Phân tích các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu cà phê: Tiếp cận bằng mô hình trọng lực

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KIM NGẠCH  
XUẤT KHẨU CÀ PHÊ: TIẾP CẬN BẰNG MÔ HÌNH TRỌNG LỰC  
Nguyễn Thị Hoài Đan*  
Nguyễn Thị Hương Quỳnh*  
Đặng Thị Nhã Trúc*  
Trần Thị Hạ Vy*  
TS Nguyễn Quyết*  
TÓM TẮT  
Mục tiêu của bài viết này là đánh giá tác động của một số yếu tố như GDP bình quân, tỷ  
giá, quy mô dân số, độ mở thương mại, thuế nhập khẩu, tham nhũng, tham gia hiệp định  
thương mại đến kim ngạch xuất khẩu (KNXK) cà phê Việt Nam (VN). Nghiên cứu sử dụng  
dữ liệu bảng cân bằng, thu thập theo năm trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm  
2019 của 20 quốc gia nhập khẩu cà phê VN, mô hình phân tích thực nghiệm được phát  
triển từ mô hình trọng lực (Gravity model). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng GDP bình quân  
tác động tích cực đến KNXK cà phê của VN (Cùng dấu dương). Bên cạnh đó, sự tham gia  
các hiệp định thương mại, ưu đãi thuế quan đối với cà phê cũng là những dấu hiệu khả  
quan cho KNXK cà phê VN. Ngược lại, trong phạm vi nghiên cứu này cho thấy những yếu  
tố ảnh hưởng tiêu cực đến KNXK cà phê như biến động tỷ giá hối đoái, độ mở thương mại  
và tham nhũng.  
Từ khóa: Mô hình trọng lực, cà phê VN, dữ liệu bảng cân bằng.  
1. Giới thiệu  
VN là quốc gia có lợi thế về nông nghiệp, một số sản phẩm có thế mạnh như gạo,  
hạt điều, tiêu và đặc biệt là cà phê. Trong nhiều năm qua, cà phê chiếm tỷ trọng cao trong  
tăng trưởng GDP (3% GDP cả nước) và khoảng 15% tổng xuất khẩu nông sản. Theo GSO  
(2020), VN là nước đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu cà phê sau Brazil. Thị phần xuất  
khẩu cà phê nhân chiếm khoảng 14,2% thị phần thế giới, các sản phẩm cà phê rang xay  
và hòa toan chiếm khoảng 9,1% thị phần, đã có mặt trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ xếp  
hạng thứ 5 sau Brazil, Indonesia, Malaysia và Ấn độ. Gần đây, VN đã đạt được một số thảo  
thuận các hiệp định FTAđã tạo nhiều cơ hội cho ngành cà phê thâm nhập sâu vào thị trường  
quốc tế (Trung tâm thương mại quốc tế, 2020).  
*
Khoa Kinh tế – Luật, Trường Đại học Tài chính – Marketing.  
212 -  
Trong thời gian qua, xuất khẩu cà phê VN đã có những thuận lợi nhất định, tuy nhiên  
tình hình thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, đặc biệt là đại dịch Covid-19 làm thay đổi  
cơ bản hành vi người tiêu dùng, kênh phân phối bị đứt gãy, chính sách nhập khẩu của các  
quốc gia sẽ thay đổi theo. Những biến động tiêu cực trên thị trường thế giới chắc chắn sẽ  
ảnh hưởng đến KNXK cà phê VN. Mặt khác, nền kinh tế toàn cầu đã làm gia tăng tính cạnh  
tranh giữa các công ty, các quốc gia trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là xuất khẩu. Các yếu tố  
ảnh hưởng đến KNXK là rất quan trọng đối với các lãnh đạo doanh nghiệp, chính phủ và  
các nhà hoạch định chính sách khi đánh giá, xem xét ra quyết định trong nền kinh tế toàn  
cầu. Với những lý do nêu trên, nghiên cứu các yếu tố tác động đến KNXK cà phê là điều  
cần thiết trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay. Mục tiêu của bài viết này là đánh giá ảnh  
hưởng một số yếu tố đến KNXK cà phê VN. Qua đó, trên cơ sở những bằng chứng thực  
nghiệm, bài viết gợi ý những giải pháp thiết thực nhằm cải thiện KNXK cà phê trong thời  
gian tới. Để đạt được các mục tiêu như trên, cấu trúc của bài viết được trình bày như sau:  
(i) Giới thiệu, (ii) Tổng quan cơ sở lý thuyết, (iii) Mô tả về phương pháp nghiên cứu, (iv)  
Kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, (v) Kết luận hàm ý chính sách.  
2. Tổng quan lý thuyết  
2.1. Lý thuyết cổ điển  
Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối (Adam Smith, 1776) cho rằng nếu các quốc gia chuyên  
môn hóa và xuất khẩu hàng hóa với giá rẻ, có mức chi phí thấp hơn chi phí trung bình của  
quốc tế thì tất cả các quốc gia đều có lợi. Bản chất của lý thuyết này là giải thích ý nghĩa  
của việc chuyên môn hóa, phân công lao động trong việc sản xuất hàng hóa tạo ra lợi thế  
của mỗi quốc gia. Đối lập với lý thuyết này, Ricardo (1817) lập luận rằng các quốc gia có  
lợi hơn khi chi phí cơ hội thấp hơn (lợi thế so sánh) trong sản xuất hàng hóa để chuyên  
môn hóa và xuất khẩu, trong khi nước nhập khẩu hàng hóa sẽ có lợi khi nhập khẩu hàng  
hóa đòi hỏi chi phí cơ hội cao hơn (bất lợi so sánh). Hàm ý của lý thuyết Ricardo giải thích  
rằng một quốc gia kém hiệu quả hơn những quốc gia khác cũng có thể tham gia vào thương  
mại quốc tế. Qua đó, những quốc gia kém hiệu quả sẽ phát huy những lợi thế của quốc gia  
mình và tận dụng lợi thế của những quốc gia khác trong phát triển kinh tế. Theo Heckscher  
(1919); Ohlin (1924) đề xuất rằng các quốc gia nên chuyên môn hóa và xuất khẩu sản phẩm  
hàng hóa sử dụng yếu tố sản xuất tương đối dồi dào, rẻ hơn (lao động, vốn) và chỉ nhập  
khẩu những hàng hóa mà nó đắt hơn, kém phong phú hơn và có tính khan hiếm. Lý thuyết  
này cho rằng sự khác biệt tương đối về yếu tố ưu đãi của các quốc gia dẫn đến sự khác biệt  
trong chi phí quốc tế và do đó tạo cơ sở cho thương mại giữa các khu vực. Ở một khía cạnh  
khác, Michael Porter (1990) cho rằng những lợi thế trong thương mại quốc tế giữa các quốc  
gia thường quan tâm đến một số tiêu chí mang tính cạnh tranh như môi trường kinh doanh,  
thể chế, cơ sở hạ tầng, trình độ công nghệ và những phát minh sáng chế.  
- 213  
2.2. Một số nghiên cứu thực nghiệm  
Cho đến nay, chủ đề phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu đã thu hút  
nhiều tác giả nghiên cứu. Theo Yusuf, H. A., et al (2018) ứng dụng mô hình trọng lực cùng  
phương pháp ước lượng Poisson-Maximum để xem xét ảnh hưởng của hàng xuất khẩu  
của Malaysia sang Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC), sử dụng dữ liệu từ năm 1985-2015.  
Nghiên cứu kết luận rằng khoảng cách địa lý, GDP bình quân đầu người, tỷ giá hối đoái,  
những điểm tương đồng về di sản thuộc địa có mối quan hệ trực tiếp với dòng xuất khẩu  
giữa Malaysia và các nước OIC ở Châu Phi. Ngược lại, không phát hiện có mối quan hệ  
nào giữa độ mở thương mại với khối lượng hàng hóa xuất khẩu. Mặt khác, nghiên cứu của  
Abidin, I. S. Z., & Haseeb, M. (2017) cho rằng tỷ giá hối đoái, khoảng địa lý và GDP bình  
quân đầu người đã tác động đáng kể đến hoạt động thương mại giữa các nước thuộc Hội  
đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) và Malaysia. Các kết quả tương tự về tác động của độ mở  
thương mại đã làm tăng hiệu quả xuất khẩu ở hai bang của Ấn Độ (Pradhan, J. P., & Zohair,  
M., 2015). Tương tự, Heinze, H. (2018) đã ước tính mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái thực,  
xuất khẩu và các hoạt động nước ngoài đối với thương mại trong và ngoài Liên minh tiền  
tệ châu Âu (EMU) với Đức từ năm 1995 đến năm 2014 bằng cách sử dụng các mô hình  
hiệu chỉnh sai số (VECM). Nghiên cứu kết luận rằng có mối tương quan cao giữa xuất khẩu  
của Đức và hoạt động nước ngoài, không có mối quan hệ đáng kể nào giữa xuất khẩu trong  
khối EMU và tỷ giá hối đoái thực. Anagaw, B. K., & Demissie, W. M. (2012) đã nghiên  
cứu các yếu tố quyết định hiệu suất xuất khẩu trong dài hạn và ngắn hạn tại Ethiopia bằng  
cách sử dụng kiểm định đồng tích hợp Johansen và các mô hình VECM trên dữ liệu chuỗi  
thời gian. Kết quả cho thấy trong dài hạn phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển tài chính, tỷ giá  
hối đoái thực, mở cửa thương mại, phát triển GDP thực tế của nước sở tại đã thúc đẩy hoạt  
động xuất khẩu trong dài hạn. Những nghiên cứu khác cùng chủ đề này cũng cho kết luận  
tương là Babatunde, M. A. (2009); Mahona, B. K., & Mjema, G. D. (2014); Merrett, C. D.,  
& Walzer, N. (Eds.). (2004); Branchi, M., Gabriele, G., & Spiezia, V. (1999).  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Mô hình trọng lực  
Mô hình trọng lực được nhà vật lý người Anh xây dựng vào năm 1687 (Newton,  
1687). Mô hình có dạng như sau:  
mi *mj  
F = G  
(1)  
ij  
Dij  
Trong đó: Fij là lực hút từ vật i tới j, G là hằng số lực hấp dẫn, mi, mj là trọng lượng  
của vật i, j và Dij là khoảng cách từ vật i đến j. Sau đó vào thập niên 1960 các nhà kinh tế  
214 -  
học đã vận dụng chúng vào trong phân tích kinh tế bằng cách thay các biến trong mô hình  
(1) bằng các biến số kinh tế (Linder, 1961; Tinbergen, 1962; Linneman, 1966).  
GDPβ1 ×GDPjβt2  
it  
Tradeijt = K0  
uijt  
(2)  
(3)  
Dβij3  
ln Tradeijt = β0 +β1 ln Mit +β2 ln GDPjt −β3 ln Dijt + εijt  
Trong đó: Tradeijt là trị giá thương mại giữa quốc gia i với quốc gia j vào năm t, GDPit,  
GDPjt là tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia i và j vào năm t và Dij là khoảng cách địa lý  
từ quốc gia i đến quốc gia j, β0 = lnK0, εijt = lnuijt là sai số mô hình. Theo Frankel (1997),  
Helpman, E., & Krugman, P. R. (1985) thương mại của các quốc gia không chỉ bị ảnh  
hưởng bởi khoảng cách địa lý như biến Dijt mà còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác. Do đó,  
biến khoảng cách trong mô hình (3) có thể mở rộng thành một tập các biến như chi phí giao  
dịch, chi phí vận chuyển, khoảng cách văn hóa, ngôn ngữ…  
Theo Anderson, J. E., & Van Wincoop, E. (2003) ước lượng mô hình có thể bị chệch  
(bias) nếu bỏ sót các biến có ý nghĩa. Tuy vậy, đối với mô hình trọng lực vẫn cho cho kết  
quả tốt hơn các mô hình khác trong những tình huống như vậy, do đó, mô hình trọng lực  
trở nên phổ biến trong các nghiên cứu thực nghiệm về dòng thương mại giữa các quốc gia  
trên thế giới (Yamarik, S., & Ghosh, S., 2005).  
3.2. Mô hình hồi quy thực nghiệm  
Để phân tích tác động của các yếu tố đến KNXKcà phê VN, nghiên cứu này phân tích  
dựa trên dữ liệu bảng cân bằng với mô hình hồi quy thực nghiệm có dạng như sau:  
ln expijt = λi + µt +β0 +β1 lnirjt +β2ln gdpvnit +β3 ln gdpijt +β4 ln popjt +β5 ln openjt  
(4)  
+β6 ln taxjt +β7 ln cpijt +β8aseanjt + εijt  
(5)  
Trong đó: lnexpijt: KNXKcà phê VN sang nước j năm t; lnirjt: Tỷ giá hối đoái của nước  
j năm t; lngdpvnit: Tổng sản phẩm quốc nội của VN năm t; lngdpijt: Tổng sản phẩm quốc  
nội của nước j năm t; lnpopjt: Quy mô dân số của nước j năm t; lnopenjt: Độ mở thương mại  
của nước j năm t; lntaxjt: Thuế nhập khẩu của nước j năm t; lncpijt: Tham nhũng của nước  
j năm t; aseanjt: Nước j năm t có tham gia hiệp định khối ASEAN (Là biến nhị phân (biến  
giả) chứa hai thuộc tính, nếu một quốc gia có tham gia hiệp định khối ASEAN thì gán bằng  
1, ngược lại thì gán bằng 0); εijt là sai số của mô hình hồi quy.  
3.3. Dữ liệu nghiên cứu vv  
Nghiên cứu này sử dụng liệu liệu bảng cân bằng (Balanced panel data), các biến  
nghiên cứu được thu thập từ năm 2001 đến năm 2019 tại 20 nước có nhập khẩu cà phê VN  
- 215  
(n.T=20.19=380 quan sát) gồm các nước; China, Canada, Czech Republic, New Zealand,  
Singapore, Japan, Russian Federation, Turkey, Algeria, United Kingdom, Malaysia,  
Thailand, Sweden, Korea, India, Philippines, Indonesia, Australia, Romania, Switzerland.  
Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các nguồn World Bank, IMF và Trade and Market  
Intelligence (ITC).  
Bảng 1. Biến nghiên cứu  
TT  
1
Tên Biến Giải thích  
Nguồn dữ liệu  
ITC  
exp  
KNXK cà phê VN  
2
ir  
Tỷ giá hối đoái  
IMF  
3
4
5
6
gdpvn  
gdpi  
pop  
open  
tax  
GDP bình quân (VN)  
GDP bình quân (Nước nhập khẩu)  
Quy mô dân số  
Độ mở thương mại  
Thuế nhập khẩu  
World Bank  
World Bank  
World Bank  
ITC  
7
ITC  
8
9
cpi  
asean  
Tham nhũng  
Tham gia hiệp định thương mại (Biến giả)  
World Bank  
ITC  
Nguồn: Tác giả tóm tắt  
3.4. Phương pháp ước lượng  
Nghiên cứu này thực hiện kỹ thuật ước lượng dựa trên dữ liệu bảng cân bằng (phân  
tích tĩnh) với 3 mô hình (Baltagi, B. H., 2015); (i) Mô hình OLS thông thường (Pooled  
Ordinary Least Squares), (ii) Mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed effects models-FEM),  
(iii) Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random effects models-REM). Từ mô hình (5) việc  
lựa chọn mô hình ước lượng mô hình dữ liệu bảng phù hợp phụ thuộc vào ảnh hưởng của  
λi và μt. Trong đó: λi là ảnh hưởng của các thành phần chéo (tức là các quốc gia), μt là ảnh  
hưởng của thành phần thời gian (tức các yếu tố thời gian). Nếu mô hình mà cả hai thành  
phần λi, μt bằng không thì ước lượng mô hình Pool-OLS, nếu thành phần μt bằng không thì  
ước lượng mô hình ảnh hưởng cố định (FEM), nếu mô hình mà thành phần μt bằng không  
nhưng ảnh hưởng của thành phần chéo thuộc phần dư (εijt) thì ước lượng mô hình hưởng  
ngẫu nhiên (REM).  
Thông qua một số kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp, nếu lựa chọn giữa mô  
hình Pool OLS và REM thì dùng kiểm định Breusch-Pagan Lagrange Multiplier (LM) với  
giả thuyết H0: “Không có ảnh hưởng ngẫu nhiên trong mô hình”, nếu giải thuyết bị bác bỏ  
tức là mô hình Pooled OLS không phù hợp và ngược lại. Để lựa chọn mô hình RE và FE  
chúng ta sử dụng kiểm định Hausman với giả thuyết H0: “Tồn tại ảnh hưởng ngẫu nhiên  
trong mô hình”, nếu giả thuyết bị bác bỏ thì mô hình FE là phù hợp và ngược lại.  
216 -  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Phân tích mô tả mẫu  
Bảng 2 trình bày kết quả thống kê mô tả các biến trong bộ dữ liệu nghiên cứu,  
từ kết quả này cho thấy mẫu phân tích dựa trên dữ liệu bảng cân bằng được thu thập  
trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2019 (19 năm) của 20 nước có nhập khẩu cà phê từ  
VN (n*T = 20*19 = 380 quan sát). Hầu hết các biến nghiên cứu có phân phối lệch phải vì  
có hệ số lệch lớn hơn không (Skewness dương). Mặt khác, hệ số biến thiên (Coefficient of  
Variation-CV) cho thấy biến tỷ giá (ir) có biến động rất lớn vì hệ số biến thiên bằng 4,725,  
lớn nhất so với các biến còn lại. Kế đến là biến dân số (pop) có hệ số biến thiên bằng 2,073,  
điều này cho thấy trong thời gian từ 2001 đến 2019 tỷ lệ tăng trưởng về dân số có biến  
động khá lớn. Trong giai đoạn này, KNXKcà phê của VN sang các nước đạt trung bình là  
75.759 (nghìn USD) thấp nhất là 46 (nghìn USD), cao nhất đạt 502,339 (nghìn USD), tuy  
nhiên KNXK không đồng đều, có sự biến thiên khá mạnh giữa các quốc gia (vì hệ số biến  
thiên bằng 1,208 khá lớn so với các biến còn lại). Mặt khác, thuế xuất khẩu trung bình  
khoảng 8,02% và biến động không quá lớn giữa các quốc gia.  
Bảng 2. Thống kê mô tả biến nghiên cứu  
Variables N Mean Sd  
Min  
Max  
CV  
Skewness Kurtosis  
exp  
ir  
380 75,759 91,500 46  
502,339 1.208  
51,796 4.725  
2.193  
9.189  
0.308  
0.862  
2.582  
2.873  
0.0962  
1.425  
0.914  
8.143  
118.8  
2.017  
3.289  
7.932  
11.60  
1.603  
6.891  
1.836  
380 748.4  
380 5,233  
3,536  
1,454  
0.500  
3,106  
gdpvn  
gdpi  
pop  
open  
cpi  
8,041  
0.278  
380 28,414 20,598 2,652  
97,745 0.725  
380 180.2  
380 88.37  
380 54.45  
380 8.02  
373.5  
73.42  
27.26  
4.97  
3.880  
19.80  
5.440  
0.020  
0
1,398  
437.3  
96  
34.91  
1
2.073  
0.831  
0.501  
0.620  
1.558  
tax  
asean  
380 0.292  
0.455  
Nguồn: Xử lý dữ liệu từ Stata 16  
Để giảm bớt sự biến động mang tính hệ thống trong từng biến nghiên cứu, tất cả các  
biến này được lấy logarit tự nhiên trước khi đưa vào phân tích, ngoại trừ biến asean vì đây  
là biến nhị phân thể hiện hai thuộc tính (Biến asean được gán bằng 1 nếu một quốc gia có  
tham gia hiệp định với khối ASEAN, ngược lại thì biến asean được gán bằng 0).  
4.2. Ước lượng mô hình hồi quy  
Nghiên cứu này áp dụng kỹ thuật phân tích tĩnh, ước lượng với 3 mô hình gồm Pool-  
OLS (1), mô hình tác động cố định (2) và mô hình tác động ngẫu nhiên (3). Tuy vậy, trong  
- 217  
ba mô hình này cần phải lựa chọn 1 mô hình tốt nhất để phục vụ cho việc phân tích. Để đạt  
được mục đích này chúng ta cần phải thực hiện các kiểm định để lựa chọn 1 mô hình tốt  
nhất như sau:  
Bảng 3. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy  
Variables  
Pool-OLS  
Fixed Effects Random  
Effects  
Panel corrected  
standard errors  
(4)  
-0.131***  
(0.0297)  
3.029***  
(0.362)  
(1)  
-0.131***  
(0.0331)  
3.029***  
(0.254)  
0.894***  
(0.159)  
-0.00842  
(0.0772)  
-0.299*  
(0.164)  
-0.0434  
(0.0727)  
-0.720***  
(0.148)  
0.402**  
(0.179)  
-19.83***  
(2.397)  
380  
(2)  
-0.339***  
(0.103)  
2.759***  
(0.393)  
1.175**  
(0.474)  
-0.268  
(3)  
-0.148*  
lnir  
(0.0763)  
2.978***  
(0.275)  
0.841**  
(0.380)  
0.286  
lngdpvn  
lngdpi  
lnpop  
lnopen  
lntax  
0.894***  
(0.129)  
-0.00842  
(0.0271)  
-0.299***  
(0.0888)  
-0.0434  
(0.0582)  
-0.720***  
(0.0790)  
0.402**  
(0.175)  
(1.256)  
0.693*  
(0.374)  
0.125  
(0.0766)  
1.653***  
(0.498)  
-0.0733  
(0.184)  
-32.72***  
(5.164)  
380  
(0.232)  
0.505*  
(0.301)  
0.134*  
(0.0754)  
0.385  
(0.357)  
0.00869  
(0.180)  
-28.31***  
(3.197)  
380  
lncpi  
asean  
Constant  
-19.83***  
(3.029)  
380  
Obs  
R-squared  
LM test  
0.482  
716.82***  
[0.000]  
0.617  
0.603  
0.482  
Hausman test  
5.600  
[0.6915]  
Heteroskedasticity test  
1673.92***  
[0.000]  
Wooldridge test for AR(1)  
45.620***  
[0.000]  
() là sai số chuẩn, *** p < 0.01, ** p < 0.05, * p < 0.1.  
Nguồn: Xử lý dữ liệu từ Stata 16  
218 -  
Để lựa chọn mô hình (1) hoặc (2) thì căn cứ vào kiểm định F trong mô hình (2), nếu  
kiểm định này có ý nghĩa thông kê thì chọn mô hình (2), ngược lại thì chọn mô hình (1).  
Thật vậy kết quả ước lượng mô hình (1) cho thấy R2 bằng 0,617 và kiểm định F có trị xác  
xuất bằng 0.000 (Prob > F = 0.000) nhỏ hơn 5%, do đó kiểm định F có ý nghĩa thống kê,  
nghĩa là chọn mô hình (2).  
Để lựa chọn mô hình (1) hoặc mô hình (3) dựa vào kiểm định L-M, nếu kiểm định  
này có ý nghĩa thống kê thì chọn mô hình (3). Kết quả trình bày trong Bảng 3 chứng tỏ rằng  
kiểm định L-M có ý nghĩa thống kê vì trị xác suất nhỏ hơn 5% (hay prob=0,000), nghĩa là  
chọn mô hình (3). Tiếp tục để lựa chọn mô hình (2) hoặc (3), chúng ta cần thực hiện kiểm  
định Hausman và kết luận rằng không bác bỏ giả thuyết H0, vậy mô hình (3) là tốt nhất. Tuy  
nhiên, mô hình (3) vẫn chưa hoàn hảo vì phần dư có phương sai không đồng nhất và bị tự  
tương quan bậc nhất. Do đó, để vượt qua hai khuyết tật này, chúng ta cần phải ước lượng  
lại mô hình (3) theo phương pháp hiệu chỉnh sai số chuẩn, kết quả được trình bày trong cột  
(4) (Bảng 3). Dựa vào kết quả ước lượng mô hình hồi quy (4), ý nghĩa của các biến trong  
mô hình hồi quy được giải thích như sau:  
Biến tỷ giá (lnir): Kết quả kiểm định cho thấy biến tỷ giá hối đoái mang dấu âm và  
có ý nghĩa thống kê mức 1%. Điều này hàm ý rằng tỷ giá hối đoái ảnh hưởng nghịch chiều  
đến KNXK cà phê VN. Khi có một biến động trên thị trường ngoại hối làm tỷ giá đồng nội  
tệ so với đồng ngoại tệ tăng lên sẽ dẫn đến hàng hóa nhập khẩu có xu hướng đắt đỏ hơn dẫn  
đến hàng hóa nhập khẩu sẽ giảm. Nếu các yếu tố khác không đổi, nếu tỷ giá của các nhập  
khẩu tăng lên 1% thì KNXK cà phê giảm trung bình 0,131%.  
Biến tổng GDP bình quân đầu người của VN (lngdp): Kết quả kiểm định cho thấy  
biến GDP bình quân mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê mức 1%. Điều này hàm ý  
rằng GDP bình quân VN ảnh hưởng tích cực đến KNXK cà phê. Nếu các yếu tố khác không  
đổi, khi GDP bình quân tăng 1% thì KNXK cà phê tăng trung bình 3,029%.  
Biến GDP bình quân đầu người của nước nhập khẩu (lngdpi): Kết quả kiểm định  
cho thấy biến lngdpvni mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê mức 1%. Điều này hàm ý  
rằng GDP các nước nhập khẩu ảnh hưởng tích cực đến KNXK cà phê VN. Nếu các yếu tố  
khác không đổi, khi GDP bình quân tăng 1% thì KNXK cà phê tăng trung bình 0,894%.  
Vậy có thể lý giải rằng, khi GDP bình quân của một quốc gia tăng thì cầu tiêu dùng tăng  
lên (trong đó có cà phê) dẫn đến lượng tiêu thụ cà phê cũng tăng lên.  
Biến tổng dân số (lnpop): Kết quả kiểm định cho thấy biến lnpop không có ý nghĩa  
thống kê. Điều này hàm ý rằng tổng dân số thay đổi của nước nhập khẩu không ảnh hưởng  
đến KNXK cà phê VN.  
- 219  
Biến độ mở thương mại (lnop): Kết quả kiểm định cho thấy biến độ mở mang dấu  
âm và có ý nghĩa thống kê mức 1%. Điều này hàm ý rằng độ mở thương mại ảnh hưởng  
nghịch chiều đến KNXK cà phê VN. Nếu các yếu tố khác không đổi, nếu độ mở của các  
nước nhập khẩu tăng lên 1% thì KNXK cà phê giảm trung bình 0,299%. Điều này có thể  
lý giải rằng, mặc dù các nước có độ mở lớn nhưng với mặt hàng cà phê vẫn có những quy  
định rất nghiêm ngặt vì cà phê có chất gây nghiện. Ví dụ, Úc đã cấm bán lẻ sản phẩm những  
có caféin nguyên chất.  
Biến thuế nhập khẩu (lntax): Kết quả kiểm định cho thấy biến thuế nhập khẩu  
(lntax) không có ý nghĩa thống kê. Vậy hàm ý rằng thuế quan nhập khẩu của các nước  
không ảnh hưởng đến KNXKcà phê VN.  
Biến tham nhũng (lncpi): Kết quả kiểm định cho thấy biến tham nhũng (lncpi) mang  
dấu âm, có ý nghĩa thống kê mức 1%. Vậy hàm ý rằng tham nhũng ảnh hưởng tiêu cực đến  
KNXKcà phê VN.  
Biến tham gia hiệp định thương mại (lnasean): Kết quả kiểm định cho thấy biến  
tham gia hiệp định thương mại (lnasean) mang dấu dương, có ý nghĩa thống kê mức 1%.  
Vậy hàm ý rằng tham gia các hiệp định thương mại sẽ làm tăng KNXK cà phê VN. Nếu  
các yếu tố khác không đổi nếu VN tham gia hiệp định thương mại thì KNXK cà phê tăng  
trung bình 0,402%.  
5. Kết luận và hàm ý chính sách  
Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến KNXK cà phê VN đã chỉ ra rằng, GDP  
bình quân là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tích cực đến KNXK cà phê của VN. Bên cạnh  
đó, tham gia các hiệp định thương mại tự do, chính sách ưu đãi thuế quan đối với cà phê  
cũng là những dấu hiệu tích cực làm tăng KNXK cà phê. Ngược lại, nghiên cứu cũng chỉ  
ra những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến KNXK cà phê như tỷ giá hối đoái, độ mở thương  
mại, tham nhũng. Với kỳ vọng sẽ gia tăng KNXK trong thời gian tới, nghiên cứu này gợi  
ý một số giải pháp như sau:  
Thứ nhất, Chính phủ cần đảm bảo duy trì tăng trưởng GDP bình quân tạo động lực  
gia tăng xuất khẩu cà phê. Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, chính phủ cần thực  
hiện những chính sách vĩ mô một cách đồng bộ linh hoạt, đột phá, từng bước tháo gỡ khó  
khăn cho doanh nghiệp. Khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp từng bước thực hiện chuyển  
đổi số, ứng dụng công nghệ trong sản xuất để nâng cao chất lượng của sản phẩm nhằm tăng  
tính cạnh tranh trên thị trường thế giới.  
Thứ hai, tranh thủ sự ưu đãi thuế quan xuất khẩu bằng việc xúc tiến các hiệp định  
thương mại tự do một cách hiệu quả. Chính phủ cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh  
220 -  
doanh, hoàn thiện thể chế pháp lý theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, rà  
soát, bổ sung một số luật, nghị định sao cho phù hợp với xu thế hội nhập trên nguyên tắc  
đồng bộ, thống nhất khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia,  
thâm nhập thị trường.  
Thứ ba, định hướng sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng hàm  
lượng giá trị gia tăng trong từng sản phẩm, đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của thị  
trường nhập khẩu. Trong thời đại 4.0, xu hướng ứng dụng công nghệ là tất yếu khách quan,  
do đó, chính phủ cần có chính sách định hướng, hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp kết  
hợp công nghệ trong tất cả quá trình sản xuất, chăm sóc, đóng gói, bảo quản,… từng bước  
nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng những thị trường khó tính nhất.  
Thứ tư, đặc biệt chú trọng khai thác các thị trường xuất khẩu tiềm năng, do đó, Bộ  
Công Thương cần chủ động, tích cực khai thác, tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại  
kết hợp quảng bá thương hiệu cà phê VN giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường. Mặt khác,  
biến động kinh tế của thế giới ngày càng phức tạp, khó lường, xu hướng giá cả thay đổi  
không theo quy luật. Vậy, cơ quan quản lý cần phải quan tâm đúng mực với công tác dự báo  
để nắm bắt biến động trên thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường ngoại hối để có những  
ứng phó hợp lý, kịp thời và hiệu quả.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Abidin, I. S. Z., & Haseeb, M. (2017, September). Malaysia-GCC Trade and Financial Linkages:  
Scope, Opportunities and Potential. In Proceedings of 44th International Business Research  
Conference, 18-19.  
Anagaw, B. K., & Demissie, W. M. (2012). Determinants of export performance in Ethiopia: VAR  
model analysis. Journal of Research in Commerce & Management, 2(5), 94-109.  
Anderson, J. E., & Van Wincoop, E. (2003). Gravity with gravitas: A solution to the border  
puzzle. American economic review, 93(1), 170-192.  
Babatunde, M. A. (2009). Can trade liberalization stimulate export performance in Sub-Saharan  
Africa. Journal of International and Global Economic Studies, 2(1), 68-92.  
Baltagi, B. H. (Ed.). (2015). The Oxford handbook of panel data. Oxford Handbooks.  
Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of  
management, 17(1), 99-120.  
Braha, K., Qineti, A., Cupák, A., & Lazorcáková, E. (2017). Determinants of Albanian  
agricultural export: The gravity model approach. AGRIS on-line Papers in Economics and  
Informatics, 9(665-2017-1574), 3-21.  
Branchi, M., Gabriele, G., & Spiezia, V. (1999). Traditional Agricultural Exports, External  
Dependency and Domestic Price Policies. African Coffee Exports in a Comparative  
Perspective (No. 140). United Nations Conference on Trade and Development.  
- 221  
Campbell, R. H., & Skinner, A. S. (2014). Adam Smith. Routledge.  
Frankel, J. A., Stein, E., & Wei, S. J. (1997). Regional trading blocs in the world economic system.  
Peterson Institute.  
Gerald Albaum, Edwin Duerr (2008). International Marketing and Export Management  
(6th Ed.). UK: Pearson Education.  
Heinze, H. (2018). The determinants of German exports: An analysis of intra-and extra-EMU  
trade (No. 95/2018). Working Paper.  
Helpman, E., & Krugman, P. R. (1985). Market structure and foreign trade: Increasing returns,  
imperfect competition, and the international economy. MIT press.  
Hội, H. V. (2013). Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN và những tác động đến thương mại quốc  
tế của VN. VNU Journal of Science: Economics and Business, 29(4).  
Kê, T. C. T. (2011). Niên Giám Thống Kê 2020.  
Kurz, H. D. (2016). David Ricardo (1772 – 1823). In Handbook on the History of Economic  
Analysis Volume I. Edward Elgar Publishing.  
Kurz, H. D. (2016). David Ricardo (1772 – 1823). In Handbook on the History of Economic  
Analysis Volume I. Edward Elgar Publishing.  
Leamer, E. E. (1995). The Heckscher-Ohlin model in theory and practice.  
Linder, S. B. (1961). An essay on trade and transformation, 82-109. Stockholm: Almqvist &  
Wiksell.  
Linneman, H. (1966). An Econometric Study oj International Trade Flow. Contributions to  
Economic Analysis. Amsterdam: North-Hol-land. LinnemanAn Econometric Study of  
International Trade Flows 1966.  
Mahona, B. K., & Mjema, G. D. (2014). Determinants of Tanzania and Kenya Trade in the East  
African Community: A Gravity Model Approach.  
Merrett, C. D., & Walzer, N. (Eds.). (2004). Cooperatives and local development: Theory and  
applications for the 21st century. ME Sharpe.  
Porter, M. E. (1996). Competitive advantage, agglomeration economies, and regional  
policy. International regional science review, 19(1-2), 85-90.  
Pradhan, J. P., & Zohair, M. (2015). Subnational export performance and determinants: evidence  
from two Indian states. Review of Market Integration, 7(2), 133-174.  
Smith, Adam. The Wealth of Nations, 2 vols. New York: E.P. Dutton and Company, 1921.  
Tinbergen, J., & Bos, H. (1962). Mathematical models of economic growth.  
Yamarik, S., & Ghosh, S. (2005). A sensitivity analysis of the gravity model. The International  
Trade Journal, 19(1), 83-126.  
Yusuf, H. A., Abidin, I. S. Z., & Bakar, N. (2018). An Empirical Analysis of Determinants of  
Malaysia’s Export to OIC countriesinAfrica’. International Journal of Business Management  
and Economic Research (IJBMER), 9(1), 1230-35.  
222 -  
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG  
KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS –  
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
TS Nguyễn Văn Tuyên*  
ThS Ngô Thị Hồng Giang*  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này nhằm kiểm định các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh  
của các doanh nghiệp logistics tại Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM). Thực hiện phân  
tích, kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính với nguồn dữ liệu được thu thập từ các doanh  
nghiệp logistics tại TPHCM, kết quả nghiên cứu đi đến kết luận, có 4 yếu tố tác động đến  
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp logistics theo trọng số ảnh hưởng  
từ cao xuống thấp là Năng lực nội tại; Khả năng tiếp cận vốn; Môi trường kinh doanh và  
Chính sách địa phương. Nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị giúp các doanh nghiệp  
logistics xây dựng chiến lược nâng cao hiệu quả kinh doanh trong thời gian tới.  
Từ khóa: Doanh nghiệp, hiệu quả, logistics,tác động, TPHCM.  
1. Đặt vấn đề  
Logistics là một ngành không thể thiếu trong tổng thể nền kinh tế, bởi lĩnh vực này  
liên quan trực tiếp đến hoạt động vận tải, giao nhận, kho bãi, các thủ tục dịch vụ hành  
chính, tư vấn (hải quan, thuế, bảo hiểm,…), thương mại quốc tế, kênh phân phối, bán  
lẻ,… Sự phát triển dịch vụ logistics sẽ đem lại giá trị gia tăng cho nền kinh tế, gắn dịch vụ  
logistics với phát triển sản xuất hàng hóa, hoạt động thương mại trong và ngoài nước, phát  
triển hạ tầng giao thông vận tải và công nghệ thông tin,... Sự phát triển thị trường dịch vụ  
logistics lành mạnh sẽ tạo cơ hội bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần  
kinh tế, khuyến khích thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước phù hợp với pháp luật và các  
điều ước quốc tế mà Việt Nam đã cam kết.  
Tại Việt Nam, ngành logistics đã được hình thành từ những năm 1990 trên cơ sở của  
dịch vụ giao nhận vận tải, kho vận, cho đến nay ngành logistics đã không ngừng phát triển  
về cả số lượng doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ  
Logistics Việt Nam (Dẫn theo Lam Hồng, 2020), hiện nay có khoảng 3.000 doanh nghiệp  
*
Khoa Kinh tế – Luật, Trường Đại học Tài chính – Marketing.  
- 223  
logistics trong nước và khoảng 25 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới kinh doanh dưới  
nhiều hình thức, trong những năm gần đây tốc độ phát triển ngành logistics ở Việt Nam đạt  
khoảng 14 – 16%/năm với quy mô từ 40 – 42 tỉ USD/năm, nhưng có đến 80% thị phần rơi  
vào tay doanh nghiệp nước ngoài.  
Tuy có tốc độ tăng trưởng mạnh nhưng đa số các doanh nghiệp là hoạt động tự phát,  
nguồn lực phát triển ngành dịch vụ này còn khá khiêm tốn. Theo Bộ Công thương (2019),  
có đến 80% doanh nghiệp thành lập có vốn đăng ký từ 1,5 – 2 tỷ đồng; hầu hết nhân lực  
trong lĩnh vực logistics hiện nay của Việt Nam đều được đào tạo từ các nguồn khác nhau,  
chưa được đào tạo chính quy, bài bản. Trong số các doanh nghiệp trong nước, có tới 93 –  
95% người lao động không được đào tạo chuyên ngành logistics, chủ yếu làm dịch vụ ở các  
chuỗi cung ứng nhỏ như giao nhận, kho bãi, xử lý vận đơn,... và một trong những nguyên  
nhân khiến cho dịch vụ logistics của nhiều doanh nghiệp được cung cấp thiếu chuyên  
nghiệp là trình độ ứng dụng công nghệ thông tin kém, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa ứng  
dụng công nghệ khi lượng lớn hàng hóa di chuyển, nhu cầu về thời gian cũng như đảm bảo  
an toàn và chất lượng của hàng hóa. Ngoài ra, các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn  
thiếu kinh nghiệm, năng lực cạnh tranh hạn chế, nên chưa có cơ hội vươn ra thị trường có  
nhu cầu lớn. Thêm vào đó, thiếu sự liên kết đồng bộ giữa các doanh nghiệp, giữa các công  
đoạn khác nhau của hoạt động logistics.  
Trong bối cảnh thị trường hoạt động logistics tại TPHCM (chiếm gần 70% số doanh  
nghiệp trên cả nước) còn rất nhiều tiềm năng để phát triển. Việc phát triển các hoạt động  
logistics liên quan đến việc phát triển của hầu hết các ngành, nghề khác, góp phần nâng  
cao lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Bên cạnh những thành quả đạt được, ngành logistics  
còn tồn tại những mặt hạn chế. Đó là cơ sở cho việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự  
phát triển các doanh nghiệp logistics trên địa bàn TPHCM nhằm đề xuất một số giải pháp  
căn cơ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp logistics tại  
TPHCM nói riêng và cả nước nói chung.  
2. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết  
2.1. Tổng quan nghiên cứu  
Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu liên quan đến hiệu quả hoạt động  
kinh doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Panco và cộng sự (1999), đã chỉ ra rằng tuổi  
của doanh nghiệp hay số năm hoạt động của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến sự tồn tại và  
phát triển của doanh nghiệp. Ngoài ra Hansen và cộng sự (2002) còn bổ sung chính sách  
hỗ trợ của chính phủ và trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả  
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghiên cứu của Kokko và  
224 -  
Sjoholm (2004), cho rằng quy mô hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả  
hoạt động của doanh nghiệp.  
Tại Việt Nam, Đinh Lê Hải Hà (2011) sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội để xác  
định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động logistics của nền kinh tế. Kết quả nghiên cứu:  
các nhân tố thuộc tầm vĩ mô, chính sách của chính phủ, sự phát triển khoa học công nghệ,  
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến hoạt động logistics của nền kinh tế.  
Nguyễn Thị Tuyết Nga (2019) sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả mẫu nghiên  
cứu và phân tích, đánh giá và phân tích hồi quy đa biến, nhằm đánh giá mức độ tác động  
của các yếu tố đến phát triển các doanh nghiệp kinh doanh logistics tại khu vực Đồng bằng  
sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phát triển doanh nghiệp logistics chịu sự  
tác động nhất định của bốn nhóm yếu tố chính, gồm: môi trường kinh doanh; chính sách  
của địa phương; năng lực nội tại của doanh nghiệp và vốn. Nguyễn Hồ Phương Thảo và  
cộng sự (2020) đã sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến dựa vào phương pháp bình  
phương bé nhất để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 67 doanh  
nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Thừa Thiên – Huế. Kết quả nghiên cứu, hiệu quả hoạt động của  
doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: quy mô, tốc độ tăng trưởng, khả năng sinh  
lời, tính liên kết ngành của doanh nghiệp.  
2.2. Cơ sở lý thuyết  
Tùy thuộc vào sự tiếp cận dưới những góc độ khác nhau mà khái niệm “logistics”  
hàm chứa những nội dung khác nhau. Được sử dụng phổ biến hiện nay là khái niệm của  
Uỷ ban các chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management  
Professionals – CSCMP), theo đó logistics là một bộ phận của chuỗi cung ứng, thực hiện  
việc lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng chu chuyển và lưu kho hàng hoá, dịch vụ và  
các thông tin liên quan một cách hiệu quả từ điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng để đáp ứng  
yêu cầu của khách hàng. Với quan niệm về logistics trên, thuật ngữ logistics có thể được  
tiếp cận dưới nhiều góc độ.  
Dưới góc độ vĩ mô, logistics là một hệ thống đảm bảo cho dòng chu chuyển hàng hoá  
và thông tin từ các nhà sản xuất, các nhà thương mại đến người tiêu dùng được tiến hành  
một cách có hiệu quả, đảm bảo cân đối cung – cầu của nền kinh tế và thực hiện các mục  
tiêu của xã hội.  
Dưới góc độ ngành, logistics bao gồm các trung tâm logistics vùng/khu vực/đô thị.  
Dưới góc độ vi mô, trong hoạt động của doanh nghiệp, logistics là chuỗi các hoạt  
động từ các yếu tố đầu vào cho sản xuất, đến quá trình cung ứng hàng hóa, dịch vụ đến tay  
người tiêu dùng cuối cùng của doanh nghiệp.  
- 225  
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo Nguyễn Khắc Minh (2004) là  
“mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ”. Còn  
Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên (2009) khái quát rộng hơn, cho rằng “Hiệu  
quả hoạt động kinh doanh là phạm trù kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác  
các nguồn lực và trình độ chi phí nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện  
mục tiêu kinh doanh”. Đồng thời, nhóm tác giả này còn khẳng định hiệu quả hoạt động sản  
xuất kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi  
doanh nghiệp.  
Như vậy, mặc dù cho những cách hiểu khác nhau, nhưng về mặt khái quát hiệu quả  
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều mang hàm ý đó là mối quan hệ giữa kết quả  
đạt được với chi phí bỏ ra cho các yếu tố sản xuất, trên cơ sở đó sẽ làm cho quy mô của  
doanh nghiệp lớn hơn, năng lực cạnh tranh mạnh hơn và đáp ứng được với sự thay đổi  
không ngừng của môi trường kinh doanh.  
2.3. Mô hình đề xuất và giả thuyết nghiên cứu  
Phát triển các doanh nghiệp logistics có vai trò đặc biệt quan trọng đối với bản thân  
các doanh nghiệp và nền kinh tế. Tuy nhiên, cho đến nay tại Việt Nam vẫn còn hạn chế các  
nghiên cứu về vấn đề này và đặc biệt là nghiên cứu được thực hiện tại TPHCM. Hơn nữa,  
trong những nghiên cứu trước, đặc biệt là những nghiên cứu về các yếu tố tác động đến  
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, chủ yếu tập trung vào yếu tố năng  
lực nội tại của đơn vị như nguồn vốn, tài sản, môi trường kinh doanh và chính sách pháp  
luật mà chưa xem xét đến yếu tố vốn xã hội và ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt  
động kinh doanh.  
Trên cơ sở các nghiên cứu trước, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu bao  
gồm 04 yếu tố: môi trường kinh doanh; chính sách địa phương; năng lực nội tại doanh  
nghiệp và khả năng tiếp cận vốn tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh  
nghiệp logistics (Hình 1).  
Môi trường kinh doanh  
H1+  
H2+  
Chính sách địa phương  
Năng lực nội tại doanh nghiệp  
Khả năng tiếp cận vốn  
Hiệu quả  
hoạt động  
kinh doanh  
H3+  
H4+  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
226 -  
Các giả thuyết nghiên cứu:  
Giả thuyết H1: Môi trường kinh doanh càng tốt thì hiệu quả hoạt động kinh doanh  
càng cao.  
Giả thuyết H2: Chính sách địa phương càng thuận lợi thì hiệu quả hoạt động kinh  
doanh càng cao.  
Giả thuyết H3: Năng lực nội tại doanh nghiệp càng cao thì hiệu quả hoạt động kinh  
doanh càng cao.  
Giả thuyết H4: Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp càng cao thì hiệu quả hoạt  
động kinh doanh càng cao.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua hai bước:  
Nghiên cứu định tính: Trên cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước, nghiên  
cứu đề xuất mô hình và xây dựng thang đo để đo lường các khái niệm nghiên cứu, khẳng  
định thang đo bằng thảo luận nhóm và ý kiến của chuyên gia, lập phiếu để khảo sát các  
doanh nghiệp.  
Nghiên cứu định lượng: Thu thập, xử lý dữ liệu, thống kê, mô tả đặc tính của mẫu;  
đánh giá sơ bộ thang đo và kiểm định thang đo.  
Hatcher (1994) cho rằng số quan sát nên lớn hơn 5 lần số biến quan sát. Với 24 biến  
quan sát, số lượng phiếu khảo sát tối thiểu phải đạt 24 × 5 = 120. Nên để đảm bảo độ tin  
cậy, nghiên cứu này được tiến hành với 200 phiếu khảo sát. Việc chọn mẫu trong nghiên  
cứu này lẽ ra phải được thực hiện bằng phương pháp chọn mẫu xác suất, nhưng vì điều kiện  
khảo sát khó thực hiện ở tất cả các cơ sở nên tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phi  
xác suất, cụ thể là phương pháp thuận tiện. Việc khảo sát được tiến hành dưới hình thức là  
phỏng vấn qua email những người là đại diện các doanh nghiệp logistic có hoạt động tại  
TPHCM trong thời gian từ 04/02 – 18/3/2021. Kết quả khảo sát có 187 phiếu được gửi về.  
Sau khi kiểm tra, phát hiện 6 phiếu trả lời chưa đầy đủ thông tin. Như vậy, mẫu gồm 181  
phiếu khảo sát hợp lệ được đưa vào phân tích.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Thống kê đặc tính mẫu  
Phân loại 181 doanh nghiệp theo các đặc trưng như thời gian hoạt động, quy mô nhân  
lực, vốn điều lệ, loại hình đăng ký doanh nghiệp, dịch vụ cung cấp và đối tượng khách hàng  
được kết quả thống kê (Bảng 1).  
- 227  
Bảng 1. Kết quả thống kê về các đặc trưng của doanh nghiệp  
Tiêu chí phân loại  
Số lượng  
30  
91  
54  
6
Tỷ trọng (%)  
Dưới 5 năm  
16,6  
50,3  
29,8  
3,3  
Từ 5 – 10 năm  
Thời gian hoạt động  
Quy mô nhân lực  
Từ 11 – 20 năm  
Trên 20 năm  
Dưới 30 nhân viên  
Từ 30 – 100 nhân viên  
Từ 101 – 300 nhân viên  
Trên 300 nhân viên  
Dưới 1 tỷ  
31  
55  
90  
5
17,1  
30,4  
49,7  
2,8  
23  
47  
54  
29  
16  
12  
99  
55  
9
12,7  
26,0  
29,8  
16,0  
8,8  
Từ 1 – 5 tỷ  
Từ 5 – 10 tỷ  
Vốn điều lệ  
Trên 10 – 50 tỷ  
Từ 50 – 200 tỷ  
Trên 200 tỷ  
6,6  
Công ty TNHH  
Doanh nghiệp tư nhân  
Công ty cổ phần  
Doanh nghiệp nhà nước  
Loại hình khác  
Dịch vụ vận tải  
Dịch vụ kho bãi  
Dịch vụ giao nhận  
Dịch vụ hải quan  
Khác  
54,7  
30,4  
5.0  
Loại hình đăng ký doanh  
nghiệp  
9
5.0  
9
5.0  
69  
41  
45  
15  
11  
42  
87  
43  
9
38,1  
22,7  
24,9  
8,3  
Dịch vụ cung cấp  
Khách hàng  
6,1  
Doanh nghiệp nhà nước  
Doanh nghiệp tư nhân  
Doanh nghiệp nước ngoài  
Khác  
23,2  
48,1  
23,8  
5,0  
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2021  
Tuy có sự khác nhau giữa các đặc trưng của doanh nghiệp nhưng khi phân tích phương  
sai một yếu tố và phân tích anova đối với các nhóm tính thì không có sự khác biệt với mức  
ý nghĩa 0,05.  
228 -  
4.2. Đánh giá sơ bộ thang đo  
Phân tích hệ số Cronbach alpha  
Độ tin cậy của thang đo được đánh giá thông qua hệ số Cronbach α bằng phần mềm  
thống kê SPSS 20.0. Thang đo bao gồm 04 yếu tố và biến phụ thuộc được đưa vào phân  
tích bằng hệ số Cronbach α: Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn so với tiêu chuẩn  
cho phép (> 0,3), và hệ số tin cậy Cronbach α đều lớn hơn 0,6 nên đủ độ tin cậy. Vì vậy tất  
cả các biến đều được chấp nhận (Bảng 2).  
Bảng 2. Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s alpha  
Biến  
Trung bình thang Phương sai thang Tương quan Cronbach’s alpha  
quan sát đo nếu loại biến  
đo nếu loại biến  
biến tổng  
nếu loại biến  
Môi trường kinh doanh  
Cronbach’s Alpha = 0,783; N = 6  
MT1  
MT2  
MT3  
MT4  
MT5  
MT6  
15,55  
15,54  
15,54  
15,49  
15,56  
15,38  
3,818  
3,804  
3,569  
3,793  
3,744  
3,482  
0,534  
0,613  
0,584  
0,436  
0,534  
0,477  
0,731  
0,706  
0,715  
0,755  
0,734  
0,712  
Chính sách địa phương  
Cronbach’s Alpha = 0,772; N = 5  
CS1  
CS2  
CS3  
CS4  
CS5  
11,61  
11,53  
11,59  
11,44  
11,28  
5,512  
5,557  
5,642  
5,614  
5,443  
0,624  
0,653  
0,528  
0,616  
0,542  
0,738  
0,723  
0,734  
0,647  
0,686  
Năng lực nội tại doanh nghiệp  
Cronbach’s Alpha = 0,839; N = 4  
NL1  
NL2  
NL3  
NL4  
9,79  
9,69  
9,62  
9,63  
8,834  
9,017  
9,138  
9,113  
0,815  
0,828  
0,762  
0,827  
0,828  
0,811  
0,802  
0,787  
Khả năng tiếp cận vốn  
Cronbach’s Alpha = 0,906; N = 5  
KN1  
KN2  
KN3  
KN4  
KN5  
15,62  
15,71  
15,58  
15,37  
15,39  
8,544  
8,431  
8,128  
8,317  
7,907  
0,742  
0,754  
0,781  
0,747  
0,787  
0,898  
0,836  
0,842  
0,881  
0,818  
Hiệu quả hoạt động kinh doanh  
Cronbach’s Alpha = 0,807; N = 4  
HQKD1  
HQKD2  
HQKD3  
HQKD4  
7,65  
7,82  
7,24  
7,86  
1,843  
1,851  
1,782  
1,728  
0, 524  
0, 541  
0,597  
0,693  
0,736  
0,747  
0,784  
0,716  
Nguồn: Nhóm tác giả phân tích và tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2021  
- 229  
Phân tích nhân tố khám phá  
Tất cả 04 yếu tố cùng 20 biến quan sát được đưa vào phân tích nhân tố khám phá  
(EFA) lần thứ nhất, biến MT5 bị loại do có hệ số truyền tải nhỏ hơn 0,5 nên không thuộc  
nhóm yếu tố nào. Sau khi loại MT5, phân tích nhân tố khám phá lần thứ hai với 19 biến còn  
lại cho kết quả (Bảng 3): Cả 19 biến có số truyền tải lớn hơn 0,5 được phân thành 04 nhóm  
với KMO = 0,943 và dừng tại giá trị Eigenvalue = 1,042, tổng phương sai trích là 71,348%.  
Bảng 3. Kết quả phân tích nhân tố khám phá  
Biến  
KN3  
KN1  
KN2  
KN4  
KN5  
NL2  
NL1  
NL3  
NL4  
CS4  
CS3  
CS1  
CS5  
CS2  
MT2  
MT1  
MT3  
MT4  
MT6  
Nhân tố 1  
0,715  
0,771  
0,767  
0,758  
Nhân tố 2  
Nhân tố 3  
Nhân tố 4  
0,736  
0,854  
0,812  
0,781  
0,764  
0,821  
0,797  
0,798  
0,751  
0,654  
0,796  
0,764  
0,751  
0,658  
0,542  
Extraction Method: Principal Component Analysis.  
Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.  
a. Rotation converged in 5 iterations.  
Nguồn: Nhóm tác giả phân tích từ kết quả khảo sát, 2021  
Phân tích nhân tố khám phá đối với biến phụ thuộc, kết quả: Cả 04 biến quan sát có  
số truyền tải lớn hơn 0,5 được phân thành 01 nhóm với KMO = 0,787 và dừng tại giá trị  
Eigenvalue = 2,241; tổng phương sai trích là 72,783%.  
230 -  
Mô hình hiệu chỉnh  
Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo cho 04 biến độc lập và 01 biến phụ thuộc. Như vậy,  
mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu đặt ra không thay đổi. Thang đo  
đủ điều kiện để đưa vào kiểm định mô hình. Giá trị của từng biến là giá trị trung bình của  
các biến quan sát thuộc biến đó và được mã hóa: Khả năng tiếp cận vốn: KN; Năng lực nội  
tại doanh nghiệp: NL; Chính sách địa phương: CS; Môi trường kinh doanh: MT và Hiệu  
quả hoạt động kinh doanh: HQKD.  
4.3. Kết quả kiểm định mô hình  
Phân tích tương quan  
Kết quả phân tích tương quan (Bảng 4), biến phụ thuộc có mối tương quan tương đối  
chặt chẽ với các biến độc lập, các giá trị biến thiên từ 0,421 đến 0,554; nghĩa là thỏa mãn  
điều kiện |r| ≤ 1.  
Bảng 4. Kết quả phân tích tương quan  
MT  
KN  
NL  
CS  
HQKD  
MT  
KN  
NL  
CS  
1
0,366**  
0,303**  
0,367**  
0,421**  
1
0,402**  
0,321**  
0,547**  
1
0,336**  
0,554**  
1
HQKD  
0,481**  
1
**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).  
Phân tích hồi quy  
Kết quả phân tích hồi quy (Bảng 5), cả 04 giả thuyết đặt ra (H1, H2, H3 và H4) đều  
được chấp nhận ở mức ý nghĩa 0,05.  
Bảng 5. Hệ số hồi quy của phương trình  
Hệ số  
Hệ số  
Thống kê đa cộng tuyến  
chưa chuẩn hóa chuẩn hóa Thống Mức  
Mô hình  
Sai số  
chuẩn  
kế t  
ý nghĩa  
Beta  
Beta  
Tolerance  
VIF  
1 (Constant) 0,923 0,216  
4,311 0,000  
MT  
KN  
NL  
CS  
0,287 0,052  
0,191 0,054  
0,141 0,036  
0,97 0,038  
0,212  
0,215  
0,236  
0,141  
5,143 0,026 0,710  
3,842 0,000 0,452  
4,154 0,000 0,474  
2,787 0,005 0,593  
1,221  
2,274  
2,147  
1,236  
a. Dependent Variable: HQKD  
- 231  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 23 trang Thùy Anh 11540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Phân tích các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu cà phê: Tiếp cận bằng mô hình trọng lực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_cac_yeu_to_tac_dong_den_kim_ngach_xuat_khau_ca_phe.pdf