Quản trị chuỗi cung ứng: Trường hợp nghiên cứu tại công ty Cổ phần dệt Tân Tiến – Nha Trang
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN DỆT TÂN TIẾN – NHA TRANG
SUPPLY CHAIN MANAGEMENT: A CASE STUDY OF TAN TIEN TEXTILE JOINT
STOCK COMPANY – NHA TRANG CITY
PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Xuân Tiến
Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang đến sự cạnh tranh gay gắt cho các sản phẩm Việt
Nam. Để có thể tồn tại và phát triển bền vững, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tiếp cận và ứng dụng có
hiệu quả các mô hình quản trị hiện đại, trong đó có mô hình quản trị chuỗi cung ứng nhằm đạt được những
lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp mình. Ngành dệt may là một trong số các ngành hàng có mức độ cạnh
tranh gay gắt nhất với các sản phẩm nhập ngoại có giá thành thấp hơn, mẫu mã, màu sắc, kiểu dáng phong
phú hơn, đa dạng hơn. Bài viết này nghiên cứu về quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến
và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty.
Từ khoá: Công nghiệp dệt; lợi thế cạnh tranh; chuỗi cung ứng; mô hình quản trị hiện đại; Cty CP Dệt Tân
Tiến.
ABSTRACT
Globalization and international economic integration has brought fierce competition for products
manufactured by Vietnamese enterprises. To survive and grow sustainably, Vietnamese enterprises need to
reach and apply effectively modern management models, including supply chain management model to
achieve the competitive advantage for their enterprises. The Textile industry is one of the sectors that have
most intense competition with imported products that have lower price, richer and more multiform about
design and color, . . . This article studies on supply chain management in Tan Tien textile joint stock company
and propose some solutions to improve the efficiency of supply chain management in Tan Tien JSC.
Keywords: Textile industry; competitive advantage; supply chain; modern management models; Tan Tien
Textile JSC.
1. Đặt vấn đề
Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến hoạt động
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Đối tượng, phạm vi và phương pháp
nghiên cứu:
trong lĩnh vực dệt nhuộm. Với những cơ hội,
thách thức, điểm mạnh, điểm yếu về điều kiện
địa lý, trình độ công nghệ, năng lực sản xuất và
thị trường tiêu thụ, các nhà quản trị của Công
ty cần hiểu rõ hơn vai trò và tác dụng to lớn
của chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng
hiệu quả nhằm mang lại những lợi thế cạnh
tranh để có thể tồn tại và phát triển.
2.1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hoạt động
quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Cổ phần
Dệt Tân Tiến. Số liệu nghiên cứu và phân tích:
năm 2010, 2011 và 2012.
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính. Sử dụng các phương
pháp:
Mục tiêu nghiên cứu của bài viết tập trung
nghiên cứu thực trạng hoạt động quản trị chuỗi
cung ứng tại Công ty. Từ kết quả nghiên cứu
thực trạng sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng tại
Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến.
- Phương pháp mô tả: mô tả thực trạng
các hoạt động quản trị chuỗi cung ứng, các
thành tố trong quản trị chuỗi cung ứng tại Công
ty Cổ phần Dệt Tân Tiến.
119
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
- Phương pháp phân tích: phân tích các
dữ liệu thứ cấp đã thu thập được trong quá
trình nghiên cứu.
các nhà cung ứng các yếu tố đầu vào và nhóm
các khách hàng tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
2.2. Kết quả nghiên cứu
- Phương pháp so sánh: so sánh kết quả
nghiên cứu với các cơ sở của quản trị chuỗi
cung ứng.
Mô hình quản trị chuỗi cung ứng tại Công
ty Cổ phần Dệt Tân Tiến.
- Phương pháp phỏng vấn nhóm: nhóm
các nhà quản lý cấp trung và cấp cao, nhóm
Hình 1: Mô hình hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty CP dệt Tân Tiến
2.2.1. Quản trị mua các yếu tố đầu vào
động chưa được tổ chức bài bản, chuyên
nghiệp mà chỉ là một bộ phận thuộc Phòng
kinh doanh với nhân sự kiêm nhiệm nên hiệu
quả thu mua, cung ứng đầu vào không cao. Bên
cạnh đó, do thường xuyên phát sinh các đơn
hàng mua với số lượng nhỏ lẻ, nên công tác
quản trị mua hàng gặp nhiều khó khăn: nguồn
cung không ổn định, giá cả thường cao, khó
kiểm soát chất lượng, . . nên ảnh hưởng nhiều
đến hoạt động sản xuất tại Công ty. Công tác
đánh giá lại các nhà cung cấp chưa được quan
tâm, chưa thiết lập các quan hệ ổn định, bền
vững với các nhà cung cấp ngoại trừ việc Công
ty ký kết được một số hợp đồng nguyên tắc với
một số nhà cung cấp chiến lược.
Các hoạt động quản trị mua các yếu tố đầu
vào bao gồm: tìm kiếm các nhà cung cấp, đánh
giá các nhà cung cấp, chọn nhà cung cấp và
quản trị quan hệ với nhà cung cấp.
Trong cơ cấu chi phí sản xuất vải thành
phẩm, chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trong
khá cao trên 60%. Do vậy, quản trị mua các
yếu tố đầu vào tại Công ty cần tập trung vào
quản trị mua, cung ứng nguyên vật liệu, quản
trị quan hệ với các nhà cung ứng nguyên vật
liệu cho Công ty.
Tuy nhiên, hiện Công ty chưa có Phòng
thu mua với cơ cấu nhân sự cũng như hoạt
120
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
Bảng 1: Cấu trúc chi phí sản xuất vải thành phẩm năm 2012
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)
Hình 2: Sơ đồ quá trình mua hàng tại Công ty CP dệt Tân Tiến
Bảng 2: Tình hình thực hiện các hợp đồng mua với các nhà cung ứng
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến
)
Phân tích tình hình thực hiện các hợp đồng
mua với các nhà cung cấp cho thấy, tỷ lệ các
hợp đồng bị vi phạm khá cao, trên 25% các
hợp đồng thực hiện, trong đó chủ yếu là các
hợp đồng bị vi phạm về tiến độ giao nhận.
Công tác kiểm tra, kiểm soát hàng hóa nhập
kho được Công ty thực hiện khá chặt chẽ.
Công ty đang thực hiện linh hoạt hai hình thức
vận chuyển hàng hóa về Công ty: Nhà cung
cấp tự vận chuyển hàng đến Công ty hoặc
Công ty tự vận chuyển hàng từ nhà cung cấp
đến kho Công ty. Việc thực hiện song song hai
phương thức này giúp Công ty chủ động hơn
trong cung ứng đồng thời giúp giảm chi phí
vận tải cho Công ty khi hàng hóa của Công ty
chỉ giao nhận một chiều.
Nhìn chung, việc hoạch định chiến lược
quản trị mua các yếu tố đầu vào theo nhu cầu
phát sinh giúp Công ty giảm thiểu chi phí tồn
kho, chi phí bảo quản nhưng Công ty không
chủ động được nguồn cung, không kiểm soát
tốt giá cả cũng như chất lượng làm ảnh hướng
đến kế hoạch sản xuất kinh doanh.
121
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Hình 3: Quy trình kiểm soát hàng hóa nhập kho tại Công ty
2.2.2. Quản trị sản xuất
đoạn se và vải mộc. Sản phẩm của Xưởng
nhuộm là vải thành phẩm nhuộm màu các loại
và vải thành phẩm in hoa các loại.
Hoạt động sản xuất được thực hiện tại hai
xưởng sản xuất chính: Xưởng dệt là nơi sản
xuất các loại vải mộc và Xưởng nhuộm là nơi
tiến hành nhuộm hoặc in hoa và hoàn tất vải
thành phẩm. Sản phẩm của Xưởng dệt bao
gồm: sợi qua công đoạn hồ sợi, sợi qua công
Bộ sưu tập mẫu sản xuất tại Công ty được
hình thành từ ba nguồn chính: (1) Công ty tự
sáng tạo, (2) catalogue mẫu có trên thị trường,
(3) do khách hàng gửi đến.
Hình 4: Lưu đồ hoạt động sản xuất tại Công ty
122
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
Bảng 3: So sánh các nguồn thiết kế mẫu chào hàng năm 2012
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)
Kết quả trên cho thấy, mẫu thiết kế từ
khách hàng cung cấp có tỷ lệ chọn đặt hàng
cao hơn, với chi phí sản xuất mẫu thấp hơn.
Tuy nhiên, nguồn cung cấp mẫu từ khách hàng
còn hạn chế. Mẫu thiết kế do Công ty tự sáng
tạo có tỷ lệ chọn đặt hàng rất thấp. Điều này
cho thấy năng lực thiết kế mẫu của Công ty
thấp, chưa định hướng tốt theo thị hiếu của
khách hàng, công tác quản trị thiết kế mẫu còn
kém hiệu quả.
Với chương trình sản xuất trước vải mộc
cung ứng cho sản xuất trong các tháng mùa vụ
có lợi nhuận thực hiện thấp hơn, nhưng Công
ty sẽ đáp ứng được nhu cầu tăng cao của khách
hàng, kiểm soát được chất lượng sản phẩm,
khai thác tốt năng lực dư thừa của thiết bị trong
các tháng thấp điểm, duy trì được công ăn việc
làm và thu nhập cho người lao động.
Kiểm soát chất lượng là một nội dung rất
quan trọng trong quản trị sản xuất. Với việc
soạn thảo, ban hành và ứng dụng các bộ tiêu
chuẩn kiểm tra, đánh giá và quản lý chất lượng
vải mộc và vải thành phẩm phù hợp với tiêu
chuẩn của ngành và thông lệ quốc tế đối với
vải may mặc, trong đó có bộ tiêu chuẩn đánh
giá phân loại chất lượng vải theo thang 4 điểm,
kết hợp với chọn lọc các nguồn nguyên liệu có
chất lượng cao, các quy trình công nghệ sản
xuất luôn được kiểm tra, đánh giá và cập nhật
đã giúp Công ty kiểm soát tốt chất lượng vải
sản xuất. Tỷ lệ vải phế phẩm thấp và có xu
hướng giảm; tỷ lệ hàng lỗi, hàng bị khách hàng
trả lại do kém chất lượng,… ngày càng thấp,
mang lại sự hài lòng cao nhất cho các khách
hàng.
Tình hình sản xuất tại Công ty đang bị mất
cân đối. Các đơn hàng sản xuất và hoàn tất vải
dệt thoi chỉ mới khai thác được khoảng 35%
năng lực của thiết bị. Nhằm khai thác tốt năng
lực dư thừa của thiết bị, Công ty định hướng
chuyển sang sản xuất các đơn hàng gia công
cho các khách hàng bên ngoài. Đối với vải dệt
kim, năng lực sản xuất vải mộc không đáp ứng
đủ nhu cầu cho Xưởng nhuộm để in hoàn tất
trong các tháng mùa vụ (từ tháng 3 ÷ tháng 7
hàng năm) trong khi đó lại dư thừa năng lực
trong các tháng thấp điểm. Với mục tiêu đáp
ứng đủ nhu cầu vải mộc dệt kim cho sản xuất
trong các tháng mùa vụ, Công ty áp dụng chiến
lược sản xuất vải mộc dự trữ, thực hiện ½ công
đoạn hoàn tất trong các tháng thấp điểm.
123
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Bảng 4: So sánh các phương án cung ứng vải mộc dệt kim ITY KS 28.30.34
(Nguồn: Tính toán của tác giả)
124
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
Hình 5: Biểu đồ tỷ trọng vải chính phẩm và phế phẩm
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ dữ liệu Phòng kinh doanh)
2.2.3. Quản trị tồn trữ
được cung ứng từ trong nước, còn lại đa số
phải nhập ngoại với số lượng đơn hàng nhập
tối thiểu lớn. Do vậy, số ngày tồn kho trung
bình là 52 ngày, một con số khá cao. Nguồn
vốn kinh doanh đang bị ứ đọng lớn trong việc
tồn trữ nguyên liệu, hóa chất thuốc nhuộm.
Tuy nhiên, Công ty không bị gián đoạn sản
xuất do thiếu nguyên liệu.
Nội dung tồn trữ chính tại Công ty bao
gồm: tồn trữ nguyên vật liệu (sợi nguyên liệu,
hóa chất thuốc nhuộm, vật liệu phụ, . . .); tồn
trữ vật tư, phụ tùng sửa chữa và thay thế máy
móc thiết bị; tồn trữ vải mộc và vải thành phẩm
các loại.
Từ kết quả phân tích cho thấy: tỷ lệ hàng
tồn kho trên tổng nguồn vốn trung bình qua 3
năm từ 25 ÷ 32%. Một tỷ lệ khá cao so với
bình quân chung của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong cùng ngành.
Số ngày tồn kho bình quân của vải thành
phẩm là 18 ngày, tuy chưa đạt được như mong
đợi của Công ty (15 ngày), nhưng đây là kết
quả khá tốt trong quản trị tồn kho so với trước
đây. Công ty đã thực hiện khá tốt chính sách
tồn trữ vải thành phẩm từ sản xuất hàng loạt,
chấp nhận lưu kho và xuất kho dần dần theo
nhu cầu nhận hàng của khách hàng sang khống
chế số lượng tồn kho cho từng khách hàng và
khách hàng phải cam kết nhận hết hàng đã đặt
sản xuất trong vòng 15 ngày kể từ ngày sản
xuất.
Số ngày tồn kho trung bình của sợi nguyên
liệu là 31 ngày. Tuy Công ty thực hiện phương
thức sản xuất theo đơn đặt hàng của khách
hàng, khi có nhu cầu mới nhập mua nguyên
liệu nhưng đối với sợi nguyên liệu dùng cho
sản xuất các mặt hàng chiến lược như sợi Ne
80/2 TC (65/35) và sợi ITY 135/108 là các loại
nguyên liệu nhập ngoại, lượng cung ứng không
ổn định nên Công ty hoạch định nhập dự trữ
cho sản xuất. Do vậy số ngày tồn kho trung
bình cao.
Bảng phân tích chi phí vốn do tồn kho
trong năm 2012 cho thấy, với lãi suất tiền gửi
bình quân là 8%/năm thì hàng tháng Công ty
phải bỏ ra 90,738,331 đồng chi phí tồn kho.
Đối với hóa chất thuốc nhuộm dùng cho
sản xuất có rất nhiều chủng loại, một số loại
125
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Bảng 5: Bảng phân tích giá trị hàng hóa tồn kho
Đơn vị tính: Đồng
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)
Bảng 6: Bảng phân tích tồn kho nguyên vật liệu năm 2012
Đơn vị tính: đồng
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)
Bảng 7: Bảng phân tích tồn kho vải thành phẩm năm 2012
Đơn vị tính: đồng
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)
Bảng 8: Bảng phân tích chi phí vốn do tồn kho năm 2012
Đơn vị tính: đồng
(Nguồn: Số liệu Công ty và tính toán của tác giả)
2.2.4. Quản trị phân phối
chỉ một khách hàng là Công ty TNHH thương
mại Khatoco, Công ty gần như phụ thuộc hoàn
toàn vào nhu cầu đặt hàng từ khách hàng này,
sản lượng sản xuất thường không ổn định, hiệu
suất khai thác thiết bị thường rất thấp.
Hệ thống kênh phân phối của Công ty đang
thực hiện ở 1 cấp, tập trung vào từ ba đến bốn
khách hàng chính, chủ lực, bao tiêu gần như
toàn bộ sản lượng sản xuất. Do vậy luôn tiềm
ẩn rủi ro lớn khi thị trường bị thu hẹp, khách
hàng vì lý do nào đó rời bỏ Công ty sang mua
hàng nơi khác, . . . Đặc biệt là vải dệt thoi: với
Hàng hóa của Công ty được phân phối,
chuyên chở giao đến khách hàng chủ yếu bằng
đường bộ trên phương tiện xe tải. Phương tiện
126
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
vận tải của Công ty hiện chỉ có 1 xe tải với tải
Tuy nhiên, nhu cầu nhận hàng của khách
hàng luôn biến động về số lượng cũng như thời
gian nhận hàng. Do phương tiện vận tải của
Công ty chỉ có một nên việc quản trị vận tải
giao nhận hàng gặp rất nhiều khó khăn, thậm
chí có nhiều lúc Công ty không thể giao hàng
cho khách đúng kế hoạch, làm giảm uy tín và
sự thỏa mãn của khách hàng bị giảm sút.
trọng tối đa 6,5 tấn. Phạm vi giao nhận hàng
thông thường từ kho Công ty (Nha Trang) đến
kho của khách hàng ở Thành phố Hồ Chí Minh
và các vùng lân cận như Đồng Nai, Bình
Dương, …và ngược lại với khoảng thời gian
giao hàng trong vòng 10 đến 12 giờ.
Hình 6: Sơ đồ kênh phân phối vải may mặc của Công ty CP dệt Tân Tiến
Bảng 9: So sánh các phương thức vận chuyển hàng hóa năm 2012
(Nguồn: Tính toán của tác giả)
2.2.5. Quản trị khách hàng
Khách hàng tiêu thụ trên 80% sản lượng
sản xuất vải dệt thoi của Công ty là Công ty
TNHH thương mại Khatoco – một doanh
nghiệp thành viên cùng thuộc Công ty mẹ là
Tổng công ty Khánh Việt nên giữa Công ty với
Khách hàng tiêu thụ sản phẩm của Công ty
được chia thành hai nhóm chính: khách hàng
tiêu thụ vải dệt thoi và khách hàng tiêu thụ vải
dệt kim.
127
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Công ty TNHH thương mại Khatoco có sự
Nhóm khách hàng là các Công ty may mặc
chuyên làm hàng xuất khẩu ra thị trường nước
ngoài: nhóm khách hàng này chủ yếu là các
Công ty có vốn đầu tư nước ngoài chuyên đặt
hàng vải thành phẩm có chất lượng cao từ thị
trường Việt Nam rồi cắt may thành phẩm xuất
bán ra nước ngoài. Yêu cầu về chất lượng cho
nhóm khách hàng này rất cao nhưng sản lượng
thường không lớn. Mặc khác, một số đơn hàng
có tính chất chuyên dùng, đặc thù, sử dụng các
nguyên liệu đặc biệt, công nghệ hoàn tất tiến
tiến thì Công ty không đáp ứng được do hạn
chế về trình độ thiết bị, công nghệ. Do vậy, sản
lượng đáp ứng của Công ty cho nhóm khách
hàng này còn rất khiêm tốn. Trong thời gian
tới, Công ty đã có kế hoạch đầu tư chiều sâu,
trang bị thêm một số thiết bị hiện đại, tiếp nhận
chuyển giao một số quy trình hoàn tất tiên tiến
để đáp ứng tốt hơn các đơn hàng của nhóm
khách hàng này. Giá bán vải thành phẩm cho
nhóm khách hàng này rất tốt, chế độ thanh toán
rất thuận lợi cho Công ty.
tương tác, hỗ trợ lẫn nhau trong việc sản xuất
và tiêu thụ. Tuy nhiên sản lượng đặt hàng chỉ
khai thác được từ 35 ÷ 40% năng lực sản xuất
vải dệt thoi tại Công ty và Công ty hiện đang
phụ thuộc vào đơn hàng của khách hàng này
nên tiềm ẩn nhiều rủi ro khi Công ty TNHH
thương mại Khatoco không có đơn hàng cho
Công ty. Do vậy, Công ty đang từng bước tìm
kiếm thị trường tiêu thụ mới, khách hàng mới
nhằm tăng sản lượng sản xuất, tăng năng lực
khai thác thiết bị và chủ động trong kế hoạch
sản xuất kinh doanh.
Khách hàng tiêu thụ vải dệt kim bao gồm
các doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, hộ
kinh doanh cá thể kinh doanh vải dệt kim ở các
Chợ vải đầu mối. Các khách hàng này tiêu thụ
trên 85% sản lượng vải dệt kim các loại của
Công ty. Đối với nhóm khách hàng này, Công
ty thực hiện nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ
bán hàng như ưu tiêu trong việc phát triển mẫu
mới, ưu tiên trong kế hoạch sản xuất, thanh
toán chậm, chiết khấu bán hàng theo doanh thu
và sản lượng tiêu thụ, . . . . Tuy nhiên nhằm
giảm thiểu rủi ro trong thanh toán, Công ty áp
dụng đảm bảo thanh toán qua ngân hàng cho
các công nợ của khách hàng và áp dụng sản
lượng tồn kho tối đa không quá 10 tấn/ tháng/
khách hàng để gia tăng trách nhiệm của khách
hàng trong việc đặt hàng và tiêu thụ.
Hoạt động quản trị khách hàng tập trung
vào việc tiếp nhận đơn hàng của khách hàng,
xử lý đơn hàng, theo dõi tiến độ sản xuất, theo
dõi thanh toán và công nợ của các khách hàng.
Tuy nhiên, các nghiệp vụ quản trị khách hàng
tại Công ty còn khá rời rạc, chưa được tin học
hóa, chưa được tổ chức, chưa xây dựng được
các chương trình chăm sóc khách hàng một
cách chuyên nghiệp nên chưa mang lại sự hài
lòng cao nhất cho khách hàng.
Một đối tượng khách hàng khác tiêu thụ
vải dệt kim của Công ty là các tổ chức, cá nhân
mua vải của Công ty để xuất khẩu trực tiếp ra
nước ngoài. Tuy sản lượng tiêu thụ chỉ chiếm
khoảng 15% nhưng yêu cầu về chất lượng khắc
khe hơn, phải đạt các tiêu chuẩn xuất khẩu an
toàn cho người sử dụng (như phải đạt chứng
chỉ Ecotek, . . .). Nhóm khách hàng này trực
tiếp giới thiệu sản phẩm của Công ty ra thị
trường nước ngoài, quảng bá thương hiệu của
Công ty nên Công ty cũng có nhiều chính sách
ưu đãi, khuyến khích gia tăng sản lượng tiêu
thụ như cung cấp mẫu chào hàng với số lượng
lớn, chấp nhận các đơn hàng có số lượng dưới
mức sản lượng tối thiểu theo quy định, . . .
2.2.6. Hệ thống thông tin quản lý
Thông tin quản lý bao gồm tập hợp các dữ
liệu và những phân tích liên quan đến cơ sở hạ
tầng của chuỗi (là những vị trí vật chất trên
chuỗi, nơi sản phẩm được sản xuất và tồn kho),
vận tải, chi phí, giá cả và khách hàng. Hệ thống
thông tin quản lý trong chuỗi sẽ tạo cơ hội cho
chuỗi có thể cải thiện hiệu quả hoặc khả năng
đáp ứng.
Tương tự như hệ thống quản trị khách
hàng, hệ thống thông tin quản lý tại Công ty
chưa được tin học hóa, chưa có phần mềm vi
tính hỗ trợ. Do vậy, việc ra quyết định quản lý
trên từng mắc xích của chuỗi cung ứng tại
128
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
Công ty còn rời rạc, chủ yếu được thực hiện
bằng kinh nghiệm, khả năng phân tích và dự
đoán của các nhà quản trị nên hiệu quả không
cao, nhiều khi lại là những quyết định sai lầm.
Bảng 10: Tỷ trọng sản lượng tiêu thụ vải dệt kim của từng nhóm khách hàng năm 2012
(Nguồn: Công ty Cổ phần Dệt Tân Tiến)
dụng linh hoạt và khá hiệu quả các phương
thức vận chuyển hàng hóa: kết hợp giữa
phương tiện vận tải của Công ty với phương
thức thuê ngoài đã đáp ứng kịp thời nhu cầu
giao nhận hàng hóa, phân phối hàng hóa đến
các khách hàng.
3. Kết luận
Qua phân tích thực trạng quản trị chuỗi
cung ứng tại Công ty cho thấy:
- Những điểm mạnh:
+ Quản trị mua hàng được tổ chức khá
chặt chẽ, thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với
nhiều nhà cung cấp. Với nguồn lực tài chính
của Công ty khá tốt, sẵn sàng thanh toán và
thanh toán đúng hạn các công nợ đến hạn nên
nhiều nhà cung cấp sẵn sàng hợp tác tốt với
Công ty trong việc cung ứng các nhu cầu cho
sản xuất.
- Những tồn tại của quản trị chuỗi cung
ứng:
+ Công ty chưa thành lập được Phòng
thu mua, chưa tổ chức hoạt động thu mua một
cách chuyên nghiệp với đội ngũ nhân viên thu
mua các yếu tố đầu vào có tâm và có tầm nên
hiệu quả quản trị mua các yếu tố đầu vào của
Công ty còn kém hiệu quả.
+ Việc thực hiện chiến lược sản xuất
và cung ứng vải mộc của Xưởng dệt cho
Xưởng nhuộm/in hoàn tất bằng phương thức
sản xuất dự trữ từ các tháng thấp điểm để cung
ứng cho các tháng cao điểm đã đáp ứng tương
đối tốt nhu cầu tăng cao vải mộc cho sản xuất
hoàn tất, đáp ứng cao nhất nhu cầu của khách
hàng, đồng thời kiểm soát được chất lượng vải
thành phẩm.
+ Công ty chưa tham gia vào hệ thống
chuỗi cung ứng của ngành, hiệp hội để có được
nhiều lợi thế hơn, chủ động hơn trong việc
cung ứng nguyên vật liệu phục vụ cho sản
xuất.
+ Năng lực về thiết bị, công nghệ của
Công ty còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu
cầu ngày càng cao của khách hàng, không thể
mở rộng thị trường, khách hàng khi năng lực
không thể đáp ứng, đặc biệt là vào các tháng
cao điểm. Một số đơn hàng Công ty không thể
thực hiện do hạn chế về thiết bị cũng như công
nghệ sản xuất.
+ Trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, nhu cầu tồn trữ nguyên vật liệu cho sản
xuất cũng như thành phẩm đáp ứng kịp thời
cho thị trường là tất yếu. Việc áp dụng chiến
lược tồn trữ theo nhu cầu phát sinh của đơn đặt
hàng của khách hàng đã góp phần giảm thiểu
chi phí tồn trữ, giảm ứ động vốn kinh doanh.
+ Các mặt hàng do Công ty sản xuất
không cân đối, tập trung cao vào các tháng cao
điểm từ tháng 2 đến tháng 7 hàng năm, các
+ Với năng lực về phương tiện vận tải
của Công ty còn hạn chế, nhưng Công ty đã áp
129
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
tháng còn lại hoạt động sản xuất chỉ cầm
chừng, nhiều khi không có đơn hàng sản xuất.
ngũ nhân viên thu mua có trình độ, am hiểu thị
trường và có kỹ năng tốt trong đàm phán,
thương lượng, tìm kiếm các nguồn cung ứng
tốt cho Công ty.
+ Hệ thống phân phối của Công ty chỉ
đang tập trung vào một số ít đối tượng khách
hàng chính, do đó tiềm ẩn nhiều rủi ro khi mất
khách hàng, mất thị trường.
3. Ứng dụng có hệ thống công nghệ thông
tin vào hoạt động quản trị chuỗi cung ứng,
nghiên cứu, đầu tư và ứng dụng các phần mềm
quản trị như phần mềm quản trị doanh nghiệp
và phần mền quản trị quan hệ khách hàng.
+ Quản trị quan hệ khách hàng ở Công
ty còn yếu kém, thậm chí còn chưa được quan
tâm từ các cấp lãnh đạo. Hoạt động quản trị
khách hàng còn sơ sài, mang tính thủ công nên
hiệu quả thấp.
4. Chú trọng đào tạo đội ngũ quản trị viên
về quản trị chuỗi cung ứng, song song với thiết
lập bộ phận chuyên môn chuyên về quản trị
chuỗi cung ứng có chức năng và nhiệm vụ
chuyên sâu, tham mưu và giúp việc cho Ban
giám đốc ban hành các chính sách quản trị
chuỗi cung ứng hiệu quả.
Trên cơ sở nhận diện các tồn tại, hạn chế
trong hoạt động quản trị chuỗi cung ứng như
trên, tác giả đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện
quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty như sau:
1. Đa dạng các quan hệ cung ứng, chú
trọng thiết lập quan hệ liên minh với các nhà
cung ứng. Thiết lập tốt và tham gia sâu rộng
vào mạng lưới chuỗi cung ứng ngành sẽ mang
lại lợi thế nhất định cho Công ty trong việc
cung ứng các yếu tố đầu vào như nguyên liệu,
hóa chất thuốc nhuộm, . . . cũng như được sự
hỗ trợ, hợp tác trong phát triển sản xuất, tiếp
thu công nghệ mới và mở rộng thị trường tiêu
thụ.
5. Thay đổi nhận thức và văn hóa Công ty
trong việc thực thi các giải pháp quản trị chuỗi
cung ứng.
6. Đầu tư chiều sâu trang thiết bị và công
nghệ dệt nhuộm hoàn tất, nâng cấp năng lực
sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp
ứng tốt các nhu cầu ngày càng cao của khách
hàng
7. Xây dựng kế hoạch đánh giá hiệu quả
hoạt động quản trị chuỗi cung ứng nhằm chấn
chỉnh, nâng cấp chuỗi cung ứng./.
2. Chuẩn hóa bộ phận thu mua, cung ứng
các yếu tố đầu vào cho Công ty. Xúc tiến xây
dựng và thành lập Phòng thu mua được tổ
chức, cơ cấu bài bản, chuyên nghiệp với đội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ths. Nguyễn Kim Anh – “Quản lý chuỗi cung ứng”, tài liệu học tập, Trường Đại học mở bán
công Thành phố Hồ Chí Minh, 2006.
[2] TS. Lê Thị Minh Hằng – “Quản trị chuỗi cung ứng”, giáo trình, Trường Đại Học kinh tế Đà
Nẵng.
[3] Đường Võ Hùng – “Quản lý chuỗi cung ứng”, bài giảng, Khoa quản lý công nghiệp, Trường
Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Bùi Thị Minh Nguyệt – “Định hướng và giải pháp xây dựng mô hình quản trị chuổi cung ứng
nội bộ tại Công ty SCAVI”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ
Chí Minh, 2007.
[5] Võ Ngọc Thạch – “Quản lý hậu cần sản xuất và chuỗi cung ứng”, chương trình đào tạo Giám
đốc sản xuất chuyên nghiệp, Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
130
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
[6] Lê Thị Thủy – “Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cao
su Kon Tum” – Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Trường Đại học Đà Nẵng, 2013.
[7] Lê Vĩnh Tường – “Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển An Thái”
– Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Trường Đại học Đà Nẵng, 2012.
[8] Bowersox, D.J., Closs,D.J., & Cooper, M.B. (2000). Supply chain Logistics management (1st
ED.). Mc Graw-Hill/Irwin Publisher. ISBN: 0-07-235100-4.
[9] Cohen,S., & Rousell, J. (2005). Strategic Supply chain Management. Mc Graw-Hill/Irwin
Publisher. ISBN: 0-07-145449-7.
[10] Courtesy of the Council of Logistics Management.
[11] Eva Klemencic. Management of the supply chain – Case of Danfoss District heating business
area, Master’s degree thesis, Ljubljana University Faculyy of economics, 2006.
[12] “Glossary of key purchasing and supply terms”, The Institute for supply management, 2000.
[13] Nastassia Povarava & Natalija Borovkova, Flexibility in Supply Chain – a case study of ICA
AB and sub-case of ZARA, Master thesis, Jonkoping University, 2012.
131
Bạn đang xem tài liệu "Quản trị chuỗi cung ứng: Trường hợp nghiên cứu tại công ty Cổ phần dệt Tân Tiến – Nha Trang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quan_tri_chuoi_cung_ung_truong_hop_nghien_cuu_tai_cong_ty_co.pdf

