Giáo trình Lịch sử sách và lịch sử thư viện

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG  
BÀI GIẢNG  
MÔN HỌC: LỊCH SỬ SÁCH VÀ LỊCH SỬ THƯ VIỆN  
NGHỀ: THƯ VIỆN  
(Áp dụng cho Trình độ trung cấp)  
LƯU HÀNH NỘI BỘ  
NĂM..................  
 
MỤC LỤC  
Table of Contents  
NỘI DUNG CHI TIẾT CỦA CỦA TÀI LIỆU GIẢNG DẠY  
BÀI GIẢNG MÔN HỌC  
Lịch sử sách và lịch sử thư viện  
Mục tiêu môn học:  
- Về kiến thức: Xác định tầm quan trọng và quá trình hình thành của sách và  
của thư viện trong xã hội  
- Về kỹ năng: Hiểu được mục đích xuất hiện của sách và thư viện trong xã hội;  
Quá trình hình thành và quy luật phát triển của sách và thư viện  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Nắm được vai trò, tác dụng của sách và  
thư viện trong đời sống xã hội  
Nội dung:  
Phần 1: Lịch sử sách  
Chương 1: Vai trò tác dụng của sách trong đời sống xã hội  
1. Sự hình thành sách  
Sách là gì? Ban đầu sách chỉ được coi là một thiết bị/công cụ để lưu trữ thông  
tin. Rất lâu sau đó, sách mới được coi là công cụ để truyền tải và thể hiện ý tưởng của  
loài người.  
Yếu tố đầu tiên cần quan tâm về lịch sử của sách đó chính là động lực nào đã  
dẫn đến sự ra đời và phát triển của sách? Một quy luật chung được tìm thấy cho những  
cột mốc phát minh trong lịch sử của sách nói chung và các phát minh ở mọi lĩnh vực  
khác nói riêng là nó đều được khởi tạo và thúc đẩy bởi nhu cầu xã hội.  
Những ký hiệu, nét vẽ đầu tiên được tìm thấy trong lịch sử loài người là một di  
chỉ trên đá có niên đại vào khoảng 75,000 năm TCN. Những hình vẽ như vậy trong các  
hang động, trên xương động vật hay trên đá được tìm thấy tương đối phổ biến cho đến  
tận khoảng năm 10,000 TCN. Nhưng việc thay đổi lớn trong cơ cấu xã hội, kinh tế dẫn  
đến một cách sống mới, một xã hội với những vấn đề mới về quản trị, thương mại và  
sản xuất mới là động lực chính dẫn đến việc lưu trữ thông tin một cách có ý thức và hệ  
thống. Sách ra đời nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu đó.  
       
Hình vẽ trên đá có niên đại cổ nhất được tìm thấy  
Tablet đất sét  
Vào khoảng 3700 năm TCN, người Summer ở vùng Lưỡng Hà (nơi vốn rất  
thiếu gỗ và đá, tài nguyên phổ biến nhất chính là đất sét) đã chế tạo ra những tablet  
bằng đất sét kích thước khoảng một bàn tay để làm thiết bị lưu trữ thông tin đầu tiên.  
Họ nặn đất sét, tạo ra một mặt phẳng, và khi đất sét vẫn còn ướt dùng những đầu nhọn  
để gạch lên đó. Sau đó đem miếng đất sét đó đi phơi hoặc cho vào lò nung.  
Tablet bằng đất sét  
Thời kỳ này, các nhà nước cổ đại đã hình thành, xã hội đã phân hóa ra các tầng  
lớp khác nhau. Nông nghiệp và kinh tế đã sản xuất ra của cải vật chất dư thừa đủ để  
một bộ phận người không cần tham gia vào sản xuất mà có thể làm những công việc  
khác như quản trị hay thương mại. Các ký hiệu trên những tablet đầu tiên được tìm  
thấy chủ yếu để đếm số lượng con vật trong đàn, những đồ đã trao đổi hay ai nợ của ai  
bao nhiêu thực phẩm. Với người Summer, tablet chỉ để ghi lại những thương vụ làm  
ăn hay luật lệ.  
Đến năm 3100 TCN, người Summer đã bắt đầu quy chuẩn những hình vẽ của  
mình, và đó được coi là chữ viết đầu tiên của loài người với tên gọi pictograph. Chữ  
viết ngày càng được đơn giản hóa giúp dễ dàng hơn cho cả người đọc và người viết.  
Pictographic của người Summer năm 2800 TCN  
Pictographic của người Summer năm 2500 TCN.  
Tuy vậy các ký hiệu trên vẫn còn phức tạp và khó để vẽ. Tablet đất sét có một  
nhược điểm lớn đó là không hề dễ dàng để sử dụng một vật nhọn kim loại vẽ ra được  
các đường cong phức tạp trên bề mặt. Do đó đến năm 2500 TCN, một loại chữ viết  
mới có tên cuneiform chủ yếu sử dụng các đường thẳng đã ra đời để phù hợp với việc  
viết trên tablet đất sét. Việc sử dụng các đường thẳng cũng giúp việc quy chuẩn chữ  
viết trở nên dễ dàng hơn, khi người nào cũng có thể viết na ná giống nhau, chứ khó có  
thể giống nhau như khi sử dụng pictographic. Do đó năm 2500 TCN được coi là dấu  
mốc cho việc ra đời chữ viết quy chuẩn.  
Giấy papyrus ở Ai Cập  
Ai Cập, một nền văn minh rực rỡ khác, cũng tự phát triển một hệ thống chữ viết  
và thiết bị lưu trữ hoàn toàn khác so với người Lưỡng Hà. Vào khoảng 2500 TCN, xã  
hội Ai Cập cũng đã hình thành và phát triển thịnh vượng theo cách thức tương tự với  
nền văn minh Lưỡng Hà, cho dù 2 nền văn minh này rất ít có sự giao lưu với nhau do  
vị trí địa lý cách biệt.  
Ai Cập vốn nổi tiếng với chữ tượng hình (hielogryphic) của mình. Vào khoảng  
2600 năm TCN, người Ai cập đã phát triển tương đối hoàn thiện chữ tượng hình,  
nhưng chủ yếu họ cũng khắc trên những hang động hay phiến đá mà thôi.  
Chữ tượng hình của người Ai Cập  
Tuy vậy, chữ tượng hình của người Ai cập lại đi theo một con đường khác, chứ  
không phải theo hướng đơn giản hóa cả về hình thức lẫn số lượng ký tự tương tự như  
chữ cuneiform của người Summer. Ra đời vào khoảng 3400 năm TCN, vào thời kỳ  
khoảng 2500 năm TCN, số lượng ký tự của người Ai Cập sử dụng đã lên đến 800.  
Nhưng không giống với người Summer, số lượng ký tự của chữ viết Ai Cập tiếp tục  
tăng lên, và đến công nguyên, con số này đã lên đến 5000. Tuy vậy chữ tượng hình  
của Ai cập có 3 loạị trong đó có một loại được cải tiến theo hướng tối giản hóa cho số  
đông người dân có thể sử dụng. Và đến khoảng năm 700 TCN, hình thức đơn giản  
nhất của chữ Ai Cập là chữ Demotic ra đời. Tuy vậy cả 3 vẫn tồn tại song song và bổ  
sung cho nhau, ví dụ chữ được viết trên giấy papyrus chủ yếu là Demotic; còn chữ  
tượng hình gốc chủ yếu được sử dụng trong các văn bản chính thống hay chạm khắc  
trên lăng miếu, đền đài hay những đồ vật quý, linh thiêng.  
Trong khi đó loại chữ tượng hình còn lại được coi là động lực chính để ra đời  
loại chữ alphabet đầu tiên sau này ở Lưỡng Hà. Loại chữ này bao gồm 23 ký tự được  
sử dụng như các chữ để bắt đầu biểu diễn cho một từ, giống với vai trò của các phụ âm  
trong ngôn ngữ hiện đại. Người Ai Cập phát mình và sử dụng loại chữ này song song  
với 2 loại còn lại từ khoảng năm 2700 TCN. Tuy vậy người Ai Cập lại không tiếp tục  
cải tiến và sử dụng loại chữ tượng hình này nhiều (lý do khiến số lượng ký tự tượng  
hình chỉ có tăng lên chứ không giảm xuống).  
Sự cải tiến của chữ viết Ai Cập  
Thiết bị viết chính của người Ai Cập là giấy papyrus. Đây là một loại giấy được  
làm từ cây papyrus vốn chỉ tồn tại ở dọc bờ sông Nile của Ai Cập. Cây papyrus sau khi  
được lột vỏ sẽ được cắt thành từng lát mỏng, ngâm vào nước để các chất đường hoàn  
toàn được loại bỏ, sau đó ghép nối với nhau thành tấm và được phơi khô dưới áp lực  
của những tảng đá lớn trong khoảng 7 ngày để thành sản phẩm hoàn chỉnh. Cách thức  
sơ chế giấy papyrus có thể xem tại video sau 2 tấm giấy papyrus cổ nhất được tìm thấy  
ở Ai Cập trong một lăng mộ hoàn toàn chưa được sử dụng và có niên đại khoảng 3000  
năm TCN. Sau đó giấy papyrus được cải tiến, và tồn tại phổ biến dưới dạng cuộn.  
Giấy papyrus tồn tại dưới dạng cuộn cổ nhất được tìm thấy có niên đại khoảng  
2000 năm TCN.  
Giấy papyrus dạng cuộn là công cụ viết phổ biến ở Ai Cập  
Để viết trên giấy papyrus này, người Ai Cập sử dụng mực và bút lông. Ai cập  
có 2 loại mực, màu đen làm từ muội than và màu đỏ làm từ hoàng thổ. Mực được đúc  
thành bánh và khi sử dụng thì được trộn với nước và nghiền đều ra tương tự như mực  
được sử dụng ở Trung Quốc. Chữ màu đỏ được sử dụng nhằm nhiều mục đích : như là  
để nhấn mạnh, hay được dùng với vai trò tương tự dấu ngoặc đơn trong ngữ pháp hiện  
đại. Các chữ cái hay từ đầu tiên, chữ trên tiêu đề, các ký hiệu hay dấu chấm ngắt câu  
đều sử dụng màu đỏ.  
Một văn bản trên giấy papyrus dạng tấm, chữ demotic và dùng 2 loại mực  
Ưu điểm của giấy papyrus đó là việc viết trên giấy dễ dàng hơn nhiều trên  
tablet đất sét, và cũng hơn trong việc vẽ những đường cong, do đó chữ demotic của  
người Ai Cập có rất nhiều đường cong, thay vì chỉ toàn gạch và nét thẳng như  
cuneiform như của người Summer. Chính việc này đã dẫn đến việc tranh, ảnh xuất  
hiện rất nhiều trong các văn bản của người Ai cập, thậm chí có nhiều cuộn giấy  
papyrus chỉ toàn là tranh. Bản đồ đầu tiên được tìm thấy ở Ai Cập có niên đại khoảng  
1300 năm TCN.  
Chính vì ưu điểm đó của giấy papyrus mà khi các nền văn minh có sự giao lưu  
trao đổi cả về thương mại, buôn bán cũng như khoa học, kỹ thuật bắt đầu từ 1500 TCN  
đã dẫn đến việc giấy papyrus của Ai cập được biết đến và sử dụng rộng rãi ở những  
vùng đất, nền văn minh khác. Đặc biệt nó được coi là công cụ viết và trao đổi thông  
tin, tư tưởng chính để làm nên một nền văn minh Hy Lạp – La Mã vô cùng rực  
rỡ. Tuy vậy giấy papyrus cũng có nhược điểm chung là dễ rách, dễ bị phá hủy bởi  
thiên tai hay chiến tranh hay từ các vi sinh vật. Do đó không có một thư viện giấy  
papyrus nào được tìm thấy, mà hầu hết là những bản thảo nhỏ lẻ.  
Sách dạng lật trang (codex) ra đời  
Sách dùng phương thức lật trang (codex) thay vì phương thức cuộn ra đời vào  
khoảng năm 100 SCN và được coi là một phát minh vĩ đại; tồn tại hơn 2000 năm cho  
đến tận ngày nay đã biến sách thành một thiết bị lưu trữ, tra cứu và truyền tải thông tin  
cực kỳ hữu dụng và phổ biến.  
Người ta không biết ai là người đầu tiên phát minh ra cách thức làm sách hoàn chỉnh  
như vậy. Tuy nhiên ý tưởng về việc ghép nối những trang giấy lại với nhau lại tương  
đối phổ biến.  
Ý tưởng đầu tiên là ghép các miếng giấy lại với nhau thông qua một sợi dây và  
được thúc đẩy bởi động lực viết ra những văn bản dài. Tablet đất sét là một thiết bị mà  
thông tin lưu trên đó rất hạn chế, và không dễ để ghép nối hay tìm lại thông tin trên  
các tablet đó. Giấy papyrus theo dạng cuộn giải quyết tốt hơn vấn đề đó, nhưng vào  
thời kỳ đó, chữ viết dùng ký tự tượng hình và bút lông cũng khó có thể viết nhiều  
thông tin trên một cuộn giấy. Giải pháp đầu tiên được ra đời vào khoảng năm thứ 4  
TCN với một dạng sách khá lạ ở các nước Ả rập  
Sách được làm bằng cách ghép các miếng lá cọ với  
nhau  
Trong khi đó vào khoảng năm 500 TCN ở Hy Lạp cũng có một thiết bị có vai  
trò tương tự là tablet bằng sáp. Thiết bị này có chức năng như tấm bảng cho học sinh  
tiểu học tập viết thời kỳ trước; hoặc cũng có vai trò như một cuốn sổ tay ghi chép  
thường được dùng để ghi chép trong các buổi họp. Lượng thông tin viết trên đây có thể  
tương đối lớn.  
Ai Cập, Pompeii và Romania là những nơi mà số tablet bằng sáp được tìm thấy nhiều  
nhất. Pompeii là nơi có đến 200 tablet xưa với niên đại 131-167 được khai quật.  
Tablet bằng sáp là công cụ như tấm bảng cho học sinh thời trước  
Book of Psalms được coi là quyển sách hoàn chỉnh có niên đại cổ nhất (350 SCN)  
được tìm thấy, sách dày đến 490 trang. Các nhà khảo cổ cũng tìm thêm được khoảng  
15 quyển sách khác dày trên 100 trang có niên đại khoảng 200-400 SCN. Hầu hết các  
sách tồn tại dưới dạng codex ở thời kỳ này đều là những quyển sách liên quan đến  
Thiên chúa giáo hay Kinh Thánh. Do đó có người cho rằng chính những người theo  
Thiên chúa là những người đã phát minh ra sách dạng codex và truyền bá tôn giáo  
cũng như công nghệ của mình khắp Châu Âu như là một cách để đạo Thiên chúa được  
lan tỏa rộng rãi hơn.  
Cuốn sách hoàn chỉnh đầu tiên được tìm thấy  
Do Hy Lạp đến thế kỷ thứ 6 bắt đầu bước vào thời kỳ đen tối trong lịch sử của  
mình, khi mà lượng sách sản xuất ra giảm sút đáng kể, số người biết đọc biết viết giảm  
hẳn, các thư viện và hiệu bán sách không tồn tại được nữa. Nhà thờ và tu viện là nơi  
sản xuất gần như tuyệt đối số sách ở châu Âu thời kỳ này; và hầu hết cũng là để đáp  
ứng nhu cầu sách tự thân của mình. Tình hình như vậy kéo dài cho đến tận đầu thế kỷ  
13. Trong suốt thời kỳ đen tối đó, vùng đất của người đạo Hồi lại nổi lên như là trung  
tâm tri thức của phương Tây và Cận Đông.  
Trong suốt 400 năm phát triển rực rỡ nhất, từ năm 800 đến 1200. Trong 400  
năm này, số sách mà người đạo Hồi đã sản xuất ra là khoảng 600,000 cuốn; vượt xa số  
sách của cả Chấu Âu thời kỳ trước và đế quốc Byzantine phía đông có thể làm ra  
được. Sách trong thời kỳ này chủ yếu là theo dạng codex. Vật liệu ban đầu người đạo  
Hồi sử dụng là giấy da, nhưng sau đó giấy hiện đại; một phát minh của Trung Quốc du  
nhập đến vùng của người đạo Hồi vào những năm 600 và nhanh chóng được sử dụng  
rộng rãi để thay giấy papyrus và giấy da. Đến năm 900, giấy Trung Quốc gần như đã  
thống trị hoàn toàn.  
Người đạo Hồi có một số đóng góp lớn cho lích sử phát triển của sách. Họ là  
người du nhập và cải tiến giấy và kỹ thuật làm giấy từ Trung Quốc để cho phù hợp với  
thực tế của họ và tiếp tục truyền bá nó sang châu Âu. Giấy của Trung Quốc chủ yếu là  
được làm từ gỗ cây dâu tằm, một loại cây mà ở Cận Đông hay Châu Âu không hề có.  
Người đạo Hồi đã sử dụng gỗ và sợi của cây lanh để thay thế. Họ cũng cải tiến khuôn  
và dùng búa để cán mỏng và ép các tấm bột gỗ thay vì sử dụng tay như người Trung  
Quốc. Phương thức đóng sách của họ cũng tương đối khác so với Châu Âu hay người  
Byzantine khi họ sử dụng keo dán để dán gáy sách thay vì đục lỗ và dùng kim để khâu  
như các thời kỳ trước. Đó cũng là cách thức đóng sách hiện đại.  
Họ cũng là nơi tiếp tục duy trì, bảo tồn và cải tiến những thành tựu của nền văn minh  
Hy-La để lại. Khoa học hay y học, vốn chẳng thể tồn tại được ở Châu Âu mãi cho đến  
tận thế kỷ 13 với những công trình toán học đầu tiên của Fibonacci thì lại rất phát triển  
ở những nước Hồi giáo. Người Hồi giáo thời kỳ này có đến 10 phát minh khoa học  
lớn, trong đó có 2 phát kiến quan trọng về quang học làm tiền đề cho việc sản xuất ra  
thủy tinh và kính; có tác động rất lớn tới việc đọc sách của những người lớn tuổi thời  
kỳ sau. Những kiến thức của người đạo Hồi là tiền đề quan trọng khi chúng được  
truyền bá và sử dụng trong các trường đại học đầu tiên ở Châu Âu sau này.  
Người Hồi giáo rất thích sách cũng như việc sưu tập chúng. Hệ thống thư viện  
công cộng, cửa hàng bán sách và trường học như thời Hy-La không thể tồn tại ở Châu  
Âu nhưng lại rất phát triển ở các nước đạo Hồi thời kỳ này vì nhu cầu về sách và tri  
thức rất lớn. Riêng ở Baghdad vào thế kỷ thứ 10 có đến hơn 100 cửa hiệu bán sách tồn  
tại.  
Những quý tộc Hồi giáo thời kỳ này thường đầu tư rất lớn vào sách và sở hữu  
một số lượng sách khổng lồ. Bộ sưu tập lớn nhất là của Ibn Abbad với một kho sách  
mà phải cần đến 400 con lạc đà mới tải hết, ước chừng khoảng 4000 quyển. Có những  
quý tộc sẵn sàng bỏ ra tới 10,000 dirhem để mua và sở hữu sách; số tiền tương đương  
với việc họ đầu tư vào trang thiết bị; vũ khí hay lạc đà và vật nuôi. Điều đó chứng tỏ  
giới quý tộc và trí thức sẵn sàng chi nhiều tiền thế nào để trả công cho những người  
sao chép sách cho họ. Tuy vậy họ cũng bị chỉ trích vì việc dựa dẫm quá nhiều vào thư  
viện sách thay vì trí nhớ của mình.  
Thời kỳ rực rỡ của người Hồi giáo chấm dứt vào khoảng đầu thế kỷ 13, khi  
quân đội Mông Cổ đánh chiếm và phá hủy nền kinh tế; các công trình kiến trúc hay  
giết hàng trăm nghìn người đạo Hồi. Thời kỳ vàng của người đạo Hồi coi như chấm  
dứt.  
Trong khi đó ở Châu Âu thời kỳ đầu thế kỷ 13 xã hội đã có những chuyển biến theo  
hướng tích cực hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho tri thức và những cải tiến nhanh chóng  
diễn ra. Trong suốt 700 năm, từ 500-1200, nhà thờ là nơi có quyền lực tuyệt đối, ảnh  
hưởng và quyết định mọi mặt đời sống của người dân khắp Châu Âu. Một trong số  
những sự kiểm soát đó chính là sự kiểm soát việc sản xuất sách và truyển bá thông tin  
trong xã hội.  
Thời kỳ này, nhà thờ và tu viện là nơi duy nhất sách được làm ra. Một trong các  
công việc chính của các tu sĩ là việc chép lại các bản thảo tôn giáo, tín ngưỡng hoặc  
một số ít các tài liệu khác. Giáo hội là nơi quyết định quyển sách nào được chép ra; tu  
sĩ nói riêng và mọi người nói riêng không có quyền tự sao chép theo những quyển sách  
mà mình mong muốn. Tu sĩ cũng không được trao đổi bản thảo chép tay cho người  
khác hay từ chối khi nhận được lệnh. Nếu không họ sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.  
Trong sự quản lý nghiêm ngặt đó của nhà thờ, không nhiều phát minh liên quan đến tri  
thức được ra đời ở thời kỳ này. Đột phá lớn nhất chính là sự chuyển dịch dần từ văn  
hóa nói; diễn thuyết và truyền miệng trong một nhóm người sang đọc sách một một  
cách yên tĩnh và một mình. Sự chuyển dịch này bắt nguồn từ sự ra đời của dấu cách  
trong khi viết.  
Thừa hưởng từ nền văn minh Hy-La, sách của thời kỳ trước là những chuỗi ký  
tự dài lê thê, không biết bắt đầu và kết thúc khi nào, được gọi dưới một cái trên đặc  
trưng “Scriptio continua – Continuous script” vốn được thừa hưởng từ kiểu viết  
cuneiform của người Summer và sau đó là hệ chữ alphabet chỉ toàn phụ âm của người  
Phoenician. Đọc sách thời kỳ trước là kiểu đọc thành tiếng to cho nhiều người cùng  
nghe; vì văn hóa lời nói rất phát triển.  
Một văn bản chữ Latin theo cách “Scriptio continua”  
Tuy nhiên vào thế kỷ thứ 7, một tu sĩ người Ai Len đã phát minh ra cách thức  
viết có dấu cách để phân biệt rõ từ nọ và từ kia. Ai Len hay nước Anh nói chung vốn  
chưa bao giờ là thuộc địa của Hy Lạp hay đế chế La Mã, ít chịu ảnh hưởng từ văn hóa  
nói của nền văn minh Hy-La nên việc phải đọc to một văn bản toàn chữ dài lê thê, vừa  
đọc vừa phải đoán từ này kết thúc ở đâu, câu này kết thúc ở đâu là một cực hình và  
cũng tốn nhiều trí năng. Tuy nhiên cũng phải đến tận thế kỷ 11 phát minh này mới  
được áp dụng phổ biến trong cách viết sách trong các nhà thờ trên toàn bộ châu Âu.  
Và việc đọc sách yên lặng này cũng là một yếu tố quan trọng dẫn đến nhu cầu sách ở  
châu Âu tăng lên rất nhiều, dẫn đến việc nhà thờ không thể kiểm soát hết được việc  
sản xuất và mua bán sách.  
Thêm một yếu tố chủ chốt khác đó là sang thế kỷ 12, với rất nhiều biến động về  
kinh tế chính trị đã khiến đời sống cư dân châu Âu bắt đầu thay đổi. Những thành phố  
lớn bắt đầu được hình thành, giai cấp giàu nghèo cũng bắt đầu được phân chia rõ rệt  
hơn. Các thành phố lớn nhất thời kỳ này phải kể đến Venice và Genoa có khoảng 100  
nghìn người; Florence có khoảng 90 nghìn; Palermo và Pisa khoảng 50 nghìn; Paris  
khoảng 80 nghìn; Bruges và London khoảng 35 nghìn.  
Nền kinh tế mới đòi hỏi một hệ thống giáo dục hoàn toàn mới, có khả năng đào tạo ra  
những người làm trong các ngành y dược, thương mại, luật hay nhà thờ. Các trường  
đại học đầu tiên được ra đời. Mở đầu là trường Bologna năm 1088 rồi đến Paris và  
Oxford. Sang thế kỷ 13, xuất hiện thêm nhiều trường có tiếng khác như Cambridge,  
Montpellier, Toulouse, Angers, Padua, Naples, Salamanca, Valladolid. Rất nhiều  
trường trong số này vẫn tồn tại đến tận bây giờ. Việc ra đời trường học khiến các sinh  
viên và giáo sư rất cần sách trong việc dạy và học. Các hiệu sách nằm gần trường đại  
học được ra đời nhằm cung cấp sách cho 2 đối tượng trên, mặc dù giá và nội dung vẫn  
do trường học kiểm soát. Từ khi trường đại học đầu tiên ra đời, một làn sóng kiến thức  
từ các nước Hồi giáo tràn vào Châu Âu,và trong 2 thể kỷ; đã có vài trăm đầu sách  
tiếng Do Thái và Ả rập được dịch ra và lưu hành trong các trường đại học.  
Một phòng trong đại học Bologna  
Việc văn hóa đọc sách yên lặng phổ biến đã dẫn đến rất nhiều cải tiến trong cấu trúc  
của sách được ra đời ở thể kỷ 14 theo chiều hướng cải thiện hiệu năng và tốc độ đọc. Ở  
thể kỷ 13, sách đã bắt đầu được phân chia thành các chapter, và mục lục cũng đã được  
ra đời. Dấu chấm, dấu phẩy và dấu ngoặc đơn đều ra đời trong thời kỳ này. Dấu ngoặc  
đơn được sử dụng thay cho phương thức sử dụng mực đỏ để gạch chân đoạn cần ghi  
chú là một điều rất được chào đón, nhất là với công nghệ in ra đời sau này. Rồi tiếp  
đến là tiêu đề của chương, mục lục về nội dung của chương hay tiêu đề từng trang sách  
tiếp tục được sinh ra. Đến năm 1400, cấu trúc của sách đã hầu như giống với cấu trúc  
của sách hiện đại. Sách tham khảo cũng bắt đầu xuất hiện. Văn hóa đọc mới cũng  
khiến kiến trúc của thư viện phải thay đổi. Nếu như trước đây, thư viện phải chia làm  
nhiều phỏng nhỏ để việc diễn thuyết của nhóm nọ không ảnh hưởng đến nhóm kia thì  
nay thư viện đã được thiết kế theo hướng có không gian chung rất lớn và thoáng.  
Sách ở thời kỳ này đã biết sử dụng những cú pháp như chấm câu  
Công nghệ in hàng loạt của Gutenberg  
Ý tưởng về việc sản xuất hàng loạt và nhanh chóng một văn bản, thông tin đã  
có từ rất lâu. Người Summer đã chế tạo ra những bản khắc bằng gỗ hay đá để ấn lên  
những miếng đất sét vẫn còn đang ướt để sản xuất hàng loạt một văn bản nào đó,  
thông thường liên quan đến văn chương và thơ ca.  
Công nghệ in tiếp theo đó là bôi mực lên một bản khắc bằng gỗ hoặc kim loại,  
rồi sau đó in lên mặt một tờ giấy. Kỹ thuật này được người Trung Quốc phát minh vào  
khoảng năm 200 SCN. Kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi khắp thế giới cổ đại, chủ  
yếu nhằm in ra các bức tranh hay hình minh họa.  
Một bản khắc gỗ với những họa tiết của người Ấn Độ  
Công nghệ in sắp chữ (movable type) cũng được phát minh lần đầu tiên ở  
Trung Quốc vào năm 1040 SCN dưới thời Bắc Tống. Vật liệu để làm khuôn in là ban  
đầu bằng gỗ, sau đó được chuyển sang là gốm. Khuôn in làm bằng kim loại đầu tiên  
được Hàn Quốc sử dụng vào năm 1234 và sau đó được nhà Tống sử dụng để in tiền  
giấy. Ở châu Âu, Gutenberg là người sử dụng công nghệ in sử dụng khuôn kim loại  
đầu tiên vào năm 1450. Mặc dù phát minh ra công nghệ in ấn rất sớm trước Gutenberg  
nhưng việc in ấn ở các nước Á Đông không thể phát triển mạnh và nhanh được bởi lý  
do chủ yếu là trong khi châu Âu sử dụng hệ thống ký tự Latin gồm 26 chữ cái thì các  
nước Châu Á hầu hết sử dụng chữ tượng hình với hàng nghìn ký tự. Việc in ấn đại trà  
sử dụng công nghệ in dùng khuôn và sắp chữ là một việc rất khó khả thi với các nước  
Châu Á.  
Ra đời vào đúng thời điểm nhu cầu sách đang rất cao, phát minh của Gutenberg  
nhanh chóng được khắp Châu Âu đón nhận và sử dụng. 30 năm sau, 1480 có đến 110  
thị trấn ở Châu Âu đã sử dụng máy in của Gutenberg mà tập trung nhất là ở Venice với  
156 đầu sách được in ra. Con số này của các thành phố khác là Milan (82), Augsburg  
(67), Nuremberg (53), Florence (48), Cologne (44), Paris (35) và Rome (34). Trong 3  
năm từ 1495-1497, có 1821 đầu sách được in, trong đó có 24.5% là từ Venice. Đến  
năm 1500, đã có 236 thị trấn có máy in và 35 nghìn đầu sách đã được xuất bản. Trước  
năm 1500, hầu hết sách đều không có đánh số trang. Nhưng đến năm 1600, đã có 4/5  
số sách có sử dụng số của người Ả rập ở cuối trang sách của mình.  
So sánh giữa bản sách viết tay và bản in từ máy của Gutenberg  
Nhu cầu thông tin của con người ngày càng cao. Đến khoảng đầu những năm 1600 đã  
xuất hiện những tờ báo in để cung cấp thông tin nhanh chóng đến người dân.  
Máy in sử dụng động cơ hơi nước ra đời năm 1814 và công nghệ sản xuất giấy  
mới ra đời năm 1802 càng khiến việc in ấn dễ dàng với chi phí rẻ hơn. Trong vòng 20  
năm từ 1820 đến 1840, ở Anh đã có đến 2000 tờ báo và tạp chí mới xuất hiện. Cùng  
với đó là tỷ lệ biết chữ tăng lên đáng kể. Đến năm 1840, ở Anh đã có khoảng 68% đàn  
ông và 52% phụ nữ biết đọc biết viết.  
Phát minh của Gutenberg đã được đánh giá là một trong những phát minh quan  
trọng của lịch sử loài người, ra đời rất đúng thời điểm và là động lực chính dẫn đến các  
cuộc cách mạng Phục Hưng, Khai sáng hay cách mạng công nghiệp sau này; đưa nền  
văn minh châu Âu bước vào thời kỳ phát triển thịnh vượng mới tương tự như nền văn  
minh Hy-La trước đó 2000 năm.  
2. Vai trò, tác dụng của sách trong đời sống xã hội  
Sách chính là sản phẩm của con người và xã hội: Trong sách có chứa vô vàn  
kiến thức, được ghi chép lại trong toàn nhân loại ở từng thời kỳ, từng nền văn hóa trên  
thế giới. Sách là công cụ thể hiện các thành tựu của con người cố gắng đạt được trong  
mỗi thời kỳ, từ lịch sử khai sinh đến xã hội phát triển của ngày nay. Sách cũng là  
phương tiện cất giữ những kho tàng về di sản của tinh thần vô giá, mà nhân loại đã cố  
gắng gây dựng từ xưa đến nay.  
Với nguồn kiến thức, sách được xem là chìa khóa vàng giúp mở ra cánh của  
ước mơ cho mỗi người. Nhưng để điều đó thành hiện thực, bản thân người đọc sách  
cần biết cách áp dụng nó.  
Sách còn là một món ăn tinh thần của loài người, nó chính là kho tàng của tri  
thức mà nhân loại dùng để miêu tả lại tất cả các lĩnh vực. Khi mọi người đọc sách, thì  
mỗi lĩnh vực sẽ có cung cấp một dạng tài liệu, thông tin cũng như kiến thức khác nhau  
có liên quan, để giúp con người hiểu hơn vấn đề.  
 
Điều cuối cùng mà sách tạo dựng được vị thế của riêng mình, bởi nó là sản  
phẩm của tinh thần phi vật thể. Nghĩa là sản phẩm đó do con người tạo nên, nó là khu  
báu của kiến thức nhân loại.  
Nếu ai hỏi sách là gì? Không hiểu được xâu xa những điều chúng tôi nói ở trên  
thì các bạn có thể hiệu ngắn gọn, nó chính là tổng hợp các tờ giấy có chữ, có hình ảnh  
việc bằng tay, in ra hoặc là buộc, dán lại với nhau thành 1 phía. Mỗi tờ trong một cuốn  
sách sẽ gọi là trang. Hiện nay sách có sách in ấn, cũng có sách điện tử còn gọi là  
Ebook. Nội dung trong sách rất đa dạng, văn hóa, tinh thần, kinh tế, xã hội… đều có.  
Những người viết ra sách, có thể gọi là biên tập, nhà văn, nhà thơ,… tất cả đó đều là  
người sáng tác nghệ thuật. Họ khẳng định tài năng của mình, giúp nhân loại hiểu rõ  
hơn những gì đã trải qua, đang hiện diện.  
Từ những gì mà chúng tôi chỉ ra như vậy, chắc hẳn các bạn đã nắm rõ hơn thế  
nào là sách rồi đúng không. Để hiểu cặn kẽ, biết rõ tại sao nó lại quan trọng trong đời  
sống của xã hội phát triển, của tri thức thì các bạn hãy cùng chúng tôi đến với những  
phần tiếp theo của bài viết, với nội dung về vai trò của sách, cũng như cách đọc sách  
hiệu quả nhé.  
Chương 2: Qui trình xuất bản sách  
1. Quyết định xuất bản  
Tác giả hoặc cá nhận, tổ chức sở hữu hợp pháp đối với tác phẩm, cuốn sách  
chọn một nhà xuất bản có chức năng phù hợp với nội dung tác phẩm, cuốn sách và gửi  
bản thảo (in ra trên giấy A4 hoặc bản file) cho Nhà xuất bản. Nhà xuất bản đọc duyệt,  
biên tập nội dung theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Nhà xuất bản khi kiểm  
duyệt nội dung thấy đáp ứng được quy định, thực hiện đăng ký xuất bản với Bộ Thông  
tin và Truyền thông theo mẫu quy định và nhà xuất bản chịu trách nhiệm trước pháp  
luật về nội dung đăng ký xuất bản.  
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký xuất bản,  
Bộ Thông tin và Truyền thông phải xác nhận đăng ký xuất bản bằng văn bản, cấp số  
xác nhận đăng ký xuất bản từng tác phẩm, tài liệu hoặc xuất bản phẩm tái bản và cấp  
mã số sách tiêu chuẩn quốc tế (ISBN); trường hợp không xác nhận đăng ký phải có  
văn bản trả lời nêu rõ lý do  
Văn bản xác nhận đăng ký xuất bản là căn cứ để nhà xuất bản ra quyết định  
xuất bản đối với từng tác phẩm, tài liệu, xuất bản phẩm tái bản. Thời hạn để ra quyết  
định xuất bản chậm nhất là ngày 31 tháng 12 của năm xác nhận đăng ký; trường hợp  
không thực hiện việc xuất bản, nhà xuất bản phải báo cáo với Bộ Thông tin và Truyền  
thông trước ngày 31 tháng 3 của năm liền sau năm xác nhận đăng ký và số xác nhận  
đăng ký xuất bản, mã số sách tiêu chuẩn quốc tế (ISBN) đã được cấp không còn giá trị  
thực hiện.  
Quyết định xuất bản được kí bởi Giám đốc hoặc Phó giảm đốc được ủy quyền  
của nhà xuất bản, và có thời hạn ghi rõ trên giấy phép, nơi chỉ định in xuất bản phẩm.  
2. Liên kết xuất bản  
Nhà xuất bản được liên kết với tổ chức, cá nhân (gọi chung là đối tác liên kết)  
sau đây để xuất bản đối với từng xuất bản phẩm:  
     
a) Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;  
b) Nhà xuất bản, cơ sở in xuất bản phẩm, cơ sở phát hành xuất bản phẩm;  
c) Tổ chức khác có tư cách pháp nhân  
Hình thức liên kết của nhà xuất bản với đối tác liên kết bao gồm:  
a) Khai thác bản thảo;  
b) Biên tập sơ bộ bản thảo;  
c) In xuất bản phẩm;  
d) Phát hành xuất bản phẩm.  
Việc liên kết chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:  
a) Có văn bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định  
của pháp luật về sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm, tài liệu được liên kết xuất bản;  
b) Có hợp đồng liên kết xuất bản giữa nhà xuất bản và đối tác liên kết. Hợp  
đồng liên kết phải có các nội dung cơ bản theo quy định của Bộ trưởng Bộ  
Thông tin và Truyền thông;  
c) Trường hợp liên kết biên tập sơ bộ bản thảo, ngoài việc phải có đủ điều kiện  
quy định tại điểm a và điểm b khoản này, đối tác liên kết phải có biên tập viên.  
Đối với tác phẩm, tài liệu có nội dung về lý luận chính trị; lịch sử, tôn giáo, chủ quyền  
quốc gia, hồi ký thì nhà xuất bản không được liên kết biên tập sơ bộ bản thảo.  
3. Chế bản điện tử  
Sau khi có quyết định xuất bản, dữ liệu tác phẩm, cuốn sách được đánh máy và  
trình bày lại theo khổ sách được chọn in, và được in ra trên một loại giấy gọi là giấy  
can ((tiếng Pháp: Papier calque - giấy để sao chép, đồ lại) là giấy có khả năng thấu  
quang cao, nghĩa là có thể cho ánh sáng đi qua) và chuyển đến nhà in.  
4. Thiết kế bìa  
Bìa 1 (bìa trước của cuốn sách) phải ghi rõ tên sách, tên tác giả hoặc người biên  
soạn, người chủ biên (nếu có), họ tên người dịch (nếu là sách dịch), người phiên âm  
(nếu là sách phiên âm từ chữ Nôm); tên nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được cấp  
giấy phép xuất bản.  
Bìa 4 phải ghi giá bán lẻ đối với sách kinh doanh; đối với sách do Nhà nước  
đặt hàng phải ghi là “sách Nhà nước đặt hàng”; đối với sách không kinh doanh phải  
ghi là “sách không bán”, mã vạch chuẩn,…. Tác giả được in hình ở bìa 4 để giới thiệu.  
Bìa cấm quảng cáo bất kì loại gì.  
Ghi trên cùng một trang sách: Họ tên và chức danh của tổng giám đốc (giám  
đốc) chịu trách nhiệm xuất bản; họ tên và chức danh của tổng biên tập chịu trách  
nhiệm nội dung; họ tên biên tập viên; khuôn khổ sách, số xác nhận đăng ký xuất bản,  
số quyết định xuất bản của tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản hoặc số giấy phép  
xuất bản của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản; họ tên người trình bày,  
minh họa; họ tên người biên tập kỹ thuật, họ tên người sửa bản in; số lượng in; tên và  
địa chỉ cơ sở in; thời gian nộp lưu chiểu; mã số sách tiêu chuẩn quốc tế (ISBN);  
5. In – gia công – đóng gói  
Cơ sở in chỉ được nhận in xuất bản phẩm theo quy định sau đây:  
a) Đối với xuất bản phẩm thực hiện thông qua nhà xuất bản thì phải có quyết  
định xuất bản (bản chính) và bản thảo có chữ ký duyệt của tổng giám đốc (giám đốc)  
nhà xuất bản;  
     
b) Đối với tài liệu không kinh doanh của cơ quan, tổ chức Việt Nam, tổ chức  
nước ngoài không thực hiện qua nhà xuất bản thì phải có giấy phép xuất bản (bản  
chính) và bản thảo có đóng dấu của cơ quan cấp giấy phép quy định tại Điều 25 của  
Luật xuất bản;  
c) Đối với xuất bản phẩm in gia công cho nước ngoài phải có giấy phép in gia  
công và bản mẫu xuất bản phẩm đặt in gia công có đóng dấu của cơ quan cấp giấy  
phép quy định tại Điều 34 của Luật xuất bản.  
Việc nhận in xuất bản phẩm phải có hợp đồng theo quy định của pháp luật giữa  
cơ sở in với nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được cấp giấy phép xuất bản tài liệu  
không kinh doanh.  
Số lượng xuất bản phẩm được in phải được thể hiện trong hợp đồng và phải  
phù hợp với quyết định xuất bản hoặc giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh.  
6. Nộp xuất bản phẩm lưu chiểu và nộp xuất bản phẩm cho Thư viện Quốc  
gia Việt Nam  
Tất cả xuất bản phẩm phải nộp lưu chiểu cho cơ quan quản lý nhà nước về hoạt  
động xuất bản chậm nhất là 10 ngày trước khi phát hành. Việc nộp lưu chiểu xuất bản  
phẩm được thực hiện theo quy định sau đây:  
a) Nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp  
giấy phép xuất bản phải nộp ba bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông; trường hợp số  
lượng in dưới ba trăm bản thì nộp hai bản  
b) Cơ quan, tổ chức được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép xuất bản  
phải nộp hai bản cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và một bản cho Bộ Thông tin và  
Truyền thông; trường hợp số lượng in dưới ba trăm bản thì nộp một bản cho Ủy ban  
nhân dân cấp tỉnh, một bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông;  
c) Đối với xuất bản phẩm tái bản không sửa chữa, bổ sung thì nộp một bản cho  
Bộ Thông tin và Truyền thông; trường hợp có sửa chữa, bổ sung thì thực hiện theo quy  
định tại điểm a và điểm b khoản này;  
d) Xuất bản phẩm có nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp  
luật thì chỉ nộp tờ khai lưu chiểu;  
Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày xuất bản phẩm được phát hành, nhà xuất  
bản, cơ quan, tổ chức được phép xuất bản phải nộp ba bản cho Thư viện Quốc gia;  
trường hợp số lượng in dưới ba trăm bản thì nộp hai bản.  
7. Phát hành  
Sách sau khi được in ra, được kiểm tra chất lượng, và hoàn thành nộp lưu  
chiểu. Tác phẩm, cuốn sách chỉ được phát hành khi được nhà xuất bản ra quyết định  
phát hành.  
Mọi cá nhân và tổ chức đều có thể xuất bản tác phẩm, sách của mình, miễn là  
tuân thủ theo đúng các quy định của Luật xuất bản Việt Nam, cụ thể thực hiện đúng  
quy trình xuất bản một tác phẩm, sách tại Việt Nam như đề cập trên.  
Chương 3: Lịch sử sách Việt Nam  
1. Mục tiêu: Giúp học sinh hiểu đặc điểm và quá trình phát triển của sách Việt  
Nam  
2. Nội dung chương:  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 32 trang Thùy Anh 21560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Lịch sử sách và lịch sử thư viện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_lich_su_sach_va_lich_su_thu_vien.pdf