Triều Nguyễn với việc xây dựng lực lượng quân sự chính quy tại chỗ ở Tây Bắc (1802-1890)

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
Khoa học Xã hội  
Phạm Văn Lực (2021)  
(23): 42 - 49  
TRIỀU NGUYỄN VỚI VIỆC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ  
CHÍNH QUY TẠI CHỖ Ở TÂY BẮC (1802-1890)  
Phạm Văn Lực  
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2  
Tóm tắt: Bài viết đề cập khái quát về Tây Bắc, tình hình lực lượng đồn trú ở Tây Bắc trước thế kỷ XIX, một số  
chính sách của triều Nguyễn nhằm củng cố hệ thống phòng thủ và xây dựng lực lượng quân sự chính quy tại chỗ  
(thổ dõng) làm nhiệm vụ đồn trú, thường trực chiến đấu ở Tây Bắc, cùng những kết luận, nhận định được rút ra.  
Từ khóa: Triều Nguyễn, Tây Bắc, quân đội chính quy.  
1. Đặt vấn đề  
(XV), Tây Bắc là vùng 16 châu Thái: Mường Lò,  
Mường Tiến (hay còn gọi là Chiêu Tấn, đến năm  
1909 thực dân Pháp đổi là Than Uyên), Mường  
Tấc (PhùYên), Mường Sang (Mộc Châu), Mường  
Vạt (Yên Châu), Mường Mụa (Mai Sơn), Mường  
La, Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Thanh  
(Điện Biên), Mường Lay, Mường Tùng (Tùng  
Lăng), Mường Hoàng (Hoàng Nham), Mường  
Tiêng (Lễ Tuyền), Mường Chiềng Khem (Châu  
Khiêm) Mường Chúp (Tuy Phụ), Mường Mi  
(Hợp Phì) [9, tr.37].  
Trong lịch sử cũng như hiện nay, vùng Tây  
Bắc có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng cả về  
kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và trong  
quan hệ giao lưu quốc tế. Để giữ yên vùng đất  
được coi là phên giậu đặc biệt quan trọng của Tổ  
quốc, các triều đại phong kiến trước đây đã rất  
vất vả và thường xuyên phải mang đại quân từ  
kinh đô lên đánh dẹp. Từ bài học thực tế trong  
lịch sử, triều Nguyễn đã kế thừa, phát triển chính  
sách đối với vùng biên cương của các triều đại  
Lý, Trần, Lê, để xây dựng lực lượng quân sự  
chính quy tại chỗ ở Tây Bắc và đã mang lại hiệu  
quả tốt. Trong phạm vi của bài viết, tôi xin làm  
rõ thêm vấn đề này, cụ thể như sau:  
Đến đời Mạc Kính Khoan (1623-1638) có 6  
châu là: Tùng Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ  
Tuyền, Tuy Phụ và Khiêm bị triều đình phong  
kiến Mãn Thanh cướp mất, Tây Bắc chỉ còn 10  
châu [1, tr.12]1.  
2. Nội dung  
Thời Tây Sơn, vua Quang Trung đã làm một  
biểu gửi vua Thanh đòi lại 6 châu bị cướp mất  
nhưng không được chấp nhận.  
2.1. Khái quát về Tây Bắc  
Tây Bắc là cách gọi theo phương vị, chỉ vùng  
đất nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, lấy Thủ  
đô Hà Nội làm chuẩn.  
Đến triều Nguyễn (XIX), Tây Bắc được gọi  
là vùng “Thập Châu” thuộc tỉnh Hưng Hoá, cụ  
thể là các châu sau: Mường Lò, Mường Tiến  
(hay còn gọi là Chiêu Tấn, đến năm 1909 thực  
dân Pháp đổi là Than Uyên), Mường Tấc (Phù  
Yên), Mường Sang (Mộc Châu), Mường Vạt  
(Yên Châu), Mường Mụa (Mai Sơn), Mường  
La, Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Thanh  
(Điện Biên), Mường Lay.  
Từ thời các Vua Hùng dựng nước chia  
nước ta thành 15 bộ, Tây Bắc nằm trong Bộ  
Tân Hưng. Trong Dư địa chí Nguyễn Trãi viết  
“Hưng Hoá xưa thuộc bộ Tân Hưng” [13; tr.17].  
Dưới triều Lý (1010-1225), Tây Bắc thuộc  
châuLâmTây, châuĐăng.ThờiTrần(1226-1400),  
Tây Bắc thuộc đạo Đà Giang, Quy Hóa, sau đổi là  
trấn Thiên Hưng. Trấn Thiên Hưng, có hai châu  
Sau khi bình định được Tây Bắc cuối thế kỷ  
(phủ) là Gia Hưng và Quy Hoá. Đến thời Hậu Lê XIX, thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để  
1
Có tài liệu cho rằng đến thời Vua Lê Cảnh Hưng (1740-1768) có 6 châu là: Tùng Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ  
Tuyền, Tuy Phụ và Khiêm bị triều đình phong kiến Mãn Thanh cướp mất, Tây Bắc chỉ còn 10 châu.  
42  
trị. Ngày 10/10/1895, Toàn quyền Đông Dương ra các tù trưởng Châu Đăng (Tây Bắc). Mùa đông  
năm 1036, nhiều nơi thuộc châu Đăng (Tây  
Bắc) và vùng biên ải Tây Bắc các tù trưởng tộc  
trưởng lại tụ tập nhau làm phản; tháng 1/1037,  
vua Lý Thái Tông phải thân chinh dẫn đại binh  
đi đánh dẹp và cử Khai Hoàng vương Lý Nhật  
Tôn làm Đại nguyên soái tiến vào các châu Đô  
Kim, Thường Tân, Bình Nguyên. Trong vòng  
một tháng, đạo quân do Vua Lý chỉ huy đã trừ  
được đạo phản ở châu Lâm Tây (Tây Bắc), khôi  
phục được sự bình yên. Trong những năm 1064  
và 1065, Triều đình phong kiến Trung ương  
cũng phải mang quân đi đánh dẹp phản tặc ở  
nhiều nơi thuộc khu vực động Ma Sa và châu  
Mang Quán thuộc Tây Bắc. Sau nhiều lần bị  
đánh dẹp“các thủ lĩnh Ngưu Hống (chúa Thái)  
ở Tây Bắc mới chịu thần phục chính quyền  
Trung ương và thường xuyên làm nghĩa vụ cống  
nạp cho Triều Lý” [2, tr.267-269].  
nghị định bãi bỏ Tiểu quân khu Vạn Bú, thành lập  
tỉnh Sơn La. Ngày 11/4/1900 Toàn quyền Đông  
Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Yên Bái. Ngày  
12/7/1907 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định  
bãi bỏ Đạo Quan binh thứ 4, chuyển Lào Cai sang  
chế độ cai trị dân sự để lập thành tỉnh Lào Cai.  
Đến ngày 28/6/1909, Toàn quyền Đông Dương ra  
nghị định thành lập tỉnh Lai Châu.  
Cho đến nay, vẫn còn nhiều quan niệm khác  
nhau về địa giới của Khu Tây Bắc, nhưng dưới  
góc độ lịch sử, Tây Bắc bao gồm các tỉnh: Sơn  
La, Lai Châu, Điện biên, Lào Cai, Yên Bái và  
một phần của tỉnh Hòa Bình. Tây Bắc là địa bàn  
sinh sống lâu đời của 30 dân tộc anh em: Kinh,  
Mường, Thổ, Dao, Mông, Kháng, Khơ Mú,  
Mảng, Xinh Mun, Cơ Lao, La Chí, La Ha, Tày,  
Thái, Nùng, Lào, Lự, Giáy, Cao Lan, Sán Chỉ,  
Bố Y, Hoa, Sán Dìu, Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô  
Lô, Phù Lá, Si La, Pu péo [7, tr.108].  
* Dưới triều Trần, vào năm 1329 (Khai Thái,  
năm thứ 6, mùa đông), các chúa Thái lại “nghiêng  
ngả” bất phục triều đình, họ đã liên kết với một  
số toán cướp ở Lào và Miến Điện cướp phá đạo  
Đà Giang (Tây Bắc), Thượng hoàng phải đích  
thân mang đại quân đi đánh dẹp, có Thiêm tri  
Nguyễn Trung Ngạn đi theo để biên soạn thực  
lục. Năm 1337 (Khai Hựu, năm thứ 9, mùa thu,  
tháng 9), Triều đình lại cử Hưng Hiếu Vương tiến  
quân vào trại Trịnh Kỳ (Chiềng Kỳ), giết được  
tù trưởng Xa Phần của Ngưu Hống. Gia đồng  
là Phạm Ngải lập được chiến công, được cấp 5  
phần suất ruộng. Hoặc năm 1399 (Kiến Tân, năm  
thứ 2, mùa thu, tháng 8), Nguyễn Nhữ Cái ở Đà  
Giang làm giấy bạc giả, chiêu dụ được hơn 1 vạn  
người nổi dậy ở vùng sông Đà, thế lực rất mạnh.  
Mãi đến tháng chạp năm ấy (1/1440), Hồ Quý Ly  
mới cử Nguyễn Bằng Cử đem quân đi đánh, dẹp  
yên được [3, tr.122].  
2.2. Tình hình lực lượng quân sự ở Tây  
Bắc trước thế kỷ XIX  
Trước thế kỷ XIX, ở Tây Bắc không có lực  
lượng quân sự chính quy của Nhà nước phong  
kiến Trung ương đồn trú, làm nhiệm vụ thường  
trực chiến đấu, chỉ có một số đội dân binh  
của các châu, mường (hay còn gọi là đội quân  
“Chinh chiến”, đội quân Áo đỏ) làm nhiệm vụ  
bảo vệ bản mường, chống lại sự xâm nhập của  
ngoại tộc. Điển hình là trong cuộc kháng chiến  
chống quân Minh thế kỷ XV, vào khoảng tháng  
6/1427, thổ tù Xa Khả Sâm vùng Mộc Châu  
đã đem lực lượng vũ trang của châu mường gia  
nhập nghĩa quân của Lê Lợi. Kháng chiến thắng  
lợi, ông đã được nhà Vua giao cho quyền cai  
quản lộ Đà Giang. Vì thế, mỗi khi có nội phản,  
hoặc biên ải Tây Bắc bị xâm lấn, đích thân nhà  
Vua hoặc Nhà nước phong kiến Trung ương tập  
quyền phải cắt cử các tướng lĩnh mang đại quân  
từ kinh đô lên đánh dẹp. Bằng chứng cụ thể là:  
* Thời Lê Sơ (XV), ba triều vua Lê Thái  
Tổ (1428-1433), Lê Thái Tông (1433-1442) và  
Lê Thánh Tông (1460-1497) đã phải 8 lần dẫn  
quân đi chinh phạt vùng Tây Bắc:  
* Dưới Triều Lý, vào tháng 4 và tháng  
11/1024, triều đình đã cử Khai Thiên vương Lý  
Phật Mã tới Phong Châu và Khai quốc Vương  
+ Mở đầu là cuộc chinh phạt Đèo Cát Hãn ở  
Mường Lay (Lai Châu) của Lê Thái Tổ (1430  
Bồ đến châu Đô Kim đánh dẹp sự nổi loạn của - 1431). Tiếp đến là cuộc chinh phạt tù trưởng  
43  
Thượng Nghiễm ở Mường Muổi, Thuận Châu, Công Chất tháng 2 năm 1768, chúa Trịnh Sâm  
Sơn La (1440 - 1441) của vua Lê Thái Tông, đã phải cử Nguyễn Đình Huấn và Phạm Ngô  
quân của triều đình đi tới đâu cũng được nhân Cầu mang quân từ miền xuôi lên đánh dẹp. Biết  
dân ủng hộ nên đã nhanh chóng dẹp tan bọn được tin đó, Lê Duy Mật đã điều quân ứng cứu  
phản loạn. Trên đường trở về, nhà Vua cùng cho Hoàng Công Chất, Nguyễn Đình Huấn sợ  
quân sỹ nghỉ chân tại Động La (Thẳm báo không dám tiến quân phải rút về, chúa Trịnh  
ké) Vua thấy nơi đây cảnh đẹp, địa lý thuận Sâm lại phải cử Đoàn Nguyễn Thục chia làm  
nhiều cánh quân đánh thẳng vào Mường Thanh.  
Trong lúc chiến sự đang căng thẳng thì Hoàng  
Công Chất lâm bệnh qua đời tại căn cứ. Con là  
Hoàng Công Toản tiếp tục cầm quân chống lại  
quân Trịnh nhưng không nổi, đến cuối 1769 về  
cơ bản cuộc khởi nghĩa bị đàn áp.  
lợi, với ý nghĩa sâu xa và tâm hồn thanh thản,  
nhà Vua đã sáng tác bài thơ và lời tựa gồm  
14 dòng, mỗi dòng 10 chữ, tổng 140 chữ Hán.  
Đến cuối năm 1441 vua Lê Thái Tông lại một  
lần nữa phải mang đại quân lên đánh tên phản  
nghịch Nghiễm ở châu Mường Muổi (Thuận  
Châu - Sơn La), lần này quân của triều đình  
đã bắt được tướng Ai Lao là Đạo Mông và vợ  
con hắn tại Động La, đồng thời bắt được con  
của Thượng Nghiễm là Sinh Tượng và Chàng  
Đồng. Thượng Nghiễm ra hàng và chịu tội. Từ  
đó vùng đất biên cương phía Tây của Tổ Quốc  
mới được bình yên [3, tr.306].  
Như vậy có thể nói, trước thế kỷ XIX ở Tây  
Bắc không có lực lượng quân sự chính quy của  
Nhà nước phong kiến Trung ương đồn trú, làm  
nhiệm vụ thường trực chiến đấu, mỗi khi có biến  
nhà vua đều phải đích thân hoặc cắt cử tướng  
lĩnh mang đại quân từ kinh đô lên đánh dẹp. Thế  
nhưng, do địa hình hiểm trở, đường xá xa xôi,  
đánh xong quân đội Trung ương lại phải rút ngay  
về, giao lại cho các tù trưởng, tộc trưởng người địa  
phương tự cai quản, nên không mấy hiệu quả; vì  
thế, các tù trưởng, tộc trưởng vẫn lục đục, thường  
hay “nghiêng ngả”, lúc dựa vào Việt chống Lào,  
lúc khác lại dựa vào Lào chống Việt… Đúc rút bài  
học trong lịch sử, triều Nguyễn đã có chính sách  
mới để xây dựng lực lượng quân sự chính quy tại  
chỗ (với tư cách là quân đội của Nhà nước phong  
kiến Trung ương) làm nhiệm vụ đồn trú, thường  
trực chiến đấu ở Tây Bắc.  
+ Năm 1479, vua Lê Thánh Tông đã phải  
đích thân mang 9 vạn quân đi đánh giặc Lão  
Qua, Bồn Man (Lào), giết chết 3-4 người con  
của viên thủ lĩnh Đèo Bản Nha Lan Chưởng,  
chỉ có người con thứ 4 là Phạ Nhã Trại chạy  
sang nước Bát Bá (tức Lan Na, miền Bắc Thái  
Lan ngày nay) thoát nạn. Đánh xong giặc Lão  
Qua, Vua Lê lại chấn chỉnh quân ngũ, sửa sang  
lương thảo, ban Sắc lệnh ép nước Xa Lý (sau  
đổi thành Tây Song Bản Nạp, trung tâm đặt ở  
Cảnh Hồng) thần phục và bắt quân Xa Lý đi  
đánh Bát Bá. Cũng từ thời Lê sơ, do có chính  
quyền Trung ương vững mạnh, nên miền Tây  
Bắc mới thực sự chịu “khuôn mình” vào lãnh  
thổ Việt Nam [3, tr.348-350].  
2.3. Triều Nguyễn củng cố lại trấn thành,  
xây dựng lực lượng quân sự chính quy tại  
chỗ ở Tây Bắc (1802-1890)  
Từ khi được thành lập (1802), Triều Nguyễn  
đã có chính sách mới nhằm củng cố hệ thống  
phòng thủ, xây dựng lực lượng quân sự chính  
quy tại chỗ (thổ dõng) làm nhiệm vụ thường  
trực chiến đấu ở Tây Bắc.  
+ Dưới thời Lê - Trịnh, năm 1751 từ miền  
thượng du Thanh Hóa, Hoàng Công Chất mang  
quân sang chiếm cứ vùng Nậm Ét, Mường  
Puồn (nay là tỉnh Sầm Nưa của Lào), sau đó  
kéo quân vào Tây Bắc, tiêu diệt giặc Pẻ giải  
phóng Tây Bắc (1754). Ông đã cho xây thành ở  
Chiềng Lè (thường gọi là thành Bản Phủ, thuộc  
xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên), biến nơi  
đây trở thành trung tâm kinh tế, chính trị của  
cả vùng Tây Bắc…Trước sự cát cứ của Hoàng  
2.3.1. Xây dựng lại trấn thành và trang bị  
thêm vũ khí cho tỉnh Hưng Hóa (Tây Bắc)  
Trước đây (dưới triều Lê) tỉnh trấn Hưng Hóa  
được đặt ở động Bách Lẫm huyện Trấn Yên, rồi  
dời đến sách Phương Giao huyện Thanh Xuyên  
44  
(Thanh Sơn - Phú Thọ) [11, tr.11]; sau đó, vì làm đội pháo thủ, đặt dưới quyền điều khiển của  
khách buôn ở nước ngoài không thuận tiện vào viên Thành thủ úy”. Vua chuẩn y [10, tr.526].  
nội trấn, nên triều đình phải cho tỉnh thành Hưng  
Cũng trong năm 1833, triều đình còn cho  
Hóa đóng nhờ ở xã Trúc Phê (khi ấy gọi là Trúc  
xây dựng đàn Xã Tắc và miếu Hội Đồng ở phía  
Hoa) huyện Tam Nông, trấn Sơn Tây.  
bắc tỉnh thành Hưng Hóa.  
Đến triều Nguyễn, thời vua Gia Long, trấn  
Tháng 3/1834, Ngô Huy Tuấn tâu về triều  
thành vẫn ở đây, nhưng nhà Vua đã cho quân sĩ  
đình: “Tỉnh hạt Hưng Hóa xa rộng, tiếp giáp với  
tu chỉnh, tường thành được đắp bằng đất thường.  
Ninh Bình và Tuyên Quang, còn nhiều những kẻ  
Năm 1822, dưới triều vua Minh Mạng thành  
can phạm ẩn nấp, nhằm những chỗ sơ hở mà  
Hưng Hóa được xây đắp lại bằng đá tổ ong. Theo  
nhòm ngó. Nay ở Ninh Biên vừa cấp báo mà số  
Đại Nam thực lục - Chính biên, tháng 2 năm  
lính tỉnh còn ít. Vậy xin mộ dân ngoại tịch ở bất  
Nhâm Ngọ, năm Minh Mạng thứ 3 đã cho đắp lại  
cứ người Nam hay người Bắc dồn cho đủ 5 đội,  
và mở rộng thêm. Để thuận tiện cho việc tu bổ,  
đặt làm cơ thứ 2 của Hưng Hóa để điều khiển  
vua Minh Mạng đã giao cho Nguyễn Khắc Tuấn  
lúc lâm sự”[10, tr.528].  
trông coi 1500 lao dịch đắp thành, nhà dân và  
Vua Minh Mạng cho rằng, đương lúc có  
đình miếu phía ngoài thành, chỗ nào cần chuyển  
việc, cần sai phái, cho phép được quyền biến  
đi nơi khác thì cấp tiền. Khi thành đắp xong, viên  
thi hành lời đã thỉnh cầu. Lại cấp cho Hưng Hóa  
Giám tu và Chuyên biện đều được lĩnh thưởng.  
20 cây súng mã sang hạng ngắn và 2000 phát  
Thành Hưng Hóa mới có chu vi hơn 360  
thuốc đạn để cấp theo thớt voi (mỗi thớt voi  
trượng, cao 1 trượng 2 thước 1 tấc; hào rộng  
được 2 cây súng, 10 viên đá lửa, 50 phát thuốc  
2 trượng 2 thước, sâu 6 thước 9 tấc, mở 4 cửa.  
đạn). Triều đình còn truyền lệnh cho tỉnh Hà  
Tháng 8/1833, Tuần phủ Hưng Hóa là Ngô Nội chuyển vận đến phát cho tỉnh Hưng Hóa  
Huy Tuấn lại tâu về triều đình: “Tỉnh hạt có 16 2000 cân thuốc súng. Một tháng sau, triều đình  
châu, đất rất rộng rãi, huống chi ngoài thì giáp đổi định việc đặt súng lớn ở tỉnh thành Hưng  
địa giới nhà Thanh, trong thì lũ giặc còn có kẻ Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên đều được 1 cỗ  
ẩn nấp chưa bắt hết được. Xin cho thổ mục đặt súng đồng Đại luân xa, 1 cỗ súng đồng Phách  
làm thổ Trì huyện và Lại mục ở huyện Thanh sơn, 2 cỗ súng gang Phách sơn, 8 cỗ súng gang  
Xuyên và châu Văn Bàn. Dân huyện Tam Nông Hồng y, 10 cỗ súng đồng Quá Sơn; sau đó, triều  
thuộc tỉnh hạt, trước bị thổ phỉ quấy rối làm đình lại cấp thêm 2000 cân diêm tiêu, 400 cân  
hại. Vậy người nào bị hại nặng, xin tha cho thuế lưu huỳnh. Còn các hạng biền binh đương ban  
mùa hạ, người nào bị hại nhẹ, xin hoãn việc thu được xem xét để tiếp tục cấp tiền, gạo theo lệ.  
thuế”[10, tr.526]. Vua Minh Mạng đã chuẩn y Đến tháng 7, triều Nguyễn lại cho phép Tuần  
như lời tâu xin của Tuần phủ Hưng Hóa.  
phủ, Bố chánh, Án sát, tùy theo công việc trong  
tỉnh, nhiều hay ít mà xin lưu cả hay chia ban các  
hạng biền binh hiện có.  
Sau đó, triều đình còn trang bị thêm cho tỉnh  
Hưng Hóa 2 khẩu Đại luân xa thảo nghịch tướng  
quân bằng đồng, 4 khẩu Tích sơn bằng đồng, 16  
Từ đó, hàng loạt lỵ sở của huyện, châu cũng  
khẩu Hồng y bằng gang. Lại chia cấp 500 đồng lần lượt được xây dựng như lỵ sở huyện Yên  
tiền Phi long hạng lớn, 100 đồng tiền Phi long Lập đặt tại Vân Bản (1835), lỵ sở châu Lai Châu  
hạng nhỏ cất vào trong kho phòng khi dùng đến. ở xã Hoài Lai (1837), lỵ sở châu Phù Hoa (Phù  
Tuần phủ Ngô Huy Tuấn tâu xin: “Số các hạng Yên ngày nay) tại xã Quang Huy, lỵ sở châu  
súng bằng gang bằng sắt mà nhà nước cấp cho Mai Châu tại xã Tân Mai, Lỵ sở châu Văn Chấn  
bản tỉnh khá nhiều nhưng không có lính pháo thủ tại xã Đại Lịch (1838), lỵ sở châu Mộc Châu tại  
coi giữ. Vậy xin mộ dân ngoại tỉnh từ Quảng Bình xã Quy Hướng (1845), sau đó rời về xã Mộc Hạ  
trở vào Nam lấy 50 người am hiểu nghề bắn, đặt (1869) [10, tr.528].  
45  
2.3.2. Xây dựng các đội thổ dõng (người địa  
phương) trở thành bộ phận quân đội chính giặc, lại kê man số giặc bị giết để nhận làm công  
chúng rút đi mới đuổi theo sau, lấy cớ chống  
mình, lấy thưởng... Cho nên, đến thời vua Tự  
Đức (1847-1883) mới cho thành lập các đội thổ  
dõng (cả lính dõng và chỉ huy đều là người bản  
địa) làm nhiệm vụ thường trực chiến đấu, giữ  
gìn trật tự an ninh ở địa phương.  
quy của Nhà nước phong kiến Trung ương,  
làm nhiệm vụ đồn trú thường trực chiến đấu  
ở Tây Bắc  
Từ thời Lê (XV), ở Tây Bắc đã có một số đội  
quân “Chinh chiến” của các châu, mường, cụ  
thể như sau:  
Tháng 11/1858, vua Tự Đức lại cho thành  
lập cơ đội, theo Ông: “Phủ Điện Biên là nơi địa  
đầu quan yếu mà đất nhiều khí độc, lính thú ở  
lâu không tiện, bèn theo lời bàn của Nguyễn Bá  
Nghi trước đây xin cho lính dõng rút về, cho phép  
lập trai đinh trong châu Ninh Biên thành cơ đội  
(trong biên chế của quân đội chính quy của nhà  
nước phong kiến), giao cho viên trú phòng của  
phủ Điện Biên quản lĩnh và chia phái để canh giữ.  
Đến tháng 6/1867, vua Tự Đức lại cho 4 huyện,  
châu thuộc 2 tỉnh Hưng Hóa, Tuyên Quang lập  
cơ thổ dõng (châu Văn Chấn ở Hưng Hóa trước  
giản binh có 60 người, rút về sổ dân, trích lấy thổ  
dõng 500 người; 3 huyện Mai Châu thuộc Hưng  
Hóa, Hàm Yên và Chiêm Hóa thuộc Tuyên Quang  
trước giản binh có 83 người, rút về chọn lấy thổ  
dõng 1000, đặt người cai quản, khi có việc thì  
triệu ra, cấp lương miễn thuế ở làng, lúc không  
có việc thì cho về làm ruộng, mỗi năm 2 tháng thì  
điểm duyệt 1 lần). Tháng 11/1868, vua Tự Đức  
lại cho chọn dồn quân khỏe mạnh ở Hưng Hóa (2  
huyện Trấn yên, Yên Lập mỗi huyện 4 đội, mỗi đội  
40 người, khi xong việc thì cho về)” [17, tr.702].  
- Ở huyện Thanh Xuyên  
- Ở châu Mộc  
Gọi là đội Thắng Nhất  
Gọi là đội Tiệp Nhất  
Gọi là đội Hùng Nhất  
Gọi là đội Ninh Nhất  
Gọi là đội Tiệp Tiền  
Gọi là đội Hùng Tiền  
Gọi là đội Thắng Tiền  
Gọi là đội Dũng Tiền  
Gọi là đội Dũng Hậu  
Gọi là đội Ninh Tiền  
- Ở châu Thuận  
- Ở châu Thùy Vĩ  
- Ở châu Đà Bắc  
- Ở châu Quỳnh Nhai  
- Ở châu Mai (Mai Châu)  
- Ở châu Sơn La  
- Châu Mai sơn  
- Ở châu Chiêu Tấn  
Về lực lượng cảnh binh có các đội sau:  
- Ở Văn Chấn  
10 tên  
- Ở Thanh Sơn, Thanh Thủy 40 tên  
- Ở Trấn Yên  
- Ở Tam Nông  
Cộng 4 đội  
6 tên  
40 tên  
Ngoài ra, còn có 10 đội vệ binh, 3 đội lính  
thú ở Sơn Tây giữ điện và tuần thành 1 đội, giữ  
đồn Phong Thu 50 tên giữ đồn Bảo Thắng 30  
tên, giữ đồn Nghĩa Bảo hơn 10 tên, giữ đồn Vạn  
Pha 30 tên. Các đội Nông Điếm, Nội Điếm cũng  
có tên riêng, điếm phu 19 tên. Lại có lính thổ  
dõng ở phủ Điện Biên. Năm Thiệu Trị nguyên  
niên [1841], châu Tuần Giáo 10 tên, châu Thuận  
100 tên, châu Lai 40 tên. Gồm 200 tên [ 5 , t r .1 4 2 ] .  
Về vấn đề này, trong cuốn “Người Thái ở  
Tây Bắc Việt Nam” của nhà nghiên cứu Thái  
học Cầm Trọng cũng cho chúng ta thấy rõ thêm,  
như sau:  
“Đến thế kỷ XIX, dưới thời Nguyễn, ở các  
châu mường Thái mới xuất hiện tên “thổ dõng”  
(lính dõng người bản địa). Căn cứ vào lời dụ  
của Tự Đức phát năm 1871 thì do quân lính của  
triều đình cử đến với những quan võ ngại khổ,  
ngại khó nhút nhát chỉ huy. Giặc đến sợ không  
dám tiến đánh, mặc cho giặc tự do đốt nhà cướp  
của làm hại dân địa phương. Khi giặc cướp  
chán, no nê đến lúc rút đi rồi mới đuổi theo sau  
lấy mạo là đi tiêu diệt tăng số chém bắn giặc  
Đến triều Nguyễn (1802), dưới thời vua Gia  
Long, vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị đã cho cải  
biến các đội quân “chinh chiến” đó trở thành  
quân đội chính quy và cử các võ quan của Triều  
đình đến chỉ huy, làm nhiệm vụ đồn trú, thường  
trực chiến đấu ở Tây Bắc. Thế nhưng, do một số  
võ quan của triều đình được cử đến nhút nhát,  
giặc đến sợ không dám tiến đánh, để cho chúng  
tự do cướp phá làm hại dân địa phương; đến khi chết lên để nhận làm công trình, lấy thưởng…  
46  
Xưa người Thái chưa có những loại lính thường giúp của triều đình. Các thổ tri phủ, tri châu, thổ  
ty, thổ mục của Hưng Hóa và một số hạt khác  
đều được ban thưởng có thứ bậc. Tuần phủ Hưng  
Hóa là Nguyễn Huy Kỷ tâu bầy, ngoài việc cấp  
tuất cho binh đinh chết trận, những người hy sinh  
mà chưa có vợ con thì số tiền tuất ấy xin cho làm  
chay và tế một tuần để thỏa vong linh của họ.  
trực như kiểu thổ dõng nên không có tên gọi. Đến  
thời Nguyễn mới có thổ dõng nên người Thái cũng  
gọi là lính doỏng (lính dõng). Trước khi xuất hiện  
tên này, người Thái gọi những đoàn quân chinh  
chiến của mình là côn với ý nghĩa đoàn người xếp  
thành hàng dài nối nhau ra trận. Nó là từ đồng  
nghĩa với từ cảy côn, để chỉ số người kéo nhau dàn  
thành hàng dài cùng đi về phía trước. Như vậy từ  
côn chỉ lính mới có sau này. Sổ lính dõng ở các  
châu mường đều dưới quyền chi huy trực tiếp của  
các chẩu mường. Thời đó các chẩu mường thường  
được triều đình phong cho những chức về quân sự  
như Bạc Cầm Ten (Tiên) ở Thuận Châu là Đội bảy,  
Cầm Lả ở Mường La là Đội Năm, Cầm Văn Thanh  
ở Mai Sơn là Suất Đội, Cầm Ngọc Hánh ở Mường  
Lò là Hiệp quản Phó đề đốc…” [9, tr.372-374].  
Như vậy, đến triều Nguyễn các đội thổ dõng  
mới được hình thành, mặc dù là người bản địa,  
nhưng đây là một bộ phận quân đội chính quy  
của Nhà nước phong kiến Trung ương làm  
nhiệm vụ đồn trú, thường trực chiến đấu ở Tây  
Bắc. Lúc đầu quân số rất đông, lai lịch đôi khi  
không rõ ràng, nên đến thời vua Tự Đức đã cho  
cải tổ lại, để từng bước được tinh nhuệ hơn.  
2.3.3. Khuyến khích, di dân đến sinh sống  
ở vùng biên giới để bảo vệ biên cương Tổ quốc  
Cho đến khi thực dân Pháp đánh chiếm Tây  
Bắc (thời vua Đồng Khánh 10.1885-12.1888)  
thì số thổ dõng của một số châu mường đã rất  
đông, cụ thể là:  
Khuyến khích, di dân đến sinh sống ở vùng biên  
giới để bảo vệ biên cương là một chủ trương mang  
tầm chiến lược của Triều Nguyễn. Từ thời Vua Gia  
Long, Minh Mạng, Thiệu Trị đều có lệnh cho các  
quan địa phương ráo riết làm việc này, nhưng quyết  
liệt hơn cả là từ thời vua Tự Đức - Ông đã lệnh  
cho các quan tỉnh: “nơi nào nguyên có dân ở và  
ruộng đất đã cày cấy nộp thuế mà trốn đi bỏ hoang,  
thì phải chiêu dụ về ngay để ở và cày cấy, nơi nào  
nguyên chưa ở và cày cấy, ruộng đất bỏ hoang, thì  
lần lượt mộ dân để khai khẩn, nếu có thiếu vốn thì  
Nhà nước cấp vốn cho, đợi 5 năm nộp một nửa, cho  
miễn một nửa, ruộng đất đều làm nghiệp riêng đời  
đời, 10 năm mới bắt đầu thu thuế”.  
“Châu Sơn La: 98 tên, châu Mai Sơn: 49  
tên, châu Phù Yên: 182 tên, châu Ninh Biên  
(Điện Biên): 184 tên, châu Thuận: 98 tên, châu  
Tuần Giáo: 5 tên, châu Lai: 50 tên, châu Quỳnh  
Nhai: 48 tên. Tổng số 759 tên” [5, tr.144-145].  
Do số lượng đông, chất lượng lại không đáp  
ứng, nên từ năm Tự Đức thứ 5 trở về sau, lần  
lượt được tinh giảm đi: thổ dõng ở Tuần Giáo  
chỉ còn 10 người, châu Thuận 13 người, châu  
Lai 10 người, Ninh Biên 10 người… tổng cộng  
tất cả chỉ có 60 người.  
Đến tháng 4/1879 lại dụ rằng: “trong nước có  
phên che ở ngoài, cũng như người có 4 chân tay  
nhà có cửa ngoài, 4 chân tay mạnh, cửa ngoài  
vững chắc, rồi sau mới có thể giữ được bên  
trong mà ngắm được kẻ quấy rối ở bên ngoài.  
Nước ta dọc theo biên giới, thượng du các tỉnh  
Cao Bằng, Lạng Sơn, Hưng Hóa, Tuyên Quang,  
Thái Nguyên, địa thế dài rộng, ruộng đều cày  
cấy được, đất đều ở được, lại có mối lợi về núi  
rừng. Trẫm thường ngày đêm lo nghĩ, chính sách  
mộ dân khẩn điền là việc cần phòng giữ biên  
giới ngày nay. Nay chuẩn cho từ tỉnh Thanh,  
tỉnh Nghệ trở ra Bắc, bọn Đốc, Phủ, Bố, Án, Đề,  
Về lính lệ các châu huyện, chỉ có Tam Nông  
và Ninh Biên là 30 người, còn các châu huyện  
khác mỗi nơi chỉ có 20 người.  
Vệ binh, nguyên trước có 2 vệ, năm Tự Đức  
thứ 7, vì quân ấy phần nhiều căn cước không rõ  
ràng, nên giảm bớt 1 vệ, còn 7 đội người Nam, 3  
đội người Bắc họp thành một vệ. Lính thú vùng  
núi vốn có 300 người, năm Tự Đức thứ 17 cũng  
giảm còn một nửa.  
Đầu năm 1878, nhân tiết xuân, Vua Tự Đức  
xuống chiếu ban bố cho dân Hưng Hóa và các  
hạt vừa trải qua binh lửa, lụt lội sự gia ân cứu Lãnh cho đến quan lại các phủ, huyện, đều theo  
47  
lời Dụ bảo, hoặc chính mình tự đương, hoặc  
khuyến xuất chiêu mộ” [4, tr. 754 -755].  
Chủ trương xây dựng lực lượng quân sự  
chính quy tại chỗ ở Tây Bắc dưới Triều Nguyễn  
khá toàn diện, bao gồm từ việc bố trí lại toàn bộ  
hệ thống bố phòng (thành lũy), trang bị thêm vũ  
khí cho tỉnh Hưng Hóa (Tây Bắc), cho đến việc  
thành lập các đội thổ dõng (người địa phương)  
và di dân đến sinh sống ở vùng biên giới để  
bảo vệ biên cương… Tất cả những việc làm đó  
đều do Triều Nguyễn trực tiếp đảm nhiệm, chỉ  
huy; còn trước đó, ở Tây Bắc chỉ có các đội  
quân “chinh chiến” (Đội quân Áo đỏ) của địa  
phương (vũ khí tự tạo, mọi chi phí là do chiến  
binh tự nguyện bỏ ra, hoặc của châu, mường);  
hơn nữa, mỗi địa phương có 1 đội quân chinh  
chiến nên dễ gây ra hiềm khích lẫn nhau - đó là  
mầm mống của sự phản loạn và cát cứ.  
Thống đốc Hoàng Tá Viêm cho rằng:  
“Thượng du Hưng Hóa địa thế rộng rãi, rừng  
đổi nhiều ngả, dễ để cho bọn xấu đến được chỗ  
hiểm chọn nơi rậm rạp. Nếu không có một phen  
kinh lý, để làm nơi bỏ hoang, là giúp cho kẻ xấu.  
Xin đặt nha Sơn Phòng, chọn phái viên thuộc  
chuyên làm công việc đồn điền khẩn hoang. Sức  
cho các lính mộ, đều đến nơi hoang rậm tùy  
sức khai khẩn, rồi đem nơi liên lạc với nhau cứ  
từ 50 đến 100 suất đinh lập làm 1 xóm, 2 xóm  
hoặc 8-9 xóm (suất đinh phải được trên dưới  
500 người) lập làm 1 làng, sổ sách ghi chép  
ở huyện, châu sở tại, ngõ hầu được người họp  
nhiều, đất mở rộng, và thân thế lừng lẫy. Đủ  
hạn, chiểu lệ thưởng phát chuẩn cho theo nghĩ  
mà làm. Còn Sơn phòng sứ ấy, Hoàng Tá Viêm  
đã lấy Tế tửu Quốc tử giám Nguyễn Quang Bích  
xin cho sung vào, Vua y cho. (Nha Sơn phòng  
Hưng Hóa được đặt ở phía hữu đồn Thục Luyện,  
huyện hạt Thanh Sơn, công việc cũng hơi giống  
như Sơn phòng, tỉnh Sơn Tây)” [4, tr.754-755].  
Chính sách xây dựng lực lượng quân sự  
chính quy tại chỗ ở Tây Bắc dưới Triều Nguyễn  
đã phát huy được yếu tố nội lực của đồng bào  
các dân tộc, thế mạnh của địa phương, lại  
phòng ngừa được âm mưu phản loạn từ trong  
trứng nước, củng cố được khối đoàn kết Kinh  
- Thượng… Có thể nói, đây là việc làm mang  
tính tích cực, hiệu quả và phù hợp với đặc thù  
của Tây Bắc đã giúp cho Triều Nguyễn quản  
lý vùng Tây Bắc được sâu sát hơn. Thực tế đã  
chứng minh, trong suốt thế kỷ XIX, dưới sự trị  
vì của các vua Triều Nguyễn, ở Tây Bắc không  
có vụ phản loạn nào khiến nhà nước phong kiến  
Trung ương phải mang quân từ kinh đô lên đánh  
dẹp như các triều đại phong kiến trước đây.  
Sau đó Thống đốc Hoàng Tá Viêm lại dâng  
sớ về việc trù nghĩ việc phòng giữ biên giới và  
công việc xếp đặt về sau 7 điều (1 điều về trù  
nghĩ biên phòng, tỉnh hạt Hưng Hóa cắt lấy hơn  
10 phủ, huyện, châu ở thượng du đặt thêm một  
tỉnh, đặt thêm quan lại, lương cấp cho binh lính,  
để quân côn đồ nước Thanh không được chiếm  
cứ làm sào huyệt gần; 6 điều về công việc xếp  
đặt về sau (một là sửa sang đồn lũy, để cầm  
phòng cho nghiêm; hai là kinh lý châu, huyện  
để được tụ họp mở mang; ba là giúp đỡ dân ở  
châu; bốn là khen thưởng khuyến khích người  
tài giỏi; năm là yên ủi người bị giặc bắt theo;  
sáu là sắp xếp chỗ cho người ra đầu thú).  
Chính sách xây dựng lực lượng quân sự chính  
quy tại chỗ ở Tây Bắc của Triều Nguyễn đã để  
lại cho dân tộc ta nhiều bài học kinh nghiệm  
quý báu trong công cuộc đấu tranh giải phóng  
dân tộc, xây dựng đất nước và đấu tranh bảo vệ  
Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.  
3. Kết luận  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử Triều  
Nguyễn đã kế thừa và phát triển được từ các  
chính sách đối với vùng biên cương của các  
triều đại Lý, Trần, Lê, để xây dựng lực lượng  
quân sự chính quy tại chỗ (hay còn gọi là các  
đội “thổ dõng” - người địa phương) làm nhiệm  
vụ đồn trú, thường trực chiến đấu ở Tây Bắc.  
[1]. Ban Dân tộc Khu Tự trị Tây Bắc (1972),  
Nhân dân các dân tộc Tây Bắc chống thực  
dân Pháp xâm lược (1858-1930) - tập 1.  
Ban dân tộc Khu tự trị Tây Bắc xuất bản.  
[2]. Đại Việt sử ký toàn thư - tập 1 (1998),  
48  
Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[10]. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại  
Nam thực lục, tập 6. Nhà xuất bản Giáo  
dục, Hà Nội.  
[3]. Đại Việt sử ký toàn thư - tập 2 (1998),  
Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[11]. Địa Chí tỉnh Hưng Hoá (1974) – người  
dịch Nguyễn Xuân Lân dịch. Ty văn hoá  
Vĩnh Phú xuất bản.  
[4]. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Khâm  
định Việt sử thông giám cương mục, tập  
1. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.  
[12]. Hưng Hóa tỉnh lược - Gia phả họ Bạc  
(1982), Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội,  
Hà Nội.  
[5]. Trung tâm Unesco thông tin tư liệu lịch  
sử và văn hóa Việt Nam (2000), Phạm  
Thận Duật - toàn tập. Nhà xuất bản Văn  
hóa Thông tin, Hà Nội.  
[13]. Nguyễn Trãi (1959), Dư địa chí (Bản  
dịch của Phan Huy Tiếp; Hà Văn Tấn  
chú thích và giới thiệu ), Nhà xuất bản Sử  
học, Hà Nội.  
[6]. Phạm Văn Lực (2016), Hoàng Công Chất  
với việc xây dựng khối doàn kết giữa các  
dân tộc ở Tây Bắc (1751-1769). Tạp chí  
Khoa học Trường Đại học Tây Bắc, số 7 [14]. Quam tô mương của Mường Piềng -  
(12/2016).  
Thuận Châu (Kể chuyện bản mường ở  
Mường Piềng). Tài liệu lưu tại bảo tàng  
Sơn La.  
[7]. Phạm Văn Lực - Lò Văn Nét (2018), Sự  
cần thiết phải điều chỉnh thành phần và  
tên gọi một số dân tộc ở Tây Bắc. Tạp chí [15]. Quam tô mương của Mường La (Kể  
Khoa học Trường Đại học Tây Bắc. Số 13  
(62018).  
chuyện bản mường của Mường La). Tài  
liệu lưu tại Bảo tàng Sơn La.  
[8]. Đặng Nghiêm Vạn - chủ biên (1977), Tư [16]. Tài liệu điền dã tại Sơn La, Lai Châu  
liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái. Nhà  
tháng 8 năm 2015.  
xuất bản văn hóa Dân tộc, Hà Nội.  
[17]. Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên,  
Phan Văn Các (2003), Đồng Khánh địa  
dư chí. Viện nghiên cứu Hán Nôm, Nhà  
xuất bản Thế Giới.  
[9]. Cầm Trọng (1999), Người Thái ở Tây Bắc  
Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc,  
Hà Nội.  
NGUYEN DYNASTRY WITH THE ESTABLISHMENT  
OF A REGULAXMILITARY FORCE IN TAY BAC (1802 - 1890)  
Pham Van Luc  
Hanoi Pedagogical University 2  
Abstract: The article discusses an overview of Tay Bac, situation of garrison in Tay Bac before  
the nineteenth century,some new policies of the Nguyen dynastry aiming at strengthenning the  
defense system and building a local official foce (land) to serve the permanent combat duty in Tay  
Bac before mentioning the conclusions and drawn comments.  
Keywords: Nguyen dynastry, Tay Bac, regular military force.  
________________________________________________  
Ngày nhận bài: 10/02/2020. Ngày nhận đăng: 13/04/2020  
49  
pdf 8 trang Thùy Anh 24600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Triều Nguyễn với việc xây dựng lực lượng quân sự chính quy tại chỗ ở Tây Bắc (1802-1890)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrieu_nguyen_voi_viec_xay_dung_luc_luong_quan_su_chinh_quy_t.pdf