Một số kĩ thuật cơ bản trong dạy học môn Lịch sử các học thuyết kinh tế cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị ở Trường Đại học Tây Bắc

NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
Một số kĩ thuật cơ bản trong dạy học môn Lịch sử  
các học thuyết kinh tế cho sinh viên chuyên ngành  
Giáo dục Chính trị ở Trường Đại học Tây Bắc  
Nguyễn Thị Linh Huyền  
Trường Đại học Tây Bắc  
TÓM TẮT: Trong dạy học ngày nay, nhiều sinh viên vẫn còn học tập thụ động,  
Phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La,  
chưa có thói quen tự học, tự nghiên cứu. Một số giảng viên dạy học theo  
tỉnh Sơn La, Việt Nam  
Email: linhhuyent[email protected]  
phương pháp cũ nặng về truyền đạt một chiều, thiếu sự trao đổi qua lại với  
sinh viên, cũng như giữa các sinh viên với nhau. Vì vậy, vận dụng một số kĩ  
thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học môn Lịch sử các  
học thuyết kinh tế cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị ở Trường  
Đại học Tây Bắc là rất cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.  
TỪ KHÓA: Kĩ thuật dạy học; kĩ thuật dạy học tích cực; sinh viên; giảng viên; Giáo dục Chính  
trị.  
Nhận bài 14/12/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 03/01/2020 Duyệt đăng 25/02/2020.  
thuyết kinh tế cho SV chuyên ngành GDCT ở Trường Đại  
học Tây Bắc là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong  
xu thế hiện nay.  
1. Đặt vấn đề  
Hiện nay, với sự bùng nổ thông tin và sự xuất hiện các  
phương tiện phục vụ dạy học hiện đại, đặc biệt là sự đổi  
mới quy trình dạy học theo hình thức đào tạo tín chỉ giảm  
dần thời lượng giảng lí thuyết, tăng thời gian tự nghiên cứu,  
thảo luận. Sinh viên (SV) có điều kiện tiếp nhận kiến thức  
từ nhiều nguồn khác nhau, cập nhật những tri thức mới  
nhất và những vấn đề thực tiễn liên quan đến môn học.  
Do đó, giảng viên không thể duy trì các phương pháp dạy  
học (PPDH) truyền thống như tập trung chủ yếu vào thuyết  
trình hay thầy đọc - trò chép... Đổi mới phương pháp theo  
hướng tích cực là người dạy chỉ đóng vai trò chỉ dẫn, định  
hướng là chủ yếu, thời gian tự học, tự nghiên cứu của SV sẽ  
tăng lên. Các vấn đề lí luận cũng như thực tiễn sẽ được tăng  
cường trao đổi qua các hình thức thảo luận, seminar. Hình  
thức này vừa tạo điều kiện cho người học có cơ hội thể hiện  
những hiểu biết cá nhân, đồng thời giúp SV hình thành kĩ  
năng thuyết trình, kĩ năng làm việc nhóm... Điều này phù  
hợp với định hướng cơ bản của đổi mới giáo dục hiện nay  
là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực  
tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng  
lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người  
học. Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH nói chung  
và đổi mới PPDH cho SV chuyên ngành Giáo dục Chính  
trị (GDCT) ở Trường Đại học Tây Bắc là phát huy tính  
tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động,  
năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là xu  
hướng tất yếu trong đổi mới PPDH ở mỗi nhà trường.  
Tuy nhiên, nhiều SV vẫn còn học tập thụ động, chưa có  
thói quen tự học tự nghiên cứu. Một số giảng viên dạy học  
theo phương pháp cũ nặng về truyền đạt một chiều, thiếu sự  
trao đổi qua lại với SV, cũng như giữa các SV với nhau. Vì  
vậy, vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực (KTDHTC)  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Khái niệm và đặc điểm dạy học môn Lịch  
sử các học thuyết kinh tế tại Trường Đại học  
Tây Bắc  
Môn Lịch sử các học thuyết kinh tế là một học phần bắt  
buộc trong chương trình đào tạo cho SV chuyên ngành  
GDCT ở Trường Đại học Tây Bắc, môn học gồm 3 tín chỉ  
với thời lượng 45 tiết. Lịch sử các học thuyết kinh tế là môn  
khoa học xã hội trang bị cho SV những kiến thức cơ bản  
về quá trình phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn  
nhau của hệ thống quan điểm kinh tế của các giai cấp cơ  
bản trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. “Nó chỉ  
ra những cống hiến, những giá trị khoa học và phê phán có  
tính lịch sử những hạn chế trong các quan điểm kinh tế của  
các đại biểu, trường phái kinh tế đã và đang tồn tại trong  
lịch sử” [1; tr 3]. Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế  
giúp SV hiểu được hoàn cảnh xuất hiện và đặc điểm của các  
lí thuyết kinh tế. “Chỉ có thể hiểu một cách cặn kẽ và hoàn  
chỉnh môn Kinh tế chính trị sau khi nghiên cứu môn Lịch  
sử các học thuyết kinh tế” [2; tr.11]. Từ đó, giúp người học  
nâng cao hiểu biết về nền kinh tế thị trường và những kiến  
thức cần thiết để nắm vững và thực hiện thành công đường  
lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta.  
Để SV học tập có hiệu quả môn học này, giảng viên cần sử  
dụng nhiều phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và đặc  
biệt là vận dụng các KTDHTC.  
KTDHTC là những động tác, cách thức hành động của  
giảng viên và SV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm  
thực hiện và điều khiển quá trình dạy học với các kĩ thuật  
nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch sử các học mới để phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
42  
Nguyễn Thị Linh Huyền  
kĩ thuật động não, kĩ thuật thông tin phản hồi, kĩ thuật bể cá, nhóm chuyên gia khác nhau lại thành các nhóm mới, gọi  
kĩ thuật tia chớp, kĩ thuật ổ bi, kĩ thuật XYZ, kĩ thuật khăn  
trải bàn, kĩ thuật mảnh ghép, sử dụng sơ đồ tư duy, sử dụng  
phiếu học tập...  
là “nhóm mảnh ghép”, từng SV lần lượt trình bày lại cho  
các SV trong nhóm mảnh ghép nghe về quan điểm đã được  
nghiên cứu ở nhóm chuyên gia. Nhiệm vụ mới ở nhóm  
mảnh ghép được giao cho thành viên mang tính khái quát,  
tổng hợp lại toàn bộ nội dung đã được tìm hiểu từ nhóm  
chuyên gia.  
Với hình thức kết hợp nhóm “chuyên gia” và nhóm  
“mảnh ghép”, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn các  
“chuyên gia” ban đầu chỉ thông thạo một nội dung kiến  
thức nhưng sau khi tham gia “nhóm mảnh ghép” vốn hiểu  
biết của SV đã tăng lên, đó là nội dung kiến thức trong toàn  
bài học. Kĩ thuật mảnh ghép có tiềm năng giáo dục và phát  
triển kĩ năng tự học cho SV như: Kĩ năng tự đọc, tự nghiên  
cứu; Kĩ năng tự tiếp cận, khái quát và giải quyết vấn đề một  
cách độc lập; Kĩ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, xử  
lí thông tin; Kĩ năng diễn đạt; kĩ năng giải quyết bất đồng về  
quan điểm; Kĩ năng hợp tác, lắng nghe tích cực và kĩ năng  
quản lí, kiểm soát thời gian của mình và nhóm.  
Ví dụ: Khi dạy chương II “Học thuyết kinh tế của chủ  
nghĩa trọng thương”, ở bước 1, giảng viên có thể chia lớp  
học thành các nhóm, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ  
với những nội dung học tập khác nhau.  
Nhóm1: Trình bày hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa trọng  
thương.  
Nhóm 2: Trình bày đặc điểm và những tư tưởng kinh tế  
chủ yếu của chủ nghĩa trọng thương.  
Nhóm 3: Phân tích đặc điểm chủ nghĩa trọng thương ở  
Anh.  
Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy  
học độc lập. So với khái niệm “PPDH”, khái niệm “kĩ thuật  
dạy học” hẹp hơn. Nếu phương pháp chú ý tới cả quá trình  
thì kĩ thuật là việc chú ý chủ yếu tới một thao tác, ở một thời  
điểm nhất định nào đấy trong quá trình đó. Việc sử dụng  
KTDHTC có nhiều mục đích như: Nêu khái quát một vấn  
đề, tổng hợp kiến thức mới, ôn tập, củng cố, hệ thống hóa  
nội dung tri thức đã học...  
Các KTDHTC có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt  
động dạy và học, giúp phát huy sự tham gia hoạt động tích  
cực, chủ động của SV vào quá trình dạy học. Các KTDHTC  
còn kích thích tư duy, đánh thức sự sáng tạo của SV một  
cách tốt nhất. Bên cạnh đó, các KTDHTC còn là động lực  
thúc đẩy sự cộng tác làm việc của SV, rèn luyện kĩ năng làm  
việc nhóm cho người học một cách đầy đủ hơn. Tuy nhiên,  
các kĩ thuật này cũng có thể được kết hợp thực hiện trong  
các hình thức dạy học cho cả lớp nhằm phát huy tính tích  
cực của SV.  
2.2. Một số kĩ thuật dạy học tích cực cơ bản trong dạy học  
môn Lịch sử các học thuyết kinh tế cho sinh viên chuyên ngành  
Giáo dục Chính trị ở Trường Đại học Tây Bắc  
Hiện nay, SV chuyên ngành GDCT ở nhà trường chủ yếu  
là người dân tộc thiểu số và lưu học sinh Lào, số lượng SV  
trong mỗi lớp không nhiều (khoảng dưới 30 đến 40 SV).  
Đây cũng là điều kiện thuận lợi để giảng viên có thể sử  
dụng các phương pháp và KTDHTC giúp các em mạnh  
dạn, tự tin, hòa nhập và tích cực tham gia các hoạt động học  
tập hơn. Qua đó, buổi học tăng thêm tính hứng thú, bản thân  
người học tự giác động não, tiếp thu kiến thức một cách chủ  
động. Dưới đây, bài viết đi sâu vào một số kĩ thuật cụ thể,  
đó là: Kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật động não và kĩ thuật  
khăn trải bàn, kĩ thuật tranh luận ủng hộ - phản đối, sơ đồ tư  
duy, kĩ thuật viết tích cực, kĩ thuật đọc hợp tác.  
Nhóm 4: Phân tích chủ nghĩa trọng thương ở Pháp.  
Nhóm 5: Quá trình tan rã của chủ nghĩa trọng thương  
diễn ra như thế nào? Đánh giá những đóng góp tích cực của  
chủ nghĩa trọng thương trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa  
tư bản.  
Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy  
nghĩ về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của cá nhân.  
Khi thảo luận nhóm cần đảm bảo mỗi thành viên trong từng  
nhóm đều trả lời được tất cả câu hỏi trong nhiệm vụ được  
giao và trở thành chuyên gia của lĩnh vực đã tìm hiểu và có  
khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở bước 2.  
Ở bước 2, hình thành nhóm mới khoảng từ 3-6 người  
(bao gồm 1-2 người từ nhóm 1; 1-2 từ nhóm 2; 1-2 người từ  
nhóm 3…), gọi là nhóm mảnh ghép. Câu hỏi và câu trả lời  
của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy  
đủ với nhau. Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu  
được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được  
giao cho các nhóm để giải quyết (lưu ý nhiệm vụ mới này  
phải gắn liền với kiến thức thu được ở bước 1). Các nhóm  
mới thực hiện nhiệm vụ trình bày và chia sẻ kết quả. Sau  
đó, giảng viên có thể kiểm tra bằng cách gọi ngẫu nhiên các  
SV trình bày những kiến thức tiếp thu được khi tham gia ở  
bước mảnh ghép. Điều này giúp SV tập trung lắng nghe các  
nhóm trình bày và giải đáp thắc mắc của nhau để ghi nhớ  
kiến thức sâu sắc, bền vững hơn, tránh hiện tượng “người  
2.2.1. Kĩ thuật mảnh ghép  
Đây là kĩ thuật dạy học thể hiện quan điểm hợp tác tập  
thể, trong đó có sự kết hợp hoạt động của cá nhân, hoạt  
động nhóm và liên kết giữa các nhóm trong lớp học. “Là  
kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác, kết hợp giữa cá nhân,  
nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm  
vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cũng như nâng cao  
vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác” [3; tr.115]. Kĩ  
thuật mảnh ghép trong dạy học được chia làm hai bước:  
Bước 1: Hình thành các nhóm chuyên gia, ở bước này  
SV được chia thành các nhóm khoảng 3 - 6 người. Mỗi  
nhóm được giao một nhiệm vụ tìm hiểu, nghiên cứu sâu về  
một nội dung, chuyên đề, bài tập khác nhau. Các nhóm tự  
nghiên cứu, thảo luận đảm bảo cho mỗi thành viên trong  
nhóm đều nắm vững nội dung và có khả năng trình bày lại  
được các vấn đề đã nghiên cứu.  
Bước 2: Hình thành nhóm mảnh ghép, mỗi SV từ các ngoài cuộc” theo cách thảo luận thông thường.  
Số 26 tháng 02/2020  
43  
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
Một số điểm cần lưu ý khi thực hiện kĩ thuật mảnh  
ghép:  
vào phần “khăn trải bản”, cùng thảo luận chung, đưa ra suy  
nghĩ sau đó viết vào phần giữa của “khăn trải bàn”. Giảng  
- Đảm bảo những kiến thức từ các mảnh ghép ở bước 1 viên gia hạn thời gian hoàn thành nhiệm vụ và yêu cầu SV  
khi được ghép lại với nhau có thể hiểu được bức tranh toàn như sau: mỗi người đều làm việc để đưa ra ý kiến về vấn đề  
cảnh của một vấn đề, nội dung cần làm sáng tỏ, là cơ sở để cần giải quyết; yêu cầu mọi thành viên đều chia sẻ suy nghĩ,  
giải quyết một nhiệm vụ phức hợp ở bước 2.  
nêu ý tưởng và lắng nghe tích cực những ý kiến chia sẻ của  
- Các SV là “chuyên gia” ở bước 1 có thể có trình độ, thành viên khác; khi có ý kiến bất đồng, yêu cầu mọi thành  
năng lực tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau, nên cần viên trình bày cơ sở khoa học luận chứng cho những ý kiến  
giảng viên cần xác định các yếu tố hỗ trợ, định hướng kiến hợp lí và đối chiếu với ý kiến đối lập của thành viên khác.  
thức kịp thời để tất cả SV là “chuyên gia” có thể hoàn thành  
nhiệm vụ ở bước1, chuẩn bị cho bước 2.  
Như vậy, giờ giảng hay thảo luận sử dụng “kĩ thuật khăn  
trải bàn” để giải quyết các nhiệm vụ riêng biệt sẽ giúp giảng  
- Số lượng mảnh ghép không nên quá lớn để đảm bảo viên theo dõi được hoạt động của từng SV trong mỗi nhóm,  
các thành viên có thể truyền đạt lại kiến thức cho nhau, các đồng thời có thể đánh giá được hoạt động của các nhóm SV  
bước thực hiện theo từng việc mà giảng viên thiết kết đảm khác trong quá trình hợp tác cùng giải quyết nhiệm vụ. Hơn  
bảo phù hợp với nội dung bài học hay vấn đề cần nghiên nữa, cùng một thời gian nhất định, người dạy và người học  
cứu.  
Nhiệm vụ mới ở bước 2 là một nhiệm vụ phức hợp và chỉ bảo chất lượng tri thức cần truyền đạt và chiếm lĩnh.  
có thể giải quyết được trên cơ sở nắm vững những kiến thức  
Trong dạy học nội dung bài học Lịch sử các học thuyết  
cùng tìm hiểu được rất nhiều nội dung của bài học và đảm  
đã có ở bước 1, do đó cần xác định rõ những yếu tố cần thiết kinh tế cho SV chuyên ngành GDCT, giảng viên có thể áp  
về kiến thức, kĩ năng, lượng kiến thức..., cũng như yếu tố dụng quy trình thực hiện kĩ thuật khăn trải bàn như sau:  
hỗ trợ cần thiết khác để giải quyết nhiệm vụ phức hợp này.  
Bước 1: Giảng viên thuyết trình những nội dung cơ bản  
Để giờ thảo luận, học tập có sử dụng kĩ thuật mảnh ghép của bài học, có thể kết hợp với trình chiếu PowerPoint để  
đảm bảo chất lượng, giảng viên có thể giao chủ đề trước làm sinh động thêm bài giảng.  
Chẳng hạn, khi dạy về chương III “Kinh tế chính trị tư  
sản cổ điển”, sau khi học xong hệ thống học thuyết kinh tế  
của William Petty, Adam Smith, David Ricardo, giảng viên  
có thể đặt ra câu hỏi thảo luận: Hãy chỉ ra những hạn chế cơ  
bản của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh?  
Bước 2: Giảng viên chia lớp thành 3-4 nhóm, cùng tìm  
hiểu một vấn đề, phân công SV quản lí, thư ký nhóm, giao  
nhiệm vụ (nêu vấn đề), quy định thời gian, SV nhận nhiệm  
vụ cần giải quyết, thảo luận và các dụng cụ, giáo trình, tài  
liệu tham khảo cần thiết.  
Bước 3: Các cá nhân tự đọc, tìm hiểu giáo trình, tài liệu  
tham khảo và trình bày vào tờ giấy A0. Nhóm tiến hành  
thảo luận, thư kí của nhóm ghi ý kiến thống nhất của cả  
nhóm vào khoảng giữa của tờ A0 phần kiến thức mà nhóm  
cần tìm hiểu làm rõ.  
Bước 4: Các nhóm báo cáo kết quả nghiên cứu của nhóm  
trước lớp và tiến hành tranh luận, phê phán, bổ sung thêm  
kiến thức. Đặc biệt, giảng viên phải hướng dẫn SV cách  
thức sử dụng tài liệu và kiến thức đã được trang bị để bác bỏ  
hay luận chứng cho quan điểm của người khác và của mình.  
Bước 5: Giảng viên tiến hành nhận xét, bổ sung những  
kiến thức đã được SV trình bày, đánh giá, kết luận giờ học  
tập.  
cho SV tự học, tự nghiên cứu trước một tuần.  
2.2.2. Kĩ thuật khăn trải bàn  
Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp  
giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích,  
thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập,  
trách nhiệm của cá nhân, phát triển mô hình có sự tương tác  
giữa SV với SV. Đây là kĩ thuật dạy học đơn giản, dễ thực  
hiện, có thể tổ chức ở tất cả các dạng bài trong môn học cho  
SV chuyên ngành GDCT ở Trường Đại học Tây Bắc.  
Kĩ thuật này có khả năng rèn luyện, phát triển kĩ năng học  
tập và phát triển năng lực tự học, tự chịu trách nhiệm cho  
hành động chiếm lĩnh tri thức của SV như: Kĩ năng đảm  
nhiệm trách nhiệm cá nhân khi độc lập suy nghĩ về nhiệm  
vụ đặt ra và trách nhiệm khi giải quyết vấn đề hay thảo luận  
nhóm, tìm ra những điểm tương đồng về ý kiến của các  
thành viên trong tập thể, kĩ năng tư duy phê phán khi xác  
nhận những ý kiến nào là hợp lí và những ý kiến nào là chưa  
phù hợp, trình bày ý kiến, hay quan điểm của mình về vấn  
đề đang thảo luận để cho mọi người cùng chia sẻ và thấu  
hiểu, kĩ năng giao tiếp trong quá trình cùng giải quyết vấn  
đề hay trong thảo luận nhóm, kĩ năng giải quyết bất đồng  
khi có những ý kiến ngược chiều, biết tìm ra và thừa nhận  
nội dung phù hợp đối với từng ý kiến của các thành viên  
trong tập thể, rèn luyện, phát triển kĩ năng tự nghiên cứu  
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chung của mỗi cá nhân,  
2.2.3. Kĩ thuật động não (công não)  
Là cách thức huy động và phối hợp suy nghĩ, ý tưởng  
kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề trong quá trình của thành viên trong nhóm, tập thể để giải quyết một vấn  
thực hiện nhiệm vụ của tập thể.  
đề, sử dụng tư duy để tiếp cận vấn đề và giải quyết vấn đề,  
Cách thức tiến hành: Chia SV thành các nhóm nhỏ với các ý nghĩ, tư tưởng sau khi xuất hiện tự do ở mỗi cá nhân  
01 tờ giấy A0 như một chiếc khăn trải bàn; Chia giấy A0 sẽ được liên kết lại thành quan điểm chung. Đây là “Một  
thành phần chính giữa và xung quanh chia theo số thành kĩ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo  
viên nhóm. Mỗi thành viên suy nghĩ và trình bày ý tưởng về một chủ đề của các SV trong thảo luận” [3; tr.105]. Các  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
44  
Nguyễn Thị Linh Huyền  
SV được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các thành viên; liên hệ với các ý tưởng đã được trình bày.  
ý tưởng (nhằm tạo ra “cơn lốc” các ý tưởng). Kĩ thuật động Khuyến khích số lượng các ý tưởng và cho phép sự liên  
não do Alex Osborn (Mĩ) phát triển, dựa trên một kĩ thuật tưởng, sáng tạo. Ứng dụng của kĩ thuật động não là dùng  
truyền thống từ Ấn Độ.  
trong giai đoạn nhập đề vào một chủ đề; tìm các phương án  
Kĩ thuật công não có thể giúp giảng viên xác định, phân giải quyết vấn đề; thu thập các khả năng lựa chọn và ý nghĩ  
hóa theo trình độ và năng lực học tập của từng cá nhân và khác nhau…  
nhóm SV, tạo lập tính độc lập trong tư duy cũng như sự kết  
Ưu điểm của kĩ thuật này là dễ thực hiện, sử dụng được  
hợp, phụ thuộc tích cực giữa các thành viên trong nhóm, hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ của tập thể,  
lớp. Mỗi cá nhân người học tự chịu trách nhiệm về nhiệm huy động được nhiều ý kiến, tạo cơ hội cho tất cả thành  
vụ của mình, thành tích của mỗi người ảnh hưởng tới thành viên tham gia.  
Nhược điểm: Có thể đi lạc đề, tản mạn; có thể mất thời  
gian nhiều trong việc chọn các ý kiến thích hợp; có thể có  
một số HS “quá tích cực”, số khác thụ động. Do đó, giảng  
viên cần kiểm soát tốt tình trạng lớp học và nhanh chóng,  
chủ động xử lí việc thu thập, đánh giá các ý tưởng.  
Để thực hiện kĩ thuật công não, giảng viên cần lưu ý định  
hướng vấn đề và phương pháp tự nghiên cứu cho SV, tránh  
tình trạng lạc chủ đề, mất nhiều thời gian và gây ồn ào. Do  
đó, giảng viên cần chuẩn bị kĩ các nội dung cần định hướng  
và lựa chọn thời gian cho hợp lí trong chương trình, có biện  
pháp quản lí nhóm, lớp khoa học.  
tích chung của cả tập thể. Do đó, buộc mỗi cá nhân phải  
tích cực, cố gắng tự học, tự nghiên cứu không được ỷ lại  
vào người khác.  
Công não (hay động não) như tên gọi của nó đặc biệt  
thích hợp với các hoạt động dạy học hướng mục đích phát  
triển ở người học những phẩm chất trí tuệ quan trọng của  
con người hiện đại. Kết quả của kĩ thuật công não là những  
ý tưởng, giải pháp có tính phát kiến mới của người học. Vì  
vậy, trong quá trình dạy học, giảng viên cũng có thể tiếp  
nhận được nhiều thông tin bổ ích từ các kết quả đó.  
Trong quá trình học tập, các SV được cổ vũ tham gia một  
cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng, nhằm tạo ra “cơn  
lốc” các ý tưởng. Các ý niệm/hình ảnh về vấn đề trước hết  
được nêu ra một cách rất phóng khoáng và ngẫu nhiên theo  
dòng suy nghĩ càng nhiều, càng đủ càng tốt. Các ý kiến có  
thể rất rộng và sâu cũng như không giới hạn bởi các khía  
cạnh nhỏ nhặt nhất của vấn đề mà những người tham gia  
nghĩ tới.Trong động não thì vấn đề được khai thác từ nhiều  
khía cạnh và nhiều cách (nhìn) khác nhau. Sau cùng, các ý  
kiến sẽ được phân nhóm và đánh giá.  
2.2.4. Kĩ thuật tranh luận ủng hộ - phản đối  
Đây là kĩ thuật có thể sử dụng trong nhiều chủ đề thảo  
luận về một vấn đề cụ thể hay tổng hợp kiến thức, “Tranh  
luận ủng hộ - phản đối (tranh luận chia phe) là một kĩ thuật  
dùng để thảo luận, trong đó, đề cập về một chủ đề có chứa  
đựng xung đột. Những ý kiến khác nhau và ý kiến đối lập  
được đưa ra tranh luận với mục đích xem xét chủ đề dưới  
nhiều góc độ khác nhau. Mục tiêu của tranh luận không  
phải là để “đánh bại” ý kiến đối lập mà nhằm xem xét chủ  
đề dưới nhiều phương diện khác nhau” [3, tr.111].  
Cách thực hiện:  
Khi dạy về chương VI “Sự phát sinh và phát triển kinh  
tế chính trị học Mác- Lê nin” cho SV chuyên ngành GDCT  
theo kĩ thuật công não được thực hiện như sau:  
Bước 1: Giảng viên thuyết trình nội dung bài học, có thể  
sử dụng bảng biểu, sơ đồ để khái quát những ý cơ bản để  
SV có thể quan sát liên tục trong quá trình công não. Trong  
mục III “Những đóng góp của Mác-Ăng ghen trong khoa  
học kinh tế chính trị”, giảng viên có thể đặt ra câu hỏi: Tại  
sao nói lí luận giá trị thặng dư là hòn đá tảng của học thuyết  
kinh tế Mác? Hãy nêu vai trò của tư bản bất biến và tư bản  
khả biến trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư? Tại sao  
bản chất của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản là giá cả sức  
lao động chứ không phải là giá cả của lao động?  
- Các thành viên được chia thành hai nhóm theo hai hướng  
ý kiến đối lập nhau về một luận điểm cần tranh luận. Việc  
chia nhóm có thể theo nguyên tắc ngẫu nhiên hoặc theo  
nguyện vọng của các thành viên muốn đứng trong nhóm  
ủng hộ hay phản đối;.  
- Một nhóm cần thu thập những lập luận ủng hộ, còn  
nhóm đối lập thu thập những luận cứ phản đối đối với luận  
điểm tranh luận.  
- Sau khi các nhóm đã thu thập luận cứ thì bắt đầu thảo  
luận thông qua đại diện của hai nhóm. Mỗi nhóm trình bày  
một lập luận riêng: Nhóm ủng hộ đưa ra một lập luận ủng  
hộ, tiếp đó nhóm phản đối đưa ra một ý kiến phản đối và cứ  
tiếp tục như vậy. Nếu mỗi nhóm nhỏ hơn 6 người thì không  
Bước 2: Lập các nhóm nghiên cứu, học tập như kĩ thuật  
khăn trải bàn.  
Bước 3: Giao, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ.  
Bước 4: Các nhóm tự nghiên cứu và trao đổi về chủ đề cần đại diện mà mọi thành viên có thể trình bày lập luận.  
được giao. Mỗi cá phát biểu suy nghĩ của mình, các thành  
- Sau khi các lập luận đã đưa ra, tiếp theo là giai đoạn thảo  
viên còn lại suy nghĩ để chuẩn bị phát biểu bổ sung cho luận chung và đánh giá, kết luận.  
người trước. Sau khi trao đổi, trình bày quan điểm của cá  
Ví dụ: Khi thảo luận về nội dung: “Các học thuyết kinh  
nhân, cả nhóm góp ý, chỉnh sửa, sau khi đồng thuận, thư kí tế của trường phái Keynes”, giảng viên có thể đưa ra chủ  
nhóm sẽ tổng hợp thành kết quả của nhóm. Giảng viên tổ đề: Đánh giá những đóng góp và hạn chế của học thuyết  
chức cho các nhóm báo cáo và kết luận vấn đề.  
Khi sử dụng kĩ thuật động não, giảng viên không nên cho SV như sau:  
đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của Bước 1: Chia lớp thành 2 phe, mỗi phe có thể có từ 2 - 3  
Keynes đối với kinh tế học hiện đại để tổ chức hoạt động  
Số 26 tháng 02/2020  
45  
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
nhóm, mỗi phe thực hiện một nhiệm vụ:  
lịch sử các học thuyết kinh tế”, giảng viên giới thiệu sơ  
Phe “ủng hộ”: Chứng minh những đóng góp của học đồ tư duy cho SV làm quen và dẫn dắt để các em có định  
thuyết Keynes đối với kinh tế học hiện đại.  
hướng thiết lập khi giảng viên giao các chủ đề học tập.  
Phe “phản đối”: Chứng minh những hạn chế, tính phiến Giảng viên có thể khái quát toàn bộ đối tượng nghiên cứu  
diện của học thuyết Keynes.  
của môn học qua các giai đoạn bằng sơ đồ cây học thuyết  
Các nhóm có thể thu thập ý kiến của thành viên bằng cách kinh tế từ chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa trọng nông,  
lấy ý kiến bằng lời hoặc từng cá nhân sẽ viết ý kiến ra giấy, kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh, kinh tế chính trị tiểu tư  
sau đó thảo luận, thống nhất ý kiến lập luận trong nhóm.  
sản, học thuyết kinh tế của chủ nghĩa xã hội không tưởng  
Bước 2: Đại diện nhóm lên trình bày, báo cáo những lập thế kỉ XIX, kinh tế chính trị học Mác - Lê nin, kinh tế tư sản  
luận của nhóm…  
hiện đại. Qua sơ đồ, SV nắm bắt được bức tranh tổng quát  
của môn học. Giảng viên có thể trình bày bằng phấn màu  
hoặc chuẩn bị trước ở nhà trên giấy A0. Đây cũng là cách  
để hướng dẫn SV làm quen với cách dạy và cách học mới,  
giúp các em chủ động, tích cực, sáng tạo hơn khi được giao  
nhiệm vụ thiết kế sơ đồ tư duy từ chủ đề bài học. Sau khi  
SV đã quen với kĩ thuật sơ đồ tư duy, giảng viên có thể chia  
nhóm và yêu cầu SV trình bày các nội dung kiến thức khi  
ôn tập một chủ đề, một nội dung bài học như: Hãy tóm tắt  
những lí luận kinh tế của David Ricardo? Tóm tắt lí thuyết  
Keynes về sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế? Ưu điểm  
của sơ đồ tư duy.  
- Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu.  
- Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên  
rõ ràng.  
- Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại.  
- SV được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng.  
Bước 3: Tiến hành thảo luận chung sau khi hai nhóm đã  
đưa ra luận điểm riêng. Giảng viên đánh giá, tổng kết, chính  
xác hóa nội dung nhận thức.  
2.2.5. Sơ đồ tư duy  
Sơ đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ tư duy hay mind  
map do Tony Buzan đề xuất ) là “một sơ đồ nhằm trình bày  
một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết  
quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề. Sơ đồ tư  
duy có thể được viết trên giấy, trên bản trong, trên bảng hay  
thực hiện trên máy tính” [3, tr.113]. Đây là kĩ thuật dễ áp  
dụng trong quá trình dạy học, phù hợp với điều kiện khác  
nhau ở các lớp học.  
Sơ đồ tư duy là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa  
từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích  
với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não nhằm giúp  
người học tiếp cận kiến thức một cách sáng tạo, hiệu quả  
và hình thành tư duy mạch lạc, ghi nhớ kiến thức bền vững  
hơn. Khác với văn bản viết trình bày nội dung theo cách  
tuần tự, sơ đồ tư duy còn giúp người học phát triển khả năng  
thẩm mĩ. Do việc thiết kế sơ đồ tư duy phải bố cục màu sắc,  
đường nét, các nhánh ý tưởng đảm bảo tính khoa học, xúc  
tích, hợp lí và dễ tiếp thu. Vì vậy, sơ đồ tư duy làm cho bài  
học cũng như cách trình bày bài học ngẫu hứng, sáng tạo và  
lí thú hơn đối với cả giảng viên và SV.  
2.2.6. Kĩ thuật “Viết tích cực”  
Trong quá trình thuyết trình, giảng viên đặt câu hỏi và  
dành thời gian cho SV tự do viết câu trả lời. Giảng viên  
cũng có thể yêu cầu SV liệt kê ngắn gọn những gì các em  
biết về chủ đề đang học trong khoảng thời gian nhất định.  
Giảng viên yêu cầu một vài SV chia sẻ nội dung mà các  
em đã viết trước lớp. Kĩ thuật này cũng có thể sử dụng sau  
tiết học để tóm tắt nội dung đã học, để phản hồi cho giảng  
viên về việc nắm kiến thức của HS và những chỗ các em  
còn hiểu sai.  
Cách thực hiện  
- Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản  
ánh chủ đề.  
Ví dụ: Sau khi học xong chương III: Kinh tế chính trị học  
tư sản cổ điển, giảng viên có thể yêu cầu SV viết tóm tắt  
những điều các em đã hiểu về nội dung bài học và những  
điều em chưa hiểu. Nếu SV mạnh dạn, tự tin thì giảng viên  
có thể gọi một vài em lên chia sẻ nội dung mình đã viết với  
lớp học. Nếu SV còn nhút nhát, ngại ngùng thì giảng viên  
yêu cầu các em chuyển những điều đã viết của mình cho  
người bên cạnh và giảng viên gọi ngẫu nhiên một vài SV  
lên chia sẻ ý kiến của bạn trong lớp. Qua đó, giúp các em  
khắc sâu kiến thức và chú tâm hơn với các nội dung kiến  
thức đã học.  
- Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính. Trên mỗi  
nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung  
lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA. Nhánh và chữ  
viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu. Nhánh chính đó  
được nối với chủ đề trung tâm. Chỉ sử dụng các thuật ngữ  
quan trọng để viết trên các nhánh.  
- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp  
những nội dung thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh  
phụ được viết bằng chữ in thường.  
- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.  
Ứng dụng của sơ đồ tư duy  
Sơ đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống  
khác nhau như: Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề; Trình  
2.2.7. Kĩ thuật ”Đọc hợp tác” (còn gọi là đọc tích cực)  
Kĩ thuật này nhằm giúp SV tăng cường khả năng tự học  
bày tổng quan một chủ đề; Chuẩn bị ý tưởng cho một báo và giúp giảng viên tiết kiệm thời gian đối với những bài  
cáo hay một buổi nói chuyện, bài giảng; Thu thập, sắp xếp học/phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối  
các ý tưởng; Ghi chép khi nghe giảng bài.  
với SV. Cách tiến hành như sau:  
Ví dụ: Khi dạy bài “Đối tượng và phương pháp của môn  
- Giảng viên nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng HS đọc bài/  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
46  
Nguyễn Thị Linh Huyền  
phần đọc.  
Như vậy, các KTDHTC rất đa dạng và phong phú, giảng  
Ví dụ: Khi cho SV đọc về “Học thuyết kinh tế của Adam viên nên lựa chọn kĩ thuật dạy học nào phù hợp với từng  
Smith”, giảng viên nêu câu hỏi: chủ đề kiến thức và lượng tri thức cần trang bị cho SV. Do  
Phương pháp nghiên cứu của Adam Smith là khoa học đó, đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo của giảng viên trong quá  
và tầm thường được thể hiện như thế nào trong hệ thống lí trình dạy học để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu dạy học và  
luận kinh tế của ông? Em hãy so sánh lí luận về tiền lương nâng cao chất lượng học tập của SV.  
của Adam Smith với lí luận tiền lương của William Petty?  
Hoặc khi yêu cầu SV đọc chương V “Học thuyết kinh tế  
của chủ nghĩa xã hội không tưởng thế kỉ XIX”, giảng viên  
3. Kết luận  
Việc triển khai vận dụng các KTDHTC cho SV chuyên  
có thể đặt câu hỏi:Tính chất không tưởng được thể hiện ngành GDCT ở Trường Đại học Tây Bắc là hoàn toàn cần  
như thể nào trong học thuyết kinh tế này? Tại sao nói: Chủ thiết, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Mặc dù sử  
nghĩa cộng sản của Robert Owen mang tính chất hướng về dụng các KTDHTC rất có hiệu quả nhưng giảng viên cũng  
thực tiễn?  
- SV làm việc cá nhân:  
không nên lạm dụng một kĩ thuật nào đó trong những bài  
giảng và khâu chuẩn bị của giảng viên từ nội dung đến thiết  
+ Đoán trước khi đọc: Để làm việc này, SV cần đọc lướt bị giảng dạy phải rất chu đáo. Giảng viên đứng lớp cần biết  
qua bài đọc/phần đọc để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa kết hợp nhiều yếu tố như có kiến thức rộng, có tâm huyết  
đề, từ/cụm từ quan trọng.  
với sự nghiệp giáo dục, sử dụng nhuần nhuyễn các PPDH  
+ Đọc và đoán nội dung : SV đọc bài/phần đọc và biết và có thái độ nhiệt tình, luôn quan tâm đến người học. Nếu  
liên tưởng tới những gì mình đã biết và đoán nội dung khi người dạy thực sự quan tâm đầu tư chuẩn bị, thực hiện theo  
đọc những từ hay khái niệm mà các em phải tìm ra.  
một quy trình chặt chẽ, có sự kết hợp một cách linh hoạt và  
+ Tìm ý chính: SV tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua hợp lí các phương pháp, kĩ thuật dạy học khác nhau trong  
việc tập trung vào các ý quan trọng theo cách hiểu của mình. từng đơn vị kiến thức của bài học sẽ tạo ra hứng thú, phát  
+ Tóm tắt ý chính.  
huy được tính tích cực của người học. Bên cạnh những yếu  
- SV chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và tố vừa nêu về phía nhà quản lí giáo dục nên quan tâm đến  
giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau số lượng SV trên một lớp, thời lượng kiến thức cho một học  
ý chính của bài/phần đọc đọc.  
- SV nêu câu hỏi để giảng viên giải đáp (nếu có).  
phần, cách đánh giá, thi cử cho phù hợp thì việc đổi mới  
phương pháp, kĩ thuật dạy học sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Vũ Hồng Tiến, (1996), Những vấn đề cơ bản của Lịch sử  
các học thuyết kinh tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[2] Chu Văn Cấp, (1997), Lịch sử các học thuyết kinh tế,  
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội  
[3] Vũ Đình Bảy (chủ biên) - Đặng Xuân Điều - Nguyễn  
Thành Minh - Vũ Văn Thục, (2012), Lí luận dạy học  
môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông, NXB Đại  
học Quốc gia Hà Nội.  
học Sư phạm, Hà Nội.  
[5] Hà Thế Ngữ, (2001), Giáo dục học - Một số vấn đề lí luận  
và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[6] Trần Thị Mai Phương, (2009), Dạy học Kinh tế chính trị  
theo phương pháp tích cực, NXB Đại học Sư phạm, Hà  
Nội.  
[7] Vũ Ngọc Am, (2004), Một số vấn đề về phương pháp  
giáo dục lí luận chính trị, NXB Chính trị Quốc gia, Hà  
Nội.  
[4] Đinh Văn Đức (chủ biên) - Dương Thị Thúy Nga, (2011),  
Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân, NXB Đại  
SOME BASIC TECHNIQUES IN TEACHING HISTORY OF ECONOMIC  
THEORY FOR STUDENTS MAJORED IN POLITICAL EDUCATION  
AT TAY BAC UNIVERSITY  
ABSTRACT: In teaching today, many students are still in a passive learning  
Nguyen Thi Linh Huyen  
environment, they lack of self-study habits. A number of lectures teach by  
Tay Bac University  
traditional methods which is one-way communication with no reciprocity  
Quyet Tam ward, Son La city,  
between teachers and students, as well as amongst students.Therefore,  
it is necessary to apply some positive teaching techniques to improve the  
effectiveness of teaching history of economic theory for students majored in  
Political Education at Tay Bac University, which contributes to improving the  
quality of training.  
Son La province, Vietnam  
Email: linhhuyent[email protected]  
KEYWORDS: Teaching techniques; positive teaching techniques; students; lecturers;  
Political Education.  
Số 26 tháng 02/2020  
47  
pdf 6 trang Thùy Anh 23440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số kĩ thuật cơ bản trong dạy học môn Lịch sử các học thuyết kinh tế cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị ở Trường Đại học Tây Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_ki_thuat_co_ban_trong_day_hoc_mon_lich_su_cac_hoc_thu.pdf