Hôn nhân khác dân tộc, khác tôn giáo của người Chăm hiện nay

78  
CHUYÊN MỤC  
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC  
HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO  
CỦA NGƯỜI CHĂM HIỆN NAY  
HÁN THỊ THANH LAN*  
Người Chăm là một trong những cộng đồng có nền văn hóa đa dạng và phong  
phú được truyền từ thế này hệ qua thế hệ khác bằng các thiết chế gia đình,  
dòng họ, làng. Tuy nhiên những năm gần đây, sự phát triển kinh tế - xã hội dẫn  
đến nhiều thay đổi trong văn hóa, nếp sống của người Chăm. Một trong những  
thay đổi đáng kể trong đời sống xã hội của cộng đồng này là việc kết hôn với  
người khác dân tộc, khác tôn giáo. Bài viết sử dụng những tư liệu được thu thập  
bằng phương pháp điền dã dân tộc học, phỏng vấn sâu và điều tra xã hội học,  
và kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước để tìm hiểu cụ thể hơn về những  
thay đổi này trong đời sống hôn nhân của cộng đồng Chăm.  
Từ khóa: hôn nhân, người Chăm, luật tục hôn nhân, khác dân tộc, khác tôn giáo  
Nhận bài ngày: 16/9/2021; đưa vào biên tập: 18/9/2021; phản biện: 10/10/2021;  
duyệt đăng: 22/11/2021  
1. DẪN NHẬP  
thủ công và một số làm công nhân...  
Qua các giai đoạn lịch sử, người  
Chăm sống cộng cư với nhiều dân tộc  
khác nhau, người Chăm ở tỉnh Phú  
Yên, Bình Định sinh sống bên cạnh  
dân tộc Bana, K’ho; người Chăm ở  
tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận sống  
cùng với dân tộc Kinh và Raglai;  
người Chăm ở Nam Bộ sống cộng cư  
cùng dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và  
một số dân tộc khác. Bối cảnh kinh tế -  
xã hội của đất nước trong thời kỳ  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội  
nhập đem lại diện mạo mới trong đời  
Dân số người Chăm hiện nay khoảng  
178.948 người (Ủy ban Dân tộc -  
Tổng cục Thống kê, 2019), sinh sống  
và làm việc trên khắp các tỉnh thành  
của cả nước, tập trung đông tại các  
tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận, An  
Giang, TPHCM, Bình Dương, Bình  
Phước, Bình Định, Phú Yên. Đa số  
người Chăm sinh sống bằng nghề  
nông, buôn bán, làm gốm, dệt thổ cẩm  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
HÁN THỊ THANH LAN – HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO…  
79  
sống và sự tiếp biến văn hóa trong “Ghur” nghĩa địa của dòng họ. Ngoài  
cộng đồng người Chăm, đặc biệt về ra, người Chăm sợ mất người trong  
tôn giáo của mình nên không muốn có  
quan hệ hôn nhân với tôn giáo khác,  
đặc biệt ở người Chăm miền Trung  
theo chế độ cư trú bên vợ, con cái  
tính theo dòng họ mẹ nên không thể  
cho phép con trai đi lấy vợ thuộc tôn  
giáo khác (Phan Xuân Biên và cộng  
sự, 1991: 207). Trong lịch sử xã hội  
Chăm, hôn nhân khác tôn giáo đã  
từng được phản ánh trong trường ca  
Ariya Cam - Bini (Inrasara, 1994: 323-  
338). Đây là chuyện tình đầy khó khăn,  
thử thách giữa người con trai Chăm  
Bani và cô gái Chăm Balamon. Cuối  
cùng họ phải dùng cái chết để minh  
chứng cho tình yêu. Trường ca này  
vừa ca ngợi tình yêu thủy chung của  
đôi trai gái Chăm vừa phê phán  
những quy định vô lý của tôn giáo.  
Phan Xuân Biên và cộng sự (1975: 67)  
cho rằng: “Tiếng kêu cầu cứu đó đến  
nay vẫn chưa được xã hội Chăm đáp  
ứng”. Trong lĩnh vực hôn nhân, cộng  
đồng tôn giáo Chăm Balamon và  
Chăm Bani vẫn được coi như hai con  
suối không thể chảy chung một dòng,  
như mặt trời mặt trăng không thể  
sáng cùng một lúc, con trai con gái  
của họ vẫn chưa được phép xây  
dựng hạnh phúc gia đình với nhau.  
Ngay cả người Chăm Bani và Chăm  
Islam đều thuộc Islam giáo, song giữa  
hai nhóm này rất ít có quan hệ hôn  
nhân với nhau.  
hôn nhân ở người Chăm ngày nay.  
2. PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁCH TIẾP  
CẬN  
Trong bài viết này, hôn nhân khác dân  
tộc được hiểu là có hôn nhân giữa  
nam hoặc nữ người Chăm với người  
dân tộc khác (hôn nhân ngoại tộc);  
hôn nhân khác tôn giáo là hôn nhân  
giữa nam nữ người Chăm có niềm tin  
và cách thực hành niềm tin tôn giáo  
khác nhau.  
Có nhiều công trình nghiên cứu đề  
cập đến hôn nhân khác dân tộc, khác  
tôn giáo ở người Chăm. Khi tìm hiểu  
về tôn giáo tín ngưỡng của người  
Chăm ở Việt Nam, Mah Mod (1975:  
67) nhận xét: “Tôn giáo còn gây chia  
rẽ giữa hai khối Chàm - khối Chăm  
Kaphia(1) và khối Chăm Bani. Hai khối  
Chăm này không có quan hệ mật thiết,  
họ không ăn uống chung, không ở  
chung một xóm (thôn) và nhất là, quan  
hệ về hôn nhân thì tuyệt đối bị ngăn  
cấm”. Theo Phan Nhật Đăng (2003:  
141) luật tục về hôn nhân của người  
Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận  
cấm kết hôn với người khác dân tộc,  
khác tôn giáo vì không cùng tục thờ  
thần, khác phong tục tập quán, tiếng  
nói khác nhau. Người Chăm quan  
niệm, kết hôn với những người khác  
tôn giáo, khác dân tộc thì sẽ không  
bảo đảm tính thuần khiết về dòng  
giống, con cái họ khi chết sẽ không  
được đưa vào “Kut” chính nếu là  
Dù sống cộng cư lâu đời với người  
Chăm Balamon, còn Chăm Bani Kinh và các tộc người khác trên một  
không được chôn ở hàng chính trong  
địa bàn nhưng hôn nhân giữa người  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021  
80  
Chăm và người Kinh cũng như với của luật Islam, hay băn khoăn và lo  
lắng cho cô dâu hoặc chú rể không  
tuân thủ theo giáo luật Islam. Người  
thuộc tộc người và tôn giáo khác kết  
hôn với người Chăm Islam thì bắt  
buộc phải theo tôn giáo Islam. Vũ  
Ngọc Xuân Ánh (2020: 69) cho rằng:  
một số quy định của “Hồi giáo là yếu  
tố tạo ra “lực cản” làm cho vợ chồng  
người Chăm thuộc các tộc người và  
tôn giáo khác buộc phải từ bỏ tất cả  
phong tục truyền thống của gia đình,  
dòng họ và cộng đồng của họ. Đồng  
thời,... là yếu tố tạo ra “lực hút” giúp  
cho vợ hoặc chồng người Chăm thuộc  
các tộc người và tôn giáo khác hợp  
thức hóa quan hệ hôn nhân bằng nghi  
thức Nikah, giữ nghiêm nếp sinh hoạt  
hàng ngày theo luật đạo để dần hòa  
nhập vào lối sống của gia đình, dòng  
họ và cộng đồng người Chăm Hồi  
giáo”.  
dân tộc khác hầu như rất ít. Nếu có,  
đó là trường hợp chồng là người  
Chăm vợ là người Kinh (hầu như  
không có trường hợp ngược lại). Đối  
với người Chăm Châu Đốc chế độ  
phụ hệ đã được thiết lập, chế độ đa  
thê được chấp nhận, nên đã có nhiều  
trường hợp đàn ông Chăm cưới vợ là  
người dân tộc Kinh, Khmer, nhưng đó  
cũng chỉ là vợ thứ hai, thứ ba (Phan  
Xuân Biên và cộng sự, 1991: 208).  
Sự phân biệt về tôn giáo trong hôn  
nhân của người Chăm theo thời gian  
đã chuyển biến và thay đổi phần nào,  
đã có nhiều cặp trai gái yêu nhau dù  
khác nhau về tôn giáo. Sau năm 1975,  
riêng ở tỉnh Ninh Thuận đã có khoảng  
10 cặp và tỉnh Bình Thuận có vài cặp  
vợ chồng kết hôn khác tôn giáo. Đặc  
biệt có cặp vợ chồng là con của chức  
sắc tôn giáo Bani lấy con của gia đình  
giàu có là Chăm Balamon, những cặp  
vợ chồng khác tôn giáo, khác dân tộc  
đa số thuộc giới trí thức của người  
Chăm (Bá Trung Phụ, 1996: 144-145).  
Về quan hệ hôn nhân khác tộc người  
và khác tôn giáo của cộng đồng người  
Chăm Islam ở Nam Bộ, theo Võ Công  
Nguyện (2020: 92), đó là sự ý thức  
của cha mẹ, sợ phạm vào tội zina do  
quan hệ ngoài hôn nhân – tội nặng  
Kế thừa kết quả từ các nghiên cứu  
trên, bài viết trình bày những câu  
chuyện thực tế về hôn nhân khác dân  
tộc ở các nhóm Chăm Bình Định và  
Phú Yên; Chăm Ninh Thuận và Bình  
Thuận; Chăm ở Nam Bộ qua 47  
trường hợp tham gia phỏng vấn, trong  
đó có 9 trường hợp kết hôn khác tôn  
giáo (Chăm Balamon - Chăm Bani;  
Chăm Bani - Chăm Islam; Chăm Islam-  
Bảng 1. Trường hợp hôn nhân với người khác dân tộc, khác tôn giáo theo địa phương  
Tỉnh  
Phú Yên Ninh Thuận Bình Thuận An Giang TPHCM  
Tổng  
Giới tính  
Nam  
1
2
3
9
25  
34  
0
2
2
2
3
5
0
3
3
12  
35  
47  
Nữ  
Tổng  
Nguồn: Hán Thị Thanh Lan, 2021.  
HÁN THỊ THANH LAN – HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO…  
81  
Chăm Balamon; Chăm Balamon - phổ biến chính sách pháp luật của  
Chăm Hroi) vào các năm 2018, 2019. Nhà nước, người dân có điều kiện  
Ngoài ra còn phỏng vấn qua điện phát triển trên nhiều phương diện như  
thoại các trường hợp người Chăm kết đời sống kinh tế, trình độ học vấn,  
hôn với người khác dân tộc, ở tỉnh trình độ nhận thức… đồng thời mở ra  
Phú Yên thông qua giới thiệu.  
cho người dân nhiều cơ hội nghề  
nghiệp ngoài phạm vi nông nghiệp.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN  
LUẬN  
Qua khảo sát cho thấy, đa phần  
trường hợp kết hôn với người khác  
dân tộc, khác tôn giáo là nhân viên và  
công nhân (66%), các trường hợp  
buôn bán, bán hàng rong và làm nông  
ít hơn. Trước đây, nguồn thu nhập  
chủ yếu của người Chăm là dựa vào  
hoạt động sản xuất nông nghiệp và  
các nghề thủ công truyền thống thì  
hiện nay cơ cấu nghề nghiệp đã có  
nhiều thay đổi, ngoài làm nông nghiệp,  
một bộ phận không nhỏ chuyển sang  
lĩnh vực phi nông nghiệp như làm  
công nhân tại các khu công nghiệp  
trong và ngoài tỉnh, làm công nhân  
viên chức nhà nước, làm cho tư nhân  
hay buôn bán. Các chính sách của  
nhà nước về đào tạo nghề và giải  
quyết việc làm đã giúp người Chăm  
có cơ hội làm việc tại các khu vực đô  
thị như TPHCM, Bình Dương, Bình  
Phước, Vũng Tàu, Đồng Nai… Hơn  
nữa, việc làm nông hiện nay không  
cần sức người như trước do có  
phương tiện hỗ trợ nên giới trẻ Chăm  
tìm đến các thành phố, khu công  
nghiệp làm việc ngày càng nhiều và  
không gian giao tiếp vốn dĩ bó hẹp  
trong palei, puk (thôn, xóm) đã bị phá  
vỡ. Ở môi trường làm việc mới, người  
Chăm có nhiều cơ hội quen biết, tìm  
hiểu và tự do lựa chọn bạn đời; cha  
3.1. Tiền đề cho những cuộc hôn  
nhân khác dân tộc và khác tôn giáo  
ở người Chăm  
Từ sau 1986, Việt Nam xác định lợi  
ích kinh tế là cơ sở để thực hiện lợi  
ích xã hội nên chính sách kinh tế luôn  
gắn liền với chính sách xã hội khi xây  
dựng nền kinh tế thị trường, hội nhập  
quốc tế. Đảng và Nhà nước quan tâm  
đầu tư triển khai thực hiện các vấn đề  
xã hội như giải quyết việc làm, nâng  
cao mức sống dân cư, phát triển giáo  
dục, y tế, các dịch vụ xã hội… ở các  
vùng nông thôn, dân tộc thiểu số và  
miền núi. Được sự đầu tư, hỗ trợ của  
nhà nước thông qua các chính sách  
về an sinh xã hội trong vùng đồng bào  
dân tộc thiểu số cùng với tuyên truyền,  
Bảng 2. Nghề nghiệp của các trường hợp  
người Chăm kết hôn khác dân tộc, khác  
tôn giáo  
Nghề nghiệp  
Số lượng Tỷ lệ (%)  
Công nhân viên chức nhà  
nước  
12  
25,6  
Nhân viên công ty tư nhân  
5
10,6  
29,8  
Công nhân các khu công  
14  
nghiệp  
Buôn bán, bán hàng rong  
3
6,4  
Làm nông  
Khác  
9
4
19,1  
8,5  
Tổng  
47  
100  
Nguồn: Hán Thị Thanh Lan, 2021.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021  
82  
mẹ không còn có thể kiểm soát chặt Bani; 1 trường hợp là chồng Chăm  
chẽ các mối quan hệ tình yêu của con  
cái; nam nữ người Chăm có cơ hội  
chủ động tìm hiểu người mình thích,  
chủ động thiết lập mối quan hệ yêu  
đương, chủ động tiến tới hôn nhân và  
xây dựng gia đình.  
Balamon kết hôn với vợ Chăm Islam;  
1 trường hợp là vợ Chăm Balamon  
kết hôn với chồng Chăm Hroi; 1  
trường hợp là vợ Chăm Islam kết hôn  
với chồng Chăm Bani; 10 trường hợp  
là vợ Chăm Balamon kết hôn với  
chồng người Kinh; 4 trường hợp là  
chồng Chăm Balamon kết hôn với vợ  
người Kinh; 3 trường hợp là vợ Chăm  
Islam kết hôn với chồng người Kinh; 1  
trường hợp là vợ Chăm Islam kết hôn  
với chồng người Kinh; 1 trường hợp  
là vợ Chăm Balamon kết hôn với  
chồng người Êđê; 1 trường hợp là vợ  
Chăm Balamon kết hôn với chồng  
người Hoa; 1 trường hợp là vợ Chăm  
Balamon kết hôn với chồng người  
Khmer; 2 trường hợp là vợ Chăm Hroi  
kết hôn với chồng người Kinh.  
Ngoài ra, chính sách và các chương  
trình phát triển của nhà nước đối với  
các dân tộc thiểu số nói chung và dân  
tộc Chăm nói riêng đã có những tác  
động không nhỏ đến hôn nhân thông  
qua việc nâng cao trình độ học vấn và  
mở rộng cơ hội nghề nghiệp cũng như  
sự giao lưu và bảo tồn văn hóa vùng  
đồng bào dân tộc.  
3.2. Khái quát chân dung của những  
trường hợp được nghiên cứu  
Dựa vào độ tuổi kết hôn, chúng tôi  
chia 47 đối tượng được phỏng vấn  
thành 3 nhóm:  
Nhóm 3, độ tuổi từ 23 đến 30 tuổi  
(sinh 1999 đến 1991) có 9 trường hợp:  
7 trường hợp là vợ Chăm Balamon  
kết hôn với chồng người Kinh; 1  
trường hợp là chồng Chăm Balamon  
kết hôn với vợ người Kinh; 1 trường  
hợp là vợ Chăm Balamon kết hôn với  
chồng người Khmer.  
Nhóm 1, độ tuổi từ 51 tuổi trở lên (sinh  
năm 1970 trở lên) có 11 trường hợp:  
2 trường hợp là vợ Chăm Balamon  
kết hôn với chồng Chăm Bani; 3  
trường hợp là chồng Chăm Balamon  
kết hôn với vợ Chăm Bani; 1 trường  
hợp là chồng Chăm Balamon kết hôn  
với vợ Chăm Islam; 1 trường hợp là  
chồng Chăm Balamon kết hôn với vợ  
là người Kinh; 3 trường hợp là chồng  
Chăm Islam kết hôn với vợ người  
Kinh; 1 trường hợp là chồng Chăm  
Balamon kết hôn với vợ người Êđê.  
Ở ba nhóm tuổi tỷ lệ nữ lấy chồng  
người khác dân tộc ở nhóm 3 vượt  
trội hơn (8/9 trường hợp) so với nhóm  
1 và 2. Nhóm này có 7 người tốt  
nghiệp lớp 12 trở lên; 2 người chưa  
tốt nghiệp lớp 12; 2 người có việc làm  
tại cơ quan nhà nước với mức thu  
nhập ổn định; các trường hợp còn lại  
làm công nhân hoặc làm trong các cơ  
sở kinh tế tư nhân. Hầu hết các  
Nhóm 2, độ tuổi từ 31 đến 50 tuổi  
(sinh 1990 đến 1971) có 27 trường  
hợp: 1 trường hợp là vợ Chăm  
Balamon kết hôn với chồng Chăm trường hợp của nhóm 3 sống xa cộng  
HÁN THỊ THANH LAN – HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO…  
83  
đồng, trong đó có 7 trường hợp thuộc Chị S, lấy chồng người Kinh cùng làng  
tỉnh Ninh Thuận, làm việc tại các khu và chị làm dâu nhà chồng. Mẹ chồng  
công nghiệp ở TPHCM, Bình Dương,  
Đồng Nai. Điều này cho thấy quan  
niệm con gái là người giữ tài sản của  
gia đình, dòng họ, là người thực hiện  
các phong tục tập quán, nghi lễ tôn  
giáo trong tộc họ của người Chăm ở  
tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đang  
dần bị phá vỡ.  
chị yêu cầu chị không mặc trang phục  
như phụ nữ Chăm bình thường và về  
nhà mẹ đẻ khi được gia đình nhà  
chồng cho phép. Chị đã đáp ứng  
được các yêu cầu của nhà chồng để  
có thể sống hòa hợp với nhau (PVS  
chị S, 38 tuổi ở xã Phước Ninh huyện  
Thuận Nam tỉnh Ninh Thuận, tháng  
3/2020). Đặc biệt, trường hợp kết hôn  
của nam người Chăm Balamon và nữ  
Chăm Islam, là công nhân viên nhà  
nước. Họ có hai đứa con và hiện đang  
sinh sống và ở xã Phước Nam, huyện  
Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Người  
chồng theo Balamon chuyển sang  
Islam để làm nghi thức Nikah và sống  
chung với gia đình vợ, thỉnh thoảng  
khi bên gia đình Chăm Balamon làm  
các nghi lễ tôn giáo cần sự có mặt của  
thành viên trong gia đình thì hai vợ  
chồng có tham dự nhưng không thực  
hiện các hình thức như cúng, lạy hay  
ăn các thức ăn đã dâng cúng cũng  
như các thức ăn chưa đảm bảo halal.  
Gia đình Chăm Balamon hiểu những  
kiêng cữ của tôn giáo Islam nên  
không yêu cầu con trai và những đứa  
cháu thực hiện nghi lễ. Người vợ và  
gia đình vợ thấu hiểu sự hy sinh của  
chồng và gia đình chồng nên thương  
yêu anh nhiều hơn, cùng với đó là cư  
xử tốt với bên chồng cũng như họ  
hàng bên chồng bằng hình thức thăm  
hỏi, chia sẻ những khó khăn của gia  
đình (PVS chị M làm giáo viên, 34 tuổi  
ở xã Phước Nam huyện Thuận Nam  
tỉnh Ninh Thuận, tháng 3/2020).  
Trường hợp này một phần thể hiện sự  
Khảo sát cho thấy nhiều trường hợp  
kết hôn khác dân tộc, khác tôn giáo  
thường có điều kiện kinh tế khá, chất  
lượng cuộc sống tốt, các nghi lễ hôn  
nhân đã được đơn giản, chỉ thực hiện  
lễ cưới tại gia đình hoặc nhà hàng.  
Đặc biệt, các cặp kết hôn ý thức hơn  
trong việc đăng ký kết hôn để được  
sự công nhận và bảo vệ của pháp luật.  
Có 40 trường hợp đã đăng ký kết hôn,  
7 trường hợp do nhiều lý do không  
đăng ký kết hôn (trong đó 3 trường  
hợp thuộc nhóm 1, 2 trường hợp  
nhóm 2 và 2 trường hợp nhóm 3).  
3.3. Câu chuyện của người trong cuộc  
3.3.1. Những cuộc hôn nhân thành  
công  
Theo chúng tôi, hôn nhân thành công  
là hôn nhân có sự đồng ý của cha mẹ,  
họ hàng hai bên gia đình, được tổ  
chức đám cưới, đăng ký kết hôn, cuộc  
sống gia đình hòa thuận hạnh phúc.  
Trong 47 trường hợp khảo sát, có 16  
trường hợp được xem là hôn nhân  
thành công. Mặc dù trong những năm  
đầu các cuộc hôn nhân này đều gặp  
khó khăn, mâu thuẫn nhưng họ đã  
biết dung hòa, thông cảm và chia sẻ  
với nhau trong việc làm dâu hoặc ở rể.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021  
84  
cởi mở trong nhận thức của người trong những mơ ước của hầu hết các  
Chăm, một phần thể hiện sự tôn trọng cặp vợ chồng trẻ khi sống xa gia đình,  
Luật Hôn nhân và gia đình. Qua cuộc  
hôn nhân thành công này, hai tôn giáo  
ở hai địa phương xích lại gần nhau  
bởi mối quan hệ thông gia, con cháu  
được sinh ra từ đây đã giúp kết nối  
quan hệ tình thân giữa những người ở  
hai tôn giáo vốn được xem là hai con  
suối không cùng chung một dòng  
trong cộng đồng Chăm.  
xa cộng đồng (PVS anh L cán bộ nhà  
nước, 36 tuổi ở phường 16, quận 11,  
TPHCM, tháng 2/2021).  
Bà Đ, cho rằng: “khinh yau nan siam  
oh” nghĩa là ủng hộ việc hai người  
Chăm dù ở các địa phương, tôn giáo  
khác nhau nhưng cùng là dân tộc  
Chăm và biết tìm đến nhau để kết hôn  
là điều tốt (PVS bà Đ 68 tuổi, xã  
Phước Ninh, huyện Thuận Nam, tỉnh  
Ninh Thuận, tháng 12/2020).  
Một trường hợp kết hôn khác dân tộc,  
khác tôn giáo tạo được niềm tin cũng  
như mong muốn của cộng đồng Chăm  
trong cuộc sống hôn nhân.  
Chị MD làm hướng dẫn viên du lịch 37  
tuổi ở xã Châu Phong, thị xã Tân  
Châu, tỉnh An Giang lấy chồng người  
Chăm Bani ở Ninh Thuận. Chồng chị  
đã chuyển sang tôn giáo Islam. Họ có  
hai đứa con chăm ngoan, học giỏi và  
mơ ước sau này làm bác sĩ. Sau khi  
lập gia đình, chị MD từ hộ có thu nhập  
trung bình trở thành hộ giàu có nhờ  
sự chăm chỉ làm ăn của chồng (PVS  
cô NS, 52 tuổi ở nhà trông cháu, xã  
Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An  
Giang, tháng 8/2018). Chính nhờ gia  
đình có con cái học giỏi, chồng thu  
nhập tốt và cùng với vợ một lòng thực  
hiện theo luật Islam nên họ đã tạo dư  
luận tốt đẹp trong cộng đồng Chăm  
An Giang về việc kết hôn với người  
Chăm ở Ninh Thuận (trước đây người  
Chăm ở An Giang hầu như biết rất ít  
về người Chăm Ninh Thuận).  
Chị B, 35 tuổi, làm nông kết hôn với  
anh T, 37 tuổi quê Thái Bình. Ban đầu  
gia đình chị B can ngăn nhưng chị  
cương quyết nên gia đình đành chấp  
nhận, tuy nhiên sau thời gian sống  
chung, với tính tình hiền lành, chăm lo  
làm ăn, biết tiết kiệm, không rượu chè,  
anh T đã tạo được tình cảm và lòng  
tin của gia đình bên vợ. Hai vợ chồng  
có bốn người con, ngoan hiền, học  
giỏi. Đặc biệt, anh T nói thành thạo  
tiếng Chăm (PVS chị B, 35 tuổi, xã  
Phước Ninh, huyện Thuận Nam, tỉnh  
Ninh Thuận, tháng 12/2020).  
Anh L, người Chăm Hroi làm cơ quan  
nhà nước, quê Phú Yên lấy vợ người  
Chăm Balamon ở Ninh Thuận. Mặc dù  
tôn giáo khác nhau nhưng hai anh chị  
đã tìm hiểu nhau và cùng quyết định  
xây dựng cuộc hôn nhân năm 2017. Các trường hợp trên cho thấy, cuộc  
Hiện nay đang sống và làm việc ở sống hôn nhân khác tôn giáo, khác  
TPHCM. Hai vợ chồng có hai đứa con, dân tộc hạnh phúc là do có tình yêu  
và sau nhiều năm tích lũy anh chị đã và sự chia sẻ. Sự cảm thông cũng  
mua được một căn hộ. Đây là một như nhận thức từ người chồng hoặc  
HÁN THỊ THANH LAN – HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO…  
85  
vợ giúp họ cùng vượt qua rào cản hà có sáu trường hợp thất bại trong hôn  
khắc về phong tục tập quán cũng như  
những sóng gió hôn nhân. Hôn nhân  
của con cháu hạnh phúc đồng nghĩa  
với việc gia đình, dòng họ hạnh phúc.  
Người Chăm luôn mong muốn con  
cháu mình lấy người cùng dân tộc  
cùng tôn giáo, bởi cho rằng cùng một  
phong tục, cùng một lối sống dễ hiểu  
và thông cảm lẫn nhau, có thể cùng  
nhau chia sẻ những khó khăn trong  
cuộc sống. Tuy nhiên, khi thấy những  
trường hợp kết hôn khác dân tộc,  
khác tôn giáo vẫn có thể dung hòa sự  
khác biệt về phong tục tập quán, khác  
biệt về tôn giáo để có được hạnh  
phúc, họ đã vượt qua những quan  
niệm hà khắc về sự khác biệt dân tộc  
và tôn giáo, tạo sự hòa hợp và đoàn  
kết giữa các dân tộc, tôn giáo theo  
tinh thần của Luật Hôn nhân và gia  
đình.  
nhân. Sáu trường hợp này đều thuộc  
về nữ người Chăm chung sống, kết  
hôn với người khác dân tộc, ở độ tuổi  
18-36 tuổi.  
“Em vào Bình Dương làm theo giới  
thiệu của chị cùng quê, tại đây em  
quen biết anh K và có bầu sau 2 tháng  
biết nhau. Tụi em chưa đăng ký kết  
hôn, cũng không làm theo phong tục.  
Thời gian sau anh K bỏ em đi làm  
công ty khác ở Sài Gòn nên em đã  
dẫn con về cho cha mẹ nuôi vì không  
ai giữ con để em đi làm” (PVS chị N,  
32 tuổi xã Phước Tân, huyện Sơn  
Hòa, tỉnh Phú Yên, làm công nhân ở  
Dĩ An, tỉnh Bình Dương, tháng  
3/2021).  
Chị H, tâm sự: “Như chị đó, lấy nhau  
được đứa con, lúc đầu người ta nói  
người ta thương người ta chịu được,  
ở với nhau được 5 năm họ không cữ  
được [không thực hiện những điều  
cấm về ăn uống, thực hành nghi lễ tôn  
giáo Islam], đi nhậu về còn đánh chị,  
tức quá chị bỏ luôn zdồi [rồi]” (PVS chị  
H, 38 tuổi làm nghề may tự do ở  
phường Phước Long B, quận 9,  
TPHCM, tháng 4/2021).  
Ngoài ra, 7 trường hợp kết hôn nhưng  
không được sự chứng kiến của họ  
hàng hai gia đình, hay có 5 trường  
hợp sống với nhau có con rồi mỗi  
người lại lấy vợ lấy chồng mới nhưng  
vẫn quan tâm và thăm hỏi lẫn nhau,  
cũng có trường hợp gia đình và dòng  
họ người Chăm không đồng ý kết  
hôn với người khác dân tộc, khác tôn  
giáo nhưng họ đã tự ý sống với nhau  
(3 trường hợp). Hay chính người  
trong cuộc đánh giá là cuộc sống hôn  
nhân của họ bình thường (10 trường  
hợp).  
Chị N.R, kể: “Tui đi làm công nhân ở  
Sài Gòn rồi gặp ổng, ổng nói thương  
rồi tôi chịu, tôi nói lấy tôi là phải vào  
Islam, không uống bia, rượu, không  
ăn thịt heo,… rồi ổng đồng ý. Lúc tui  
và ổng về nhà được hơn 1 năm, ổng  
thấy gia đình tui khổ quá, ổng bỏ đi.  
Giờ tui nghèo lại không đi làm được,  
con thì còn nhỏ khổ lắm chị” (PVS chị  
3.3.2. Những câu chuyện dang dở  
Trong 47 trường hợp nghiên cứu về  
hôn nhân khác dân tộc, khác tôn giáo N.R, 32 tuổi đang nuôi con nhỏ, xã  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021  
86  
Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tỉnh An trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước,  
Giang, tháng 3/2021).  
tỉnh Ninh Thuận cho biết: “có cặp vợ  
chồng là cô gái Chăm lấy chồng ở Hà  
Nội, sau đó về sinh sống ở Hà Nội”,  
“cô gái Chăm lấy người Hoa, sinh  
sống ở TPHCM” họ sống xa cha mẹ  
và cộng đồng dòng họ, không tham  
gia các nghi lễ của cộng đồng và dần  
đồng hóa thành dân tộc đa số mà họ  
đang sống cùng. Đây chính là lý do  
người Chăm không ủng hộ hôn nhân  
của con gái với người khác dân tộc,  
từ đó cũng là nguyên nhân dẫn đến  
nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống gia  
đình.  
Chị N, 27 tuổi ở xã Phan Hiệp, huyện  
Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận kết hôn với  
người khác dân tộc ở Lâm Đồng,  
được nhà trai cưới hỏi đầy đủ, hai họ  
vui mừng và chúc phúc cho đôi vợ  
chồng. Nhưng sau hai năm chung  
sống, cuộc sống gia đình xung đột và  
chị bế con về sống chung với cha mẹ  
ở quê.  
Ông RT (ở Phú Yên); bà C (ở Ninh  
Thuận), chị H (ở An Giang) chia sẻ: có  
nhiều cô gái Chăm khi đi làm công  
nhân, gặp và lấy người khác dân tộc  
nhưng sau đó cuộc sống gia đình  
không hạnh phúc đã ly hôn và mang  
con về cho cha mẹ già ở quê nuôi  
dưỡng. Điều này hiện nay đã gây ra  
một hệ quả không hay trong cộng đồng  
Chăm, và là một cảnh báo về việc yêu,  
kết hôn với người khác dân tộc.  
Khi người đàn ông kết hôn với người  
khác dân tộc, khác tôn giáo thì sau  
khi chết họ sẽ là một “gánh nặng” cho  
gia đình, họ hàng. Vì theo quan niệm  
người Chăm sống mang của cải, giàu  
sang cho người, chết mang hài cốt  
trả về cho dòng họ (Asal ba urang  
talang ba drei hay câu Daok duik  
Trường hợp N, 17 tuổi, ở Phú Yên, do  
thiếu nhận thức về tình yêu và hôn ngak drap ka urang, tal matai ba  
nhân, nên khi có thai, bạn trai và dòng talang ka gauk) (Inrasa 1994: 61). Khi  
họ không thừa nhận cũng như sự bảo  
vệ của pháp luật. N đưa con về quê  
nhờ cha mẹ nuôi để tiếp tục đi làm  
Ngoài ra, khi lấy chồng khác dân tộc,  
khác tôn giáo, phải về sống nhà chồng,  
sống xa cộng đồng, vì vậy dòng họ coi  
như đã mất người con gái và những  
đứa con của người con gái đó (theo  
quan niệm của người Chăm con gái là  
tài sản của gia đình và dòng họ, là  
người thực hiện các nghi thức của tôn  
giáo).  
đàn ông Chăm lấy vợ người Chăm,  
người vợ hoặc con cái cùng với dòng  
họ sẽ lo chu toàn các nghi lễ liên  
quan đến tang ma sau đó đến khi làm  
lễ nhập Kut thì mang xương cốt về  
gia đình, dòng họ bên chồng. Nhưng  
khi họ lấy vợ người khác dân tộc,  
khác tôn giáo thì đa phần việc tang  
ma sẽ do người trong gia đình Chăm  
thực hiện. Thực tế có trường hợp “khi  
lấy vợ khác dân tộc, lúc còn trẻ, còn  
khỏe, còn kiếm ra tiền người chồng  
được người vợ coi trọng nhưng khi  
già và không còn khả năng lao động  
Theo bà T, 54 tuổi, buôn bán tạp hóa  
nhỏ và bà C, 67 tuổi, làm nông ở thị  
HÁN THỊ THANH LAN – HÔN NHÂN KHÁC DÂN TỘC, KHÁC TÔN GIÁO…  
87  
bị vợ và con coi thường, không chăm rằng trong đời sống, con người bị chi  
phối bởi rất nhiều yếu tố xung quanh.  
Vì mục đích sinh tồn, người Chăm có  
thể tạm rời xa cộng đồng của mình  
hoặc rời xa vĩnh viễn, thay đổi môi  
trường, điều kiện sống và dần hòa  
mình vào môi trường hiện tại. Và việc  
kết hôn với người khác dân tộc, khác  
tôn giáo trong cộng đồng Chăm là  
không thể tránh khỏi. Điều này cũng  
thể hiện sự kết hợp luật tục hôn nhân  
của dân tộc Chăm và luật hôn nhân  
của nhà nước để xây dựng cuộc sống  
hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu  
chân chính và được sự đảm bảo của  
pháp luật Việt Nam. Những cuộc hôn  
nhân khác dân tộc, khác tôn giáo ngày  
càng diễn ra nhiều hơn ở các nhóm  
Chăm Việt Nam.  
sóc khi về già, lúc yếu đau bệnh tật  
rồi về sống với mẹ hoặc em gái út”  
(Ông M, 68 tuổi ở xã Phước Hữu,  
tỉnh Ninh Thuận). Chính những điều  
này đã làm cho các bà mẹ Chăm, gia  
đình người Chăm thường ngăn cản,  
tìm cách chia rẻ khi con trai muốn lấy  
người khác dân tộc làm vợ. Điều này  
cũng đã khiến tình yêu của nhiều đôi  
trai gái Chăm với người khác dân tộc  
không thành.  
Bà N, 72 tuổi ở xã Phước Ninh, huyện  
Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận có con  
trai lên TPHCM học tập, đã yêu cô  
bạn cùng lớp, tình yêu đẹp và duy trì  
đến 4 năm đại học, khi dẫn về giới  
thiệu thì bà cương quyết không đồng  
ý. Vì thương mẹ, hiểu những điều trăn  
trở của mẹ chàng trai đã chia tay cô  
gái sau đó lấy vợ người Chăm (Tư  
liệu phỏng vấn, tháng 12/2019). Đối  
với người Chăm ở Nam Bộ, mặc dù  
Qua khảo sát cho thấy, nếu trước khi  
kết hôn, hai bên cùng chia sẻ, tìm hiểu  
về phong tục tập quán của người  
mình yêu thì rào cản hôn nhân khác  
hôn nhân đã được tôn giáo Islam thử dân tộc, khác tôn giáo có thể tháo gỡ  
thách(2) nhưng hiện tượng ly hôn vẫn  
được. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người  
diễn ra, bởi người khác tôn giáo  
không giữ được lối sống theo luật  
Islam hoặc do điều kiện khó khăn họ  
đã bỏ đi.  
khi xây dựng cuộc sống hôn nhân với  
người khác dân tộc thường lấy lý do  
khác phong tục tập quán để biện minh  
cho cuộc sống không hạnh phúc.  
Thiết nghĩ, người Chăm có thể cùng  
với người khác dân tộc, khác tôn giáo  
xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh  
phúc và tiến bộ. Ở đây, sự tiến bộ  
được hiểu là vợ chồng cùng thông  
cảm, chia sẻ công việc của gia đình,  
của xã hội, thấu hiểu phong tục tập  
quán, văn hóa cũng như cách sống  
của nhau nhằm dung hòa văn hóa  
trong gia đình đa dân tộc, đa tôn giáo.  
4. KẾT LUẬN  
Bức tranh hôn nhân trong cộng đồng  
Chăm ngày nay đã có nhiều sự thay  
đổi, đa phần là dựa trên tình yêu để đi  
đến kết hôn. Kết quả khảo sát cho  
thấy khác biệt về dân tộc, tôn giáo đã  
dần được cộng đồng chấp nhận; tuy  
nhiên người Chăm cũng còn nhiều  
băn khoăn khi có trường hợp ly hôn,  
bỏ rơi con cái họ. Người Chăm hiểu  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021  
88  
Trong xã hội Chăm ngày nay đã có hạnh phúc và được cộng đồng chấp  
những cặp vợ chồng hôn nhân đa dân nhận.  
tộc, đa tôn giáo đang có cuộc sống  
CHÚ THÍCH  
(1) Chỉ nhóm Chăm Balamon, cách nói của người theo tôn giáo đối với người không theo tôn  
giáo của họ, có nghĩa là người ngoại đạo.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bá Trung Phụ. 1996. Gia đình và hôn nhân của người Chăm ở Việt Nam. Luận án,  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM.  
2. Inrasa. 1994. Văn học Chăm. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.  
3. Phan Đăng Nhật. 2003. Luật tục Chăm và Raglai. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.  
4. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp. 1991. Văn hóa Chăm. Hà Nội: Nxb. Khoa  
học Xã hội.  
5. Ủy ban Dân tộc - Tổng cục Thống kê. 2019. Kết quả điều tra thu thập thông tin về  
thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Hà Nội: Nxb. Thống kê.  
6. Võ Công Nguyện. 2020. Quan hệ hôn nhân, gia đình và thân tộc của các cộng đồng  
dân cư đa tộc người ở Nam Bộ. Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ năm 2020 tại Viện  
Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
7. Vũ Ngọc Xuân Ánh. 2020. “Một số ghi nhận về hôn nhân khác tộc người và khác tôn  
giáo của người Chăm Hồi giáo ở Nam Bộ”. Tạp chí Dân tộc học, số 6.  
pdf 11 trang Thùy Anh 13860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hôn nhân khác dân tộc, khác tôn giáo của người Chăm hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhon_nhan_khac_dan_toc_khac_ton_giao_cua_nguoi_cham_hien_nay.pdf