đá điểm góc của các ngôi tháp Champa ở tỉnh
Bình Định, như các tháp Thủ Thiện, Cánh Tiên
và của ngôi tháp Pô Krông Girai ở Phan Rang
tỉnh Ninh Thuận.
Nếu đem so với những gì mà ông
H.Parmentier đã thấy và mô tả, thì hiện nay một
số hiện vật quan trọng đã mất: Hình Phật bằng
đất nung; Pho tượng đứng gắn với tấm bia có
chữ phía sau; Lá nhĩ bằng đá có hình nữ thần
Lakshmi; Hình thần Shiva ngồi trên bò Nandin
được khắc trên một phiến đá có chữ; Tượng thần
Ganesa. Tuy vậy, những gì còn lại ở tháp cổ Núi
Bà, cho đến nay, vẫn là mảng hiện vật cổ
Champa lớn nhất, phong phú nhất của Bảo tàng
tổng hợp tỉnh Phú Yên.
Trong số những hiện vật thuộc loại này
dùng để trang trí cho ngôi tháp ở Núi Bà, có
một đầu Makara rất đẹp. Theo nhận xét của
Ngô Văn Doanh, đầu Makara này là thành phần
bên ngoài của một thanh đá trang trí điểm góc
lớn. Trên hình Makara ở Núi Bà, còn giữ lại tất
cả những thành tố vốn có của Makara Champa
thời kỳ đầu, mà tiêu biểu là các Makara của
Những dấu tích và những hiện vật đã được
phát hiện còn chứng tỏ khu vực Núi Bà xưa kia
133
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 22, Tháng 7 - 2020
phong cách Mỹ Sơn A1 (thế kỷ X) với các nét
đặc trưng: có một vòi cuốn về phía trước. Một
loạt răng nanh lớn ở hàm trên và một răng nanh
ở hàm dưới, mắt tròn mở ra dưới một vòng
lông mày biến thành đường nổi cong trang trí,
toàn bộ chiếc đầu bị lấn bởi yếu tố trang trí lớn
hình ngọn lửa. Thế nhưng, ở Makara Núi Bà,
đã có một số thay đổi lớn: chiếc vòi không uốn
cong đầu ra mà lại xoắn vào phía trong; một
chiếc răng nanh ở hàm trên dài và cong về phía
vòi trông như ngà voi; hai chiếc răng nanh (một
ở hàm trên và một ở hàm dưới) to và dài ra,
làm quăn cả hai làn môi; dưới cằm có bộ râu
ngắn; sọ biến mất kéo theo cả việc mất đi cái
tai. Rõ ràng, ở Makara Núi Bà, đã diễn ra
những thay đổi như ở các hình Makara tiêu
biểu của phong cách điêu khắc Tháp Mắm (hay
phong cách nghệ thuật kiến trúc Bình Định),
[9], [10]. Tóm lại, qua một số yếu tố trang trí
kiến trúc, có thể xác định ngôi tháp cổ Champa
ở Núi Bà được xây dựng vào khoảng thời gian
từ thế kỷ XII đến XIV (thuộc phong cách kiến
trúc Bình Định hay phong cách nghệ thuật
Tháp Mắm).
thuật, mà tài liệu bia ký cũng cho chúng ta
niên đại tương ứng. Do bị mờ nên không thể
đọc được hết các dòng bia ký, rất may là
những chữ đọc được lại là những chữ viết về
một niên đại: năm 1333 Saka (tức năm 1411
sau Công nguyên) [10, tr.290-291].
Qua những hình tượng thể hiện trên các
vật thờ và các vật trang trí đã được biết, như
Linga, Yoni, tượng Shiva, hình Lakshmi, tượng
Ganesa… có thể nhận thấy tính chất Shiva giáo
rất rõ của ngôi đền tháp cổ Champa trên Núi Bà
thời xưa.
Thế nhưng, cũng những hiện vật đã được
tìm thấy ở Núi Bà còn cho chúng ta những
chứng cứ rất xa xưa của di tích Núi Bà. Trong
số những hiện vật mà ông H.Parmentier tìm
thấy và khảo tả, có một hiện vật có niên đại khá
sớm: phiến đất nung có hình Phật ngồi và có
chữ phía sau. Theo H.Parmentier, ở hình Phật
đất nung này, có một câu công thức của Phật
giáo “Ya dharma” và bốn dòng chữ thuộc thế
kỷ VI Saka (thế kỷ VI và VII Công nguyên).
Trong công trình “Nghệ thuật tạc tượng
Champa” của mình, J.Boisselier đã xếp bức
phù điêu nhỏ đất nung ở Phước Tịnh này vào
nhóm những bức tượng Phật giáo Champa
thuộc thời kỳ trước thế kỷ VII [10, tr.292].
Gần 100 năm sau khi khu di tích Núi Bà
hay Phước Tịnh được phát hiện (tháng 7 năm
1999), nhân dân địa phương tình cờ phát hiện
một tác phẩm điêu khắc đá rất đặc biệt ở khu
vực gần Núi Bà (thôn Mỹ Thạnh Tây, xã Hòa
Phong, huyện Tuy Hòa). Sau khi nghiên cứu kỹ
hình khắc, Ngô Văn Doanh cho rằng: tác phẩm
điêu khắc đá Mỹ Thạnh Tây là hiện vật cổ
Champa thể hiện nội dung Phật giáo và có niên
đại khá sớm. Tuy đã bị vỡ mất phần trên,
nhưng vẫn dễ dàng nhận ra phiến đá mang hình
điêu khắc là phiến đá sa thạch hình trứng, cao
0.97m, rộng 0.65m và dày 0.10m. Trên một
mặt của phiến đá, là hình đức Phật ngồi trầm tư
trên tấm trải đặt trên bông sen nở xòe. Hình
đức Phật bao chiếm toàn bộ phần trên của
Thế nhưng, qua những mô tả của
H.Parmentier, ba hiện vật lớn là pho tượng
đứng gắn vào tấm bia, chiếc lá nhĩ có hình nữ
thần Lakshmi (có thể là tượng mà nhân dân địa
phương gọi là tượng Bà) và tượng thần Shiva
ngồi trên bò Nandin đều có một nét rất chung là
cả ba đều mặc một chiếc áo lót mỏng dính vào
người. Mà theo các nhà nghiên cứu, chiếc áo lót
mặc dính vào thân mình là một trong những tiêu
chí hay đặc điểm quan trọng trong nghệ thuật tạc
tượng người của phong cách điêu khắc Tháp
Mắm. Hơn thế nữa, tượng đứng, nữ thần
Lakshmi và đầu một hình người khắc trên lá nhĩ
đều đội một bộ giữ tóc (Mukuta) cao, nhọn, kiểu
đồ đội tiêu biểu của phong cách Tháp Mắm [9].
Như vậy, có thể nhận thấy khu đền tháp
Bàlamôn giáo ở Núi Bà được xây dựng và tồn
tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIII đến
thế kỷ XV. Không chỉ các tác phẩm nghệ
134
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Quảng Vân Sơn
phiến đá. Đức Phật được thể hiện ngồi xếp
bằng với chân trái gác lên chân phải, người
thẳng, hai tay buông xuống đặt trước bụng. Một
đường gân nổi cong chạy từ vai này sang vai
kia thể hiện vòng hào quang phía sau đầu Phật.
Dù những nét khắc vạch nông và thô phác,
nhưng vẫn nhận thấy hình đức Phật có đôi tai to
với thùy tai chảy dài gần chấm vai, mặt lim
dim, mũi ngắn nở rộng ra hai cánh, Tuy đã bị
vỡ, nhưng vẫn nhận thấy đầu đức Phật hơi nhọn
về phía đỉnh đầu. Đức Phật ngồi trầm tư trên
một tấm trải cùng với hai hình tháp đối xứng ở
hai bên. Cả hai ngôi tháp đều có hình dạng và
cấu trúc giống nhau, gồm: đế hình vuông, thân
hình tròn, đỉnh hình lọng ô có 10 tán chĩa ra hai
bên và hình tròn trên chóp.
cân đối; còn hai hình tháp thì được thể hiện
không chỉ không cân xứng mà còn đổ nghiêng
xiêu vẹo. Duy chỉ có hình bông sen là được thể
hiện thật sinh động và khá khéo léo.
Tất cả những đặc trưng tạo hình ít nhiều
mang tính tự nhiên và hơi vụng khiến chúng tôi
nghĩ rằng, hình khắc Mỹ Thạnh Tây là một tác
phẩm nghệ thuật dân gian. Tính dân gian còn
được thể hiện ở chỗ, trên mặt phiến đá bên
ngoài các hình ảnh được thể hiện (hình đức
Phật, hình hai ngôi tháp và hình đóa sen), và có
chữ Sanskrit. Theo chúng tôi, những đặc trưng
nghệ thuật của hình khắc đá Mỹ Thạnh Tây có
nhiều nét gần với các hình khắc trên các lá
vàng tìm thấy trong các di chỉ của văn hóa Óc
Eo và ở Cát Tiên thế kỷ VII-VIII.
Toàn bộ phần dưới của phiến đá mang
hình một đóa sen nở xòe, nhô lên đỡ lấy hình
đức Phật cùng hai hình tháp tọa lạc trên tấm
thảm. Chỉ bằng những nét khắc nông, nhẹ
nhàng, uyển chuyển, người nghệ nhân Champa
xưa đã làm hiện lên một đóa sen hai lớp cánh:
các cánh sen của lớp dưới ngửa, uốn cong
xuống, còn các cánh sen của lớp trên xòe ra và
hướng lên trên để làm ngai đỡ hình đức Phật.
Toàn bộ bông sen đang nở xòe trên đầu một
cuốn sen thẳng nhô cao.
Như vậy là, những hiện vật vật chất đã
được phát hiện ở xung quanh Núi Bà đã chứng
tỏ khu di tích này đã từng tồn tại trong một thời
gian dài (từ thế kỷ VII-VIII đến thế kỷ XV) và
qua hai thời kỳ: thời kỳ là ngôi đền Phật giáo
và thời kỳ là đền thờ Bàlamôn giáo.
3. KẾT LUẬN
Văn hóa Champa - một nền văn hóa đầy
bản sắc dân tộc phát triển trong thời gian dài đã
tạo nên sắc thái văn hóa riêng biệt trong cộng
đồng dân tộc Việt Nam. Nhìn chung, thành Hồ
còn giữ được khá nguyên vẹn cho đến hiện tại
trong tổng số các tòa thành cổ của người Chăm.
Toàn bộ các bờ tường thành còn khá nguyên
vẹn, trừ bờ thành phía nam bị sông Đà Rằng
xâm hại, chỉ còn lại một đoạn ngắn. Trong phạm
vi nội thành vẫn còn dấu vết của hai khu, khu
thành nội và thành ngoại.
Nếu hình bông sen được thể hiện bằng
những đường nét khắc và hiện lên như một
hình vẽ thì các hình tháp và đức Phật phía trên
lại là những hình được thể hiện bằng những
khối hình dẹt, phẳng hơi nhô lên khỏi bề mặt
phiến đá do phàn trống còn lại của bề mặt
phiến đá bị đục sâu xuống chừng 1mm. Do vậy,
nếu nhìn vào tác phẩm chạm khắc này, sẽ thấy
toàn bộ những hình ảnh trên bề mặt phiến đá
hiện lên như một bức tranh đồ hoạ hơn là một
tác phẩm phù điêu.
Những nhóm di tích Chăm cổ khu vực Núi
Bà có mối liên quan mật thiết với nhóm di tích
cùng thời ở vùng Phú Hòa (Phú Yên), đặc biệt
thành Hồ đã tạo thành một khu vực văn hóa -
kinh tế - chính trị có quy mô lớn và quan trọng
ở hạ lưu sông Đà Rằng trong những thế kỷ đầu
Công nguyên. Chính sự có mặt của những di tích
này càng củng cố thêm vị trí quan trọng của lưu
vực sông Đà Rằng những thế kỷ trước và sau
Một điều đặc biệt nữa ở tác phẩm chạm
khắc đá Mỹ Thạnh Tây này là tính “thô phác”
hay “non kém” trong biểu hiện nghệ thuật tạo
hình. Các đường nét và các mảng hình khân
cân, và vì điều đó mà hình đức Phật hơi bị mất
135
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 22, Tháng 7 - 2020
Công nguyên cũng như giúp khẳng định chắc
chắn hơn thành Hồ là trung tâm hành chính,
chính trị, quyền lực và tôn giáo của Lâm Ấp.
Thành Hồ cùng với các di tích văn hóa
Chăm khác ở Phú Yên nằm trong tổng thể
chung của các di tích Chăm ở miền Trung
không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà đã trở
thành những địa điểm hấp dẫn về mặt du lịch.
Thêm vào đó, di tích thành Hồ là một công
trình kiến trúc, quân sự được xây dựng với
những tính toán rất kỹ về địa hình cũng như vị
trí chiến lược vừa nhìn ra đồng bằng và biển
vừa án ngữ vừa bảo vệ lối cửa thông lên vùng
cao nguyên rộng lớn và trù phú; nó có giá trị về
nhiều mặt, cần được nghiên cứu một cách khoa
học, cụ thể để từ đó đưa ra những kế hoạch,
phương án hợp lý trong công tác bảo tồn di sản
văn hóa của Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đặng Văn Thắng, Quảng Vân Sơn, Hoàng Ngọc Hòa, Phạm Thị Trúc Lệ, Võ Tấn Hoàng, Đặng
Tấn Bình (2009), Báo cáo thăm dò, khai quật Khảo cổ học di tích thành Hồ (Phú Hòa -Phú Yên)
lần thứ IV- 2008 và 2009, tư liệu Bảo tàng Phú Yên.
[2] H.Parmentier (1918), Thống kê khảo tả các di tích Chàm ở Trung Kỳ (Bản dịch tiếng Việt), tập
2, Paris, tư liệu Viện Khảo cổ học Việt Nam.
[3] Lâm Thị Mỹ Dung, Nguyễn Anh Thư (2009), Cổ Lũy - Phú Thọ trong bối cảnh khảo cổ học
Champa nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên, Tạp chí Khảo cổ học, số 1(157).
[4] Lý lịch di tích thành Hồ (2003), tư liệu Bảo tàng Phú Yên.
[5] Lê Bá Thảo (2003), Thiên nhiên Việt Nam, Nxb Giáo dục.
[6] Lê Đình Phụng, Nguyễn Tiến Đông (1992), Núi Bà - Dấu tích một tháp Champa cổ, Tạp chí
Khảo cổ học, số 3.
[7] Lê Đình Phụng, Phạm Văn Triệu (2004), Báo cáo khai quật di tích khảo cổ học thành Hồ (Phú
Hòa - Phú Yên), Hà Nội, tư liệu Bảo tàng Phú Yên.
[8] Ngô Văn Doanh (2001), thành Hồ - cửa ngõ châu Thượng Nguyên (Tây Nguyên) của Champa,
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5.
[9] Ngô Văn Doanh (2002), Văn hóa cổ Champa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
[10] Ngô Văn Doanh (2011), Thành cổ Champa -Những dấu ấn của thời gian, Nxb Thế giới, Hà Nội.
[11] Nguyễn Danh Hạnh (2010), thành Hồ chứng tích của một nền văn hóa cổ, Tạp chí Thông tin
Di sản, số 5.
[12] Nguyễn Đình Tư (2004), Non nước Phú Yên, in lần thứ 2, Nxb Thanh Niên.
[13] Piérre-Bernard LAFONT (2011), Vương quốc Champa-Địa Dư, Dân Cư và Lịch Sử,
International Office of Champa, USA.
[14] Quốc Sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam nhất thống chí, (Bản dịch) tập 3, Nxb Thuận Hóa.
[15] Nguyễn Ngọc Tỉnh (2007), Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 2, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
Ngày nhận bài: 02-01-2020. Ngày biên tập xong: 30-6-2020. Duyệt đăng: 24-7-2020
136
Bạn đang xem tài liệu "Thành hồ ở Phú Yên và mối liên hệ với các di tích Champa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thanh_ho_o_phu_yen_va_moi_lien_he_voi_cac_di_tich_champa.pdf

