Hôn nhân khác dân tộc, khác tôn giáo của người Chăm hiện nay
78
CHUYÊN MỤC
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC
HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO
CỦA NGƯỜI CHĂM HIỆN NAY
HÁN THỊ THANH LAN*
Người Chăm là một trong những cộng đồng có nền văn hóa đa dạng và phong
phú được truyền từ thế này hệ qua thế hệ khác bằng các thiết chế gia đình,
dòng họ, làng. Tuy nhiên những năm gần đây, sự phát triển kinh tế - xã hội dẫn
đến nhiều thay đổi trong văn hóa, nếp sống của người Chăm. Một trong những
thay đổi đáng kể trong đời sống xã hội của cộng đồng này là việc kết hôn với
người khác dân tộc, khác tôn giáo. Bài viết sử dụng những tư liệu được thu thập
bằng phương pháp điền dã dân tộc học, phỏng vấn sâu và điều tra xã hội học,
và kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước để tìm hiểu cụ thể hơn về những
thay đổi này trong đời sống hôn nhân của cộng đồng Chăm.
Từ khóa: hôn nhân, người Chăm, luật tục hôn nhân, khác dân tộc, khác tôn giáo
Nhận bài ngày: 16/9/2021; đưa vào biên tập: 18/9/2021; phản biện: 10/10/2021;
duyệt đăng: 22/11/2021
1. DẪN NHẬP
thủ công và một số làm công nhân...
Qua các giai đoạn lịch sử, người
Chăm sống cộng cư với nhiều dân tộc
khác nhau, người Chăm ở tỉnh Phú
Yên, Bình Định sinh sống bên cạnh
dân tộc Bana, K’ho; người Chăm ở
tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận sống
cùng với dân tộc Kinh và Raglai;
người Chăm ở Nam Bộ sống cộng cư
cùng dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và
một số dân tộc khác. Bối cảnh kinh tế -
xã hội của đất nước trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập đem lại diện mạo mới trong đời
Dân số người Chăm hiện nay khoảng
178.948 người (Ủy ban Dân tộc -
Tổng cục Thống kê, 2019), sinh sống
và làm việc trên khắp các tỉnh thành
của cả nước, tập trung đông tại các
tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận, An
Giang, TPHCM, Bình Dương, Bình
Phước, Bình Định, Phú Yên. Đa số
người Chăm sinh sống bằng nghề
nông, buôn bán, làm gốm, dệt thổ cẩm
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
HÁN THỊ THANH LAN – HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO…
79
sống và sự tiếp biến văn hóa trong “Ghur” nghĩa địa của dòng họ. Ngoài
cộng đồng người Chăm, đặc biệt về ra, người Chăm sợ mất người trong
tôn giáo của mình nên không muốn có
quan hệ hôn nhân với tôn giáo khác,
đặc biệt ở người Chăm miền Trung
theo chế độ cư trú bên vợ, con cái
tính theo dòng họ mẹ nên không thể
cho phép con trai đi lấy vợ thuộc tôn
giáo khác (Phan Xuân Biên và cộng
sự, 1991: 207). Trong lịch sử xã hội
Chăm, hôn nhân khác tôn giáo đã
từng được phản ánh trong trường ca
Ariya Cam - Bini (Inrasara, 1994: 323-
338). Đây là chuyện tình đầy khó khăn,
thử thách giữa người con trai Chăm
Bani và cô gái Chăm Balamon. Cuối
cùng họ phải dùng cái chết để minh
chứng cho tình yêu. Trường ca này
vừa ca ngợi tình yêu thủy chung của
đôi trai gái Chăm vừa phê phán
những quy định vô lý của tôn giáo.
Phan Xuân Biên và cộng sự (1975: 67)
cho rằng: “Tiếng kêu cầu cứu đó đến
nay vẫn chưa được xã hội Chăm đáp
ứng”. Trong lĩnh vực hôn nhân, cộng
đồng tôn giáo Chăm Balamon và
Chăm Bani vẫn được coi như hai con
suối không thể chảy chung một dòng,
như mặt trời mặt trăng không thể
sáng cùng một lúc, con trai con gái
của họ vẫn chưa được phép xây
dựng hạnh phúc gia đình với nhau.
Ngay cả người Chăm Bani và Chăm
Islam đều thuộc Islam giáo, song giữa
hai nhóm này rất ít có quan hệ hôn
nhân với nhau.
hôn nhân ở người Chăm ngày nay.
2. PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁCH TIẾP
CẬN
Trong bài viết này, hôn nhân khác dân
tộc được hiểu là có hôn nhân giữa
nam hoặc nữ người Chăm với người
dân tộc khác (hôn nhân ngoại tộc);
hôn nhân khác tôn giáo là hôn nhân
giữa nam nữ người Chăm có niềm tin
và cách thực hành niềm tin tôn giáo
khác nhau.
Có nhiều công trình nghiên cứu đề
cập đến hôn nhân khác dân tộc, khác
tôn giáo ở người Chăm. Khi tìm hiểu
về tôn giáo tín ngưỡng của người
Chăm ở Việt Nam, Mah Mod (1975:
67) nhận xét: “Tôn giáo còn gây chia
rẽ giữa hai khối Chàm - khối Chăm
Kaphia(1) và khối Chăm Bani. Hai khối
Chăm này không có quan hệ mật thiết,
họ không ăn uống chung, không ở
chung một xóm (thôn) và nhất là, quan
hệ về hôn nhân thì tuyệt đối bị ngăn
cấm”. Theo Phan Nhật Đăng (2003:
141) luật tục về hôn nhân của người
Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận
cấm kết hôn với người khác dân tộc,
khác tôn giáo vì không cùng tục thờ
thần, khác phong tục tập quán, tiếng
nói khác nhau. Người Chăm quan
niệm, kết hôn với những người khác
tôn giáo, khác dân tộc thì sẽ không
bảo đảm tính thuần khiết về dòng
giống, con cái họ khi chết sẽ không
được đưa vào “Kut” chính nếu là
Dù sống cộng cư lâu đời với người
Chăm Balamon, còn Chăm Bani Kinh và các tộc người khác trên một
không được chôn ở hàng chính trong
địa bàn nhưng hôn nhân giữa người
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021
80
Chăm và người Kinh cũng như với của luật Islam, hay băn khoăn và lo
lắng cho cô dâu hoặc chú rể không
tuân thủ theo giáo luật Islam. Người
thuộc tộc người và tôn giáo khác kết
hôn với người Chăm Islam thì bắt
buộc phải theo tôn giáo Islam. Vũ
Ngọc Xuân Ánh (2020: 69) cho rằng:
một số quy định của “Hồi giáo là yếu
tố tạo ra “lực cản” làm cho vợ chồng
người Chăm thuộc các tộc người và
tôn giáo khác buộc phải từ bỏ tất cả
phong tục truyền thống của gia đình,
dòng họ và cộng đồng của họ. Đồng
thời,... là yếu tố tạo ra “lực hút” giúp
cho vợ hoặc chồng người Chăm thuộc
các tộc người và tôn giáo khác hợp
thức hóa quan hệ hôn nhân bằng nghi
thức Nikah, giữ nghiêm nếp sinh hoạt
hàng ngày theo luật đạo để dần hòa
nhập vào lối sống của gia đình, dòng
họ và cộng đồng người Chăm Hồi
giáo”.
dân tộc khác hầu như rất ít. Nếu có,
đó là trường hợp chồng là người
Chăm vợ là người Kinh (hầu như
không có trường hợp ngược lại). Đối
với người Chăm Châu Đốc chế độ
phụ hệ đã được thiết lập, chế độ đa
thê được chấp nhận, nên đã có nhiều
trường hợp đàn ông Chăm cưới vợ là
người dân tộc Kinh, Khmer, nhưng đó
cũng chỉ là vợ thứ hai, thứ ba (Phan
Xuân Biên và cộng sự, 1991: 208).
Sự phân biệt về tôn giáo trong hôn
nhân của người Chăm theo thời gian
đã chuyển biến và thay đổi phần nào,
đã có nhiều cặp trai gái yêu nhau dù
khác nhau về tôn giáo. Sau năm 1975,
riêng ở tỉnh Ninh Thuận đã có khoảng
10 cặp và tỉnh Bình Thuận có vài cặp
vợ chồng kết hôn khác tôn giáo. Đặc
biệt có cặp vợ chồng là con của chức
sắc tôn giáo Bani lấy con của gia đình
giàu có là Chăm Balamon, những cặp
vợ chồng khác tôn giáo, khác dân tộc
đa số thuộc giới trí thức của người
Chăm (Bá Trung Phụ, 1996: 144-145).
Về quan hệ hôn nhân khác tộc người
và khác tôn giáo của cộng đồng người
Chăm Islam ở Nam Bộ, theo Võ Công
Nguyện (2020: 92), đó là sự ý thức
của cha mẹ, sợ phạm vào tội zina do
quan hệ ngoài hôn nhân – tội nặng
Kế thừa kết quả từ các nghiên cứu
trên, bài viết trình bày những câu
chuyện thực tế về hôn nhân khác dân
tộc ở các nhóm Chăm Bình Định và
Phú Yên; Chăm Ninh Thuận và Bình
Thuận; Chăm ở Nam Bộ qua 47
trường hợp tham gia phỏng vấn, trong
đó có 9 trường hợp kết hôn khác tôn
giáo (Chăm Balamon - Chăm Bani;
Chăm Bani - Chăm Islam; Chăm Islam-
Bảng 1. Trường hợp hôn nhân với người khác dân tộc, khác tôn giáo theo địa phương
Tỉnh
Phú Yên Ninh Thuận Bình Thuận An Giang TPHCM
Tổng
Giới tính
Nam
1
2
3
9
25
34
0
2
2
2
3
5
0
3
3
12
35
47
Nữ
Tổng
Nguồn: Hán Thị Thanh Lan, 2021.
HÁN THỊ THANH LAN – HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO…
81
Chăm Balamon; Chăm Balamon - phổ biến chính sách pháp luật của
Chăm Hroi) vào các năm 2018, 2019. Nhà nước, người dân có điều kiện
Ngoài ra còn phỏng vấn qua điện phát triển trên nhiều phương diện như
thoại các trường hợp người Chăm kết đời sống kinh tế, trình độ học vấn,
hôn với người khác dân tộc, ở tỉnh trình độ nhận thức… đồng thời mở ra
Phú Yên thông qua giới thiệu.
cho người dân nhiều cơ hội nghề
nghiệp ngoài phạm vi nông nghiệp.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN
LUẬN
Qua khảo sát cho thấy, đa phần
trường hợp kết hôn với người khác
dân tộc, khác tôn giáo là nhân viên và
công nhân (66%), các trường hợp
buôn bán, bán hàng rong và làm nông
ít hơn. Trước đây, nguồn thu nhập
chủ yếu của người Chăm là dựa vào
hoạt động sản xuất nông nghiệp và
các nghề thủ công truyền thống thì
hiện nay cơ cấu nghề nghiệp đã có
nhiều thay đổi, ngoài làm nông nghiệp,
một bộ phận không nhỏ chuyển sang
lĩnh vực phi nông nghiệp như làm
công nhân tại các khu công nghiệp
trong và ngoài tỉnh, làm công nhân
viên chức nhà nước, làm cho tư nhân
hay buôn bán. Các chính sách của
nhà nước về đào tạo nghề và giải
quyết việc làm đã giúp người Chăm
có cơ hội làm việc tại các khu vực đô
thị như TPHCM, Bình Dương, Bình
Phước, Vũng Tàu, Đồng Nai… Hơn
nữa, việc làm nông hiện nay không
cần sức người như trước do có
phương tiện hỗ trợ nên giới trẻ Chăm
tìm đến các thành phố, khu công
nghiệp làm việc ngày càng nhiều và
không gian giao tiếp vốn dĩ bó hẹp
trong palei, puk (thôn, xóm) đã bị phá
vỡ. Ở môi trường làm việc mới, người
Chăm có nhiều cơ hội quen biết, tìm
hiểu và tự do lựa chọn bạn đời; cha
3.1. Tiền đề cho những cuộc hôn
nhân khác dân tộc và khác tôn giáo
ở người Chăm
Từ sau 1986, Việt Nam xác định lợi
ích kinh tế là cơ sở để thực hiện lợi
ích xã hội nên chính sách kinh tế luôn
gắn liền với chính sách xã hội khi xây
dựng nền kinh tế thị trường, hội nhập
quốc tế. Đảng và Nhà nước quan tâm
đầu tư triển khai thực hiện các vấn đề
xã hội như giải quyết việc làm, nâng
cao mức sống dân cư, phát triển giáo
dục, y tế, các dịch vụ xã hội… ở các
vùng nông thôn, dân tộc thiểu số và
miền núi. Được sự đầu tư, hỗ trợ của
nhà nước thông qua các chính sách
về an sinh xã hội trong vùng đồng bào
dân tộc thiểu số cùng với tuyên truyền,
Bảng 2. Nghề nghiệp của các trường hợp
người Chăm kết hôn khác dân tộc, khác
tôn giáo
Nghề nghiệp
Số lượng Tỷ lệ (%)
Công nhân viên chức nhà
nước
12
25,6
Nhân viên công ty tư nhân
5
10,6
29,8
Công nhân các khu công
14
nghiệp
Buôn bán, bán hàng rong
3
6,4
Làm nông
Khác
9
4
19,1
8,5
Tổng
47
100
Nguồn: Hán Thị Thanh Lan, 2021.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021
82
mẹ không còn có thể kiểm soát chặt Bani; 1 trường hợp là chồng Chăm
chẽ các mối quan hệ tình yêu của con
cái; nam nữ người Chăm có cơ hội
chủ động tìm hiểu người mình thích,
chủ động thiết lập mối quan hệ yêu
đương, chủ động tiến tới hôn nhân và
xây dựng gia đình.
Balamon kết hôn với vợ Chăm Islam;
1 trường hợp là vợ Chăm Balamon
kết hôn với chồng Chăm Hroi; 1
trường hợp là vợ Chăm Islam kết hôn
với chồng Chăm Bani; 10 trường hợp
là vợ Chăm Balamon kết hôn với
chồng người Kinh; 4 trường hợp là
chồng Chăm Balamon kết hôn với vợ
người Kinh; 3 trường hợp là vợ Chăm
Islam kết hôn với chồng người Kinh; 1
trường hợp là vợ Chăm Islam kết hôn
với chồng người Kinh; 1 trường hợp
là vợ Chăm Balamon kết hôn với
chồng người Êđê; 1 trường hợp là vợ
Chăm Balamon kết hôn với chồng
người Hoa; 1 trường hợp là vợ Chăm
Balamon kết hôn với chồng người
Khmer; 2 trường hợp là vợ Chăm Hroi
kết hôn với chồng người Kinh.
Ngoài ra, chính sách và các chương
trình phát triển của nhà nước đối với
các dân tộc thiểu số nói chung và dân
tộc Chăm nói riêng đã có những tác
động không nhỏ đến hôn nhân thông
qua việc nâng cao trình độ học vấn và
mở rộng cơ hội nghề nghiệp cũng như
sự giao lưu và bảo tồn văn hóa vùng
đồng bào dân tộc.
3.2. Khái quát chân dung của những
trường hợp được nghiên cứu
Dựa vào độ tuổi kết hôn, chúng tôi
chia 47 đối tượng được phỏng vấn
thành 3 nhóm:
Nhóm 3, độ tuổi từ 23 đến 30 tuổi
(sinh 1999 đến 1991) có 9 trường hợp:
7 trường hợp là vợ Chăm Balamon
kết hôn với chồng người Kinh; 1
trường hợp là chồng Chăm Balamon
kết hôn với vợ người Kinh; 1 trường
hợp là vợ Chăm Balamon kết hôn với
chồng người Khmer.
Nhóm 1, độ tuổi từ 51 tuổi trở lên (sinh
năm 1970 trở lên) có 11 trường hợp:
2 trường hợp là vợ Chăm Balamon
kết hôn với chồng Chăm Bani; 3
trường hợp là chồng Chăm Balamon
kết hôn với vợ Chăm Bani; 1 trường
hợp là chồng Chăm Balamon kết hôn
với vợ Chăm Islam; 1 trường hợp là
chồng Chăm Balamon kết hôn với vợ
là người Kinh; 3 trường hợp là chồng
Chăm Islam kết hôn với vợ người
Kinh; 1 trường hợp là chồng Chăm
Balamon kết hôn với vợ người Êđê.
Ở ba nhóm tuổi tỷ lệ nữ lấy chồng
người khác dân tộc ở nhóm 3 vượt
trội hơn (8/9 trường hợp) so với nhóm
1 và 2. Nhóm này có 7 người tốt
nghiệp lớp 12 trở lên; 2 người chưa
tốt nghiệp lớp 12; 2 người có việc làm
tại cơ quan nhà nước với mức thu
nhập ổn định; các trường hợp còn lại
làm công nhân hoặc làm trong các cơ
sở kinh tế tư nhân. Hầu hết các
Nhóm 2, độ tuổi từ 31 đến 50 tuổi
(sinh 1990 đến 1971) có 27 trường
hợp: 1 trường hợp là vợ Chăm
Balamon kết hôn với chồng Chăm trường hợp của nhóm 3 sống xa cộng
HÁN THỊ THANH LAN – HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO…
83
đồng, trong đó có 7 trường hợp thuộc Chị S, lấy chồng người Kinh cùng làng
tỉnh Ninh Thuận, làm việc tại các khu và chị làm dâu nhà chồng. Mẹ chồng
công nghiệp ở TPHCM, Bình Dương,
Đồng Nai. Điều này cho thấy quan
niệm con gái là người giữ tài sản của
gia đình, dòng họ, là người thực hiện
các phong tục tập quán, nghi lễ tôn
giáo trong tộc họ của người Chăm ở
tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đang
dần bị phá vỡ.
chị yêu cầu chị không mặc trang phục
như phụ nữ Chăm bình thường và về
nhà mẹ đẻ khi được gia đình nhà
chồng cho phép. Chị đã đáp ứng
được các yêu cầu của nhà chồng để
có thể sống hòa hợp với nhau (PVS
chị S, 38 tuổi ở xã Phước Ninh huyện
Thuận Nam tỉnh Ninh Thuận, tháng
3/2020). Đặc biệt, trường hợp kết hôn
của nam người Chăm Balamon và nữ
Chăm Islam, là công nhân viên nhà
nước. Họ có hai đứa con và hiện đang
sinh sống và ở xã Phước Nam, huyện
Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Người
chồng theo Balamon chuyển sang
Islam để làm nghi thức Nikah và sống
chung với gia đình vợ, thỉnh thoảng
khi bên gia đình Chăm Balamon làm
các nghi lễ tôn giáo cần sự có mặt của
thành viên trong gia đình thì hai vợ
chồng có tham dự nhưng không thực
hiện các hình thức như cúng, lạy hay
ăn các thức ăn đã dâng cúng cũng
như các thức ăn chưa đảm bảo halal.
Gia đình Chăm Balamon hiểu những
kiêng cữ của tôn giáo Islam nên
không yêu cầu con trai và những đứa
cháu thực hiện nghi lễ. Người vợ và
gia đình vợ thấu hiểu sự hy sinh của
chồng và gia đình chồng nên thương
yêu anh nhiều hơn, cùng với đó là cư
xử tốt với bên chồng cũng như họ
hàng bên chồng bằng hình thức thăm
hỏi, chia sẻ những khó khăn của gia
đình (PVS chị M làm giáo viên, 34 tuổi
ở xã Phước Nam huyện Thuận Nam
tỉnh Ninh Thuận, tháng 3/2020).
Trường hợp này một phần thể hiện sự
Khảo sát cho thấy nhiều trường hợp
kết hôn khác dân tộc, khác tôn giáo
thường có điều kiện kinh tế khá, chất
lượng cuộc sống tốt, các nghi lễ hôn
nhân đã được đơn giản, chỉ thực hiện
lễ cưới tại gia đình hoặc nhà hàng.
Đặc biệt, các cặp kết hôn ý thức hơn
trong việc đăng ký kết hôn để được
sự công nhận và bảo vệ của pháp luật.
Có 40 trường hợp đã đăng ký kết hôn,
7 trường hợp do nhiều lý do không
đăng ký kết hôn (trong đó 3 trường
hợp thuộc nhóm 1, 2 trường hợp
nhóm 2 và 2 trường hợp nhóm 3).
3.3. Câu chuyện của người trong cuộc
3.3.1. Những cuộc hôn nhân thành
công
Theo chúng tôi, hôn nhân thành công
là hôn nhân có sự đồng ý của cha mẹ,
họ hàng hai bên gia đình, được tổ
chức đám cưới, đăng ký kết hôn, cuộc
sống gia đình hòa thuận hạnh phúc.
Trong 47 trường hợp khảo sát, có 16
trường hợp được xem là hôn nhân
thành công. Mặc dù trong những năm
đầu các cuộc hôn nhân này đều gặp
khó khăn, mâu thuẫn nhưng họ đã
biết dung hòa, thông cảm và chia sẻ
với nhau trong việc làm dâu hoặc ở rể.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021
84
cởi mở trong nhận thức của người trong những mơ ước của hầu hết các
Chăm, một phần thể hiện sự tôn trọng cặp vợ chồng trẻ khi sống xa gia đình,
Luật Hôn nhân và gia đình. Qua cuộc
hôn nhân thành công này, hai tôn giáo
ở hai địa phương xích lại gần nhau
bởi mối quan hệ thông gia, con cháu
được sinh ra từ đây đã giúp kết nối
quan hệ tình thân giữa những người ở
hai tôn giáo vốn được xem là hai con
suối không cùng chung một dòng
trong cộng đồng Chăm.
xa cộng đồng (PVS anh L cán bộ nhà
nước, 36 tuổi ở phường 16, quận 11,
TPHCM, tháng 2/2021).
Bà Đ, cho rằng: “khinh yau nan siam
oh” nghĩa là ủng hộ việc hai người
Chăm dù ở các địa phương, tôn giáo
khác nhau nhưng cùng là dân tộc
Chăm và biết tìm đến nhau để kết hôn
là điều tốt (PVS bà Đ 68 tuổi, xã
Phước Ninh, huyện Thuận Nam, tỉnh
Ninh Thuận, tháng 12/2020).
Một trường hợp kết hôn khác dân tộc,
khác tôn giáo tạo được niềm tin cũng
như mong muốn của cộng đồng Chăm
trong cuộc sống hôn nhân.
Chị MD làm hướng dẫn viên du lịch 37
tuổi ở xã Châu Phong, thị xã Tân
Châu, tỉnh An Giang lấy chồng người
Chăm Bani ở Ninh Thuận. Chồng chị
đã chuyển sang tôn giáo Islam. Họ có
hai đứa con chăm ngoan, học giỏi và
mơ ước sau này làm bác sĩ. Sau khi
lập gia đình, chị MD từ hộ có thu nhập
trung bình trở thành hộ giàu có nhờ
sự chăm chỉ làm ăn của chồng (PVS
cô NS, 52 tuổi ở nhà trông cháu, xã
Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An
Giang, tháng 8/2018). Chính nhờ gia
đình có con cái học giỏi, chồng thu
nhập tốt và cùng với vợ một lòng thực
hiện theo luật Islam nên họ đã tạo dư
luận tốt đẹp trong cộng đồng Chăm
An Giang về việc kết hôn với người
Chăm ở Ninh Thuận (trước đây người
Chăm ở An Giang hầu như biết rất ít
về người Chăm Ninh Thuận).
Chị B, 35 tuổi, làm nông kết hôn với
anh T, 37 tuổi quê Thái Bình. Ban đầu
gia đình chị B can ngăn nhưng chị
cương quyết nên gia đình đành chấp
nhận, tuy nhiên sau thời gian sống
chung, với tính tình hiền lành, chăm lo
làm ăn, biết tiết kiệm, không rượu chè,
anh T đã tạo được tình cảm và lòng
tin của gia đình bên vợ. Hai vợ chồng
có bốn người con, ngoan hiền, học
giỏi. Đặc biệt, anh T nói thành thạo
tiếng Chăm (PVS chị B, 35 tuổi, xã
Phước Ninh, huyện Thuận Nam, tỉnh
Ninh Thuận, tháng 12/2020).
Anh L, người Chăm Hroi làm cơ quan
nhà nước, quê Phú Yên lấy vợ người
Chăm Balamon ở Ninh Thuận. Mặc dù
tôn giáo khác nhau nhưng hai anh chị
đã tìm hiểu nhau và cùng quyết định
xây dựng cuộc hôn nhân năm 2017. Các trường hợp trên cho thấy, cuộc
Hiện nay đang sống và làm việc ở sống hôn nhân khác tôn giáo, khác
TPHCM. Hai vợ chồng có hai đứa con, dân tộc hạnh phúc là do có tình yêu
và sau nhiều năm tích lũy anh chị đã và sự chia sẻ. Sự cảm thông cũng
mua được một căn hộ. Đây là một như nhận thức từ người chồng hoặc
HÁN THỊ THANH LAN – HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO…
85
vợ giúp họ cùng vượt qua rào cản hà có sáu trường hợp thất bại trong hôn
khắc về phong tục tập quán cũng như
những sóng gió hôn nhân. Hôn nhân
của con cháu hạnh phúc đồng nghĩa
với việc gia đình, dòng họ hạnh phúc.
Người Chăm luôn mong muốn con
cháu mình lấy người cùng dân tộc
cùng tôn giáo, bởi cho rằng cùng một
phong tục, cùng một lối sống dễ hiểu
và thông cảm lẫn nhau, có thể cùng
nhau chia sẻ những khó khăn trong
cuộc sống. Tuy nhiên, khi thấy những
trường hợp kết hôn khác dân tộc,
khác tôn giáo vẫn có thể dung hòa sự
khác biệt về phong tục tập quán, khác
biệt về tôn giáo để có được hạnh
phúc, họ đã vượt qua những quan
niệm hà khắc về sự khác biệt dân tộc
và tôn giáo, tạo sự hòa hợp và đoàn
kết giữa các dân tộc, tôn giáo theo
tinh thần của Luật Hôn nhân và gia
đình.
nhân. Sáu trường hợp này đều thuộc
về nữ người Chăm chung sống, kết
hôn với người khác dân tộc, ở độ tuổi
18-36 tuổi.
“Em vào Bình Dương làm theo giới
thiệu của chị cùng quê, tại đây em
quen biết anh K và có bầu sau 2 tháng
biết nhau. Tụi em chưa đăng ký kết
hôn, cũng không làm theo phong tục.
Thời gian sau anh K bỏ em đi làm
công ty khác ở Sài Gòn nên em đã
dẫn con về cho cha mẹ nuôi vì không
ai giữ con để em đi làm” (PVS chị N,
32 tuổi xã Phước Tân, huyện Sơn
Hòa, tỉnh Phú Yên, làm công nhân ở
Dĩ An, tỉnh Bình Dương, tháng
3/2021).
Chị H, tâm sự: “Như chị đó, lấy nhau
được đứa con, lúc đầu người ta nói
người ta thương người ta chịu được,
ở với nhau được 5 năm họ không cữ
được [không thực hiện những điều
cấm về ăn uống, thực hành nghi lễ tôn
giáo Islam], đi nhậu về còn đánh chị,
tức quá chị bỏ luôn zdồi [rồi]” (PVS chị
H, 38 tuổi làm nghề may tự do ở
phường Phước Long B, quận 9,
TPHCM, tháng 4/2021).
Ngoài ra, 7 trường hợp kết hôn nhưng
không được sự chứng kiến của họ
hàng hai gia đình, hay có 5 trường
hợp sống với nhau có con rồi mỗi
người lại lấy vợ lấy chồng mới nhưng
vẫn quan tâm và thăm hỏi lẫn nhau,
cũng có trường hợp gia đình và dòng
họ người Chăm không đồng ý kết
hôn với người khác dân tộc, khác tôn
giáo nhưng họ đã tự ý sống với nhau
(3 trường hợp). Hay chính người
trong cuộc đánh giá là cuộc sống hôn
nhân của họ bình thường (10 trường
hợp).
Chị N.R, kể: “Tui đi làm công nhân ở
Sài Gòn rồi gặp ổng, ổng nói thương
rồi tôi chịu, tôi nói lấy tôi là phải vào
Islam, không uống bia, rượu, không
ăn thịt heo,… rồi ổng đồng ý. Lúc tui
và ổng về nhà được hơn 1 năm, ổng
thấy gia đình tui khổ quá, ổng bỏ đi.
Giờ tui nghèo lại không đi làm được,
con thì còn nhỏ khổ lắm chị” (PVS chị
3.3.2. Những câu chuyện dang dở
Trong 47 trường hợp nghiên cứu về
hôn nhân khác dân tộc, khác tôn giáo N.R, 32 tuổi đang nuôi con nhỏ, xã
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021
86
Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tỉnh An trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước,
Giang, tháng 3/2021).
tỉnh Ninh Thuận cho biết: “có cặp vợ
chồng là cô gái Chăm lấy chồng ở Hà
Nội, sau đó về sinh sống ở Hà Nội”,
“cô gái Chăm lấy người Hoa, sinh
sống ở TPHCM” họ sống xa cha mẹ
và cộng đồng dòng họ, không tham
gia các nghi lễ của cộng đồng và dần
đồng hóa thành dân tộc đa số mà họ
đang sống cùng. Đây chính là lý do
người Chăm không ủng hộ hôn nhân
của con gái với người khác dân tộc,
từ đó cũng là nguyên nhân dẫn đến
nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống gia
đình.
Chị N, 27 tuổi ở xã Phan Hiệp, huyện
Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận kết hôn với
người khác dân tộc ở Lâm Đồng,
được nhà trai cưới hỏi đầy đủ, hai họ
vui mừng và chúc phúc cho đôi vợ
chồng. Nhưng sau hai năm chung
sống, cuộc sống gia đình xung đột và
chị bế con về sống chung với cha mẹ
ở quê.
Ông RT (ở Phú Yên); bà C (ở Ninh
Thuận), chị H (ở An Giang) chia sẻ: có
nhiều cô gái Chăm khi đi làm công
nhân, gặp và lấy người khác dân tộc
nhưng sau đó cuộc sống gia đình
không hạnh phúc đã ly hôn và mang
con về cho cha mẹ già ở quê nuôi
dưỡng. Điều này hiện nay đã gây ra
một hệ quả không hay trong cộng đồng
Chăm, và là một cảnh báo về việc yêu,
kết hôn với người khác dân tộc.
Khi người đàn ông kết hôn với người
khác dân tộc, khác tôn giáo thì sau
khi chết họ sẽ là một “gánh nặng” cho
gia đình, họ hàng. Vì theo quan niệm
người Chăm sống mang của cải, giàu
sang cho người, chết mang hài cốt
trả về cho dòng họ (Asal ba urang
talang ba drei hay câu Daok duik
Trường hợp N, 17 tuổi, ở Phú Yên, do
thiếu nhận thức về tình yêu và hôn ngak drap ka urang, tal matai ba
nhân, nên khi có thai, bạn trai và dòng talang ka gauk) (Inrasa 1994: 61). Khi
họ không thừa nhận cũng như sự bảo
vệ của pháp luật. N đưa con về quê
nhờ cha mẹ nuôi để tiếp tục đi làm
Ngoài ra, khi lấy chồng khác dân tộc,
khác tôn giáo, phải về sống nhà chồng,
sống xa cộng đồng, vì vậy dòng họ coi
như đã mất người con gái và những
đứa con của người con gái đó (theo
quan niệm của người Chăm con gái là
tài sản của gia đình và dòng họ, là
người thực hiện các nghi thức của tôn
giáo).
đàn ông Chăm lấy vợ người Chăm,
người vợ hoặc con cái cùng với dòng
họ sẽ lo chu toàn các nghi lễ liên
quan đến tang ma sau đó đến khi làm
lễ nhập Kut thì mang xương cốt về
gia đình, dòng họ bên chồng. Nhưng
khi họ lấy vợ người khác dân tộc,
khác tôn giáo thì đa phần việc tang
ma sẽ do người trong gia đình Chăm
thực hiện. Thực tế có trường hợp “khi
lấy vợ khác dân tộc, lúc còn trẻ, còn
khỏe, còn kiếm ra tiền người chồng
được người vợ coi trọng nhưng khi
già và không còn khả năng lao động
Theo bà T, 54 tuổi, buôn bán tạp hóa
nhỏ và bà C, 67 tuổi, làm nông ở thị
HÁN THỊ THANH LAN – HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO…
87
bị vợ và con coi thường, không chăm rằng trong đời sống, con người bị chi
phối bởi rất nhiều yếu tố xung quanh.
Vì mục đích sinh tồn, người Chăm có
thể tạm rời xa cộng đồng của mình
hoặc rời xa vĩnh viễn, thay đổi môi
trường, điều kiện sống và dần hòa
mình vào môi trường hiện tại. Và việc
kết hôn với người khác dân tộc, khác
tôn giáo trong cộng đồng Chăm là
không thể tránh khỏi. Điều này cũng
thể hiện sự kết hợp luật tục hôn nhân
của dân tộc Chăm và luật hôn nhân
của nhà nước để xây dựng cuộc sống
hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu
chân chính và được sự đảm bảo của
pháp luật Việt Nam. Những cuộc hôn
nhân khác dân tộc, khác tôn giáo ngày
càng diễn ra nhiều hơn ở các nhóm
Chăm Việt Nam.
sóc khi về già, lúc yếu đau bệnh tật
rồi về sống với mẹ hoặc em gái út”
(Ông M, 68 tuổi ở xã Phước Hữu,
tỉnh Ninh Thuận). Chính những điều
này đã làm cho các bà mẹ Chăm, gia
đình người Chăm thường ngăn cản,
tìm cách chia rẻ khi con trai muốn lấy
người khác dân tộc làm vợ. Điều này
cũng đã khiến tình yêu của nhiều đôi
trai gái Chăm với người khác dân tộc
không thành.
Bà N, 72 tuổi ở xã Phước Ninh, huyện
Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận có con
trai lên TPHCM học tập, đã yêu cô
bạn cùng lớp, tình yêu đẹp và duy trì
đến 4 năm đại học, khi dẫn về giới
thiệu thì bà cương quyết không đồng
ý. Vì thương mẹ, hiểu những điều trăn
trở của mẹ chàng trai đã chia tay cô
gái sau đó lấy vợ người Chăm (Tư
liệu phỏng vấn, tháng 12/2019). Đối
với người Chăm ở Nam Bộ, mặc dù
Qua khảo sát cho thấy, nếu trước khi
kết hôn, hai bên cùng chia sẻ, tìm hiểu
về phong tục tập quán của người
mình yêu thì rào cản hôn nhân khác
hôn nhân đã được tôn giáo Islam thử dân tộc, khác tôn giáo có thể tháo gỡ
thách(2) nhưng hiện tượng ly hôn vẫn
được. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người
diễn ra, bởi người khác tôn giáo
không giữ được lối sống theo luật
Islam hoặc do điều kiện khó khăn họ
đã bỏ đi.
khi xây dựng cuộc sống hôn nhân với
người khác dân tộc thường lấy lý do
khác phong tục tập quán để biện minh
cho cuộc sống không hạnh phúc.
Thiết nghĩ, người Chăm có thể cùng
với người khác dân tộc, khác tôn giáo
xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh
phúc và tiến bộ. Ở đây, sự tiến bộ
được hiểu là vợ chồng cùng thông
cảm, chia sẻ công việc của gia đình,
của xã hội, thấu hiểu phong tục tập
quán, văn hóa cũng như cách sống
của nhau nhằm dung hòa văn hóa
trong gia đình đa dân tộc, đa tôn giáo.
4. KẾT LUẬN
Bức tranh hôn nhân trong cộng đồng
Chăm ngày nay đã có nhiều sự thay
đổi, đa phần là dựa trên tình yêu để đi
đến kết hôn. Kết quả khảo sát cho
thấy khác biệt về dân tộc, tôn giáo đã
dần được cộng đồng chấp nhận; tuy
nhiên người Chăm cũng còn nhiều
băn khoăn khi có trường hợp ly hôn,
bỏ rơi con cái họ. Người Chăm hiểu
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021
88
Trong xã hội Chăm ngày nay đã có hạnh phúc và được cộng đồng chấp
những cặp vợ chồng hôn nhân đa dân nhận.
tộc, đa tôn giáo đang có cuộc sống
CHÚ THÍCH
(1) Chỉ nhóm Chăm Balamon, cách nói của người theo tôn giáo đối với người không theo tôn
giáo của họ, có nghĩa là người ngoại đạo.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Bá Trung Phụ. 1996. Gia đình và hôn nhân của người Chăm ở Việt Nam. Luận án,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM.
2. Inrasa. 1994. Văn học Chăm. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.
3. Phan Đăng Nhật. 2003. Luật tục Chăm và Raglai. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.
4. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp. 1991. Văn hóa Chăm. Hà Nội: Nxb. Khoa
học Xã hội.
5. Ủy ban Dân tộc - Tổng cục Thống kê. 2019. Kết quả điều tra thu thập thông tin về
thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Hà Nội: Nxb. Thống kê.
6. Võ Công Nguyện. 2020. Quan hệ hôn nhân, gia đình và thân tộc của các cộng đồng
dân cư đa tộc người ở Nam Bộ. Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ năm 2020 tại Viện
Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
7. Vũ Ngọc Xuân Ánh. 2020. “Một số ghi nhận về hôn nhân khác tộc người và khác tôn
giáo của người Chăm Hồi giáo ở Nam Bộ”. Tạp chí Dân tộc học, số 6.
Bạn đang xem tài liệu "Hôn nhân khác dân tộc, khác tôn giáo của người Chăm hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hon_nhan_khac_dan_toc_khac_ton_giao_cua_nguoi_cham_hien_nay.pdf

