Sử dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) chuyển chiến lược thành thước đo kết quả hoạt động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh

HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
SỬ DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG (BSC) CHUYỂN CHIẾN LƯỢC THÀNH  
THƯỚC ĐO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ  
VỪA TẠI TP. HỒ CHÍ MINH  
USING A BALANCED SCORECARD (BSC) TO TRANSLATE STRATEGIES INTO  
PERFORMANCE MEASUREMENT IN SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES IN HO  
CHI MINH CITY  
ThS. Phùng Minh Đức, TS. Phạm Hùng Cường  
Trường Đại học Ngoại thương, Cơ sở II tại TP. Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu như hiện nay, làm thế nào để có thể tồn tại và nâng cao năng lực  
cạnh tranh trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, xây dựng chiến lược cho  
mình đã không dễ, nhưng làm cho nhân viên hiểu và thực hiện các chiến lược đó, sử dụng chúng như mục  
tiêu hoạt động, như thước đo kết quả của mỗi cá nhân và toàn bộ tổ chức thì còn phức tạp hơn nhiều.  
Phương pháp thẻ điểm cân bằng (BSC) được coi là một công cụ hữu hiệu để làm điều đó. Bài viết cung cấp  
những nội dung lý thuyết cơ bản về BSC, đồng thời cũng khảo sát điều tra thực tiễn tình hình áp dụng ở các  
DNNVV ở TP. Hồ Chí Minh, cùng với những khó khăn của các doanh nghiệp khi áp dụng, trên cơ sở đó đề ra  
một số giải pháp.  
Từ khóa: thẻ điểm cân bằng; balanced scorecard; BSC; chiến lược; thước đo kết quả hoạt động; doanh  
nghiệp nhỏ và vừa.  
ABSTRACT  
In the current context of global competition, the matter of how to exist and improve the competitiveness is  
becoming more and more important. To small and medium enterprises, building stratergies is not easy, but  
communicating with staffs to implement those strategies, and using them as objectives, as indivual and  
organizational performace measures is even much more difficulut. Balanced scorecard (BSC) is considered a  
good methodology to translate strategies into performance measurement. This paper provides basic academic  
knowlege of BSC, and gives the result of the self-survey of the BSC application in small and medium  
enterprises in Ho Chi Minh City, together with their difficulties in application, based on which some  
suggestions are given.  
Keywords: balanced scorecard; BSC; strategy; performance measure; small and medium enterprises.  
thước đo kết quả của một chiến lược, từ bốn  
khía cạnh: tài chính, khách hàng, quy trình nội  
bộ và học hỏi và phát triển (Kaplan and  
Norton, 1992). BSC là một nhóm các chỉ tiêu  
đo lường về tài chính và phi tài chính, nhưng  
các chỉ tiêu đầu ra này đều có liên quan với  
nhau một cách có hệ thống theo quan hệ nhân  
quả bởi tất cả chúng đều xuất phát từ chiến  
lược của doanh nghiệp.  
1. Đặt vấn đề  
Rất nhiều doanh nghiệp đã thất bại, thậm  
chí phá sản với những khoản lỗ khổng lồ hoặc  
thị phần giảm mạnh không phải do họ không  
có chiến lược, mà trái lại, do chiến lược của  
doanh nghiệp không được truyền tải tới nhân  
viên đúng cách để họ biết đó là mục tiêu phải  
thực hiện, cũng như đấy chính là căn cứ đánh  
giá kết quả làm việc của họ. Thẻ điểm cân  
bằng (balanced scorecard – BSC) được coi là  
một công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề này,  
để không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh  
của mình ở cả thị trường trong và ngoài nước.  
Các doanh nghiệp có thể sử dụng BSC như một  
Theo ước tính của Havard Business  
Review (2004), hơn 60% công ty trong danh  
sách Fortune 1000 đều vận dụng phương pháp  
BSC. Có đến 43,9% công ty tại Mỹ sử dụng  
phương pháp này và tại Ấn Độ là 45,28%. [18]  
53  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Tuy nhiên, con số này ở Việt Nam còn quá  
đây, cũng đã có rất nhiều cuộc nghiên khác  
nhau về tính hiệu quả của phương pháp này,  
chẳng hạn như Kaplan và Norton (2001),  
Matarneh (2011), Najjar (2012), Hannabarger  
và các cộng sự (2007), Hannabarger và các  
cộng sự (2007)… Ở Việt Nam, TS. Đặng Thị  
Hương (2010) cũng đã phân tích đánh giá cụ  
thể một số thuận lợi và khó khăn khi áp dụng  
phương pháp này tại các doanh nghiệp dịch vụ  
Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây đa phần  
xoay quanh những vấn đề lý thuyết về hiệu quả  
của việc áp dụng phương pháp BSC hoặc có  
thể là những đánh giá về tình hình áp dụng  
phương pháp này trong một doanh nghiệp cụ  
thể hoặc của các doanh nghiệp khác nhau trong  
cùng một ngành. Bài viết này nghiên cứu và  
khảo sát thực trạng áp dụng phương pháp này ở  
các DNNVV trong các lĩnh vực khác nhau trên  
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời có  
nêu ra một số giải pháp để các doanh nghiệp có  
thể vận dụng phương pháp này một cách hiệu  
quả.  
khiêm tốn khi trong 500 doanh nghiệp hàng  
đầu Việt Nam chỉ có 7% doanh nghiệp áp dụng  
và 36% đang có kế hoạch áp dụng và phần lớn  
trong số đó đều là các tập đoàn, các doanh  
nghiệp có quy mô lớn, tiềm lực tài chính mạnh  
và hoạt động lâu dài như FPT, Phú Thái, Gami  
Group, Vietinbank, Kinh Đô...[17]  
Hiện nay, tại TP. Hồ Chí Minh nói riêng và  
cả nước nói chung, hơn 95% doanh nghiệp là  
các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) với  
một số hạn chế: quy mô còn nhỏ, năng lực sản  
xuất kinh doanh ở mức thấp và trung bình, đặc  
biệt nhận thức về công tác chiến lược - một vấn  
đề cốt lõi tạo ra năng lực cạnh tranh cho doanh  
nghiệp lại chưa được nhìn nhận và đánh giá  
đúng mức. Đặc biệt, khái niệm BSC còn tương  
đối mới mẻ ở Việt Nam, trong khi đó, nó đã  
được áp dụng khá phổ biến ở nhiều doanh  
nghiệp khác trên thế giới và đem lại những kết  
quả rất tích cực.  
Phương pháp BSC được Robert S. Kaplan  
và David P. Norton (1996) giới thiệu và trình  
bày một cách hệ thống các quan điểm, mục  
đích, tầm quan trọng của việc sử dụng các  
thước đo để quản lý chiến lược kinh doanh  
cũng như cách thức xây dựng và áp dụng nó  
trong việc đo lường hiệu quả hoạt động và  
hoạch định chiến lược cho một doanh nghiệp.  
Tuy nhiên, Mantere và Vaara (2008) lại không  
tán thành với phương pháp BSC của Kaplan và  
Norton. Họ chỉ ra rằng phương pháp BSC chủ  
yếu chỉ là sự sáng tạo của các nhà quản trị cấp  
cao, những người có vai trò kiểm soát chiến  
lược. Nó cản trở sự tham gia của nhân viên vào  
các quá trình mang tính chiến lược, bằng  
chứng là những xung đột xảy ra trong quá trình  
giao tiếp và thảo luận các vấn đề chiến lược  
xuyên suốt tổ chức. Trong khi đó, Manoj  
Anand, B. S. Sahay và Subhashish Saha (2009)  
đã đưa ra cái nhìn khá cụ thể và khoa học về  
phương pháp BSC nói chung và cách thức áp  
dụng tại các doanh nghiệp Ấn Độ nói riêng.  
Tuy nhiên, số lượng công ty phản hồi cho cuộc  
khảo sát tương đối thấp. Trong những năm gần  
2. Kết quả nghiên cứu và khảo sát  
2.1. Cơ sở lý luận  
2.1.1. Khái niệm thẻ điểm cân bằng (BSC)  
Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard -  
BSC) được Rober S. Kaplan và David P.  
Norton giới thiệu từ những năm 1992 - 1995.  
Nó là một hệ thống nghiên cứu và quản trị  
chiến lược trên cơ sở đo lường kết quả, có thể  
áp dụng cho mọi loại hình tổ chức. Nó là một  
phương pháp chuyển các chiến lược hoạt động  
kinh doanh của các công ty thành các chỉ tiêu  
đánh giá. Chính điều này giúp các doanh  
nghiệp định hướng hoạt động kinh doanh theo  
tầm nhìn và chiến lược của tổ chức, nâng cao  
hiệu quả truyền thông nội bộ và bên ngoài,  
theo dõi hiệu quả hoạt động của tổ chức so với  
mục tiêu để ra.  
BSC là một phương pháp nhằm chuyển  
tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành  
những mục tiêu cụ thể, những phép đo và chỉ  
tiêu rõ ràng bằng việc thiết lập một hệ thống đo  
lường hiệu quả hoạt động trong một tổ chức,  
trên bốn khía cạnh: tài chính, khách hàng, quy  
54  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
trình hoạt động nội bộ và đào tạo - phát triển.  
Doanh nghiệp có thể tập trung toàn bộ nỗ lực  
và khả năng của mình vào việc cải thiện sự  
thỏa mãn của khách hàng, chất lượng, giao  
hàng đúng hạn, hoặc hàng loạt vấn đề khác,  
nhưng nếu không chỉ ra những tác động của  
chúng đến lợi nhuận tài chính của tổ chức thì  
chúng chỉ có giá trị hạn chế.  
Bốn khía cạnh này cho phép tạo ra sự cân bằng  
đó là: cân bằng giữa mục tiêu ngắn hạn và mục  
tiêu dài hạn; cân bằng giữa đánh giá bên ngoài  
liên quan đến các cổ đông, khách hàng và đánh  
giá nội bộ liên quan đến qui trình xử lý, đổi  
mới, đào tạo và phát triển; cân bằng giữa kết  
quả mong muốn đạt được (tương lai) và những  
kết quả trong thực tế (quá khứ); cân bằng giữa  
những đánh giá khách quan và đánh giá chủ  
quan.  
Ở khía cạnh khách hàng: khi lựa chọn  
thước đo cho khía cạnh khách hàng, các tổ  
chức phải trả lời ba câu hỏi quan trọng: Ai là  
khách hàng mục tiêu? Giá trị trong việc phục  
vụ khách hàng là gì? Khách hàng mong đợi gì  
ở chúng ta? Nhiều tổ chức sẽ chọn một trong  
ba nguyên tắc: sự hoàn hảo trong hoạt động,  
dẫn đầu về sản phẩm, thân thiết với khách  
hàng.[11] Cho dù lựa chọn bất cứ tuyên bố giá  
trị nào thì phương diện này luôn bao gồm  
những thước đo như sự thỏa mãn, sự trung  
thành của khách hàng, giành được khách hàng,  
và các yếu tố dẫn dắt hiệu suất.  
2.1.2. Vai trò của BSC  
a) BSC là một hệ thống đo lường  
Những phép đo tài chính cho thấy rất rõ  
những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng lại  
không phù hợp với việc nhấn mạnh vào cách  
thức tạo giá trị thực ngày hôm nay của tổ chức  
- đó là những tài sản vô hình như kiến thức,  
mạng lưới các mối quan hệ,... Các phép đo tài  
chính là những “chỉ số trễ”, là kết quả của hàng  
loạt những hành động đã được thực hiện từ  
trước. BSC bổ sung cho những “chỉ số trễ” này  
bằng những định hướng hiệu quả kinh tế trong  
tương lai, hay còn gọi là “chỉ số sớm”, đó là  
khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát  
triển. Nhưng những phép đo hiệu quả này (bao  
gồm cả chỉ số trễ và chỉ số sớm) phải xuất phát  
từ chiến lược của tổ chức. Tất cả các phép đo  
trong BSC được hiểu như là việc làm rõ chiến  
lược của tổ chức. [15] (hình 1)  
Ở khía cạnh quy trình nội bộ: doanh nghiệp  
nhận diện các quy trình chính phải thực hiện  
tốt để liên tục gia tăng giá trị cho khách hàng  
và cổ đông. Doanh nghiệp phải xác định các  
quy trình, phát triển các mục tiêu khả thi cùng  
các thước đo nhằm theo dõi tiến độ.  
Ở khía cạnh học hỏi và phát triển: về bản  
chất, đây là cơ sở để xây dựng BSC. Các mục  
tiêu và thước đo được thiết kế ở đây sẽ giúp  
doanh nghiệp lấp đầy khoảng cách giữa cơ sở  
hạ tầng tổ chức hiện tại về kỹ năng nhân viên,  
hệ thống thông tin và môi trường cần thiết để  
duy trì sự thành công.  
BSC là hệ thống quản lý chiến lược  
Ngày càng có nhiều tổ chức áp dụng BSC  
như là công cụ để gắn kết các hoạt động ngắn  
hạn với chiến lược của công ty. Thực hiện  
được điều này, BSC đã giảm được các mặt “lý  
thuyết” khi thực hiện chiến lược mà thay vào  
đó là các phép đo và cụ thể hóa chiến lược, bao  
gồm: vượt qua rào cản tầm nhìn, vượt qua rào  
cản về con người, vượt qua rào cản về nguồn  
lực, khắc phục rào cản về quản lý. (hình 2)  
Hình 1. Bốn khía cạnh của BSC  
Ở khía cạnh tài chính: các thước đo tài  
chính là thành phần rất quan trọng của BSC.  
55  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Hình 2. Các rào cản trong việc áp dụng BSC  
Nguồn: The Balanced Scorecard Collaborative 1999/2001, Aberdeen Research  
Vượt qua rào cản tầm nhìn: BSC được đưa  
ra với ý tưởng là chia sẻ những hiểu biết và  
chuyển chiến lược của tổ chức thành những  
mục tiêu, phép đo và những chỉ tiêu cụ thể và  
thể hiện trong mỗi phương diện của BSC.[12]  
Việc giải thích định hướng chiến lược yêu cầu  
nhóm thực hiện BSC phải xác định cụ thể  
những gì còn mập mờ, mơ hồ trong những lời  
tuyên bố về tầm nhìn và chiến lược như: “tốt  
nhất trong lĩnh vực”, “dịch vụ vượt trội” hay  
“khách hàng mục tiêu”. Khi sử dụng BSC như  
là cơ sở để giải thích rõ ràng chiến lược, các tổ  
chức sẽ tạo ra một ngôn ngữ mới hướng tất cả  
mọi người tới việc đạt được những định hướng  
đã được công bố.  
cập nhật thông tin liên tục của việc thực thi  
chiến lược.[6]  
Vượt qua rào cản về nguồn lực: khi chưa  
xây dựng BSC, hầu hết các doanh nghiệp đều  
có quá trình hoạch định chiến lược và hoạch  
định ngân sách riêng biệt. Tuy nhiên, khi xây  
dựng BSC, các quá trình này đã được tạo điều  
kiện gắn kết với nhau. BSC không chỉ xây  
dựng các mục tiêu, chỉ số đo lường, từng  
chỉ tiêu cụ thể cho bốn phương diện mà còn  
xem xét một cách cẩn thận các ý tưởng và các  
kế hoạch hành động sẽ phục vụ cho mục tiêu  
đó của BSC.[2]. Tất cả các chi phí cần thiết,  
hiệu quả đạt được của từng mục tiêu cụ thể  
phải được nêu rõ ràng trong các văn bản và  
được đưa ra xem xét. Điều này có nghĩa qua  
BSC, nhà quản lý quyết định lựa chọn thực  
hiện những ý tưởng, mục tiêu nào, hỗ trợ thực  
hiện hay không thực hiện những nội dung gì.  
Việc xây dựng BSC tạo điều kiện cho tổ chức  
kiểm tra một cách nghiêm túc những ý tưởng  
hiện có của tổ chức. Khi xây dựng BSC, nhà  
quản trị phải xem xét tất cả các ý tưởng hiện tại  
trong tổ chức và quyết định ý tưởng nào sẽ  
thực sự phù hợp với chiến lược của mình, ý  
tưởng nào chưa phù hợp và tại sao. Tiết kiệm  
nguồn lực là rất tốt, nhưng còn một điều quan  
trọng khác - chính các thành viên trong tổ chức  
sẽ biết được các thông số đánh giá ý tưởng,  
mối quan hệ giữa chúng với chiến lược từ đó  
Vượt qua rào cản về con người: để chiến  
lược có thể được thực hiện thành công thì bản  
thân chiến lược cần phải được hiểu rõ và được  
thực hiện tại mọi cấp của tổ chức. BSC được  
đưa đến mọi bộ phận, phòng ban của tổ chức  
và tạo cho người lao động có cơ hội để liên hệ  
giữa công việc hàng ngày của họ với chiến  
lược của toàn tổ chức. Mọi cấp độ đều nhận ra  
vai trò, vị trí và các hoạt động tạo giá trị của họ  
thông qua mối liên hệ giữa việc triển khai  
những BSC của họ với các mục tiêu của các  
cấp cao hơn. Và hơn thế nữa, BSC còn cung  
cấp các luồng thông tin phản hồi ngược từ bộ  
phận sản xuất lên ban điều hành tạo điều kiện  
56  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
thực hiện mục tiêu với trách nhiệm cao hơn,  
cũng như không phàn nàn về việc phân bổ các  
nguồn lực.  
2000, Aberdeen Group đã tiến hành khảo sát  
nhân viên một số công ty tại Autralia trước và  
sau khi xây dựng BSC. Trước khi thực hiện, có  
dưới 50% người lao động nhận thức và hiểu về  
chiến lược của tổ chức. Một năm sau khi thực  
hiện BSC, con số này tăng lên 87%.  
Khắc phục rào cản về quản lý: ngày nay,  
trước sự thay đổi nhanh chóng của môi trường  
kinh doanh, các tổ chức cần làm nhiều hơn là  
chỉ phân tích những biến động thực tế về các  
chỉ số tài chính để ra quyết định chiến lược.  
BSC cung cấp các yếu tố cần thiết để thoát  
khỏi tình trạng này và đưa ra mô hình mới  
trong đó các kết quả của BSC trở thành yếu tố  
đầu vào cho việc xem xét, đặt vấn đề và nghiên  
cứu về chiến lược. BSC chuyển chiến lược và  
tầm nhìn thành một loạt các phép đo có liên kết  
chặt chẽ với nhau.[14] Ngay lập tức, nhà quản  
trị có nhiều thông tin hơn là các dữ liệu tài  
chính cần phải được xem xét. Khi xem xét toàn  
bộ các mối liên hệ mật thiết, kết quả của việc  
đo lường hiệu quả của BSC mô tả rõ ràng chiến  
lược đến từng chi tiết nhỏ và tạo cơ sở cho việc  
đặt câu hỏi liệu kết quả thu được có đưa chúng  
ta tới gần việc đạt được chiến lược hay không  
và khi có bất cứ biến động gì, chúng ta biết  
ngay ảnh hưởng của nó ở đâu, cách khắc phục.  
2.2. Thực trạng áp dụng BSC trong các  
DNNVV tại TP. Hồ Chí Minh  
Quá trình khảo sát và xử lý số liệu được  
tiến hành nhằm làm rõ thực trạng áp dụng BSC  
trong các DNNVV tại TP. Hồ Chí Minh.  
Phương pháp: điều tra, khảo sát thực tế.  
Hình thức khảo sát: mẫu bảng khảo sát  
giấy và mẫu bảng khảo sát điện tử.  
Đối tượng được khảo sát: nhân viên, cán  
bộ quản lý đang làm việc trong các DNNVV  
tại TP. Hồ Chí Minh.  
Nội dung khảo sát: nhận thức về vai trò  
của việc áp dụng BSC trong doanh nghiệp,  
hiệu quả của việc áp dụng BSC trong các  
doanh nghiệp được khảo sát.  
Mẫu khảo sát: khảo sát được thực hiện trên  
180 DNNVV tại TP. Hồ Chí Minh, trong đó có  
128 bảng khảo sát được hoàn thành hợp lệ,  
trong đó có 15 doanh nghiệp hoạt động trong  
lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, 37 doanh  
nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng và  
76 doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại  
dịch vụ. Như vậy, mẫu được lựa chọn khảo sát  
là hợp lý, phản ánh phần lớn đặc điểm - quy  
mô và lĩnh vực hoạt động sản xuất - kinh  
doanh khác nhau của mỗi doanh nghiệp, đảm  
bảo tính đại diện cho các DNNVV trên địa bàn  
TP. Hồ Chí Minh, cũng như sự tin cậy của kết  
quả khảo sát. Sau khi thu thập và xử lý số liệu,  
tác giả đã rút ra kết quả khảo sát như sau:  
b) BSC là công cụ trao đổi thông tin  
Trao đổi thông tin ở đây bao gồm hai  
chiều: từ phía nhà quản lý đối với người lao  
động và ngược lại, từ phía người lao động đối  
với nhà quản lý. Những năm gần đây có rất  
nhiều tài liệu viết về các chiến lược quản lý tri  
thức trong tổ chức. Nét đặc trưng phổ biến của  
tất cả những chiến lược này là muốn kiến thức  
tiềm ẩn bên trong của người lao động phải  
được bộc lộ ra, sẵn sàng trao đổi và chia sẻ.  
Ngày nay, thách thức lớn mà các doanh nghiệp  
phải đối mặt là việc hệ thống hóa và kiểm soát  
nguồn tri thức đó. Peter Drucker cho rằng quản  
lý tri thức người lao động một cách hiệu quả là  
một thách thức lớn nhất trong thế kỷ XXI [3].  
Chia sẻ kết quả của BSC trong tổ chức giúp  
người lao động có cơ hội thảo luận về những  
giả định trong chiến lược, học hỏi và rút kinh  
nghiệm từ những kết quả không mong muốn,  
trao đổi về những thay đổi cần thiết trong  
tương lai, lần đầu tiên được biết tổ chức đang ở  
đâu và họ có thể đóng góp như thế nào. Năm  
2.2.1. Nhận thức và hoạt động áp dụng BSC  
trong doanh nghiệp  
Mẫu khảo sát được chia thành ba nhóm đối  
tượng chính: nhóm doanh nghiệp đã và đang áp  
dụng BSC (nhóm doanh nghiệp cần đưa ra giải  
pháp áp dụng BSC hiệu quả), nhóm doanh  
nghiệp có biết đến nhưng không áp dụng BSC  
(nhóm doanh nghiệp tiềm năng áp dụng BSC  
trong tương lai) và nhóm doanh nghiệp không  
57  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
biết đến BSC (nhóm doanh nghiệp cần được  
nghiệp), số doanh nghiệp đã và đang áp dụng  
BSC chiếm 29,68% (38/128 doanh nghiệp).  
(bảng 1)  
quảng bá nhận thức về BSC). Trong đó, nhóm  
doanh nghiệp chưa biết đến BSC chiếm tỷ  
trọng cao nhất với 46,1% (59/128 doanh  
Bảng 1. Thực tiễn nhận thức và hoạt động áp dụng BSC  
2.2.2. Hiệu quả hoạt động khi áp dụng BSC○  
tốt hơn so với việc không áp dụng BSC. Trong  
quá trình nghiên cứu, để làm rõ kết quả áp  
dụng BSC của một số doanh nghiệp, một cuộc  
khảo sát và kiểm định so sánh kết quả hoạt  
động sản xuất kinh doanh giữa doanh nghiệp  
áp dụng BSC và doanh nghiệp không áp dụng  
BSC đã được tiến hành. (bảng 2)  
Xét về lý thuyết và thực tiễn áp dụng BSC  
của các doanh nghiệp lớn trên thế giới, áp dụng  
BSC một cách khoa học và phù hợp sẽ mang  
lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp không chỉ  
trong ngắn hạn mà còn trong dài hạn. Tuy  
nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu nào khẳng  
định các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng BSC,  
đặc biệt là với các DNNVV, thu được kết quả  
Bảng 2. So sánh kết quả hoạt động kinh doanh giữa doanh nghiệp áp dụng BSC và không áp dụng BSC  
Không áp dụng  
Áp dụng  
Khía  
cạnh  
P_val  
ue  
Số  
quan  
sát  
Số  
quan  
sát  
Độ  
lệch  
chuẩn  
Biến quan sát  
Trung Độ lệch  
Trung  
bình  
bình  
chuẩn  
Tài  
chính  
90  
3,175 0,603  
38  
3.724 0.76  
0,000  
Tăng giá trị cổ  
đông  
Tăng lợi nhuận  
Tối đa hóa giá trị  
tài sản  
90  
90  
90  
3,189 0,935  
3,167 0,811  
3,056 0,784  
38  
38  
38  
3.184 1,227  
3,737 1,083  
3,763 0,675  
0,981  
0,001  
0,000  
Tăng trưởng doanh  
thu  
90  
3,289 0,824  
38  
4,211 0,777  
0,000  
Khách  
hàng  
90  
90  
90  
3,122 0,738  
3,241 0,849  
3,056 0,858  
38  
38  
38  
3,836 0,843  
3,868 0,963  
3,868 0,935  
0,000  
0,001  
0,000  
Mở rộng thị phần  
Tăng cường thu  
hút khách hàng  
Tăng sự hài lòng  
khách hàng  
90  
90  
3,101 0,840  
3,303 0,910  
38  
38  
3,763 1,076  
3,842 1,220  
0,001  
0,018  
Tương tác nhu cầu  
khách hàng  
Quy  
trình  
nội bộ  
0,000  
90  
3,158 0,709  
38  
3,697 0,964  
58  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Cung ứng sản  
phẩm kịp thời  
Tuân thủ quy định  
công ty  
Sử dụng nguồn lực  
hợp lý  
90  
90  
90  
90  
3,247 0,843  
3,157 0,796  
3,091 0,825  
3,315 0,861  
8
3,526 1,109  
3,947 1,038  
3,947 1,038  
3,474 1,084  
0,124  
0,000  
0,000  
0,380  
38  
38  
38  
Tăng năng suất sản  
phẩm  
Đào  
tạo-  
phát  
triển  
90  
2,997 0,652  
38  
3,671 0,740  
0,000  
Phát triển năng lực  
nhân viên  
Khuyến khích ra  
quyết định  
Nâng cao nhận  
thức chiến lược  
Phát triển hệ thống  
thông tin  
90  
90  
90  
90  
90  
3,300 0,867  
2,889 0,942  
2,622 0,955  
3,178 0,787  
3,113 0,559  
38  
38  
38  
38  
38  
3,790 0,905  
3,658 0,847  
3,500 1,059  
3,737 0,950  
3,732 0,757  
0,006  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
Kết  
quả  
Kiểm định T_test cho thấy không có sự  
khác biệt về các yếu tố tăng giá trị cổ đông,  
cung ứng sản phẩm/dịch vụ kịp thời, tăng năng  
suất sản phẩm giữa doanh nghiệp có áp dụng  
BSC và doanh nghiệp không áp dụng BSC.  
Các yếu tố còn lại đều có sự khác biệt giữa hai  
nhóm đối tượng này. Cụ thể, xét trên bốn khía  
cạnh của BSC, việc áp dụng BSC sẽ giúp  
doanh nghiệp đạt được:  
Nhìn chung, với các khía cạnh và yếu tố  
được nghiên cứu, giá trị trung bình của kết quả  
hoạt động sản xuất – kinh doanh đối với doanh  
nghiệp áp dụng BSC là 3,732 cao hơn rất nhiều  
so với của doanh nghiệp không áp dụng BSC  
(3,113), chứng tỏ thực tế, các doanh nghiệp áp  
dụng BSC đã thu được kết quả hoạt động sản  
xuất - kinh doanh tốt hơn so với các doanh  
nghiệp không áp dụng.  
Ở khía cạnh tài chính: doanh nghiệp gia  
tăng lợi nhuận và doanh thu, và tối đa hóa giá  
trị tài sản.  
2.2.3. Nhận thức của doanh nghiệp về vai trò  
của việc áp dụng BSC  
Nhận thức của các doanh nghiệp về vai trò  
của việc áp dụng BSC phân bố khác nhau theo  
các nhóm chỉ tiêu đặc thù như số lượng nhân  
viên, lĩnh vực hoạt động sản xuất – kinh doanh  
chính của doanh nghiệp. Vì vậy, muốn đánh  
giá chung sự nhận thức của các doanh nghiệp  
khi nói đến vai trò của BSC thì cần phân tích  
rõ các chỉ tiêu trên.  
Ở khía cạnh khách hàng: mở rộng thị phần,  
tăng cường thu hút và gia tăng sự hài lòng của  
khách hàng, gia tăng khả năng tương tác với  
khách hàng thường xuyên.  
Ở khía cạnh quy trình nội bộ: nguồn lực  
của doanh nghiệp được sử dụng hợp lý hơn,  
quy định công ty được tuân thủ hơn.  
a) Số lượng nhân viên  
Ở khía cạnh học hỏi – phát triển: phát triển  
năng lực của nhân viên, khuyến khích nhân  
viên tham gia vào quá trình ra quyết định và  
nâng cao nhận thức về chiến lược của doanh  
nghiệp, phát triển hệ thống thông tin nội bộ  
doanh nghiệp.  
Những doanh nghiệp có quy mô lớn hơn  
thường là những doanh nghiệp đã đi vào hoạt  
động ổn định hơn, có tiềm lực tài chính nhất  
định và mong muốn vươn xa, có tầm nhìn hơn,  
59  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
ý thức hơn về sự phát triển bền vững, lâu dài  
là 60%; ở nhóm doanh nghiệp quy mô 11 đến  
50 thành viên là 41,94%; nhóm doanh nghiệp  
có 51 đến 200 thành viên có tỷ lệ là 58,49% và  
nhóm doanh nghiệp quy mô trên 200 nhân viên  
có 50% số doanh nghiệp đã từng biết đến  
phương pháp BSC. Nhìn chung, đây là một dấu  
hiệu tích cực để khuyến khích, đẩy mạnh việc  
áp dụng BSC trong doanh nghiệp. (bảng 3)  
của doanh nghiệp, về tầm quan trọng của việc  
áp dụng các phương pháp quản trị tiên tiến  
nhằm nâng cao giá trị cốt lõi hiệu quả.  
Xét theo quy mô số lượng nhân viên, tỷ lệ  
số doanh nghiệp đã từng biết đến phương pháp  
BSC là khá lớn (ít nhất 41,94%) và chênh lệch  
ở nhiều nhóm khác nhau. Nhóm doanh nghiệp  
quy mô dưới 11 nhân viên có tỷ lệ cao nhất là  
Bảng 3. Nhận thức về BSC ở các quy mô khác nhau trong doanh nghiệp  
họ thường nhạy bén với thị trường và tiếp xúc  
nhiều hơn với các cách thức hoạt động tiên tiến  
cũng như công cụ quản lý.  
b) Ngành sản xuất, lĩnh vực hoạt  
động kinh doanh  
Hiện nay, nhóm ngành thương mại - dịch  
vụ và công nghiệp - xây dựng đang chiếm tỷ  
trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam và  
ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự  
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
Trong khảo sát được thực hiện, các doanh  
nghiệp trong hai nhóm ngành này đã thể hiện  
rõ sự năng động cập nhật tri thức, nhận thức  
tiến bộ về sự tồn tại và tầm quan trọng của các  
phương pháp quản trị mới với tỷ lệ doanh  
nghiệp đã từng biết đến phương pháp BSC cao  
vượt trội ở nhóm doanh nghiệp thương mại -  
dịch vụ với con số 57,89%, tỷ lệ này ở nhóm  
doanh nghiệp công nghiệp - xây dựng là  
43,24%, cách biệt hoàn toàn so với nhóm  
doanh nghiệp nông - lâm - ngư nghiệp chỉ có  
2%. Điều này cho thấy doanh nghiệp trong các  
ngành thương mại - dịch vụ và công nghiệp -  
xây dựng chú trọng áp dụng BSC hơn các  
doanh nghiệp nông - lâm - ngư nghiệp bởi vì  
2.3. Một số khó khăn khi áp dụng BSC  
Thứ nhất, đa phần doanh nghiệp thừa nhận  
họ chưa có một thước đo cụ thể và các mục  
đích rõ ràng làm nền tảng. Điều này xuất phát  
từ các doanh nghiệp chưa bám sát chiến lược  
và giá trị cốt lõi của mình một cách nhất quán,  
ít thích ứng linh hoạt với biến đổi của thị  
trường và sự thiếu hiểu biết và sự vận dụng  
thiếu tính sáng tạo của doanh nghiệp về các chỉ  
số đo lường hiệu suất (Key Performance  
Indicators – KPI). Họ thường xây dựng và  
đánh giá các kế hoạch - mục tiêu một cách chủ  
quan mà không dựa vào các phân tích môi  
trường và chuỗi giá trị. Vì vậy, quan niệm BSC  
là mơ hồ và khó áp dụng lâu dài.  
Thứ hai, các nhà quản lý, đặc biệt là những  
doanh nghiệp mới thành lập, cho rằng họ mất  
nhiều thời gian cho việc phát triển một bộ chỉ  
60  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
tiêu đánh giá về sự đo lường hoàn thành, đồng  
3. Một số giải pháp  
nghĩa với việc họ sẽ có xu hướng dùng quỹ  
thời gian có được vào những mục đích khác và  
có thể tham khảo những mô hình hay bộ đánh  
giá của doanh nghiệp khác, từ đó dẫn đến khả  
năng suy giảm trong hiệu quả áp dụng mô  
hình.  
3.1. Tham khảo các công ty tư vấn  
Doanh nghiệp nên tham khảo ý kiến của  
các công ty tư vấn. Việc áp dụng BSC là một  
nghệ thuật để có thể đạt hiệu quả cao đem lại  
sự tăng trưởng và phát triển bền vững cho  
công ty và dựa trên nền tảng các đặc thù của  
từng doanh nghiệp. Do đó, việc triển khai BSC  
cho quản trị chiến lược của doanh nghiệp phụ  
thuộc vào rất nhiều yếu tố như: đặt ra các mục  
tiêu thông minh, đưa ra được các mối quan hệ  
giữa các mục tiêu tạo thành bản đồ chiến lược  
phục vụ cho việc giám sát thường xuyên hoạt  
động công ty và các chiến lược đã đề ra, phải  
có một hệ thống phần mềm để quản lý, phải  
đưa mục tiêu chiến lược này đến từng thành  
viên trong công ty gắn mục tiêu của cá nhân  
với với mục tiêu của công ty để tạo cơ hội cho  
cá nhân phát triển cũng nhằm thúc đẩy sự phát  
triển của công ty. Trong quá khứ, đã có nhiều  
công ty áp dụng nhưng không phải công ty nào  
cũng có được kết quả như mong muốn xuất  
phát từ sự thiếu hiểu biết rõ ràng về xây dựng,  
vận hành BSC. Vì vậy, việc cần một nhà tư vấn  
có kinh nghiệm để giúp đỡ công ty xây dựng  
hệ thống quản trị chiến lược sử dụng BSC là  
rất cần thiết.  
Thứ ba, BSC không thể nhận dạng được  
mối liên hệ giữa đối thủ cạnh tranh và nhà  
cung cấp. BSC là một công cụ quản lý chiến  
lược gồm bốn khía cạnh: tài chính, khách hàng,  
quy trình nội bộ, và học hỏi - phát triển, trong  
khi đó họ chủ yếu hướng vào hoạt động sản  
xuất – kinh doanh bên trong doanh nghiệp nên  
không tập trung nhiều vào hai nhân tố áp lực  
cạnh tranh bên ngoài là nhà cung cấp và đối  
thủ cạnh tranh (như mô hình Năm lực lượng  
cạnh tranh của Michael Porter). Điều này dễ  
làm cho các doanh nghiệp bỏ qua hoặc không  
dành một sự lưu ý thích đáng về mối liên hệ  
giữa đối thủ cạnh tranh và nhà cung cấp - vốn  
ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của doanh  
nghiệp.  
Thứ tư, trong một số doanh nghiệp, việc áp  
dụng BSC chỉ được thực hiện một cách sơ sài  
và mang ý nghĩa tượng trưng, như chỉ tập trung  
việc thiết lập BSC nhưng không nghiêm túc  
triển khai, hoặc chỉ dừng lại lập các chỉ tiêu -  
kế hoạch và đánh giá chủ quan, hoặc thực hiện  
áp dụng không đồng bộ các phương diện thuộc  
các hoạt động có liên quan trong công ty. Đây  
chính là một trong những các nguyên nhân chủ  
yếu làm cho việc áp dụng BSC bị thất bại.  
3.2. Tăng cường quảng bá BSC và nâng cao  
trình độ nhận thức của nhân viên về xây  
dựng và thực hiện BSC  
Về phương diện truyền thông, các  
DNNVV có thể quảng bá BSC qua các công cụ  
truyền thông đơn giản như clip, hình hình,  
poster, forum, mạng xã hội hoặc các ấn phẩm  
tạp chí, tài liệu nội bộ… Chính những công cụ  
này góp phần giúp nhân viên có những nhận  
thức ban đầu về BSC. Ngoài ra, những cuộc  
nói chuyện giữa lãnh đạo doanh nghiệp với  
Ngoài ra còn tồn tại một số khó khăn như  
trình độ học vấn, năng lực quản lý, điều hành  
của nhà lãnh đạo còn hạn chế, nhiều tổ chức  
chưa chú trọng xây dựng văn hóa doanh nghiệp  
hay tồn tại những khó khăn về mặt tài chính.  
61  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
nhân viên cũng là một kênh tuyên truyền hiệu  
3.4. Nắm vững nguyên tắc thực hiện BSC  
quả, cần được cân nhắc khai thác.  
Khi xây dựng và thực hiện BSC, các doanh  
nghiệp phải tuyệt đối nắm vững các nguyên tắc  
sau để có được những thành công và thu được  
hiệu quả từ phương pháp này:  
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có thể giúp  
nhân viên nâng cao nhận thức về áp dụng BSC  
qua việc khai thác các hình thức đào tạo bên  
trong và bên ngoài doanh nghiệp. Đối với  
doanh nghiệp mới bắt đầu áp dụng BSC, các  
doanh nghiệp này nên đầu tư một khoản ngân  
sách hợp lý cho việc thuê tư vấn và các chuyên  
gia đào tạo BSC từ bên ngoài hoặc tiến hành  
các chương trình hợp tác đào tạo liên công ty  
để giúp các nhân viên chủ chốt bước đầu thấu  
hiểu và triển khai đến phòng ban của mình. Sau  
đó, doanh nghiệp tăng cường phát triển các  
chương trình đào tạo nội bộ chuyên về phương  
pháp BSC dưới nhiều hình thức khác nhau như  
mở các lớp học trực tuyến, tổ chức các buổi hội  
thảo, seminar hoặc thảo luận, và cuộc thi tìm  
hiểu, xây dựng BSC trong doanh nghiệp,…  
• Thứ nhất, xúc tiến đầu tư phát triển  
các kế hoạch/ biện pháp, và xây dựng ngân  
sách thực hiện các mục tiêu hợp lý.  
• Thứ hai, áp dụng BSC theo lộ trình.  
• Thứ ba, lãnh đạo doanh nghiệp phải  
cam kết và hiểu biết về BSC.  
• Thứ tư, áp dụng BSC dựa trên cơ sở là  
các chiến lược kinh doanh.  
• Thứ năm, nắm rõ các yêu cầu của  
phương pháp.  
• Thứ sáu, nắm rõ quy trình áp dụng  
BSC vào doanh nghiệp.  
• Thứ bảy, tập trung triển khai các mục  
tiêu đã được đề ra.  
3.3. Tiếp thu và học hỏi các bài học kinh  
nghiệm của các doanh nghiệp nội địa đã triển  
khai thành công BSC  
• Thứ tám, áp dụng BSC một cách sáng  
tạo, linh hoạt, và phù hợp với con người và  
tình hình sản xuất - kinh doanh của doanh  
nghiệp.  
Các DNNVV có thể tận dụng được các bài  
học kinh nghiệm thực tiễn từ các doanh nghiệp  
trong nước đã áp dụng BSC thành công. Đây là  
một nguồn thông tin gần gũi và vô cùng quý  
báu để các DNNVV có thể mạnh dạn xúc tiến  
xây dựng hệ thống quản lý BSC trong công ty  
một cách nhanh chóng, hạn chế được phần nào  
các sai lầm và rủi ro đã phát sinh trong quá  
khứ. Bởi vì, các công ty trong nước đi trước áp  
dụng thành công BSC có một số đặc điểm  
tương đồng với văn hóa tổ chức và cách thức  
hoạt động, vận hành cùng với tập quán kinh  
doanh của doanh nghiệp. Tiếp thu từ nguồn  
kinh nghiệm này, các DNNVV sẽ áp dụng  
BSC một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp hơn  
với đặc điểm tổ chức của mình.  
• Thứ chín, xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ  
thống báo cáo, xử lý thông tin BSC/KPIs.  
• Thứ mười, xây dựng hệ thống lương,  
thưởng dựa trên thành tích.  
4. Kết luận  
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cùng với  
sự phát triển không ngừng của công nghệ  
thông tin đã đặt ra yêu cầu và thách thức cho  
các doanh nghiệp trong việc hoạch định chiến  
lược. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung  
và các DNNVV nói riêng ngày càng hoạt động  
khác đi và tốt hơn theo hướng giảm chi phí,  
tăng trách nhiệm. Khi đó, cần một hệ thống để  
62  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
hiện thực hóa các chiến lược và mang lại hiệu  
đến phương pháp này. Vẫn có những doanh  
nghiệp chưa từng biết đến phương pháp này  
hoặc vẫn ít nhiều gặp khó khăn trong quá trình  
áp dụng, nhưng nếu họ biết cách khắc phục  
những hạn chế đó, kết hợp với việc tham khảo  
ý kiến tư vấn, học hỏi kinh nghiệm của các  
doanh nghiệp đi trước, đồng thời nâng cao  
nhận thức và hiểu biết của toàn thể cán bộ công  
nhân viên trong doanh nghiệp về BSC thì chắc  
chắn đây sẽ là lời giải tốt cho bài toán sinh tồn  
của họ./.  
quả cao nhất cho hoạt động kinh doanh.  
Phương pháp BSC là giải pháp cấp thiết cho  
vấn đề đó. Tuy chỉ mới bước đầu được triển  
khai áp dụng trong các DNNVV ở Việt Nam  
nhưng phương pháp này đã chứng tỏ được vai  
trò và hiệu quả của nó trong việc nâng cao hiệu  
quả hoạt động và nâng cao năng lực cạnh tranh  
của mình. Nghiên cứu và khảo sát ở TP. Hồ  
Chí Minh cho thấy những doanh nghiệp các  
DNNVV, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại -  
dịch vụ và công nghiệp đã áp dụng hoặc biết  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đặng Thị Hương, “Áp dụng thẻ điểm cân bằng tại các doanh nghiệp Dịch vụ Việt Nam”, Tạp  
chí Khoa học ĐHQGHN, 2010.  
[2] Banker, G. Porter và D. Srinivasan, “An Empircal Investigation of an Incentive Plan that  
includes Nonfinancial Performance Measures”, The Accounting Review, Số 75, 2000, tr. 22.  
[3] Drucker, Peter, The Practice of Management, 1954, trang 126.  
[4] Hannabarger, Chuck, Rick Buchman, và Peter Economy, Balanced Scorecard Strategy For  
Dummies, NXB Wiley Publishing, 2007.  
[5] Kaplan, R.S. and D. P. Norton, “The balanced scorecard – measures that drive  
performance”, Harvard Business Review, 1992, tr. 71-91.  
[6] Kaplan, Robert S. và David P. Norton, “The Balanced Scorecard: translating strategy into  
action”, Harvard Business School Press: Boston, 1996, tr. 199.  
[7] Kaplan, Robert, S., David P.Norton, “The Strategy - focused Organization”, 2001.  
[8] Manoj, Anand, B. S. Sahay and Subhahish Saha, “Balanced Scorecard in Indian Companies”,  
2005.  
[9] Matarneh, Ghassan F., “Performance Evaluation and Adoption of Balanced Scorecard (BSC)  
in Jordanian Industrial Companies”, European Journal of Economics, Finance and  
Administrative Sciences, Số 35, 2011, tr. 37-46.  
[10] Mantere and Vaara, “On the Problem of Participation in Strategy: a Critical Discursive  
Perspective”, Emerald Group Publishing Limited, 2008.  
[11] Treacy, Michael, và Fred Wiersema, “The Discipline of Market Leaders”.  
[12] Nair, Mohan, Essensial of Balanced Scorecard, NXB John Wiley & Sons Inc., 2004, tr. 40.  
63  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
[13] Najjar, Sabah M., “Designing a Balanced Scorecard to Merasure a Bank's Performance: A  
Case Study”, International Journal of Business Administration, Số 3, Tập 4, 2012, tr. 44-54.  
[14] Niven, Paul R., Balanced Scorecard - Step by step: Maximizing Performance and Maintaining  
Results, 2011, tr. 22.  
[15] Anthony, Robert, “Planning and Control Systems: A framework for Analysis”, NXB Harvard  
Business School, 1965, tr. 17.  
[16] Wang, Yungchih George, Yi-Min Li, Chyan-Long Jan và Kuang-Wen Chang, , “Evaluating  
Firm Performance withBalanced Scorecard and Data Envelopment Analysis”, WSEAS  
Transactions on business and economics, Số 10, 2013, tr. 24-39.  
[17] Phạm Trí Hùng, “Doanh nghiệp VN và bước đầu áp dụng bảng điểm cân bằng”,  
cập nhật 20/06/2013  
64  
pdf 12 trang Thùy Anh 12960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) chuyển chiến lược thành thước đo kết quả hoạt động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_dung_the_diem_can_bang_bsc_chuyen_chien_luoc_thanh_thuoc.pdf