Nhận thức của nhân viên về thù lao công bằng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
NHẬN THỨC CỦA NHÂN VIÊN VỀ THÙ LAO CÔNG BẰNG  
STAFF PERCEPTIONS ABOUT THE FAIRNESS OF COMPENSATION  
TS. Đoàn Gia Dũng, ThS. Huỳnh Thị Mỹ Hạnh  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Ngày nay, các doanh nghiệp nhận thức càng rõ ràng hơn vai trò của nguồn nhân lực trong việc tạo dựng  
lợi thế cạnh tranh cho tổ chức. Do đó các tổ chức không ngừng áp dụng các cách thực hành liên quan đến  
quản lý nguồn nhân lực nhằm thu hút và giữ chân những người tài phục vụ cho tổ chức của mình. Trong đó  
thù lao là một công cụ đắc lực. Tuy nhiên những quyết định liên quan đến thù lao luôn là những quyết định vô  
cùng khó khăn đối với các nhà quản trị, bởi vì họ luôn đối diện với nhiều trở ngại từ phía nhân viên, đặc biệt  
là nhận thức của nhân viên về sự công bằng trong hệ thống thù lao. Việc thấu hiểu nhận thức này của nhân  
viên và đưa ra những quyết định chiến lược về thù lao có ý nghĩa quan trọng đối với tổ chức khi muốn đạt  
được và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững.  
Từ khóa: Hệ thống thù lao; sự công bằng; Đầu vào và đầu ra; J. Stacy Adams; công bằng bên trong và  
bên ngoài; KSA.  
ABSTRACT  
Nowaday, organizations are becoming more aware of the role of human resources in creating competitive  
advantage. Therefore, organizations are constantly applying practices relating to human resources  
management in which compensation is considered as a powerful tool in order to attract and retain talent.  
However, decisions concerning to compensation are always extremely difficult for managers, because they  
are faced with many obstacles from the staff, especially their awareness of the fairness of the compensation  
system. Understanding the perceptions of employees and making strategic decisions about compensation  
have important implications for organizations that would like to achieve and maintain a sustainable competitive  
advantage.  
Keywords: pay structure; the fairness of compensation; inputs, outcomes; J. Stacy Adams, internal and  
external fairness; KSA.  
thừa hưởng. Do đó các tổ chức phải rất thận  
trọng khi quản trị và truyền thông những quyết  
định về thù lương nhằm xây dựng nhận thức về  
thù lao công bằng trong nhân viên từ đó tạo  
động lực cho họ thực hiện công việc hiệu quả  
và hướng tới mục tiêu chung của tổ chức.  
1. Đặt vấn đề  
Đứng ở góc độ doanh nghiệp, thù lao là  
một khoản chi phí, đồng thời cũng là một trong  
những công cụ đắc lực để doanh nghiệp đạt  
được những mục tiêu của mình. Thù lao ảnh  
hưởng đến chiến lược thu hút và giữ chân  
những người tài và có một tác động lớn lên thái  
độ và hành vi của người nhân viên. Bằng cách  
tưởng thưởng cho một vài hành vi tích cực, trả  
lương có thể tích hợp những mối quan tâm của  
nhân viên với mục tiêu của tổ chức. Tuy nhiên,  
sự hài lòng của một cá nhân đối với mức thù  
lao mà họ nhận được không chỉ đơn thuần dựa  
vào tổng giá trị tài chính và phi tài chính họ  
nhận được. Rice (1990) và các đồng sự đã chỉ  
ra rằng tổng giá trị thù lao một nhân viên nhận  
được ít có nghĩa hơn là nhận thức của họ về sự  
công bằng của hệ thống thù lao mà họ đang  
Bài báo nhằm mục tiêu hệ thống hóa cơ sở  
lý thuyết về sự công bằng trong những quyết  
định liên quan đến thù lao, đồng thời gợi ý  
những cách tiếp cận nhằm gia tăng nhận thức  
của các cá nhân về hệ thống thù lao công bằng  
trong các tổ chức.  
2. Lý thuyết về thù lao công bằng  
Khi phát triển một cấu trúc thù lao điều  
quan trọng là phải để nhân viên nhận thức  
được sự công bằng trong cấu trúc thù lao đó.  
Bởi vì một trong những mục đích quan trọng  
262  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
của thù lao là tạo động cơ thúc đẩy nhân viên  
Khi tỉ lệ O/I của một nhân viên thấp hơn tỉ  
lệ này của một người tham chiếu khác, họ cảm  
thấy mình đang được trả lương thấp hơn và  
ngược lại. Theo lý thuyết công bằng thì cả hai  
trường hợp này đều tạo ra cảm giác căng thẳng.  
và như thế họ sẽ không thể nào cảm thấy được  
thúc đẩy nếu họ nghĩ rằng cấu trúc thù lao mà  
họ đang thừa hưởng lại không công bằng.  
Lý thuyết công bằng được khởi xướng bởi  
J.Stacy Adams. Lý thuyết công bằng của J.  
Stacy Adams khẳng định rằng con người hình  
thành niềm tin về sự công bằng dựa trên 2 yếu  
tố: Đầu vào (inputs) và đầu ra (outcomes). Đầu  
vào (I) hàm ý những nhận thức mà con người  
nghĩ đến về điều mà họ đóng góp cho công  
việc (kĩ năng và nỗ lực). Đầu ra (O) hàm ý  
những nhận thức của con người có liên quan  
đến thành quả mà họ nhận được đối với công  
việc mà họ đã thực hiện.  
Khi nhân viên cảm thấy đang bị trả lương  
thấp hơn so với nỗ lực, họ sẽ cố gắng giảm sự  
căng thẳng bằng một trong các cách sau đây:  
• Giảm đầu vào của mình bằng cách  
giảm những nỗ lực hay hoạt động  
• Cố gắng gia tăng đầu ra để được tăng  
lương  
• Bóp méo nhận thức về đầu vào hoặc  
đầu ra của họ bằng cách thuyết phục chính  
mình rằng tỉ lệ I/O của họ là công bằng so với  
một người tham chiếu khác.  
Nhân viên đánh giá sự công bằng trong hệ  
thống thù lao bằng cách so sánh tỉ lệ O/I của  
mình với tỉ lệ O/I của một người khác. Người  
nhân viên cảm thấy công bằng khi tỉ lệ O/I của  
mình và của một người dùng để tham chiều là  
bằng nhau. Và ngược lại, người đó sẽ cảm thấy  
bất công khi hai tỉ lệ này không bằng nhau.  
Chẳng hạn như, sự bất công diễn ra khi một  
người cảm thấy rằng mình đóng góp đầu vào  
như nhau so với người được tham chiếu nhưng  
lại kiếm được một mức lương thấp hơn  
(Brockner,J., và Adsit, L., 1986)  
• Nỗ lực để thay đổi đầu vào hoặc đầu ra  
của người khác. Chẳng hạn như bằng cách thử  
cố gắng thuyết phục người khác gia tăng đầu  
vào của mình (làm việc vất vả hơn để xứng  
đáng với mức lương)  
• Chọn một người tham chiếu mới,  
người có tỉ lệ O/I ngang bằng với tỉ lệ O/I của  
họ  
• Giải thoát tình huống bằng các hành vi  
vắng mặt, đi trễ hoặc rời bỏ tổ chức. Mặc dầu  
cả sáu câu trả lời giả định này được đưa ra để  
phản ứng lại với tình huống trả lương thấp  
nhưng chỉ có 2 trong số 6 giả định này xảy ra  
trong thực tế. Đó là giả định 1 và 6. Những kết  
quả nghiên cứu đã tích hợp vấn đề thù lao thấp  
với sự gia tăng tình trạng vắng mặt và rời bỏ tổ  
chức đồng thời làm giảm những nỗ lực mà  
người nhân viên dành cho công việc  
(Sweeney,P.D, 1990). Sự tích hợp này đặt biệt  
mạnh mẽ trong những nhân viên đang có thu  
nhập thấp (Greenberg,J., 1987).  
• Người tham chiếu có thể là bất kì ai  
trong số những người sau:  
• Cùng làm một công việc trong cùng  
một tổ chức  
• Làm những công việc khác nhau trong  
cùng một tổ chức  
• Làm một công việc giống nhau ở  
những tổ chức khác nhau.  
Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng con người  
không giới hạn sự so sánh của mình với chỉ  
duy nhất một người, họ có thể có nhiều người  
để tham chiếu. Do đó nhân viên thường đưa ra  
nhiều phép so sánh khi họ đánh giá sự công  
bằng về lương, nhận thức sự công bằng chỉ có  
thể đạt được khi mỗi phép so sánh ấy được  
xem là công bằng.  
Ngược lại với những dự báo của lý thuyết  
công bằng, những nỗ lực để cắt giảm sự căng  
thẳng chỉ diễn ra khi nhân viên cảm thấy mình  
đang bị trả lương thấp (Brockner,…). Còn  
những cá nhân được trả lương cao thì không  
phản ứng lại bởi vì họ cảm thấy rất ít cẳng  
3. Tác động của nhận thức thù lao công  
bằng lên hành vi của nhân viên.  
263  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
thẳng và do đó không có nhu cầu để tiết giảm  
nó.  
đội ngũ nhân viên năng động, có năng lực đổi  
mới. Một số tổ chức có phạm vi hoạt động trên  
toàn cầu, quyết định lương này cần tính đến  
khả năng cạnh tranh trên toàn cầu trong việc  
thu hút các tài năng vào làm việc trong doanh  
nghiệp.  
Một nghiên cứu đã chỉ ra vấn đề này, đó là  
phản ứng đối với sự không công bằng phụ  
thuộc vào nguồn so sánh: Con người phản ứng  
khác nhau tùy thuộc vào việc họ đánh giá sự  
công bằng đó trên nền tảng so sánh bên trong  
hay bên ngoài. Khi nhân thức được sự thiếu  
công bằng dựa trên những so sánh bên ngoài,  
nhân viên có thể sẽ rời bỏ công việc và tổ chức.  
Nhưng nếu sự thiếu công bằng ấy dựa trên  
những so sánh bên trong thì nhân viên có thể  
vẫn duy trì công việc nhưng giảm đầu vào,  
chẳng hạn như ít sẵn lòng giúp đỡ đồng nghiệp  
hơn, trễ nãi hơn trong công việc,…) (Rynes,  
S.L., và Milkovich, G.T, 1986)  
Quyết định thứ hai liên quan đến khả  
năng bảo đảm sự công bằng giữa các loại lao  
động, các nhóm công nhân thực hiện các công  
việc khác nhau trong việc tạo ra giá trị chung  
của doanh nghiệp. Chúng ta cứ tưởng tượng  
xem một doanh nghiêp hoạt động trong một  
môi trường mở, nó tiếp nhận các yếu tố đầu  
vào như: vật tư, năng lượng,… rồi sản xuất ra  
các sản phẩm và dịch vụ và sau đó bán các sản  
phẩm đến tay người tiêu dùng. Các bộ phận  
này chứa đựng hàng loạt các công việc khác  
nhau và giữa chúng đóng những vai trò khác  
nhau trong việc sáng tạo ra các lợi ích cho  
khách hàng. Tiền lương và thù lao giữa các bộ  
phận sẽ được thực hiện như thế nào cho những  
người nhân viên thực hiện các công việc khác  
nhau này.  
Chúng ta có thể kết luận từ những thảo  
luận trên rằng nhân viên sẽ tin tưởng vào một  
hệ thống thù lao công bằng khi họ nhận thức  
được rằng sự trả lương đó:  
• Công bằng tương đối với những đồng  
nghiệp trong cùng tổ chức  
• Công bằng tương đối với những nhân  
viên làm cùng một công việc nhưng ở tổ chức  
khác  
Quyết định cuối cùng liên quan đến xác  
định tiền lương cụ thể cho từng nhân viên. Họ  
sẽ nhận lương và các khoản thù lao theo hình  
thức hình thức nào, dùng đơn vị nào để đo  
lường nỗ lực của họ khi tính lương và các  
khoản thù lao. Mức lương của từng cá nhân,  
từng người có được xem xét thêm các yếu tố  
khác, như: nên công khai tiền lương và các  
khoản thu nhập hay không? Có tính đến yếu tố  
thâm niên và các yếu tố cá nhân khác hay  
không.  
• Công bằng khi phản ánh đúng với đầu  
vào và đóng góp của họ.  
Trong khuôn khổ bài báo này, chúng tôi đề  
cập đến những cách thức để đảm bảo sự công  
bằng trong tổ chức. Nhìn chung, trong một tổ  
chức liên quan đến tiền lương nói riêng và  
công tác tưởng thưởng nói chung có liên quan  
đến ba loại quyết định.  
Ra một quyết định sai lầm có thể đưa đến  
những hậu quả xấu trong nỗ lực cần sự tận tâm  
của nhân viên và mang lại lợi ích của khách  
hàng và suy cho cùng nó ảnh hưởng đến lợi ích  
của tổ chức. Chúng tôi tổng hợp một vài  
khuynh hướng tác động đến người nhân viên:  
4. Các quyết định liên quan đến việc đảm  
bảo thù lao công bằng  
Quyết định thứ nhất liên quan sự công  
bằng với bên ngoài. Quyết định này hướng đến  
việc xác định chiến lược tiền lương hợp lý,  
nhằm bảo đảm khả năng thu hút và tạo lập một  
264  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Quyết  
định  
Nội dung của quyết định  
Tác động đến nhân viên  
Lương của doanh nghiệp so với mặt bằng lương Sự an tâm về nơi làm việc, sự  
trong ngành hoặc so với các doanh nghiệp trong gắn bó với doanh nghiệp; Tỷ  
vùng? Người nhân viên thường cân nhắc lương lệ rời bỏ doanh nghiệp; Khả  
của mình nhận được so với các doanh nghiệp năng thu hút nhân viên. Chi  
khác trong vùng, hoặc so với cùng ngành nghề phí tiền lương  
tương tự.  
Quyết  
định chiến  
lược  
trả  
lương  
Lương giữa các bộ phận trong doanh nghiệp như Tính hợp tác, hỗ trợ giữa các  
thế nào? Người nhân viên sẽ so sánh tiền lương bộ phận; Khả năng luân  
Quyết  
định cấu  
trúc lương  
giữa của mình so với các bộ phận khác  
chuyển nhân viên; Kích thích  
nhân viên phát triển nghề  
nghiệp  
Lương của người nhân viên nhận được sau mỗi Sự hợp tác giữa các thành viên  
giờ, mỗi ngày hoặc mỗi tháng làm việc. Người trong nhóm để hoàn thành  
nhân viên so sánh thu nhập mình trong tổ, nhóm nhiệm vụ chung.  
và so với đồng nghiệp trong tổ.  
Quyết  
định trả  
lương cá  
nhân  
thuộc cân nhắc thời gian và ngân sách dành  
cho khảo sát lương.  
5. Một vài gợi ý về ra quyết định  
Quyết định chiến lược trả lương dựa trên  
việc khảo sát tiền lương các doanh nghiệp trên  
cùng một khu vực, cùng một ngành. Mục đích  
của khảo sát lương và các khoản thù lao là có  
các thông tin về thù lao trong vùng, trong cùng  
một ngành. Nhà quản trị nhân lực trong tổ chức  
cần có các thông tin chính xác để tư vấn việc  
đưa ra mức lương cuối cùng của tổ chức theo  
hướng bảo đảm tính cạnh tranh, thu hút nhân  
lực có chất lượng vào làm việc trong tổ chức.  
- Doanh nghiệp nào sẽ khảo sát lương.  
Đây là các doanh nghiệp hoạt động trong vùng  
và trong cùng một ngành. Các doanh nghiệp  
hoạt động trong cùng một vùng thường có các  
điều kiện về chi phí sinh hoạt của nhân công  
tương tự nhau, như: giá dịch vụ công, chi phí  
đi lại, nhà ở, điện nước và chỉ số giá cả hàng  
tiêu dùng khác tương tự nhau. Trong vùng các  
yếu tố về quan hệ cung và cầu lao động và cả  
các nhu cầu lao động cho một số công việc  
chuyên biệt cũng tương tự nhau. Việc lựa chọn  
các doanh nghiệp cùng ngành để khảo sát  
lương giúp cho doanh nghiệp đưa ra mức  
lương và thù lao phù hợp nhằm giữ được lực  
lượng lao động hiệu năng hơn.  
Một cuộc khảo sát lương phải giải quyết  
một số công việc sau:  
- Lựa chọn công việc để khảo sát  
lương. Trong công ty có rất nhiều công việc  
khác nhau, người quản trị không thể cùng một  
lúc khảo sát lương cho tất cả các công việc.  
Nếu tiến hành khảo sát hết sẽ làm tăng chi phí  
và nhiều khi không chính xác. Doanh nghiệp  
nên lựa chọn một số công việc điển hình phù  
hợp với ngành kinh doanh của doanh nghiệp,  
số lượng công việc tiến hành khảo sát còn phụ  
- Kênh thông tin để thu thập và khảo  
sát lương: nhà quản trị doanh nghiệp có thể thu  
thập một cách chính thức thông qua các tổ  
chức công quyền như cơ quan thuế; Liên đoàn  
lao động; Cục thống kê; các hiệp hội nghề  
265  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
nghiệp, các trung tâm báo chí… hoặc khảo sát  
lương từ những người lao động các doanh  
nghiệp cần khảo sát… Ngày nay nhiều doanh  
nghiêp không công khai chính sách lương;  
lương và thưởng tách biệt nhau cũng là một trở  
ngại cho việc thu thập thông tin về lương.  
Xác lập một cấu trúc lương có thể thay đổi  
tùy theo sự phát triển của doanh nghiệp. Một  
doanh nghiệp mới hình thành, có qui mô nhỏ  
sẽ có số bậc lương ít, thang lương còn ngắn vì  
ít bậc. Đối với những doanh nghiệp lớn với  
một cấu trúc tổ chức phức tạp sẽ có nhiều bậc  
lương hơn, khoảng cách tiền lương giữa người  
có mức lương cao nhất với người có mức  
lương thấp nhất là rất lớn.  
Biểu diễn các kết quả trả lương bằng sơ đồ  
sẽ giúp nhà quản trị hình thành nên một bức  
tranh chung trong khu vực và ngành về tiền  
lương Các thông tin khảo sát lương là cơ sở để  
hình thành nên chiến lược trả lương của doanh  
nghiêp. Thường có ba chiến lược chính về trả  
lương: (1) Chiến lược tiền lương cao (2) Chiến  
lược tiền lương thấp và (3) Chiến lược trả  
lương trung dung.  
Doanh nghiệp có mức lương cao (CLL  
cao) dựa trên định vị doanh nghiệp dựa trên  
khả năng tạo ra sự khác biệt thông qua việc tập  
hợp các tài năng. CLL cao cần thiết cho một tổ  
chức cạnh tranh bằng khả năng vượt trội về sự  
sáng tạo và đổi mới. Tuy vậy, khi áp dụng  
chiến lược lương cao đồng nghĩa với chi phí  
tiền lương và thù lao lớn, có thể gây áp lực về  
ngân sách do việc tăng chi phí tiền lương vượt  
trội và giảm khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh  
bằng giá thấp.  
6. Kỹ thuật KSA và quyết định thù lao  
công bằng  
Xác định cấu trúc lương liên quan đến việc  
định giá công việc, tức là đo lường giá trị của  
từng công việc. Một trong những phương pháp  
để định giá công việc là sử dụng mô hình KSA  
để định giá công viêc.  
Ngược với chiến lược thù lao thấp, doanh  
nghiệp áp dụng mức lương thấp so trong khu  
vực, chiến lược này dựa trên những lý giải về  
nguồn cung lao động mà doanh nghiệp sử dụng  
khá dồi dào trong vùng, và có hiện tượng dư  
thừa. Nhược điểm của chiến lược này là tỷ lệ  
rời bỏ nhân viên gia tăng, nhất là các lao động  
có tay nghề cao và hiếm.  
KSA là chữ cái viết tắt của các tiêu chí đo  
lường năng lực cốt lõi của một công việc:  
K- Knowledge – Các kiến thức có liên  
quan đến công việc  
S - Skill – Các kỹ năng cần thiết cho công  
việc  
Quyết định thứ 2 liên quan đến việc xác  
định cấu trúc lương bao gồm: Các bậc lương  
và thang lương. Một doanh nghiệp có thang  
lương với nhiều bậc lương sẽ là cơ hội tốt hơn  
cho việc tăng lương đội ngũ nhân viên, chính  
sách lương sẽ linh hoạt hơn, người nhân viên  
có điều kiện tốt hơn cho việc nhận được các  
khoản thù lao phù hợp với vị trí mới được đảm  
nhận trong tổ chức.  
A - Attitude - Thái độ cần thiết cho công  
việc  
Ví dụ, một vị trí giám đốc sẽ cần có:  
Các kiến thức về thị trường, về ngành, về  
chiến lược, kiến thức về tài chính, kế toán…  
Các kỹ năng giao tiếp, ra quyết định, quản  
lý con người, kỹ năng thương lượng đàm phán,  
kỹ năng giải quyết vấn đề….  
266  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Thái độ như: Sự chủ động cao trong công  
7. Kết luận  
Bài báo chỉ mới nhận diện vấn đề thù lao  
việc, ý thức cầu tiến vì sự phát triển của doanh  
nghiệp, sự liêm chính, công bằng trong đối xử  
với mọi người, ý chí kiên trì vì sự thành đạt  
của tổ chức.  
công bằng ở góc nhìn tổng quan lý thuyết để  
đưa ra những gợi ý định tính. Tuy nhiên, đây là  
nền tảng để nghiên cứu sâu hơn thực tiễn nhận  
thức của nhân viên về thù lao công bằng ở các  
loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam. Đồng thời,  
với việc nhận diện được nhận thức này, trong  
tương lai, nghiên cứu sẽ được thực hiện tiếp  
tục, thông qua nghiên cứu thực nghiệm để đưa  
ra các giải pháp dành cho các doanh nghiệp  
nhằm thu hút và giữ chân những người có tài,  
đóng góp vào việc tạo dựng lợi thế cạnh tranh  
cho tổ chức đó./.  
Các tiêu chí này làm cơ sở để đo lường giá  
trị từng công việc trong tổ chức. Một công việc  
có giá trị cao hơn, thì người nhân viên đảm  
đương công việc này cũng phải được thù lao  
cao hơn.  
Các tiêu chí này còn dùng để đo lường khả  
năng ở từng người nhân viên đang đảm đương  
công việc. Khoảng cách giữa sự kỳ vọng của  
công việc với khả năng thực tế đáp ứng của  
từng nhân viên là cơ sở để tiến hành các hoạt  
động đào tạo và phát triển nhân viên.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Adams, J.S (1965). Injustices in social exchange . In L.Berkowitz (Ed), Advances in  
Experimental Social Psychology (2nd ed., pp. 267-299). New York: Academic Press.  
[2] Brokner, J., and Adsit, L. (1986). The moderating impact of sex on the equity satisfaction  
relationship: A field study. Journal of Applied Psychology, 71 (4), 585-590.  
[3] Rice, R.W., Phillips, S.M., and McFarlin, D.B. (1990). Multiple discrepancies and pay  
satisfaction. Journal of Applied Psychology, 75 (4),386-393  
[4] Sweeney, P.D (1990). Distributed justice and pay satisfaction: A field test of an equity theory  
prediction. Journal of Business and Psychology, 4 (3), 329-341.  
[5] Kleiman L.S., (2000), Human resources management: A managerial Tool for Competitive  
advantage, 2nded, South-Western College Publishing.  
[6] Noe et al (2010), Fundamentals of Human resources management, 4th ed, McGraw-Hill Irwin  
Publishing.  
267  
pdf 6 trang Thùy Anh 14060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhận thức của nhân viên về thù lao công bằng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_thuc_cua_nhan_vien_ve_thu_lao_cong_bang.pdf