Văn hóa Việt Nam trong làn sóng toàn cầu hóa

LÝ LUẬN VĂN HÓA  
VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG LÀN SÓNG  
TOÀN CẦU HÓA  
NGUYỄN MẠNH CƯƠNG  
Tóm tắt  
Toàn cầu hoá là xu thế chủ đạo đang tác động đến mọi quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới,  
không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, bản sắc văn hoá, vị trí địa lý, sắc thái  
chủng tộc. Bài viết nêu lên vấn đề cấp thiết của văn hóa Việt Nam trong làn sóng toàn cầu hóa, đồng  
thời cũng đưa ra giải pháp cho vấn đề này: Trang bị kiến thức văn hóa dân tộc và trang bị ngoại ngữ,  
nhất là tiếng Anh.  
Từ khóa: Toàn cầu hóa, văn hóa dân tộc, tiếng Anh  
Abstract  
Globalization is the dominant trend affecting all nations and ethnic groups around the world,  
regardless of political regime, economic development, cultural identity, geographic location or  
racial nuance. The article raises the urgent issue of Vietnamese culture in the wave of globalization,  
and also offers solutions to this matter: Equipped with knowledge of national culture and foreign  
languages, especially English.  
Keywords: Globalization, national culture, English  
hái niệm toàn cầu hoá (TCH) xuất  
hiện với tần suất cao trên báo chí  
phương Tây vào những thập kỷ cuối  
cộng đồng quốc tế về kinh tế, xã hội, Việt Nam  
còn có những nét đặc thù riêng về chính trị, về  
truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc.  
K
thế kỷ XX, nhưng cho đến nay, trên thế giới vẫn  
chưa có một định nghĩa thống nhất về nó. Năm  
2001, Viện Thông tin Khoa học, thuộc Học viện  
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã thống kê  
và đưa ra 128 cách hiểu khác nhau về TCH (4).  
Tuy có nhiều cách hiểu về TCH, song các học  
giả đều thống nhất cho rằng, khái niệm TCH  
(globalization) gần nghĩa với khái niệm quốc  
tế hoá (internationalization) và khái niệm hội  
nhập (integration). Nói rõ hơn, toàn cầu hoá là  
giai đoạn phát triển cao của quá trình hội nhập  
và quốc tế hóa.  
Để góp thêm tiếng nói luận bàn về TCH  
và ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội  
Việt Nam, bài viết đề cập đến vấn đề Văn hoá  
Việt Nam trong làn sóng TCH, hy vọng qua đó,  
thể hiện một cái nhìn thân thiện hơn đối với  
vấn đề đang còn gây nhiều tranh cãi này.  
Lịch sử hình thành và phát triển của dân  
tộc Việt trong hơn 2000 năm trở lại đây đã  
từng chứng kiến 3 cuộc hội nhập và giao thoa  
văn hoá:  
Cuộc hội nhập lần đầu là hội nhập với văn  
hoá Trung Hoa, bắt đầu từ cuộc chiến tranh  
của Triệu Đà (năm 179 TCN). Sau khi thôn tính  
Âu Lạc, Triệu Đà chia thành ba quận là Cửu  
Chân, Giao Chỉ và Nhật Nam, tiến hành mở  
các học hiệu dạy chữ Hán cho người Việt. Kể từ  
Là một thành viên của cộng đồng quốc tế,  
Việt Nam tiếp nhận vấn đề TCH với một thái  
độ cởi mở, ôn hoà nhưng cũng hết sức thận  
trọng bởi ngoài những đặc điểm chung với  
NGHIÊN CỨU  
Số 21 - Tháng 9 - 2017  
13  
V
ĂN H Ó  
A
NGHIÊN CỨU  
V
ĂN H Ó  
A
đó, chữ Hán và cùng với nó là văn hoá Hán du  
nhập vào nước ta.  
Với những phân tích trên, có thể biểu đạt  
văn hoá Việt Nam như một bông hoa ba cánh  
mà mỗi cánh là sự giao thoa với Nho - Phật -  
Lão, còn phần nhị của nó là bản sắc văn hoá  
dân tộc:  
Sự du nhập ban đầu là hệ tư tưởng Nho  
giáo với những quan niệm như tam cương, ngũ  
thường, tam tòng, tứ đức cùng với các thuyết như  
chính danh, nhân trị, đức trị, thuyết tam sinh,  
tam tài, thiên nhân hợp nhất, thiên nhân cảm  
ứng. Nho giáo du nhập vào đất Việt một cách  
khá thuận lợi và dễ dàng tìm được chỗ đứng  
trong đời sống văn hoá người Việt đương thời,  
bởi những quan niệm này đa phần phù hợp  
với lối sống trọng nghĩa khinh tài, trọng văn  
khinh võ của người Việt.  
Bốn thế kỷ sau, một hệ tư tưởng khác lại  
được xâm nhập vào đất Việt, đó là Lão giáo hay  
Đạo giáo. Sự ra đời của Lão giáo đã bổ sung  
những điểm còn thiếu hụt trong tư tưởng Nho  
giáo, đó là lối sống vui thú giữa thiên nhiên  
và những hành xử theo thuật phong thuỷ, tử  
vi tướng số, giải hạn, đồng bóng, chữa bệnh  
bằng phù phép. Cũng giống như Nho giáo,  
Lão giáo dễ tìm thấy chỗ đứng của mình trong  
đời sống tinh thần người Việt, do vậy đã nhanh  
chóng trở thành một trong những yếu tố cấu  
thành văn hoá dân gian (trong đó có văn hóa  
tâm linh) người Việt.  
Nói tóm lại, trong cuộc hội nhập văn hoá  
lần thứ nhất, người Việt không hề bị đồng hoá  
bởi văn hoá bản địa dân tộc vẫn tồn tại như cái  
nhị của bông hoa, mang nhân tố quyết định  
hình thức và bản tính của quả, của hạt giống  
về sau, mặc dù các cánh của bông hoa đó đã  
phần nào thay đổi màu sắc, hương vị.  
Cuộc hội nhập văn hoá lần thứ hai là hội  
nhập với văn hoá phương Tây, mà cụ thể là văn  
hoá Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế  
kỷ XX. Khi đặt được ách đô hộ một cách căn  
bản ở An Nam, người Pháp đã mở các trường  
dạy học bằng tiếng Pháp, truyền bá ngôn ngữ  
Pháp vào đất Việt. Với cuộc đụng đầu giữa hai  
nền văn hoá Đông - Tây, các giá trị văn hoá  
truyền thống Việt Nam phải trải qua những  
thử thách và cuối cùng là dẫn đến những biến  
đổi căn bản.  
Tuy được truyền vào đất Việt muộn hơn so  
với Nho và Lão giáo song Phật giáo có một vai  
trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội  
người Việt. Với những quan niệm mang tính  
nhân bản sâu sắc như từ bi, bác ái, loại trừ tham  
- sân - si, v.v…, Phật giáo đã ăn sâu vào tâm thức  
người Việt và trở thành phương thức tư duy,  
thành cách đối nhân xử thế hợp lý, hợp tình.  
Về phương diện tư tưởng, trong xã hội Việt  
Nam đương thời đã nổi lên cuộc cách mạng  
chống lại tư tưởng phong kiến, thể hiện rõ  
nhất là trong các tiểu thuyết của nhóm Tự lực  
văn đoàn. Về phương diện lối sống, tư tưởng  
tự do - bình đẳng - bác ái (freedom - equality-  
humanity) mà phong trào khai sáng Pháp khởi  
xướng đã lan nhanh, làm cho những lối sống  
lạc hậu cổ hủ phải tìm đường chạy trốn khỏi  
các thành phố lớn. Về phương diện văn học -  
nghệ thuật, phong trào thơ mới, tiểu thuyết,  
kiến trúc, hội họa, âm nhạc theo mô hình Tây  
phương phát triển một cách mạnh mẽ chưa  
từng thấy.  
Như vậy, có thể nói, từ những thế kỷ đầu  
công nguyên, Nho - Phật - Lão là ba thành tố  
quan trọng cấu thành văn hoá tinh thần người  
Việt. Nói đầy đủ hơn thì văn hoá Việt Nam thời  
kỳ này là sự giao thoa giữa văn hóa dân gian  
bản địa với Nho - Phật - Lão. Nói như vậy không  
có nghĩa là văn hoá Việt bị chiếm lĩnh bởi Nho  
- Phật - Lão, mà cái nội dung cốt lõi của văn  
hoá Việt chính là bản sắc dân tộc, đó là truyền  
thống dân tộc được đúc kết, trầm tích từ ngàn  
đời như tình làng, nghĩa xóm, tính cố kết cộng  
đồng, tinh thần tương thân tương ái, v.v…  
14 Số 21 - Tháng 9 - 2017  
LÝ LUẬN VĂN HÓA  
Nhưng rồi cơn sóng gió qua đi, bản sắc văn  
hoá dân tộc dần dần lấy lại được thế cân bằng  
và tìm lại được chỗ đứng của mình trong lòng  
người dân Việt. Lấy một ví dụ cụ thể, đa số các  
bộ phận trong chiếc xe cơ chạy bằng hai bánh  
được gọi bằng tiếng Pháp (pedan, ghidong,  
garbaga, xich...) nhưng bản thân tên gọi chiếc  
xe không bằng tiếng Pháp (Bicyclette) mà vẫn  
bằng tiếng Việt - đó là chiếc xe đạp; hơn thế  
nữa, lối xưng hô theo kiểu Tây chỉ tồn tại trong  
thiểu số gia đình thành thị mà thôi. Điều này  
khẳng định rằng, văn hoá Việt Nam vẫn giữ  
được những sắc thái riêng của nó trước sự  
xâm nhập của làn sóng văn hoá Tây phương.  
Thứ ba, trong thế giới hiện đại, mọi phương  
tiện giao thông ngày càng tăng tốc, làm cho  
trái đất dường như nhỏ lại. Với lợi thế này,  
sự giao lưu, thăm hỏi lẫn nhau của các chính  
khách, các đoàn ngoại giao, các đoàn thể thao,  
nghệ thuật, của bà con ngoại kiều trở nên dễ  
dàng hơn - mà sự cộng tác công việc, thăm  
hỏi tình cảm cũng chính là cơ hội giao lưu văn  
hoá. Với lợi thế này, các hội nghị hành chính,  
hội thảo khoa học quốc tế diễn ra nhiều hơn,  
quy mô rộng hơn. Các hội nghị, hội thảo đó  
buộc mọi thành viên tham dự phải có cùng  
tiếng nói, do vậy ngoại ngữ nói chung, tiếng  
Anh nói riêng đã trở thành một nhu cầu cấp  
thiết trong giao tiếp quốc tế, nhu cầu này thúc  
đẩy con người luôn phải cố gắng học hỏi, vươn  
lên, nếu không muốn lạc hậu trước cuộc sống  
hiện đại.  
Hiện nay, văn hoá Việt Nam đã và đang  
chứng kiến cuộc hội nhập lần thứ ba - hội nhập  
với văn hoá toàn cầu, nói một cách hình ảnh thì  
nó đang nằm trong vòng xoáy của làn sóng  
toàn cầu hoá. Nhưng do thời thế có nhiều sự  
đổi thay, do khoa học - công nghệ thế giới  
phát triển, nên hình thức và bản chất của cuộc  
hội nhập văn hoá lần này khác hẳn so với các  
lần trước bởi các lý do sau:  
Thứ tư, xét về phương diện chủ quan, trong  
con người Việt Nam hiện đại phát sinh nhiều  
nhu cầu hơn so với con người truyền thống,  
đặc biệt khi đời sống vật chất đã phần nào no  
đủ, thì việc hưởng thụ các giá trị tinh thần, các  
thành quả văn hoá lại trở nên đa dạng, phong  
phú hơn trước rất nhiều. Đó cũng là một trong  
những nguyên nhân cơ bản làm phát sinh  
nhiều dịch vụ văn hoá - xã hội, nhiều sân vui  
chơi giải trí mang dáng dấp Tây phương mà  
trước đây chưa từng có .  
Thứ nhất, cuộc hội nhập văn hoá lần này là  
hệ quả của hội nhập kinh tế toàn cầu với sự  
bành trướng của các công ty xuyên quốc gia,  
các tập đoàn kinh tế xuyên lục địa; của các sản  
phẩm công nghiệp mà nhãn hiệu cũng như  
bản chỉ dẫn sử dụng chủ yếu bằng tiếng Anh.  
Điều này đòi hỏi mọi thành viên trong cộng  
đồng quốc tế cần phải hiểu thứ ngôn ngữ  
thông dụng này, nếu không muốn để mất cơ  
hội làm ăn.  
Nhìn lại toàn bộ các nét đặc thù trên của  
cuộc hội nhập văn hoá lần thứ ba này, chúng  
ta thấy trong đó có nhiều thời cơ song cũng  
gặp không ít thách thức. Thách thức lớn nhất  
mà chúng ta đang trải nghiệm là: Liệu chúng ta  
có thể giữ được bản sắc văn hoá dân tộc trước  
sự xâm nhập mạnh mẽ của làn sóng toàn cầu  
hoá không? Câu hỏi giản đơn vậy, song lời đáp  
quả thật là khó khăn, trong bài viết này, chúng  
tôi chỉ nêu một gợi ý nhỏ: Làm gì và làm như  
thế nào để chúng ta có thể chế xuất được một  
liều vaccine hiệu nghiệm nhằm tạo ra chất miễn  
dịch chống lại những yếu tố tiêu cực của văn hoá  
ngoại lai trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay?  
Thứ hai, phương tiện của cuộc hội nhập  
văn hoá lần này chính là mạng lưới toàn cầu  
(Internet - International net) với các địa chỉ  
W.W.W (World Wide Webside) đang lan toả  
khắp hang cùng ngõ hẻm của mọi quốc gia,  
dân tộc, mọi gia đình. Bằng nhiều chức năng  
khác nhau, Internet đang góp phần làm đa  
dạng hoá cuộc sống tinh thần nhân loại nhưng  
mặt trái của nó cũng không phải là nhỏ. Những  
kẻ bất lương đang lợi dụng mạng lưới này như  
một phương tiện kiếm lời nhờ việc truyền bá  
các phim ảnh mang màu sắc porno1, các mốt  
ăn mặc lạ lẫm, các văn bản có ý đồ chính trị  
xấu, các thông tin xuyên tạc sự thật nhằm hạ  
gục uy tín đối phương.  
Ai cũng biết những yếu tố tiêu cực của văn  
hoá ngoại lai ở đây là những yếu tố xa lạ với  
bản sắc văn hoá truyền thống Việt Nam như  
chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng chạy  
theo đồng tiền và sùng bái vật chất, lối sống  
NGHIÊN CỨU  
Số 21 - Tháng 9 - 2017  
15  
V
ĂN H Ó  
A
NGHIÊN CỨU  
V
ĂN H Ó  
A
hiện sinh chỉ biết tới hiện tại mà không cần  
hiểu quá khứ, không cần hướng tới tương lai;  
là những kiểu ăn mặc kỳ dị; là những ấn phẩm  
phản giáo dục v.v... Tất cả những thứ đó đang  
tác động hàng ngày hàng giờ lên đời sống xã  
hội Việt Nam, làm cho tà áo dài truyền thống  
ngày một mỏng dần, chiếc váy mặc ngày càng  
ngắn lại, mái tóc dài truyền thống dần dần  
thưa bóng, những phong tục, lễ hội truyền  
thống bị thương mại hoá đến mức mất hết  
giá trị lịch sử - văn hoá - nhân bản chân chính  
nguyên thuỷ của chúng.  
Như chúng tôi đã đề cập ở trên, phương  
tiện tiên quyết để hội nhập văn hóa chính là  
trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là Anh ngữ - thứ  
ngôn ngữ đang được sử dụng thông dụng  
nhất hiện nay trong giao tiếp quốc tế và giao  
lưu văn hóa. Xuất phát từ suy nghĩ đó, chúng  
tôi thiết nghĩ, cần đẩy mạnh việc giảng dạy  
Anh ngữ trong các nhà trường, đặc biệt là ở  
các trường đại học. Vốn Anh ngữ cho sinh viên  
ra trường hiện nay hoàn toàn không đủ để đi  
vào thế giới hội nhập.  
Nói về văn hoá, Edouard Herriot - một học  
giả phương Tây phát biểu: “Văn hoá là cái còn  
lại khi ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi  
người ta đã học tất cả”(3, tr.4). Ý tưởng này như  
một bức thông điệp nhắn nhủ chúng ta rằng,  
đời người là một cuộc hành trình dài trên con  
đường đến với văn hoá dân tộc và văn hóa  
quốc tế. Chúng ta cần đối xử với văn hóa dân  
tộc như với cơm ăn, nước uống hàng ngày; còn  
đối với văn hóa quốc tế, như một lẽ tự nhiên,  
Anh ngữ sẽ là phương tiện hữu hiệu để đạt  
đến đích bằng con đường ngắn nhất.  
Để chống lại những biểu hiện lệch lạc  
đó, chúng ta không chỉ ngăn ngừa theo kiểu  
‘’phòng bệnh’’mà cần có phương châm‘’tương  
kế tựu kế’’. Nghĩa là nâng cao hơn nữa sự hiểu  
biết về truyền thống văn hoá dân tộc, về lịch  
sử vẻ vang của nước nhà. Thực tế, mấy kỳ thi  
tuyển sinh vào đại học gần đây cho thấy, kiến  
thức về lịch sử dân tộc của lớp trẻ đang có sự  
đứt gãy, hẫng hụt. Lớp trẻ đang ngày càng có  
xu hướng xa rời truyền thống, lãng quên quá  
khứ, có tâm lý sính hàng ngoại, sùng bái văn  
hoá phương Tây, chạy theo lối sống Âu - Mỹ.  
N.M.C  
(ThS, Khoa Lý luận chính trị và  
Phải qua nhiều trải nghiệm cuộc sống, ông  
cha ta mới đúc kết nên câu ngạn ngữ: ‘’Ôn cố  
nhi tri tân’’, còn nhà thơ Gamzatov (Đagestan)  
đã nói một cách hình ảnh: ‘’Nếu anh bắn vào  
quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào  
anh bằng đại bác’’. Để tránh khỏi hậu họa này,  
chúng ta phải chuẩn bị hành trang cho lớp trẻ  
ngay từ bây giờ, tuy có muộn nhưng còn hơn  
không thực hiện. Lẽ dĩ nhiên, khi lớp trẻ của  
chúng ta đã có một kiến thức sâu về lịch sử  
dân tộc, về văn hoá quá khứ nước nhà, họ sẽ có  
một tầm nhìn văn hoá xa hơn, rộng hơn, một  
cách tiếp cận văn hoá nhân loại khoa học và  
tỉnh táo hơn; họ sẽ biết tiếp nhận cái hay, loại  
bỏ dần cái dở của thiên hạ. Làm được như vậy,  
có nghĩa là trong tâm thức lớp trẻ Việt Nam  
hiện đại hiện diện một liều vaccine vừa đủ để  
tạo ra chất miễn dịch chống lại những yếu tố  
văn hoá tiêu cực ngoại lai, làm cho bông hoa  
văn hoá Việt Nam như đã miêu tả ở trên ngày  
thêm ngát hương, thắm sắc - đó là lý do thu  
hút bạn bè năm châu, bà con Việt kiều tìm về  
cội nguồn đất Việt ngày một nhiều hơn.  
Khoa học cơ bản, Trường ĐHVH HN)  
Chú thích  
1Hiểu theo nghĩa dâm tục  
Tài liệu tham khảo  
1. Phạm Đức Dương (2000), Văn hóa Việt Nam  
trong bối cảnh Đông Nam Á, Nxb. Khoa học xã hội,  
Hà Nội.  
2. Phan Ngọc (1994), Văn hóa Việt Nam và  
cách tiếp cận mới, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.  
3. Trần Ngọc Thêm (2004), Tìm về bản sắc văn  
hóa Việt Nam, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.  
4. Viện Thông tin - Học viện Chính trị Quốc gia  
Hồ Chí Minh (2001), Một số khái niệm về toàn cầu  
hoá, Tư liệu chuyên đề.  
5. Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam  
tìm tòi và suy ngẫm, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.  
Ngày nhận bài: 28 - 4 - 2017  
Ngày phản biện, đánh giá: 6 - 9 - 2017  
Ngày chấp nhận đăng: 30 - 9 - 2017  
16 Số 21 - Tháng 9 - 2017  
pdf 4 trang Thùy Anh 12341 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn hóa Việt Nam trong làn sóng toàn cầu hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_hoa_viet_nam_trong_lan_song_toan_cau_hoa.pdf