Cách thức tổ chức đời sống xã hội của người Mường ở Hòa Bình: Từ truyền thống đến hiện đại

No.20_Mar 2021|p.107-112  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
THE WAYS TO ORGANIZE THE SOCIAL LIFE OF MUONG PEOPLE  
IN HOA BINH PROVINCE: THE TRADITIONAL TO THE MODERN  
Quach Cong Nam1,*  
1Hong Duc University, Viet Nam  
Article info  
Abstract  
Social System of the Muong forms and develops in parallel with the social  
organizations of Vietnam and there are many similarities. Along with the social-  
economic development, Muong social society also have many great changes.  
There are some studies that described the Muong traditional society. However, no  
study has describeb for the transformation of Muong society from traditional to  
contemporary. Through document analysis method, the author compilesand  
analyzes systematically Muong society system through each historical period.  
Recieved:  
9/12/2020  
Accepted:  
22/02/2021  
Keywords:  
Social system, Lang  
Dao, Muong, land.  
No.20_Mar 2021|p.107-112  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
CÁCH THỨC TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG XÃ HỘI CỦA NGƯỜI MƯỜNG  
Ở HÒA BÌNH: TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI  
Quách Công Năm1,*  
1Trường Đại học Hồng Đức  
* Địa chỉ email: [email protected]m  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
Tổ chức xã hội của người Mường có thể phân ra làm ba giai đoạn: Giai đoạn 1:  
Tổ chức đời sống xã hội của người Mường trước năm 1945; Giai đoạn 2: Tổ  
chức đời sống xã hội của người Mường sau năm 1945 đến trước đổi mới (trước  
năm 1986); Giai đoạn 3: Tổ chức đời sống xã hội của người Mường hiện nay  
(sau năm 1986). Mỗi giai đoạn thể hiện những khác biệt điển hình về cơ cấu tổ  
chức đời sống xã hội của người Mường, kéo theo sự thay đổi về các mối quan  
hệ xã hội. Bằng phương pháp phân tích tài liệu, so sánh và điền dã dân tộc học,  
tác giả đã tổng hợp một cách có hệ thống về cách thức tổ chức đời sống xã hội  
của người Mường thông qua từng giai đoạn lịch sử, qua đó tác giả làm rõ các  
mối quan hệ xã hội đặc trưng trong từng hình thái tổ chức đời sống xã hội.  
Ngày nhận bài:  
9/12/2020  
Ngày duyệt đăng:  
22/02/2021  
Từ khóa:  
Tổ chức xã hội, Lang Đạo,  
Mường, ruộng đất.  
Đặt vấn đề  
Tổ chức đời sống xã hội là cách thức sắp sếp  
cuộc sống xã hội, là một hệ thống các quan hệ, tập  
hợp liên kết cá nhân trong xã hội để đặt được mục  
đích nhất định. Tổ chức đời sống xã hội của người  
Mường hình thành và phát triển song song với tổ  
chức đời sống xã hội của người Việt và có nhiều  
điểm tường đồng. Cùng với sự phát triển, biến đổi  
của kinh tế - xã hội, tổ chức đời sống xã hội của  
người Mường cũng có nhiều biến đổi to lớn. Về vấn  
đề này, tính đến hiện nay đã có một số nghiên cứu  
mô tả về xã hội của người Mường truyền thống như  
công trình Xã hội và ruộng đất ở vùng Mường  
trước cách mạng Tháng Tám của tác giả Mạc  
Đường[3]; Người Mường ở Hòa Bình của Từ  
Chi[8] và một nghiên cứu trường hợp về biến đổi tổ  
chức đời sống xã hội ở vùng Mường Thanh Sơn –  
Phú Thọ[7]. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào mô  
tả một cách hệ thống về sự biến đổi về tổ chức đời  
sống xã hội của người Mường từ truyền thống đến  
hiện đại. Bài viết này tập trung khái quát những đặc  
trưng cơ bản của xã hội Mường qua từng giai đoạn  
cụ thể thông qua nghiên cứu để tổ chức xã hội tại  
bốn vùng trung tâm của người Mường tại Hòa  
Bình, đó là Mường Bi, Mường Vang, Mường  
Thàng, Mường Động.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Tổ chức đời sống xã hội của người Mường  
trước năm 1945.  
Tổ chức xã hội truyền thống của người Mường  
trước năm 1945 là chế độ Lang Đạo, được tổ chức  
theo kiểu hình chóp, giống như một xã hội phong  
kiến thu nhỏ với sự phân hóa giai cấp khá rõ nét.  
Mỗi dòng họ nhà Lang tự phân biệt với các dòng họ  
khác khổng chỉ bằng Mường họ chiếm lĩnh mà còn  
bằng tên của họ. Các dòng họ quý tộc bao gồm  
Đinh, Quách, Bạch, Hà chia nhau cai quản các  
vùng Mường và nắm trong tay quyền phân phối  
ruộng đất. Còn tầng lớp bị trị thường là dân nghèo  
Q.C.Nam/ No.20_Mar 2021|p.107-112  
và người của một số dòng họ nhỏ. Quan hệ giữa  
Cun. Hàng năm, Lang Đạo đều phải có đóng góp lễ  
vật cho Lang Cun. Khi bố mẹ Lang Cun chết, Lang  
Đạo cũng phải chịu tang như bố mẹ mình. Các  
dòng tộc quan Lang chia nhau cai quản xứ Mường,  
người Mường gọi là “ăn Lang”.  
người với người trong xã hội Mường truyền thống  
chủ yếu là quan hệ giữa nhà Lang với thuộc dân.  
Đó là mối quan hệ chủ yếu có giá trị chi phối các  
mối quan hệ khác[1].  
Đứng đầu mỗi Mường là một Lang Cun. Lang  
Cun là con cả trong chi nhánh cả của dòng họ gia  
tộc nhà Lang. Với tư cách là người kế thừa của  
người khai khẩn – hoặc chính là người khai khẩn  
(người đến trước) một vùng đất Mường, cho nên là  
vị chúa đất tối cao của một vùng Mường, đồng thời  
cũng là người có quyền hưởng thụ (tức là quyền sở  
hữu ruộng đất). Lang Cun có quyền lực như ông  
vua con, theo tục cha truyền con nối. Khi Lang  
chết, con trưởng lên thay thế, nếu Lang không có  
con trai, có khi vợ Lang được nắm quyền điều hành  
cho đến khi không thể làm nổi chức vụ. Đến lúc  
này họ hàng nhà Lang cùng với những người tin  
cẩn chọn một người trong họ đưa lên làm Lang  
Cun. Dân dù giỏi đến đâu cũng không thể trở thành  
nhà Lang. Khi nghiên cứu về vấn đề này nhà  
nghiên cứu Nguyễn Hải cho rằng “Cũng có khi  
chức Lang Cun được trao cho người rể của nhà  
Lang, trong trường hợp này, người con rể phải bỏ  
họ nhà mình và lấy họ vợ”[6]. “Xã hội Mường cổ  
truyền Hòa Bình có thể được xem là kết quả tập  
hợp của nhiều đẳng cấp, trong chừng mực mà số  
phận xã hội của từng cá nhân, dù nam hay nữ, lại  
phụ thuộc vào dòng họ của người ấy”; vị trí và bị  
trị “bám chặt vào dòng họ của các cá nhân… thân  
phận của từng người được áp đặt bằng đường cha  
truyền con nối”[8].  
Trong tầng lớp dưới gồm những người dân, có  
một số gia đình giúp việc cho nhà Lang, gọi là Ậu.  
Ngày xưa giúp việc cho nhà Lang thì không có  
bổng lộc gì, không có được trả công, mà được Lang  
phân cho ruộng, thường là phần ruộng tốt. Dân phải  
khai hoang, vỡ hóa, phải nạp tô thuế, còn Ậu thì  
không phải nạp tô thuế. Ậu lo thu thóc, bắt phu  
phen, cúng bái, ma chay, đốc thúc dân thường làm  
ruộng.  
Tầng lớp thấp nhất của xã hội Mường truyền  
thống là dân thường, thường gọi là Nhà Nóc, còn  
Nóc trọi là dân ngụ cư, thường không có ruộng và  
rất nghèo đói.  
Có thể nói, quan hệ xã hội giữa nhà Lang và  
thuộc dân, nói khác đi là quan hệ giữa tầng lớp  
thống trị và bị trị, là mối quan hệ điển hình trong xã  
hội truyền thống của người người Mường.  
Về quyền sở hữu rộng đất, tất cả ruộng đất trên  
đất Mường đều là của Nhà Lang. Ruộng đất nhà  
Lang được chia thành hai loại: ruộng đất tập đoàn  
(nhiều người làm), gọi là Xâu và ruộng đất cá thể  
khoán cho các nhà dân (Nõ). Đối với cả hai loại  
ruộng đất này, dân thường đều có trách nhiệm đóng  
góp sức lao động và nạp tô thuế. Mặc dù xuất thân  
từ tầng lớp dân, nhưng các Ậu không bị ràng buộc  
vào việc làm Xâu và Nõ. Trong việc canh tác ruộng  
Xâu và Nõ thì sức kéo để canh tác và công cụ như  
cày, bừa và trâu, bò đều do Ậu Chấu Kho và dân  
Mường tự lo, còn lúa giống thì nhà Lang tự bỏ ra  
[5].  
Lang Cun cũng chính là người thờ cúng Thần  
Hoàng. Tổ tiên của Lang Cun với tư cách là Thần  
Hoàng, được coi là tổ tiên của tất cả dân Mường  
trong vùng mà họ cai quản. Cho nên vai trò trưởng  
họ của người con (cháu) thừa kế của Lang Cun, được  
tất cả mọi người trong vùng Mương thừa nhận.  
Người ta coi toàn bộ đất đai trong vùng Mường chỉ  
là sự mở rộng đất đai của Lang Cun mà thôi. Những  
người dân trong Mường phải có nghĩa vụ vâng lời và  
tôn kính Lang Cun, đồng thời cũng có quyền đòi hỏi  
từ Lang Cun sự che chở và giúp đỡ.  
Về làm Xâu, Ậu Chấu Kho có thể đòi hỏi các  
nhà Nóc làm. Mỗi nhà cử một người làm và những  
người này phải cùng làm các công việc đồng áng từ  
đầu cho đến cuối trên các thửa ruộng Xâu. Ậu Chấu  
Kho phải có mặt để kiểm soát sao cho lao động các  
Nhà Nóc trên các ruộng Xâu được đồng đều và  
công bằng. Sự khác biệt giữa Xâu và Nõ không chỉ  
ở hình thức lao động, mà sự khác biệt này còn có  
tính chất đặc thù của chế độ nhà Lang. Xâu là đặc  
quyền của Lang Cun, chỉ có Lang Cun mới có  
quyền cắt cử người làm Xâu. Lang Cun có quyền  
hưởng cả ruộng Xâu và ruộng Nõ, còn Lang Đạo  
chỉ có quyền hưởng rộng Nõ mà thôi. Ngoài các  
Chức nhỏ hơn thuộc về chi thứ của dòng tộc  
quan Lang, gọi là Lang Đạo. Quan Lang Cun sẽ  
chia cho các Lạng Đạo cai quản các Mường nhỏ  
trong vùng của mình. Mọi công việc quản lí trong  
Mường, Lang Đạo đều phải xin ý kiến của Lang  
Q.C.Nam/ No.20_Mar 2021|p.107-112  
tầng lớp kể trên, còn có người hầu, người hầu là  
đương nhiên và Nhà Lang cũng có nghĩa vụ phải  
cho người chết một cái quan tài như vậy. Đây là  
một cái quan tài kiểu cổ, truyền thống của người  
Mường. Cái quan tài đó thường là một khúc gỗ dài  
2,4m trở lên, đường kính từ 90cm trở lên. Người ta  
bổ đôi khúc gỗ tròn, khoét rỗng bên trong và úp lại,  
sao cho đủ đựng xác người chết (dành cho người  
cao lớn nhất và các đồ tùy táng).  
người ở tại nhà Lang, kể cả nhà Lang Cun và Lang  
Đạo, hoặc là do bố mẹ bán hoặc là bị gán nợ cho  
nhà Lang. Người hầu được Lang nuôi cho ăn mặc  
nhưng phải làm việc không công trong nhà và ngoài  
đồng ruộng. Con hầu đến tuổi trưởng thành có thể  
lấy vợ, chồng. Người vợ hay người chồng ấy  
thường là con nhà Nóc Trọi. Nhà Lang còn cho họ  
nồi niêu, bát đĩa… để họ có thể có một cuộc sống  
riêng tối thiểu, ở một túp lều nhỏ, không xa nhà  
chủ. Người hầu dường như sẽ quen dần với kiếp  
sống phụ thuộc và hầu hạ nhà chủ, sống lâu dần trở  
thành thành viên trong gia đình nhà chủ. Người hầu  
không hợp thành một tầng lớp xã hội riêng, chính vì  
thế mà việc bóc lột không công sức lao động của con  
hầu trở thành một đặc quyền của chế độ Nhà Lang.  
Mối quan hệ giữa tầng lớp thống trị và bị trị  
trong xã hội Mường truyền thống là mối quan hệ  
qua lại. Trong mối quan hệ giữa Nhà Lang với  
thuộc dân ở trong Mường thì Nhà Lang phải có ba  
nghĩa vụ: (1) Bảo vệ, chăm sóc thuộc dân của mình;  
(2) Cho dân vay mượn những thứ mà họ thiếu; (3)  
Xét xử công lý cho họ.  
Quan hệ giữa người với người trong xã hội  
Mường truyền thống, kể cả các quan hệ về lao  
động, là quan hệ đẳng cấp. Nhưng Nhà Lang cố giữ  
quan hệ đẳng cấp này ở mức độ quan hệ gia trưởng  
và Nhà Lang cũng cố gắng làm gương trong các  
trường hợp cụ thể, làm sao cho dân yên lòng, không  
bức xúc đến mức muốn nổi loạn – cũng là một cách  
để bảo vệ chế độ Nhà Lang. Thỉnh thoảng Nhà  
Lang cũng tạo ra không khí dân chủ bằng cách cho  
phép dân ép rượu cần đối với mình. Trong dịp tết  
làng, Nhà Lang cũng cho phép dân Làng nói lên  
những ý nghĩ thực của họ trong đó có cả những lời  
phên phán cách cai trị của Nhà Lang.  
Có thể nói, chế độ Lang Đạo của dân tộc  
Mường đã thực sự gây ra cho xã hội Mường sự  
phân biệt đẳng cấp sâu sắc giữa tầng lớp Lang Đạo  
và tầng lớp dân thường. Sự phân biệt này ngoài mối  
quan hệ sản xuất đã nêu ở trên còn thể hiện trong  
từng chi tiết nhỏ của cuộc sống, như là nhà dân  
không được to hơn nhà Lang; đàn bà con gái dân  
thường không được mặc váy có thêu hình con rồng  
hay mặc váy dài chấm gót như vợ Lang; nhân dân  
trong Mường phải luôn nghe lời phục dịch, cúng lễ  
Nhà Lang. Nhiều tục lệ thể hiện sự phân biệt đẳng  
cấp sâu sắc cũng đã được hình thành, cụ thể như:  
- Tục nộp vai, nộp đùi: Nếu người dân trong  
làng có việc phải mổ trâu mổ bò, lợn, đều phải có  
nghĩa vụ nộp một vai hoặc đùi của con vật đó cho  
Nhà Lang.  
Nhiệm vụ đầu tiên của nhà Lang trong việc tổ  
chức Mường xóm là đảm bảo công việc điều tra,  
canh phòng, căn cứ tuần đinh gắc đêm, kiểm soát  
các việc để Chiềng – Mường không xảy ra trộm  
cắp, bảo vệ cho khách đến và qua Mường không bị  
cướp giật, v.v…  
Nhiệm vụ cho vay là nhiệm vụ có vẻ bền bỉ nhất  
trong quan hệ giữa nhà Lang và thuộc dân. Nhà  
Lang không thể chối từ dân đến vay trong khi đói  
giáp hạt mà trong kho của nhà Lang vẫn còn lúa từ  
vụ trước, kể cả ai đó không có trâu để cày phần  
ruộng của mình, Nhà Lang cũng phải cho mượn.  
Việc cho mượn trâu có khi chỉ mang ý nghĩa tượng  
trưng, vì nông dân chính là người hàng ngày chăn  
dắt trâu bò cho Nhà Lang, họ có thể dùng chúng để  
kéo cày, giống như thể chúng là của họ vậy. Tuy  
nhiên, có lời nói Nhà Lang hay “có lời với nhau”  
trong các trường hợp tương tự chính là tập quán  
trong Mường như vậy. Đàn gia súc sinh sôi tản mát  
có khi chính Nhà Lang cũng không kiểm soát nổi,  
nhưng về nguyên tắc, nó vẫn thuộc quyền sở hữu  
của Nhà Lang.  
- Phục vụ Nhà Lang: Nếu Nhà Lang có đám  
cưới hay đám ma dân trong mường đều phải đến  
giúp. Nếu Nhà Lang xây nhà mới thì mỗi nhà trong  
Mường phải tự giác mang tre, nứa, lá cọ… đến nộp.  
Khi Nhà Lang đến dự đám cưới hoặc dự lễ mừng  
nhà mới của người dân trong Mường, thì nhà dân  
đó phải biếu Nhà Lang 2kg thịt lợn hoặc 1 con gà, 1  
chai rượu.  
Người dân trong Mường thường nghĩ rằng việc  
xin Nhà Lang một cây gỗ to trong rừng của Nhà  
Lang để làm quan tài của người chết là một việc  
- Con nhà dân không được phép lấy con Nhà  
Lang: Đây là quy định thể hiện sự phân biệt đẳng  
Q.C.Nam/ No.20_Mar 2021|p.107-112  
luận xã hội. Việc đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau thường  
cấp trong xã hội Mường truyền thống, nhưng ngược  
lại, Lang vẫn được lấy con nhà dân, nhưng chỉ được  
làm vợ lẽ cho dù cưới trước. Vợ cả luôn là người  
thuộc dòng họ Nhà Lang. Dân phải đóng góp mọi  
thứ trong thời kỳ cưới xin của Nhà Lang.  
dựa trên một số cơ sở như quan hệ thân tộc, láng  
giềng, thậm chí giữa làng này và làng khác.  
2.2. Tổ chức đời sống xã hội của người  
Mường sau năm 1945 đến trước năm 1986  
Xã hội Mường sau năm 1945 không còn chế độ  
Lang Đạo mà thay vào đó là các hình thức hợp tác  
xã nông nghiệp, tự túc tự cấp và khép kín[2]. Theo  
đó, ruộng đất, trâu bò và các loại công cụ sản xuất  
đều thuộc hợp tác xã, tài sản chung của tập thể. Các  
hộ gia đình đi làm theo tiếng kẻng và sự phân công  
của đội trưởng đội sản xuất, lúc này xã hội làng bản  
được chính trị hóa cao độ. Vai trò của Đảng, Đoàn  
Thanh niên, Hội phụ nữ, Ban chủ nhiệm hợp tác xã  
nổi bật lên, thành viên của các tổ chức này là những  
người sống cùng làng bản. Các quan hệ gia đình,  
nhất là quan hệ dòng họ vốn rất nổi bật trong xã hội  
truyền thống, bay giờ bị lấp đi khá nhiều. Thậm chí  
việc hôn nhân trước đây hoàn toàn là việc của gia  
đình, dòng họ, thì đến thời bao cấp thì các đoàn thể  
lại giữ vai trò rất lớn, nếu không nói là quyết định.  
Nhìn chung hình thức kinh tế hợp tác xã tự túc  
tự cấp khép kín đã tiếp tục phát huy tinh thần  
truyền thống là sự tương trợ, gắn kết giúp đỡ lẫn  
nhau-lá lành đùm lá rách không chỉ trong lao động  
sản xuất, mà cả trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.  
Hợp tác xã cũng là một dạng thức tổ chức xã hội  
mang tính cộng đồng, thậm chí là dạng thức cộng  
đồng triệt để nhất (tất cả ruộng đất, trâu bò, công cụ  
sản xuất đều là của chung, lao động thì tuân theo  
một kế hoạch thống nhất từ ban quản trị Hợp tác xã,  
người nông dân được chuyên môn hóa – trong các  
tổ cày, tổ cấy, tổ chăn nuôi giống như người công  
nhân trong các nhà máy, xí nghiệp đã được công  
nghiệp hóa cao độ). Có đều là tính cộng đồng trong  
làng bản xưa là tính cộng đồng xuất phát tự tinh  
thần tự nguyện, còn tính cộng đồng trong Hợp tác  
xã được tổ chức theo yêu cầu của chính trị, trong đó  
không tránh khỏi ép buộc. Cách tổ chức cộng đồng  
làng bản trong các hợp tác xã đã giúp động viên  
được sức người sức của cho cuộc kháng chiên  
chống Mỹ, mà kết quả cụ thể là giải phóng Miền  
nam, thống nhất đất nước.  
Cho đến nay người Mường vẫn chịu một chút  
ảnh hưởng của chế độ Lang Đạo xưa kia, qua  
thói quen kính trọng những người thuộc dòng dõi  
Nhà Lang.  
Có thể nói rằng, nổi bật trên hết của mối quan  
hệ và tính cố kết cộng đồng của người Mường trong  
xã hội truyền thống là mối quan hệ giữa dân  
Mường và Nhà Lang. Sự cố kết cộng đồng này đã  
tồn tại gắn liền với chế độ chính trị làm nên sự bền  
vững, khó lung lay của các mối quan hệ xã hội  
trong cộng đồng người Mường truyền thống. Cơ sở  
của các mối quan hệ này là quyền chiếm hữu ruộng  
đất, có nghĩa rằng, tính cố kết cộng đồng lúc này đã  
được thiết chế hóa với các mối quan hệ điển hình  
giữa giai cấp thống trị và giai cấp bóc lột. Do đó  
khi phân tích về tính cố kết cộng đồng của xã hội  
Mường truyền thống, người ta không thể tách rời  
khỏi chế độ chính trị của nó.  
Song song với sự chi phối các quan hệ xã hội  
của chế độ Lang Đạo, trong đời sống nói chung,  
trong hoạt động sản xuất nói riêng, người Mường  
có truyền thống đoàn kết, tương trợ lẫn nhau. Tính  
cố kết cộng đồng thông qua hoạt động sản xuất của  
người Mường đã trở thành nguồn sức mạnh nâng  
đỡ người trong hoàn cảnh khó khăn, như đấu tranh  
với thiên nhiên khắc nghiệt, chống lại kẻ thù, thú  
dữ…Nó được cụ thể hóa thành truyền thống hợp  
tác, tường trợ, liên kết với nhau trong lao động sản  
xuất giữa những người trong cùng dòng họ, thân  
tộc, làng xóm láng giềng và những người cùng  
Mường cùng bản.  
Một già làng ở vùng Mường Vang (Lạc Sơn –  
Hòa Bình) cho biết: “Mỗi khi mùa vụ đến, người  
Mường thường hay đi cấy đổi công hoặc làm giúp  
nhau và họ thường được “lấy công” bằng một bữa  
cơm hoặc thậm chí không lấy gì cả mà người ta  
gọi là “ăn bữa cơm tình cảm”, không tính toán  
thiệt hơn. Bởi họ luôn ý thức rằng sự giúp đỡ lẫn  
nhau giữa những người Mường trong cộng đồng  
là tất yếu, lúc người khác cần thì họ giúp và khi  
mình cần thì người khác lại đến giúp” (Nữ, 50  
tuổi, nông dân).  
2.3. Tổ chức đời sống xã hội của người  
Mường từ khi đổi mới (1986) đến nay  
Vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX,  
khi các Hợp tác xã nông nghiệp bị giải thể, cùng  
với phong trào chung của cả nước lập lại chức  
Các hình thức giúp đỡ này hoàn toàn mang tính  
tự nguyện không phải áp lực từ cồng đồng hay dư  
Q.C.Nam/ No.20_Mar 2021|p.107-112  
trưởng thôn, thì ở miền núi cũng tái lập lại chức  
khi chính sách đổi mới của Nhà nước được thực  
hiện. Tuy nhiên, những giá trị cơ bản vẫn được duy  
trì, tiêu biểu như tinh thần đoàn kết, thương yêu,  
giúp đỡ, tôn trọng nhau, kính già yêu trẻ, tôn trọng  
các giá trị của gia đình… Xã hội Mường hiện nay  
vẫn là một tổ chức quy củ với những vị trí, cấp bậc  
khác nhau. Tầng lớp được kính trọng nhất là thầy  
cúng, thầy mo và các cụ lớn tuổi, đây được coi là  
những người còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa  
truyền thống của dân tộc.  
trưởng bản mà trong thời kỳ bao cấp đã bị xóa bỏ.  
Với hệ thống chính trị 4 cấp, là trung ương, tỉnh,  
huyện và xã thì cấp thôn trong thực tế là “cánh tay  
nối dài” của nhà nước xuống các đơn vị xã hội cơ  
sở là làng (ở miền xuôi) và thôn bản ở miền núi.  
Bên cạnh các chi bọ Đảng, các đoàn thể như hội  
phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội cựu chiến binh,  
trưởng bản không chỉ có nhiệm vụ quản lý nhân  
khẩu mà còn là người thường xuyên phổ biến các  
chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà  
nước đến từng hộ dân.  
Tâm lí “một người làm quan cả họ được nhờ”,  
“phép vua thua lệ làng” giống như người Việt dần  
được xóa bỏ và thay vào đó là ý thức cùng nhau  
xây dựng gia đình, làng xóm văn hóa.  
Thông thường, trưởng bản phải là người có học  
vấn tương đối cao, làm ăn giỏi, có uy tín với bà con  
thôn bản, còn ở các Mường, đôi khi trưởng bản  
cũng là tộc trưởng của các dòng họ lớn. Trưởng bản  
là người sinh ra và lớn lên ngay trong bản, lại được  
dân tín nhiệm bầu lên, nên họ hiểu và gần dân hơn  
cả. Nhiều bản Mường cách xa trung tâm xã, vì vậy  
từ khi có các trưởng bản thì quan hệ giữa người dân  
và chính quyền trở nên gần gũi và thân thiết hơn.  
Cần nói thêm là, trong các thời kỳ này, các tổ chức  
Đảng, đoàn thể cũng không can thiệp vào việc hôn  
nhân – gia đình so với thời bao cấp-nghĩa là quan  
hệ xã hội trong các làng bản ngày càng được tự do,  
dân chủ hơn[4].  
Ý thức cộng đồng của người Mường ngày nay  
đã vượt khỏi phạm vi ý thức cộng đồng làng xã,  
trong ý thức cộng đồng dân tộc bao gồm cả ý thức  
cộng đồng nhân loại. Rất nhiều các hoạt động  
chung tay vì cộng đồng được con người hưởng ứng,  
không chỉ trên phạm vi một tổ chức mà trên phạm  
vi quốc gia thậm chí là quốc tế. Chẳng hạn như các  
hoạt động hiến máu nhân đạo, hoạt động quyên góp  
vì người nghèo, ủng hộ đồng bào lũ lụt, sóng thần,  
động đất, ủng hộ nạn nhân chất độc da cam, hoạt  
động bảo vệ môi trường, hoạt động chung tay  
chống lại đại dịch..  
Sự tham gia của khoa học – kỹ thuật và phương  
tiện sản xuất là nguyên nhân quan trọng dẫn đến  
việc giảm tính cố kết cộng đồng ở khía cạnh kinh  
tế. Đổi công, làm giúp vốn rất phổ biến trong xã hội  
Mường truyền thống thì nay chỉ còn rất ít hoặc  
chuyển qua hình thức thuê mướn. Với sự xuất hiện  
của nhiều máy móc sản xuất giúp tiết kiệm sức  
người, giải phóng sức lao động, làm giảm nhu cầu  
lao động chân tay. Theo đó, tính cố kết cộng đồng ở  
đây như dần được chuyển sang hình thức khác, như  
hình thức mua chung máy móc sản xuất (máy cày  
bừa, máy xay sát, máy cấy, máy gặt…).  
3. Kết luận  
Có thể nói, trong thời kỳ đổi mới, tổ chức đời  
sống xã hội đã có nhiều biến đổi trên tất cả các  
phương diện: quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ  
giới và quan hệ giữa các thế hệ già và trẻ… Ngày  
nay người Mường được giải phóng khỏi chế độ  
Lang Đạo và những hạn chế của chế độ quan liêu  
bao cấp vốn chỉ phù hợp với thời chiến, họ được tự  
do canh tác trên mảnh ruộng của mình, không còn  
bị bóc lột, đồng thời họ được Nhà nước giúp đỡ, tạo  
điều kiện cho vay vốn, hỗ trợ kỹ thuật sản xuất kinh  
doanh nên đời sống của người Mường ngày nay đã  
khá hơn rất nhiều so với trước kia. Dù chế độ Lang  
Đạo không còn nữa, những những nét văn hóa tốt  
đẹp vẫn được các thế hệ con chúa người Mường gìn  
giữ và bảo tồn.  
“Bây giờ bà con trong làng bản cũng ít làm  
nông nghiệp, họ dành thời gian để làm các việc  
khác bên ngoài có thu nhập cao hơn. Máy móc bây  
giờ cũng làm thay người hết rồi, bà con trong làng  
cũng thuê máy móc làm cho đỡ vất vả. Nếu nhà ai  
thiếu người cấy thì phải thuê với giá khá cao”. (Nữ  
45 tuổi, nông dân, Lạc Sơn).  
Ở cấp làng bản, di sản quan trọng nhất trong  
Ngoài ra, tính cố kết cộng đồng của người  
Mường ngày nay cũng đã có những thay đổi lớn,  
chuyển qua hình thức cố kết cộng đồng mới kể từ  
quan hệ giữa người với người vẫn còn tồn tại cho  
đến ngày nay là tinh thần cộng đồng, “lá lành đùm  
Q.C.Nam/ No.20_Mar 2021|p.107-112  
lá rách”. Trong thời bao cấp, hợp tác xã cũng là  
một dạng của tổ chức cộng đồng ở nông thôn, kể cả  
nông thôn miền núi. Chỉ có điều tính cộng đồng  
xưa mang tính tự nguyện và xuất phát từ những  
hoàn cảnh lịch sử cụ thể, còn tổ chức cộng đồng  
thời kỳ hợp tác xã bao cấp là có sự chỉ đạo, duy ý  
chí, nhiều khi mang tính ép buộc. Đến thời kỳ đổi  
mới, quan hệ hội làng bản đã có sự biến đổi trên tất  
cả các phương diện: từ các lĩnh vực chính trị, kinh  
tế đến các quan hệ giới, quan hệ giữa các thế hệ.  
Tính cố kết cộng đồng được chuyển qua các hình  
thức mới như liên kết sản suất, ý thức cộng đồng  
nhỏ được đặt ra trong mối quan hệ với cộng đồng  
lớn. Và như vậy, tất yếu không thể tránh khỏi xung  
đột giữa các giá trị truyền thống và hiện đại giữa  
người già và người trẻ, giữa nam và nữ, giữa người  
giàu và người nghèo… Do đó, việc xây dựng và  
thực hiện các chính sách, các quy chuẩn văn hóa  
mới vừa phù hợp với truyền thống vừa phù hợp với  
những đòi hỏi của sự phát triển xã hội là yêu cầu  
bức thiết đặt ra với các nhà hoặc định chính sách và  
quản lí văn hóa cũng như nâng cao ý thức trách  
nhiệm của từng cá nhân trong việc bảo tồn và phát  
huy bản sắc văn hóa dân tộc.  
REFERENCES  
1. Bui Tuyet Mai. (1999). The Muong ethnic  
group in Vietnam. National Cultural Publishing  
House.  
2. Luong Quynh Khue. (2007). Traditional  
Muong cultural identity and current changing trend  
- Through Muong culture survey in Hoa Binh  
province.  
Academy  
of  
Journalism  
and  
Communication. 6974.  
3. Mac Duong. (1962). Society and land in  
Muong area before the August Revolution.  
Historical research journal, 3:49-56  
4. Nguyen Quang Lap. (2005). Muong  
ethnic.Kim Dong House  
5. Nguyen Tu Chi. (1996). Contribute to ethnic  
culture research. Information culture Publishing  
House.  
6. Nguyen Hai. (2012). Dissipate Muong  
culture in Hoa Binh. Information and  
communication Publishing House.  
7. Ha Van Linh. (2006). The traditional social  
organization and its changes in the Muong Thanh  
Son, Phu Tho. Institute of Ethnology.  
8. Tu Chi. (2012). The Muong ethnic group in  
Hoa Binh. Vietnam folk arts association.  
pdf 7 trang Thùy Anh 21500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cách thức tổ chức đời sống xã hội của người Mường ở Hòa Bình: Từ truyền thống đến hiện đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcach_thuc_to_chuc_doi_song_xa_hoi_cua_nguoi_muong_o_hoa_binh.pdf