Quản trị chuỗi cung ứng: Trường hợp nghiên cứu tại công ty Cổ phần dệt Tân Tiến – Nha Trang

HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI CÔNG TY  
CỔ PHẦN DỆT TÂN TIẾN – NHA TRANG  
SUPPLY CHAIN MANAGEMENT: A CASE STUDY OF TAN TIEN TEXTILE JOINT  
STOCK COMPANY – NHA TRANG CITY  
PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Xuân Tiến  
Trường Đại học Nha Trang  
TÓM TẮT  
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang đến sự cạnh tranh gay gắt cho các sản phẩm Việt  
Nam. Để có thể tồn tại và phát triển bền vững, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tiếp cận và ứng dụng có  
hiệu quả các mô hình quản trị hiện đại, trong đó có mô hình quản trị chuỗi cung ứng nhằm đạt được những  
lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp mình. Ngành dệt may là một trong số các ngành hàng có mức độ cạnh  
tranh gay gắt nhất với các sản phẩm nhập ngoại có giá thành thấp hơn, mẫu mã, màu sắc, kiểu dáng phong  
phú hơn, đa dạng hơn. Bài viết này nghiên cứu về quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến  
và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty.  
Từ khoá: Công nghiệp dệt; lợi thế cạnh tranh; chuỗi cung ứng; mô hình quản trị hiện đại; Cty CP Dệt Tân  
Tiến.  
ABSTRACT  
Globalization and international economic integration has brought fierce competition for products  
manufactured by Vietnamese enterprises. To survive and grow sustainably, Vietnamese enterprises need to  
reach and apply effectively modern management models, including supply chain management model to  
achieve the competitive advantage for their enterprises. The Textile industry is one of the sectors that have  
most intense competition with imported products that have lower price, richer and more multiform about  
design and color, . . . This article studies on supply chain management in Tan Tien textile joint stock company  
and propose some solutions to improve the efficiency of supply chain management in Tan Tien JSC.  
Keywords: Textile industry; competitive advantage; supply chain; modern management models; Tan Tien  
Textile JSC.  
1. Đặt vấn đề  
Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến hoạt động  
2. Kết quả nghiên cứu  
2.1. Đối tượng, phạm vi và phương pháp  
nghiên cứu:  
trong lĩnh vực dệt nhuộm. Với những cơ hội,  
thách thức, điểm mạnh, điểm yếu về điều kiện  
địa lý, trình độ công nghệ, năng lực sản xuất và  
thị trường tiêu thụ, các nhà quản trị của Công  
ty cần hiểu rõ hơn vai trò và tác dụng to lớn  
của chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng  
hiệu quả nhằm mang lại những lợi thế cạnh  
tranh để có thể tồn tại và phát triển.  
2.1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu là các hoạt động  
quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Cổ phần  
Dệt Tân Tiến. Số liệu nghiên cứu và phân tích:  
năm 2010, 2011 và 2012.  
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu định tính. Sử dụng các phương  
pháp:  
Mục tiêu nghiên cứu của bài viết tập trung  
nghiên cứu thực trạng hoạt động quản trị chuỗi  
cung ứng tại Công ty. Từ kết quả nghiên cứu  
thực trạng sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm  
nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng tại  
Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến.  
- Phương pháp mô tả: mô tả thực trạng  
các hoạt động quản trị chuỗi cung ứng, các  
thành tố trong quản trị chuỗi cung ứng tại Công  
ty Cổ phần Dệt Tân Tiến.  
119  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
- Phương pháp phân tích: phân tích các  
dữ liệu thứ cấp đã thu thập được trong quá  
trình nghiên cứu.  
các nhà cung ứng các yếu tố đầu vào và nhóm  
các khách hàng tiêu thụ sản phẩm của Công ty.  
2.2. Kết quả nghiên cứu  
- Phương pháp so sánh: so sánh kết quả  
nghiên cứu với các cơ sở của quản trị chuỗi  
cung ứng.  
Mô hình quản trị chuỗi cung ứng tại Công  
ty Cổ phần Dệt Tân Tiến.  
- Phương pháp phỏng vấn nhóm: nhóm  
các nhà quản lý cấp trung và cấp cao, nhóm  
Hình 1: Mô hình hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty CP dệt Tân Tiến  
2.2.1. Quản trị mua các yếu tố đầu vào  
động chưa được tổ chức bài bản, chuyên  
nghiệp mà chỉ là một bộ phận thuộc Phòng  
kinh doanh với nhân sự kiêm nhiệm nên hiệu  
quả thu mua, cung ứng đầu vào không cao. Bên  
cạnh đó, do thường xuyên phát sinh các đơn  
hàng mua với số lượng nhỏ lẻ, nên công tác  
quản trị mua hàng gặp nhiều khó khăn: nguồn  
cung không ổn định, giá cả thường cao, khó  
kiểm soát chất lượng, . . nên ảnh hưởng nhiều  
đến hoạt động sản xuất tại Công ty. Công tác  
đánh giá lại các nhà cung cấp chưa được quan  
tâm, chưa thiết lập các quan hệ ổn định, bền  
vững với các nhà cung cấp ngoại trừ việc Công  
ty ký kết được một số hợp đồng nguyên tắc với  
một số nhà cung cấp chiến lược.  
Các hoạt động quản trị mua các yếu tố đầu  
vào bao gồm: tìm kiếm các nhà cung cấp, đánh  
giá các nhà cung cấp, chọn nhà cung cấp và  
quản trị quan hệ với nhà cung cấp.  
Trong cơ cấu chi phí sản xuất vải thành  
phẩm, chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trong  
khá cao trên 60%. Do vậy, quản trị mua các  
yếu tố đầu vào tại Công ty cần tập trung vào  
quản trị mua, cung ứng nguyên vật liệu, quản  
trị quan hệ với các nhà cung ứng nguyên vật  
liệu cho Công ty.  
Tuy nhiên, hiện Công ty chưa có Phòng  
thu mua với cơ cấu nhân sự cũng như hoạt  
120  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Bảng 1: Cấu trúc chi phí sản xuất vải thành phẩm năm 2012  
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)  
Hình 2: Sơ đồ quá trình mua hàng tại Công ty CP dệt Tân Tiến  
Bảng 2: Tình hình thực hiện các hợp đồng mua với các nhà cung ứng  
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến  
)
Phân tích tình hình thực hiện các hợp đồng  
mua với các nhà cung cấp cho thấy, tỷ lệ các  
hợp đồng bị vi phạm khá cao, trên 25% các  
hợp đồng thực hiện, trong đó chủ yếu là các  
hợp đồng bị vi phạm về tiến độ giao nhận.  
Công tác kiểm tra, kiểm soát hàng hóa nhập  
kho được Công ty thực hiện khá chặt chẽ.  
Công ty đang thực hiện linh hoạt hai hình thức  
vận chuyển hàng hóa về Công ty: Nhà cung  
cấp tự vận chuyển hàng đến Công ty hoặc  
Công ty tự vận chuyển hàng từ nhà cung cấp  
đến kho Công ty. Việc thực hiện song song hai  
phương thức này giúp Công ty chủ động hơn  
trong cung ứng đồng thời giúp giảm chi phí  
vận tải cho Công ty khi hàng hóa của Công ty  
chỉ giao nhận một chiều.  
Nhìn chung, việc hoạch định chiến lược  
quản trị mua các yếu tố đầu vào theo nhu cầu  
phát sinh giúp Công ty giảm thiểu chi phí tồn  
kho, chi phí bảo quản nhưng Công ty không  
chủ động được nguồn cung, không kiểm soát  
tốt giá cả cũng như chất lượng làm ảnh hướng  
đến kế hoạch sản xuất kinh doanh.  
121  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Hình 3: Quy trình kiểm soát hàng hóa nhập kho tại Công ty  
2.2.2. Quản trị sản xuất  
đoạn se và vải mộc. Sản phẩm của Xưởng  
nhuộm là vải thành phẩm nhuộm màu các loại  
và vải thành phẩm in hoa các loại.  
Hoạt động sản xuất được thực hiện tại hai  
xưởng sản xuất chính: Xưởng dệt là nơi sản  
xuất các loại vải mộc và Xưởng nhuộm là nơi  
tiến hành nhuộm hoặc in hoa và hoàn tất vải  
thành phẩm. Sản phẩm của Xưởng dệt bao  
gồm: sợi qua công đoạn hồ sợi, sợi qua công  
Bộ sưu tập mẫu sản xuất tại Công ty được  
hình thành từ ba nguồn chính: (1) Công ty tự  
sáng tạo, (2) catalogue mẫu có trên thị trường,  
(3) do khách hàng gửi đến.  
Hình 4: Lưu đồ hoạt động sản xuất tại Công ty  
122  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Bảng 3: So sánh các nguồn thiết kế mẫu chào hàng năm 2012  
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)  
Kết quả trên cho thấy, mẫu thiết kế từ  
khách hàng cung cấp có tỷ lệ chọn đặt hàng  
cao hơn, với chi phí sản xuất mẫu thấp hơn.  
Tuy nhiên, nguồn cung cấp mẫu từ khách hàng  
còn hạn chế. Mẫu thiết kế do Công ty tự sáng  
tạo có tỷ lệ chọn đặt hàng rất thấp. Điều này  
cho thấy năng lực thiết kế mẫu của Công ty  
thấp, chưa định hướng tốt theo thị hiếu của  
khách hàng, công tác quản trị thiết kế mẫu còn  
kém hiệu quả.  
Với chương trình sản xuất trước vải mộc  
cung ứng cho sản xuất trong các tháng mùa vụ  
có lợi nhuận thực hiện thấp hơn, nhưng Công  
ty sẽ đáp ứng được nhu cầu tăng cao của khách  
hàng, kiểm soát được chất lượng sản phẩm,  
khai thác tốt năng lực dư thừa của thiết bị trong  
các tháng thấp điểm, duy trì được công ăn việc  
làm và thu nhập cho người lao động.  
Kiểm soát chất lượng là một nội dung rất  
quan trọng trong quản trị sản xuất. Với việc  
soạn thảo, ban hành và ứng dụng các bộ tiêu  
chuẩn kiểm tra, đánh giá và quản lý chất lượng  
vải mộc và vải thành phẩm phù hợp với tiêu  
chuẩn của ngành và thông lệ quốc tế đối với  
vải may mặc, trong đó có bộ tiêu chuẩn đánh  
giá phân loại chất lượng vải theo thang 4 điểm,  
kết hợp với chọn lọc các nguồn nguyên liệu có  
chất lượng cao, các quy trình công nghệ sản  
xuất luôn được kiểm tra, đánh giá và cập nhật  
đã giúp Công ty kiểm soát tốt chất lượng vải  
sản xuất. Tỷ lệ vải phế phẩm thấp và có xu  
hướng giảm; tỷ lệ hàng lỗi, hàng bị khách hàng  
trả lại do kém chất lượng,… ngày càng thấp,  
mang lại sự hài lòng cao nhất cho các khách  
hàng.  
Tình hình sản xuất tại Công ty đang bị mất  
cân đối. Các đơn hàng sản xuất và hoàn tất vải  
dệt thoi chỉ mới khai thác được khoảng 35%  
năng lực của thiết bị. Nhằm khai thác tốt năng  
lực dư thừa của thiết bị, Công ty định hướng  
chuyển sang sản xuất các đơn hàng gia công  
cho các khách hàng bên ngoài. Đối với vải dệt  
kim, năng lực sản xuất vải mộc không đáp ứng  
đủ nhu cầu cho Xưởng nhuộm để in hoàn tất  
trong các tháng mùa vụ (từ tháng 3 ÷ tháng 7  
hàng năm) trong khi đó lại dư thừa năng lực  
trong các tháng thấp điểm. Với mục tiêu đáp  
ứng đủ nhu cầu vải mộc dệt kim cho sản xuất  
trong các tháng mùa vụ, Công ty áp dụng chiến  
lược sản xuất vải mộc dự trữ, thực hiện ½ công  
đoạn hoàn tất trong các tháng thấp điểm.  
123  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Bảng 4: So sánh các phương án cung ứng vải mộc dệt kim ITY KS 28.30.34  
(Nguồn: Tính toán của tác giả)  
124  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Hình 5: Biểu đồ tỷ trọng vải chính phẩm và phế phẩm  
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ dữ liệu Phòng kinh doanh)  
2.2.3. Quản trị tồn trữ  
được cung ứng từ trong nước, còn lại đa số  
phải nhập ngoại với số lượng đơn hàng nhập  
tối thiểu lớn. Do vậy, số ngày tồn kho trung  
bình là 52 ngày, một con số khá cao. Nguồn  
vốn kinh doanh đang bị ứ đọng lớn trong việc  
tồn trữ nguyên liệu, hóa chất thuốc nhuộm.  
Tuy nhiên, Công ty không bị gián đoạn sản  
xuất do thiếu nguyên liệu.  
Nội dung tồn trữ chính tại Công ty bao  
gồm: tồn trữ nguyên vật liệu (sợi nguyên liệu,  
hóa chất thuốc nhuộm, vật liệu phụ, . . .); tồn  
trữ vật tư, phụ tùng sửa chữa và thay thế máy  
móc thiết bị; tồn trữ vải mộc và vải thành phẩm  
các loại.  
Từ kết quả phân tích cho thấy: tỷ lệ hàng  
tồn kho trên tổng nguồn vốn trung bình qua 3  
năm từ 25 ÷ 32%. Một tỷ lệ khá cao so với  
bình quân chung của các doanh nghiệp vừa và  
nhỏ trong cùng ngành.  
Số ngày tồn kho bình quân của vải thành  
phẩm là 18 ngày, tuy chưa đạt được như mong  
đợi của Công ty (15 ngày), nhưng đây là kết  
quả khá tốt trong quản trị tồn kho so với trước  
đây. Công ty đã thực hiện khá tốt chính sách  
tồn trữ vải thành phẩm từ sản xuất hàng loạt,  
chấp nhận lưu kho và xuất kho dần dần theo  
nhu cầu nhận hàng của khách hàng sang khống  
chế số lượng tồn kho cho từng khách hàng và  
khách hàng phải cam kết nhận hết hàng đã đặt  
sản xuất trong vòng 15 ngày kể từ ngày sản  
xuất.  
Số ngày tồn kho trung bình của sợi nguyên  
liệu là 31 ngày. Tuy Công ty thực hiện phương  
thức sản xuất theo đơn đặt hàng của khách  
hàng, khi có nhu cầu mới nhập mua nguyên  
liệu nhưng đối với sợi nguyên liệu dùng cho  
sản xuất các mặt hàng chiến lược như sợi Ne  
80/2 TC (65/35) và sợi ITY 135/108 là các loại  
nguyên liệu nhập ngoại, lượng cung ứng không  
ổn định nên Công ty hoạch định nhập dự trữ  
cho sản xuất. Do vậy số ngày tồn kho trung  
bình cao.  
Bảng phân tích chi phí vốn do tồn kho  
trong năm 2012 cho thấy, với lãi suất tiền gửi  
bình quân là 8%/năm thì hàng tháng Công ty  
phải bỏ ra 90,738,331 đồng chi phí tồn kho.  
Đối với hóa chất thuốc nhuộm dùng cho  
sản xuất có rất nhiều chủng loại, một số loại  
125  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Bảng 5: Bảng phân tích giá trị hàng hóa tồn kho  
Đơn vị tính: Đồng  
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)  
Bảng 6: Bảng phân tích tồn kho nguyên vật liệu năm 2012  
Đơn vị tính: đồng  
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)  
Bảng 7: Bảng phân tích tồn kho vải thành phẩm năm 2012  
Đơn vị tính: đồng  
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)  
Bảng 8: Bảng phân tích chi phí vốn do tồn kho năm 2012  
Đơn vị tính: đồng  
(Nguồn: Số liệu Công ty và tính toán của tác giả)  
2.2.4. Quản trị phân phối  
chỉ một khách hàng là Công ty TNHH thương  
mại Khatoco, Công ty gần như phụ thuộc hoàn  
toàn vào nhu cầu đặt hàng từ khách hàng này,  
sản lượng sản xuất thường không ổn định, hiệu  
suất khai thác thiết bị thường rất thấp.  
Hệ thống kênh phân phối của Công ty đang  
thực hiện ở 1 cấp, tập trung vào từ ba đến bốn  
khách hàng chính, chủ lực, bao tiêu gần như  
toàn bộ sản lượng sản xuất. Do vậy luôn tiềm  
ẩn rủi ro lớn khi thị trường bị thu hẹp, khách  
hàng vì lý do nào đó rời bỏ Công ty sang mua  
hàng nơi khác, . . . Đặc biệt là vải dệt thoi: với  
Hàng hóa của Công ty được phân phối,  
chuyên chở giao đến khách hàng chủ yếu bằng  
đường bộ trên phương tiện xe tải. Phương tiện  
126  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
vận tải của Công ty hiện chỉ có 1 xe tải với tải  
Tuy nhiên, nhu cầu nhận hàng của khách  
hàng luôn biến động về số lượng cũng như thời  
gian nhận hàng. Do phương tiện vận tải của  
Công ty chỉ có một nên việc quản trị vận tải  
giao nhận hàng gặp rất nhiều khó khăn, thậm  
chí có nhiều lúc Công ty không thể giao hàng  
cho khách đúng kế hoạch, làm giảm uy tín và  
sự thỏa mãn của khách hàng bị giảm sút.  
trọng tối đa 6,5 tấn. Phạm vi giao nhận hàng  
thông thường từ kho Công ty (Nha Trang) đến  
kho của khách hàng ở Thành phố Hồ Chí Minh  
và các vùng lân cận như Đồng Nai, Bình  
Dương, …và ngược lại với khoảng thời gian  
giao hàng trong vòng 10 đến 12 giờ.  
Hình 6: Sơ đồ kênh phân phối vải may mặc của Công ty CP dệt Tân Tiến  
Bảng 9: So sánh các phương thức vận chuyển hàng hóa năm 2012  
(Nguồn: Tính toán của tác giả)  
2.2.5. Quản trị khách hàng  
Khách hàng tiêu thụ trên 80% sản lượng  
sản xuất vải dệt thoi của Công ty là Công ty  
TNHH thương mại Khatoco – một doanh  
nghiệp thành viên cùng thuộc Công ty mẹ là  
Tổng công ty Khánh Việt nên giữa Công ty với  
Khách hàng tiêu thụ sản phẩm của Công ty  
được chia thành hai nhóm chính: khách hàng  
tiêu thụ vải dệt thoi và khách hàng tiêu thụ vải  
dệt kim.  
127  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Công ty TNHH thương mại Khatoco có sự  
Nhóm khách hàng là các Công ty may mặc  
chuyên làm hàng xuất khẩu ra thị trường nước  
ngoài: nhóm khách hàng này chủ yếu là các  
Công ty có vốn đầu tư nước ngoài chuyên đặt  
hàng vải thành phẩm có chất lượng cao từ thị  
trường Việt Nam rồi cắt may thành phẩm xuất  
bán ra nước ngoài. Yêu cầu về chất lượng cho  
nhóm khách hàng này rất cao nhưng sản lượng  
thường không lớn. Mặc khác, một số đơn hàng  
có tính chất chuyên dùng, đặc thù, sử dụng các  
nguyên liệu đặc biệt, công nghệ hoàn tất tiến  
tiến thì Công ty không đáp ứng được do hạn  
chế về trình độ thiết bị, công nghệ. Do vậy, sản  
lượng đáp ứng của Công ty cho nhóm khách  
hàng này còn rất khiêm tốn. Trong thời gian  
tới, Công ty đã có kế hoạch đầu tư chiều sâu,  
trang bị thêm một số thiết bị hiện đại, tiếp nhận  
chuyển giao một số quy trình hoàn tất tiên tiến  
để đáp ứng tốt hơn các đơn hàng của nhóm  
khách hàng này. Giá bán vải thành phẩm cho  
nhóm khách hàng này rất tốt, chế độ thanh toán  
rất thuận lợi cho Công ty.  
tương tác, hỗ trợ lẫn nhau trong việc sản xuất  
và tiêu thụ. Tuy nhiên sản lượng đặt hàng chỉ  
khai thác được từ 35 ÷ 40% năng lực sản xuất  
vải dệt thoi tại Công ty và Công ty hiện đang  
phụ thuộc vào đơn hàng của khách hàng này  
nên tiềm ẩn nhiều rủi ro khi Công ty TNHH  
thương mại Khatoco không có đơn hàng cho  
Công ty. Do vậy, Công ty đang từng bước tìm  
kiếm thị trường tiêu thụ mới, khách hàng mới  
nhằm tăng sản lượng sản xuất, tăng năng lực  
khai thác thiết bị và chủ động trong kế hoạch  
sản xuất kinh doanh.  
Khách hàng tiêu thụ vải dệt kim bao gồm  
các doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, hộ  
kinh doanh cá thể kinh doanh vải dệt kim ở các  
Chợ vải đầu mối. Các khách hàng này tiêu thụ  
trên 85% sản lượng vải dệt kim các loại của  
Công ty. Đối với nhóm khách hàng này, Công  
ty thực hiện nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ  
bán hàng như ưu tiêu trong việc phát triển mẫu  
mới, ưu tiên trong kế hoạch sản xuất, thanh  
toán chậm, chiết khấu bán hàng theo doanh thu  
và sản lượng tiêu thụ, . . . . Tuy nhiên nhằm  
giảm thiểu rủi ro trong thanh toán, Công ty áp  
dụng đảm bảo thanh toán qua ngân hàng cho  
các công nợ của khách hàng và áp dụng sản  
lượng tồn kho tối đa không quá 10 tấn/ tháng/  
khách hàng để gia tăng trách nhiệm của khách  
hàng trong việc đặt hàng và tiêu thụ.  
Hoạt động quản trị khách hàng tập trung  
vào việc tiếp nhận đơn hàng của khách hàng,  
xử lý đơn hàng, theo dõi tiến độ sản xuất, theo  
dõi thanh toán và công nợ của các khách hàng.  
Tuy nhiên, các nghiệp vụ quản trị khách hàng  
tại Công ty còn khá rời rạc, chưa được tin học  
hóa, chưa được tổ chức, chưa xây dựng được  
các chương trình chăm sóc khách hàng một  
cách chuyên nghiệp nên chưa mang lại sự hài  
lòng cao nhất cho khách hàng.  
Một đối tượng khách hàng khác tiêu thụ  
vải dệt kim của Công ty là các tổ chức, cá nhân  
mua vải của Công ty để xuất khẩu trực tiếp ra  
nước ngoài. Tuy sản lượng tiêu thụ chỉ chiếm  
khoảng 15% nhưng yêu cầu về chất lượng khắc  
khe hơn, phải đạt các tiêu chuẩn xuất khẩu an  
toàn cho người sử dụng (như phải đạt chứng  
chỉ Ecotek, . . .). Nhóm khách hàng này trực  
tiếp giới thiệu sản phẩm của Công ty ra thị  
trường nước ngoài, quảng bá thương hiệu của  
Công ty nên Công ty cũng có nhiều chính sách  
ưu đãi, khuyến khích gia tăng sản lượng tiêu  
thụ như cung cấp mẫu chào hàng với số lượng  
lớn, chấp nhận các đơn hàng có số lượng dưới  
mức sản lượng tối thiểu theo quy định, . . .  
2.2.6. Hệ thống thông tin quản lý  
Thông tin quản lý bao gồm tập hợp các dữ  
liệu và những phân tích liên quan đến cơ sở hạ  
tầng của chuỗi (là những vị trí vật chất trên  
chuỗi, nơi sản phẩm được sản xuất và tồn kho),  
vận tải, chi phí, giá cả và khách hàng. Hệ thống  
thông tin quản lý trong chuỗi sẽ tạo cơ hội cho  
chuỗi có thể cải thiện hiệu quả hoặc khả năng  
đáp ứng.  
Tương tự như hệ thống quản trị khách  
hàng, hệ thống thông tin quản lý tại Công ty  
chưa được tin học hóa, chưa có phần mềm vi  
tính hỗ trợ. Do vậy, việc ra quyết định quản lý  
trên từng mắc xích của chuỗi cung ứng tại  
128  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Công ty còn rời rạc, chủ yếu được thực hiện  
bằng kinh nghiệm, khả năng phân tích và dự  
đoán của các nhà quản trị nên hiệu quả không  
cao, nhiều khi lại là những quyết định sai lầm.  
Bảng 10: Tỷ trọng sản lượng tiêu thụ vải dệt kim của từng nhóm khách hàng năm 2012  
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)  
dụng linh hoạt và khá hiệu quả các phương  
thức vận chuyển hàng hóa: kết hợp giữa  
phương tiện vận tải của Công ty với phương  
thức thuê ngoài đã đáp ứng kịp thời nhu cầu  
giao nhận hàng hóa, phân phối hàng hóa đến  
các khách hàng.  
3. Kết luận  
Qua phân tích thực trạng quản trị chuỗi  
cung ứng tại Công ty cho thấy:  
- Những điểm mạnh:  
+ Quản trị mua hàng được tổ chức khá  
chặt chẽ, thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với  
nhiều nhà cung cấp. Với nguồn lực tài chính  
của Công ty khá tốt, sẵn sàng thanh toán và  
thanh toán đúng hạn các công nợ đến hạn nên  
nhiều nhà cung cấp sẵn sàng hợp tác tốt với  
Công ty trong việc cung ứng các nhu cầu cho  
sản xuất.  
- Những tồn tại của quản trị chuỗi cung  
ứng:  
+ Công ty chưa thành lập được Phòng  
thu mua, chưa tổ chức hoạt động thu mua một  
cách chuyên nghiệp với đội ngũ nhân viên thu  
mua các yếu tố đầu vào có tâm và có tầm nên  
hiệu quả quản trị mua các yếu tố đầu vào của  
Công ty còn kém hiệu quả.  
+ Việc thực hiện chiến lược sản xuất  
và cung ứng vải mộc của Xưởng dệt cho  
Xưởng nhuộm/in hoàn tất bằng phương thức  
sản xuất dự trữ từ các tháng thấp điểm để cung  
ứng cho các tháng cao điểm đã đáp ứng tương  
đối tốt nhu cầu tăng cao vải mộc cho sản xuất  
hoàn tất, đáp ứng cao nhất nhu cầu của khách  
hàng, đồng thời kiểm soát được chất lượng vải  
thành phẩm.  
+ Công ty chưa tham gia vào hệ thống  
chuỗi cung ứng của ngành, hiệp hội để có được  
nhiều lợi thế hơn, chủ động hơn trong việc  
cung ứng nguyên vật liệu phục vụ cho sản  
xuất.  
+ Năng lực về thiết bị, công nghệ của  
Công ty còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu  
cầu ngày càng cao của khách hàng, không thể  
mở rộng thị trường, khách hàng khi năng lực  
không thể đáp ứng, đặc biệt là vào các tháng  
cao điểm. Một số đơn hàng Công ty không thể  
thực hiện do hạn chế về thiết bị cũng như công  
nghệ sản xuất.  
+ Trong hoạt động sản xuất kinh  
doanh, nhu cầu tồn trữ nguyên vật liệu cho sản  
xuất cũng như thành phẩm đáp ứng kịp thời  
cho thị trường là tất yếu. Việc áp dụng chiến  
lược tồn trữ theo nhu cầu phát sinh của đơn đặt  
hàng của khách hàng đã góp phần giảm thiểu  
chi phí tồn trữ, giảm ứ động vốn kinh doanh.  
+ Các mặt hàng do Công ty sản xuất  
không cân đối, tập trung cao vào các tháng cao  
điểm từ tháng 2 đến tháng 7 hàng năm, các  
+ Với năng lực về phương tiện vận tải  
của Công ty còn hạn chế, nhưng Công ty đã áp  
129  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
tháng còn lại hoạt động sản xuất chỉ cầm  
chừng, nhiều khi không có đơn hàng sản xuất.  
ngũ nhân viên thu mua có trình độ, am hiểu thị  
trường và có kỹ năng tốt trong đàm phán,  
thương lượng, tìm kiếm các nguồn cung ứng  
tốt cho Công ty.  
+ Hệ thống phân phối của Công ty chỉ  
đang tập trung vào một số ít đối tượng khách  
hàng chính, do đó tiềm ẩn nhiều rủi ro khi mất  
khách hàng, mất thị trường.  
3. Ứng dụng có hệ thống công nghệ thông  
tin vào hoạt động quản trị chuỗi cung ứng,  
nghiên cứu, đầu tư và ứng dụng các phần mềm  
quản trị như phần mềm quản trị doanh nghiệp  
và phần mền quản trị quan hệ khách hàng.  
+ Quản trị quan hệ khách hàng ở Công  
ty còn yếu kém, thậm chí còn chưa được quan  
tâm từ các cấp lãnh đạo. Hoạt động quản trị  
khách hàng còn sơ sài, mang tính thủ công nên  
hiệu quả thấp.  
4. Chú trọng đào tạo đội ngũ quản trị viên  
về quản trị chuỗi cung ứng, song song với thiết  
lập bộ phận chuyên môn chuyên về quản trị  
chuỗi cung ứng có chức năng và nhiệm vụ  
chuyên sâu, tham mưu và giúp việc cho Ban  
giám đốc ban hành các chính sách quản trị  
chuỗi cung ứng hiệu quả.  
Trên cơ sở nhận diện các tồn tại, hạn chế  
trong hoạt động quản trị chuỗi cung ứng như  
trên, tác giả đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện  
quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty như sau:  
1. Đa dạng các quan hệ cung ứng, chú  
trọng thiết lập quan hệ liên minh với các nhà  
cung ứng. Thiết lập tốt và tham gia sâu rộng  
vào mạng lưới chuỗi cung ứng ngành sẽ mang  
lại lợi thế nhất định cho Công ty trong việc  
cung ứng các yếu tố đầu vào như nguyên liệu,  
hóa chất thuốc nhuộm, . . . cũng như được sự  
hỗ trợ, hợp tác trong phát triển sản xuất, tiếp  
thu công nghệ mới và mở rộng thị trường tiêu  
thụ.  
5. Thay đổi nhận thức và văn hóa Công ty  
trong việc thực thi các giải pháp quản trị chuỗi  
cung ứng.  
6. Đầu tư chiều sâu trang thiết bị và công  
nghệ dệt nhuộm hoàn tất, nâng cấp năng lực  
sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp  
ứng tốt các nhu cầu ngày càng cao của khách  
hàng  
7. Xây dựng kế hoạch đánh giá hiệu quả  
hoạt động quản trị chuỗi cung ứng nhằm chấn  
chỉnh, nâng cấp chuỗi cung ứng./.  
2. Chuẩn hóa bộ phận thu mua, cung ứng  
các yếu tố đầu vào cho Công ty. Xúc tiến xây  
dựng và thành lập Phòng thu mua được tổ  
chức, cơ cấu bài bản, chuyên nghiệp với đội  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Ths. Nguyễn Kim Anh – “Quản lý chuỗi cung ứng”, tài liệu học tập, Trường Đại học mở bán  
công Thành phố Hồ Chí Minh, 2006.  
[2] TS. Lê Thị Minh Hằng – “Quản trị chuỗi cung ứng”, giáo trình, Trường Đại Học kinh tế Đà  
Nẵng.  
[3] Đường Võ Hùng – “Quản lý chuỗi cung ứng”, bài giảng, Khoa quản lý công nghiệp, Trường  
Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh.  
[4] Bùi Thị Minh Nguyệt – “Định hướng và giải pháp xây dựng mô hình quản trị chuổi cung ứng  
nội bộ tại Công ty SCAVI”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ  
Chí Minh, 2007.  
[5] Võ Ngọc Thạch – “Quản lý hậu cần sản xuất và chuỗi cung ứng”, chương trình đào tạo Giám  
đốc sản xuất chuyên nghiệp, Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.  
130  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
[6] Lê Thị Thủy – “Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cao  
su Kon Tum” – Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Trường Đại học Đà Nẵng, 2013.  
[7] Lê Vĩnh Tường – “Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển An Thái”  
– Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Trường Đại học Đà Nẵng, 2012.  
[8] Bowersox, D.J., Closs,D.J., & Cooper, M.B. (2000). Supply chain Logistics management (1st  
ED.). Mc Graw-Hill/Irwin Publisher. ISBN: 0-07-235100-4.  
[9] Cohen,S., & Rousell, J. (2005). Strategic Supply chain Management. Mc Graw-Hill/Irwin  
Publisher. ISBN: 0-07-145449-7.  
[10] Courtesy of the Council of Logistics Management.  
[11] Eva Klemencic. Management of the supply chain – Case of Danfoss District heating business  
area, Master’s degree thesis, Ljubljana University Faculyy of economics, 2006.  
[12] “Glossary of key purchasing and supply terms”, The Institute for supply management, 2000.  
[13] Nastassia Povarava & Natalija Borovkova, Flexibility in Supply Chain – a case study of ICA  
AB and sub-case of ZARA, Master thesis, Jonkoping University, 2012.  
131  
pdf 13 trang Thùy Anh 15940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quản trị chuỗi cung ứng: Trường hợp nghiên cứu tại công ty Cổ phần dệt Tân Tiến – Nha Trang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_tri_chuoi_cung_ung_truong_hop_nghien_cuu_tai_cong_ty_co.pdf