Nghệ thuật phật giáo Ấn Độ thời kỳ Maurya – Shunga – Andhra (thế kỷ IV TCN – thế kỷ III SCN)
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ THỜI KỲ
MAURYA – SHUNGA – ANDHRA (THẾ KỶ IV TCN – THẾ KỶ III SCN)
Lê Trương Ánh Ngọc1
1Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 27/10/2019
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
03/06/2020
Ngày chấp nhận đăng:
03/2021
ABSTRACT
Buddhism was appeared in the 6th century in India, this area belongs
toNepal now. Buddhist teachings focus on equality as well as enlightenment,
and simple rituals which are not as expensive as Balamon rituals which
attracted many people. Buddhism developed prosperously from Ashoka
period (Maurya period from 321 to 232 BC) to Kanishka period (Kushan
from 80 BC to 250 AD). After Gupta period (including Harsha from 320 to
657 AD), because of Hinduism’s development (its combine Balamom
thoughts and folk beliefs) and then Islam’s penetration, therefore Buddhism
didn’t maintain its role and function in politics and religion in India.
However, Buddhist thoughts had a big influence in North Asia, South Asia
and many other places in the world One of the most important elements in
understanding and restoring the full vivid picture of Indian Buddhist history
is studying Indian Buddhist art., particular in three periods Maurya –
Shunga and Andhra, considered the typical prototype works art of ancient
Buddhist art.
Title:
The art India Buddhist in
Maurya, Shunga and Andhra
period from 4th BC to 3th
Keywords:
Buddhist art, India, the
Maurya period, the Shunga
period, the Andhra period
Từ khóa:
Nghệ thuật Phật giáo, Ấn Độ,
thời kỳ Maurya, thời kỳ
Shunga, thời kỳ Andhra
TÓM TẮT
Phật giáo ra đời vào thế kỷ VI TCN ở Ấn Độ trên vùng đất thuộc Nepal ngày
nay. Giáo lý Phật giáo đề cao sự bình đẳng, hướng đến sự giác ngộ và lễ
nghi đơn giản không tốn kém như Balamon nên đã thu hút rất nhiều người.
Phật giáo phát triển cực thịnh dưới thời vua Ashoka (thời kỳ Maurya từ 321
đến 232 TCN) cho đến thời vua Kanishka (thời kỳ Kushan từ 80 TCN đến
250 CN). Sau thời kỳ Gupta (kể luôn Harsha từ năm 320 đến 657 SCN),
trước sự phát triển của Hindu giáo (là sự pha trộn giữa tư tưởng Balamon
với tín ngưỡng dân gian) và sau đó là sự xâm nhập của Hồi giáo, Phật giáo
đã thật sự mất đi vai trò và ảnh hưởng của nó trong nền chính trị và tôn giáo
ở Ấn Độ. Tuy nhiên, tư tưởng Phật giáo đã nhanh chóng lan ra các nước Bắc
Á – Nam Á và nhiều nơi trên thế giới. Một trong những yếu tố quan trọng
nhất giúp chúng ta có thể tìm hiểu và khôi phục lại toàn bộ bức tranh sinh
động của lịch sử Phật giáo Ấn Độ, đó là việc tìm hiểu nền nghệ thuật Phật
giáo Ấn Độ, đặc biệt trong ba thời kỳ Maurya – Shunga và Andhra, được
xem là những tác phẩm nguyên mẫu điển hình của nền nghệ thuật Phật giáo
Ấn Độ cổ điển.
1
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
(272 – 232 TCN). Năm 260 TCN, ông tiến đánh
Kalinga và toàn bộ bán đảo thuộc quyền cai quản
của vương triều Maurya. Về ngoại giao, nhà vua
cử sứ thần đến các nước Syria, Ai Cập,
Macedonia, Iran. Trong thời gian trị vị của
Ashoka, ông đã thực hiện một chính sách hỗ trợ
Phật giáo; do vậy Phật giáo phát triển rất mạnh và
trở thành quốc giáo vào thế kỷ III TCN. Năm 250
TCN, đại hội Phật giáo lần thứ ba họp ở
Pataliputra (kinh đô vương quốc) nhằm ngăn chặn
sự phân chia giáo phái trong nội bộ Phật giáo.
Trong thời kỳ này, nhiều phái bộ được cử đi các
nơi để truyền bá Phật giáo ở Sri Lanka, Miến
Điện, Thái Lan, Mã Lai và Indonesia. Nhiều nơi
trong nước, nhà vua cho xây cột kỉ niệm – gọi là
cột Ashoka – mô phỏng cột Persepolis, để ghi nhớ
hoạt động của mình, khắc chữ Brahmi, hoặc chữ
Kharosthi và đôi khi bằng chữ Aramaic (Lương
Ninh – Đinh Ngọc Bảo, Đặng Quang Minh,
Nguyễn Gia Phu & Nghiêm Đình Vỳ, 2003, tr. 99
– 101).
Nền nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ khi được đề cập
đến trong ba thời kỳ Maurya – Shunga và Andhra,
đó là sự phong phú và đa dạng trong loại hình
nghệ thuật cũng như các chủ đề được thể hiện.
Theo Robert E. Fisher trong Nghệ thuật và kiến
trúc Phật giáo (tr.21) cho biết: chủ đề truyền
thống trong nền nghệ thuật Phật giáo cổ xưa là đề
cao cây cối, nhất là cây bồ đề - hoa sen; ngoài ra
hình ảnh ngai vàng để trống hay bánh xe pháp
luân cũng là một chủ đề quen thuộc. Bên cạnh đó,
những hình ảnh mãng xà vương - voi - sư tử đã
trở nên nổi bật rất sớm. Trong nghệ thuật điêu
khắc Phật giáo nguyên sơ, các Yaksha – nam dạ
xoa và Yakshi – nữ dạ xoa, được xem là những
chúng sinh nổi tiếng với những hình ảnh quen
thuộc và hấp dẫn được chạm khắc trên những
tường rào xung quanh bảo tháp. Các chủ đề vừa
nêu đã được thể hiện sinh động trong các tác
phẩm nghệ thuật Phật giáo với những hình tượng
hết sức lý tưởng và cao cả để hỗ trợ tín đồ với sự
hiểu biết về một đức tin. Có thể nói, nghệ thuật
Phật giáo giai đoạn này đã thành công trong việc
nhắc nhở - củng cố những chân lý bất diệt của
Phật giáo, cùng với sự phát triển và phong cách
của nó đã duy trì toàn bộ lịch sử Phật giáo.
2.1 Cột đá Ashoka
Những sáng tác nghệ thuật Phật giáo xa xưa nhất
còn tồn tại trong thời kỳ Maurya chủ yếu là những
tác phẩm được thực hiện dưới sự trị vì của hoàng
đế Ashoka. Ashoka là một vị vua cải đạo và chấp
nhận điều luật về lòng mộ đạo của Phật giáo như
là luật của Vương quốc. Để ghi nhớ về sự cải đạo
của mình và để mở rộng giáo lý Phật giáo,
Ashoka đã ra lệnh dựng lên nhiều cột đá tưởng
niệm ở những nơi liên quan đến các sự kiện quan
trọng trong cuộc đời của Đức Phật.
2. NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ
THỜI KỲ MAURYA TỪ 321 ĐẾN 232
TCN
Sau khi vương triều Nanda suy sụp, một vương
triều mới thay thế ở Magadha là Maurya do
Chandragupta lãnh đạo (321 – 297 TCN). Ông đã
dựa vào sự giúp đỡ của Kautalya – một tăng lữ
Balamon trong việc tổ chức cai trị quốc gia, mặt
khác tiến hành chinh chiến mở rộng quyền lực.
Ông đã thu tóm toàn bộ thung lũng sông Indus,
chiếm một phần rộng lớn ở phía Đông Iran, nay là
Afghanistan vào năm 303 TCN. Kế vị ông là
Bindusara đã gần như hoàn thành việc chinh phục
toàn bộ bán đảo Hindustan, ngoại trừ một phần
mỏm cực Nam và Kalinga ở vùng Đông Bắc –
nay là Orissa. Ashoka là con kế ngôi Bindusara,
đã đưa vương triều Maurya phát triển cực thịnh
Đó là những cột đá nguyên khối mang phong cách
mượt mà quý phái, có một ít ảnh hưởng đến nền
mỹ thuật Ấn Độ sau này và kể cả vùng Persia (Ba
Tư). Cột được làm từ đá sa thạch màu kem xinh
đẹp và tầm cỡ đáng kể, trên thân cột được chạm
khắc các sắc lệnh của vua Ashoka, gần chân cột là
chiếc vương miện hình một hay nhiều con thú trên
một đầu cột hình chuông khiến người ta nhớ đến
những chiếc cột đá của đế chế Achaemeid (690
TCN – 328 TCN), hay Đế quốc Ba Tư thứ nhất, là
triều đại đầu tiên của người Ba Tư được biết đến
2
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
trong lịch sử với cái tên là Nhà Achaemenid) ở
Persia (Chiêm Tế, 1977, tr.146 – 152).
này người ta cho thấy bộ phận sinh dục khắc
chạm nổi. Nhưng chính phong cách thú vật này
không mang những đặc điểm của tác phẩm ở khu
vực Cận Đông cổ; hơn thế, nó biểu lộ tính cách
đơn giản và nhẹ nhàng, về sau nó đã trở thành một
xu hướng có sức ảnh hưởng trong nền nghệ thuật
Ấn Độ nói chung và trong điêu khắc thú vật nói
riêng [Phụ lục hình 1] (Sherman E. Lee, 2007,
tr.94).
Những đầu cột được chạm trổ tinh vi bởi một tiến
trình đòi hỏi những kỹ năng khéo léo tinh xảo, và
được biết đến với tên gọi “phong cách Maurya tao
nhã”. Kỹ thuật hoàn hảo nhất của những chiếc cột
tuyệt đẹp này là chiếc cột được khai quật ở
Sarnarth hiện nay được lưu giữ trong bảo tàng ở
nơi đó. Đầu cột Sarnarth nằm phía trên là một trụ
ngạch với bốn con thú và bốn bánh xe khắc chạm
nối tiếp nhau, trên đó là bốn con sư tử đang đứng
đâu lưng vào nhau. Sự thể hiện trên trụ ngạch lại
càng đặc biệt hơn. Ngựa là con vật điển hình của
phong cách khắc chạm nổi, có tính tự nhiên gần
gũi. Mặc dù với phong cách thuần túy ở cái bờm
của nó, nhưng sự xử lý ở thân hình cho thấy có rất
ít chủ đích trang trí hơn so với cách xử lý các con
sư tử ở trên. Bốn con thú ở đây được kết hợp với
bốn hướng, có thể xem là vật tượng trưng cho các
vị thần Hindu giáo lúc bấy giờ. Ngựa là con vật
cưỡi của thần Surya, bò được xem là một vị thần
trong Hindu giáo được khắc họa phía trên bên
phải của trụ ngạch, được kết hợp với thần Shiva,
voi là bánh xe của vua trời Đế Thích – Indra, sư tử
của thần Durga [Phụ lục hình 1](C. Scott
Littleton, 2003, tr. 65- 66).
2.2 Dạ xoa nam – Yakshas và Dạ xoa nữ -
Yakshis
Dạ xoa nam – Yakshas hoặc Dạ xoa nữ - Yakshis,
là những tác phẩm được chế tác dưới sự bảo trợ
của hoàng gia theo phong cách trang trọng với
những yếu tố ảnh hưởng từ Persia. Chúng dường
như là những sự tượng trưng của các vị thần thiên
nhiên [Phụ lục hình 1].
Những hình tượng này được đặt ở những địa điểm
thánh tích của Phật giáo và có liên hệ với nghi lễ
Phật giáo hay không hiện nay không thể xác định
được. Hai tượng Yaksha Parkham ở bảo tàng
Mathura và Yakshi Besnagar ở bảo tàng Calcutta
là những tượng tiêu biểu. Đây là những phong
cách kiến trúc đồ sộ, hài hòa cân xứng, với một ý
tưởng kỳ lạ, nó được tạo ra từ một tảng đá lớn,
nguyên khối. Nam dạ xoa Parkham và nữ dạ xoa
Besnagar có thể được người ta cải biến từ truyền
thống điêu khắc gỗ chạm trổ trên những thân cây
to lớn sang những tảng đá đồ sộ. Sự thả lỏng đầu
gối bên trái của Yaksha khiến cho chúng ta ao ước
có một tác phẩm nào đó trước thời kỳ này để so
sánh, do bởi khủy chân cong một cách tự nhiên
gợi nhớ lại sự thả lỏng đầu gối được nhìn thấy ở
phong cách điêu khắc Hy Lạp vào giai đoạn cuối
thời kỳ cổ đại. Đó là một động tác ướm thử đầu
tiên hướng đến một phong cách xử lý linh động và
mộc mạc về những hình nhân. Phần bụng của
Yaksha là một nét quen thuộc về sự mô tả Yaksha
bằng hình tượng, đặc biệt ở Kubera, một vị thần
giàu sang và là người đứng đầu của tất cả loài
Yaksha. Niên đại của dạ xoa Parkham vẫn còn là
một chủ đề gây bàn luận. Có một khuynh hướng
hiện nay của một số học giả cho rằng, nó ra đời
Ngoài ra, đối với những đầu cột có hình chuông
quen thuộc, cột đá ở vùng Rampurva có trụ ngạch
mang hình bông hoa cây cỏ, những motif này trở
nên cực kỳ quan trọng trong nền mỹ thuật Phật
giáo sau này. Nằm trên trụ ngạch là một con bò
thần, thân hình được chạm trổ rõ ràng, những cặp
chân lồi ra khỏi tảng đá với ngụ ý những đôi chân
đứng rời ra không thể chống đỡ nổi sức nặng của
thân bò. Việc xử lý này thật sự rất kỳ lạ, gợi cho
người ta nhớ đến lối diễn tả về con bò thần của
Hittite (Người Hittite là người Anatolian cổ đại đã
thành lập một đế chế tập trung vào Hattusa ở
Anatolia Bắc Trung Đông khoảng năm 1600
TCN. Đế chế này đạt đến đỉnh cao vào giữa thế
kỷ XIV TCN, bao trùm một khu vực rộng lớn
gồm hầu hết Anatolia cũng như các phần của
vùng phía Bắc Levant và Mesopotamia) và Persia,
xử lý khu vực dưới cái bụng là một khối đá, ở chỗ
3
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
một niên đại sau hơn niên đại đã được công nhận
trước đó trong thời kỳ Maurya. Theo ý kiến của
Walter Spink, đó là một tác phẩm của thời kỳ
Shunga. Ông đưa ra những chi tiết như chuỗi hạt
nặng nề mang nét đặc trưng của những hình dạng
thời kỳ Shunga (Sherman E Lee, 2007, tr. 95 –
96).
chế Maurya. Dựa vào những ghi chép trong bản
kinh Dhanadeva Ayodhya và Divyavadana, đề cập
nhà vua đã phái một đội quân để khủng bố các
nhà sư Phật giáo đến tận Sakala (nay là Sialkot) ở
vùng Punjab. Triều đại Shunga nối tiếp theo triều
đại Maurya, một dòng tộc thống trị vùng Trung
Bắc Ấn từ năm 176 đến 64 TCN, đây là sự khởi
đầu cho sự phát triển nghệ thuật điêu khắc và kiến
trúc Phật giáo tinh vi mang phong cách miền Bắc
Ấn.
Về hình tượng Yakshi Besnagar với tầm vóc một
bức tượng đồ sộ, sự phát triển to lớn của bộ ngực,
cái eo tương đối nhỏ, cái hông rộng cho thấy một
trong những khuôn mẫu thể hiện cơ bản đặc trưng
của nghệ thuật Ấn Độ. Hình dáng của cơ thể gợi
cho ta thấy chức năng của nó về sự truyền lại nòi
giống, truyền sức sống cho sự sống và yêu thương
(tín ngưỡng phồn thực phổ biến trong văn hóa Ấn
Độ). Về niên đại của pho tượng này cũng gây
tranh cãi lớn. Bức tượng có những chi tiết như cái
khăn choàng đầu, chuỗi hạt đeo cổ, sự xử lý cái
thắt lưng và chiếc váy – đây là những đặc điểm
của các tác phẩm về Yakshi thuộc thế kỷ I ở
Sanchi.
3.1 Điện thờ Chaitya Bhaja ở Maharashtra (TK
I TCN)
ChaityaBhaja – điện thờ Bhaja, là đài tưởng niệm
của Phật giáo nhưng phong cách kiến trúc trình
bày các vị thần tín ngưỡng của trước thời kỳ Ấn
giáo. Chúng ta có thể nhìn thấy một sơ đồ tổng
quát của gian giữa cả một điện thờ là lý do tại sao
đầu thế kỷ IX nó được gọi là nhà thờ lớn của Phật
giáo. Có một gian giữa là chánh điện, hai gian
bên, một hành lang trong tu viện ở phía sau, và
một trần nhà cao hình vòm. Mặc dù hình thức
thiết kế này có thể nhìn bằng mắt, nhưng với chất
liệu và chức năng thì nó khiến ta bị lạc hướng.
Đây là một công trình kiến trúc được xây dựng từ
đá. Trọng tâm của công trình là một đài tưởng
niệm, tháp bảo, cấu trúc này giống mộ tháp hình
bán cầu điển hình của người Ấn Độ. [Phụ lục hình
2]
Có lẽ trong thời kỳ Maurya có ba phong cách
thăng hoa: một phong cách trang trọng của cung
đình; một phong cách theo khuynh hướng thờ
cúng rừng núi bản địa, hơi cứng nhắc và cổ xưa,
với hình ảnh các vị thần cây cỏ, các vị thần sông
suối, hoặc những thần làng; và một phong cách
điêu khắc nổi bật và tinh xảo, mà phần lớn chúng
ta không còn trông thấy nữa ngoại trừ một số đồ
đất nung.
Bảo tháp dùng để tưởng niệm lần nhập Đại Niết
bàn của đức Phật. Đó là biểu tượng của Đức Phật
và giáo lý của Người, và đây là phần trọng tâm
của chánh điện còn tồn tại. Mặt tiền của chánh
điện Bhaja cũng được chạm trổ với những hình
ảnh kiến trúc bắt chước gỗ, nhìn như thể là chánh
điện được bao quanh bởi một thành phố trời của
những thủy đình hình vòm, những hàng rào chấn
song dài, và những cửa sổ có lưới sắt. Người ta có
thể hiểu được ý nghĩa ở một bên của cái đầu, đôi
bông tai, đôi vú, eo, hông của một nữ dạ xoa
Yakshi to lớn. Có hai Yakshi như thế ở Chaitya
Bhaja, những khuôn mẫu của việc sử dụng lần đầu
tiên các vị thần sinh sản để tôn vinh Đức Phật.
Những khuôn mẫu này nhanh chóng được hấp thu
3. NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ
THỜI KỲ SHUNGA TỪ 176 ĐẾN 64 TCN
Sau khi vua Ashoka qua đời vào năm 232 TCN,
triều Maurya bị suy sụp hẳn và đế quốc rộng lớn
đã phân chia thành những tiểu quốc tự trị. Con
cháu của Ashoka còn cai trị ở vùng Magadha cho
đến năm 176 TCN thì bị vương triều Shunga (176
– 64 TCN), rồi vương triều Kalva (64 – 19 TCN)
thay thế. Những ông vua của các vương triều này
theo đạo Balamon nên đạo Balamon lại được khôi
phục, còn Phật giáo thì bị lu mờ. Pushyamitra
Shunga (185 – 149 TCN) là người sáng lập vương
triều Shunga, ông vốn là một tướng lĩnh của đế
4
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
vào nền nghệ thuật Phật giáo hiện hành, và chúng
ta nhận ra những công trình điêu khắc đầy khiêu
gợi trong những đền tưởng niệm của Phật giáo lẫn
đạo Jaina.
(hay còn gọi là Vandanamalikas, là một cổng
trang trí hoặc một vòm độc lập cho các mục đích
nghi lễ được thấy trong các kiến trúc Hindu – Phật
giáo và Jaina) và những mảnh vỡ khác. Bharhut là
một mẫu điển hình tốt đẹp của công trình kiến
trúc bằng đá bắt chước gỗ. Lợi thế của đá là tính
bền vững hơn gỗ. Bảo tháp Bharhut là khuôn mẫu
cổ điển đầu tiên về cách sử dụng các biểu tượng
hình người và động vật, nó được gọi như vậy do
bởi sự trình bày các tượng, những biểu tượng, về
một ý nghĩa nào đó, gợi lên sự hiện diện của Đức
Phật. Bharhut cũng chính là ví dụ điển hình sự
hợp nhất các vị thần sinh sản nam và nữ (Sherman
E Lee, 2007, tr. 101).
Tại Bhaja có rất nhiều những Vihara – tịnh thất
hay tịnh xá được tạc đẽo vào trong vách nằm ở
bên sườn của chánh điện hướng về phía Đông.
Đặc biệt có cốc số mười chín, cổng vòm được
khắc chạm chìm những hình ảnh hết sức thú vị
nhưng chủ đề lấy từ Balamon. Đó là hình ảnh các
thần Veda như Surya – thần mặt trời đang di
chuyển trên chiếc xe ngựa, hay vua trời Đế thích -
người mang đến những cơn bão, sấm, sét và mưa,
cỡi trên chiếc xe bằng những con thú của Ngài,
một con voi nhổ bật những gốc cây và chà đạp
mặt đất. Phía bên dưới là những người đang cúng
bái ở những cây thiêng, trong khi ở gần đó và phía
cao hơn, những người khác đang chạy trốn hỗn
loạn trong cơn bão. Phía bên trái, một buổi trình
diễn ca múa nhạc đang diễn ra trước mắt một nhà
vua, phong cách khắc nổi với vị thần cỡi voi và
một người hầu cận ngồi phía sau, cầm những biểu
tượng của Ngài mang đậm nét thời cổ xưa, đặc
biệt tư thế cứng đờ và tư thế phía trước của vị
thần. Ngay khi đó, người hầu cận, con voi, và
hình ảnh những nhân vật thể hiện một phong cách
phóng túng và sống động, nhấn mạnh tính cách
đường cong, với một hình thức hòa nhập nhẹ
nhàng vào một cái khác, hơi giống đồ đất nung
thời kỳ Maurya. Điều đáng chú ý nhất là không có
những hình ảnh về Đức Phật hoặc bất cứ biểu
tượng nào về Đức Phật, ngoại trừ bảo tháp
(Sherman E Lee, 2007, tr. 99 – 100).
Hình dáng của bảo tháp rất đơn giản, một ngôi mộ
gò chung quanh có hàng rào chấn song rất cao.
Hàng chấn song được phân ra hàng dọc và ngang,
và ở giữa mỗi mối nối của chấn song được phân
ra hàng dọc và ngang có một bánh xe hình hoa sen
hoặc một huy chương chạm nổi trình bày những
tượng bán thân. Đầu tường ở phía trên có motif
hoa sen, trong lúc đó những chiếc cột của cổng ra
vào lặp lại motif cột đầu chuông Maurya, với
những con sư tử chống đỡ đầu cột của cổng ra vào
và hàng rào chấn song của bảo tháp, nằm phía trên
nó là biểu tượng bánh xe pháp của Đức Phật. Một
chi tiết nữa của phong cách điêu khắc trên bảo
tháp cho thấy những nét đặc trưng mà chúng ta có
thể kết hợp với nghệ thuật chạm khắc trên gỗ. Đó
là sự trình bày giấc mơ của hoàng hậu Maya – mẹ
của Đức Phật, nằm mơ thấy một con voi trắng,
báo hiệu sự xuất hiện của Đức Phật trong cuộc đời
bà. Cảnh tượng với phối cảnh nghiêng và người
hầu đang ngồi được thể hiện trong vẻ cứng nhắc
và đơn giản hóa không giống như đá khắc chạm
mà giống gỗ khắc chạm. Những hình ảnh khác
trình bày về tiền thân của Đức Phật, và những
cảnh về các biểu tượng nước – cỏ cây, như là
Makara. Đây là một linh vật hư cấu có nền tảng
Hindu phổ biến trong văn hóa Ấn Độ và lan tỏa
hầu khắp các nền văn minh Ấn Độ hóa ở châu Á.
Makara được tạo bởi nhiều bộ phận của những
con vật có thực khác nhau như voi, cá sấu, hươu,
3.2 Bảo tháp Bharhut – Madhya Pradesh
Đài tưởng niệm thứ hai của thời kỳ này là bảo
tháp ở Bharhut, Madhya Pradesh, ngày nay đã bị
tàn phá rất nhiều, được xây dựng vào cuối thế kỷ
II hoặc đầu thế kỷ I TCN. Những công trình điêu
khắc ở Bharhut được phát hiện trong những cánh
đồng và ngày nay được lưu giữ ở bảo tàng
Calcutta và bảo tàng Allahabad. Tất cả di tích còn
lại của bảo tháp là một phần hàng rào chấn song
tuyệt vời, một trong những chiếc cổng Torana
5
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
cá, chim,.. là vật cưỡi của thần biển Varuna và nữ
thần sông Ganga (C. Scott Littleton, 2003, tr.52).
Minh, Nguyễn Gia Phu & Nghiêm Đình Vỹ,
2003, tr. 108 – 109).
Một motif đặc trưng của Bharhut là huy chương
hình hoa sen bao quanh bức tượng bán thân nam
khắc chạm nổi. Ở góc cột của mỗi Torana tại
Bharhut là những hình ảnh khắc chạm nổi các vị
thần linh nam và nữ, nam dạ xoa và nữ dạ xoa.
Một số các Yakshi được hợp nhất thành motif
người phụ nữ và cây cối Shalabhanjika – người
đàn bà cây. Shalabhanjika Chulakoka Devata một
tay cầm một nhánh cây xoài trổ bông, một cánh
tay và chân khác ôm chặt thân cây xoài. Chủ đề
minh họa một niềm tin quen thuộc của người Ấn
cho rằng, bàn chân của một phụ nữ xinh đẹp khi
chạm vào thân cây sẽ khiến cho nó trổ bông, và
nghi lễ này vẫn còn được tin tưởng ở vùng Nam
Ấn Độ. Những Yakshi của vùng Bharhut, đặc biệt
với đôi mắt mở to và tự tin, dáng điệu của chúng
thoải mái không chút che giấu, là hình tượng đầu
tiên của một loạt những nhân vật nữ được thể hiện
đẹp nhất trong phong cách điêu khắc của Ấn Độ
trong nghệ thuật Phật giáo thời kỳ này.
Triều đại Satavahana (220 TCN – 236 SCN),
thống trị toàn bộ khu vực Andhra thuộc Trung và
Nam Ấn Độ, vì thế nền nghệ thuật và cả những
đài tưởng niệm đều có phong cách khác nhau.
4.1 Stupa Sanchi – bảo tháp lớn tưởng niệm
Phật của nhiều thế hệ người Ấn
Công trình ở vùng Trung Ấn thời kỳ Andhra là
Sanchi ở Madhya Pradesh, được xem là những
công trình điêu khắc khá quan trọng của thế kỷ I
TCN đến TK I SCN và là địa điểm điển hình cho
đầu thời kỳ Andhra.
Theo truyền thuyết trước khi Đức Phật nhập
Nirvana, Tôn giả Ananda đã hỏi làm như thế nào
để giữ thánh tích; khi đó Đức Phật không trả lời
mà chỉ lấy áo cà sa gấp lại trải trên đất rồi lấy bát
khuất thực úp lên áo và đặt cây gậy chống lên
trên. Dựa vào câu chuyện thú vị này, người đời
lúc bấy giờ đã xây bảo tháp – nơi thờ thánh tích
của Phật trong vũ trụ, đặt trên một nền cao, trên
đỉnh có đài hình vuông. Loại hình kiến trúc này
được gọi là Stupa, một hình thức mộ táng nhưng
đồng thời cũng là tháp, tiếng Ấn là Dhatu, tức là
nơi đặt thánh tích, di tích hay xá lị Phật.
4. NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ
THỜI KỲ ANDHRA
- TRIỀU ĐẠI
SATAVAHANAS TỪ 220 TCN – 236 SCN
Khoảng tiếp giáp Công nguyên, miền Trung Ấn
và Nam Ấn có sự phát triển chậm hơn và đang
trong giai đoạn cuối thời kỳ tiền sử. Các bộ lạc ở
phía Đông cao nguyên Dekkan, trên lưu vực sông
Godava đã tập hợp lại lập nên nhà nước, Satakarni
là vị vua đầu tiên sáng lập vương triều
Satavahanas. Sau thời gian mở rộng thế lực,
Satakarni đã thôn tính Kalinga ở phía Bắc, kiểm
soát một vùng rộng lớn từ sông Narmada đến tận
Sanchi, thu phục các bộ lạc phía Nam ở vùng
sông Krisna; từ đó quốc gia của họ có tên là
Andhra. Các đời vua kế vị, Nahapana và
Pulumavi, ở ngôi vào khoảng năm 100 – 150, tiếp
tục mở rộng lãnh thổ về phía Bắc. Vương triều
Satavahanas theo đạo Balomon. Đến thế kỷ III,
vương triều này suy yếu và nước Andhra chia
thành nhiều xứ nhỏ, tiếp tục tồn tại độc lập với
nhau (Lương Ninh, Đinh Ngọc Bảo, Đặng Quang
Những bảo tháp đầu tiên được xây dựng dưới
triều vua Ashoka, tương truyền có 84.000 tháp
Phật ra đời. Có thể coi đây là những công trình
kiến trúc thuần túy tôn giáo đầu tiên của Ấn Độ
còn đến ngày nay, những tháp này tập trung nhiều
ở vùng Sanchi bên bờ sông Nacmada (thuộc
Trung Ấn, nay là bang Madya Prades).
Trải rộng trên một cao nguyên, Sanchi hiện lên uy
nghi và trầm mặc giữa những đỉnh tháp, nhà tu,
miếu mạo, chùa chiền,… Đó là một công trình
kiến trúc độc đáo kết hợp nhuần nhuyễn với nghệ
thuật điêu khắc. Lúc đầu bảo tháp được xây bằng
gạch, sau đó đến thế kỷ II, tháp được ốp thêm
bằng đá cho to rộng hơn. Tháp có chiều cao 15m,
đường kính 35m, bao gồm ba bộ phận chính: một
bán cầu, trên có một vọng lâu và một hàng rào
xung quanh (Lê Phụng Hoàng, Hà Bích Liên &
Trần Hồng Ngọc, 2003, tr. 39).
6
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
Trên một nền kiến trúc vuông vức (áo cà sa gấp
bốn của Đức Phật) là một bán cầu khối đặc khổng
lồ xây bằng gạch và đá, hình một cái bát úp sấp,
chỏm hơi dẹt phía trên có xây một vọng lâu hình
vuông được cho là nơi để xá lị Phật. Phần trên
cùng nóc là một cột có gắn ba phiến đá lớn hình
dĩa, tạo thành một chiếc dù nhiều tầng biểu trưng
cho sự tôn nghiêm. Xung quanh bán cầu có một
hàng rào đá bao bọc, gồm 12 thanh cột chống, mở
ra 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc. Ứng với
bốn hướng là bốn cổng Torana làm bằng đá. [Phụ
lục hình 3]
chìa giả. Ở những công trình kiến trúc đồ sộ của
Phật giáo, chức năng của các Yaksha và Yakshi là
chủ yếu mang tính chất tôn giáo, chứ không về
đặc trưng kiến trúc (Lê Phụng Hoàng, Hà Bích
Liên & Trần Hồng Ngọc, 2003, tr. 40 - 41).
Sanchi trở thành một phong cách nghệ thuật trong
nghệ thuật cổ điển Ấn Độ, thể hiện rõ một quan
niệm thẩm mĩ nhiều nữ tính – sự đầy đặn của hình
thể, cử chỉ mềm mại theo dáng uốn lượn, sự biểu
lộ rõ các khối nổi,… Những đặc điểm đó sau này
ảnh hưởng rất rõ nét trong trường phái nghệ thuật
Mathura.
Từ mỗi cột, ở cửa sổ trên cùng nhất, là một
Triratna- biểu tượng có ba mũi chĩa tượng trưng
cho Phật – Pháp – Tăng. Triratna được chống đỡ
bởi những bánh xe pháp, hoa sen, Yahsha, Yakshi
và ba cửa sổ được chạm trổ công phu minh họa
những câu chuyện về tiền thân của Đức Phật. Sự
minh họa này mang lại một bức tranh hấp dẫn của
văn hóa núi rừng và truyền thuyết dân gian. Một
điều cần lưu ý quan trọng ở Bharhut là Đức Phật
không được thợ điêu khắc tượng trưng bằng hình
người. Biểu tượng vẫn là hình thức vật linh, và
Đức Phật được tượng trưng bằng một bánh xe,
những dấu chân hoặc một số biểu tượng nào đó
(Sherman E Lee, 2007, tr. 105)
4.2 Đại chánh điện Karle
Một công trình quan trọng và đồ sộ khác là Đại
Chánh điện (Chaitya) ở Karle, Maharashtra, có
niên đại rất sớm từ khoảng giữa năm 100 và 120,
có lẽ nó được xây dựng giữa thời kỳ Andhra, hoặc
chính xác hơn của một tiểu vương quốc liên hệ
với Andhra [Phụ lục hình 4]. Nhìn một cách tổng
quát, mặt ngoài của Karle không gây ấn tượng
như mặt ngoài của chánh điện Bhaja, phần lớn
công trình ở Karle làm bằng đá, kể luôn cả một
bình phong ở trên phần lộ thiên còn lưu giữ được.
Chánh điện Karle vốn được đẽo sâu vào trong núi
đá nằm cách phía Đông Nam Bombay khoảng 100
dặm, ở trên đỉnh của dãy đồi phía Tây được dẫn từ
vùng đồng bằng trũng ven biển đến cao nguyên
Dekkan (Sherman E Lee, 2007, tr.107 – 108).
Sanchi Shalabhanjika – rầm chìa Sanchi có một
sự tiến bộ đáng kể về bố cục và kỹ thuật xây dựng
[Phụ lục hình 3]. Đây không chỉ là một bức tranh
chạm khắc đơn thuần trên bề mặt một chiếc cột
đứng, mà thân của những cột trụ của Sanchi
Shalabhanjika vươn lên trong khoảng không, mặc
dù bức tượng vẫn còn mang phong cách hơi cổ
xưa phần lớn bị bó hẹp trong mặt phẳng phía
trước. Tư thế thể hiện một sự phức tạp, tương
phản với góc cạnh thăng bằng của cánh tay là
những cử động uốn éo và khêu gợi của thân hình.
Người ta trông thấy việc sử dụng nhiều hơn về
khoảng không mở rộng. Nhà điêu khắc đã cắt bỏ
đá để cái bóng bức tượng nổi bật lên với khoảng
không mở rộng. Theo chức năng, bức tượng
không chống đỡ cho bất cứ vật gì, nhưng là một
sự mô phỏng theo sự xây dựng bằng gỗ, cùng thời
điểm với nền kiến trúc trang trí và một chiếc rầm
Ý tưởng về hang động được khai quật ở trong núi
đã bộc lộ nét đặc trưng của điêu khắc Ấn Độ, và
sự ảnh hưởng của quốc gia này ở khu vực phía
Đông lục địa châu Á. Ở Ấn Độ, những chánh điện
Chaitya và tịnh thất Vihara thường được đẽo sâu
trong đá. Ở Trung Á, chúng ta nhận thấy những
công trình kiến trúc đẽo sâu vào những mõm đá
đất sét; ở Trung Quốc có rất nhiều chùa hang;
nhưng ở Nhật Bản lại không có phong cách này.
Có thể suy luận rằng, đặc tính thiên tài của người
Ấn Độ cơ bản là điêu khắc, và phẩm chất điêu
khắc cũng mở rộng đến khuynh hướng kiến trúc.
Và, người Ấn không quan niệm kiến trúc như là
một hàng rào bao bọc không gian. Họ nghĩ nó như
7
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
một khối được người ta tạo hình, để nhìn và cảm
nhận như là một công trình điêu khắc.
xây dựng ở hai bên hông như người ta thấy ở
những giáo đường phương Tây thời Trung cổ. Độ
cao của chánh điện thể hiện sự phát triển phong
cách cột, với đế đỡ chân cột hình cái chậu và đầu
cột hình chuông. Gian giữa ở Karle là phần ấn
tượng nhất với một độ cao 13,5m. Những bệ chân
cột hình chậu có thể xuất xứ từ công trình kiến
trúc bằng gỗ trước đó, những chiếc cột được đặt
trong các chậu sành để tránh côn trùng phá hoại.
Những đầu cột hình chuông ở Karle chắc chắn
xuất phát từ những chiếc cột của thời Ashoka, ở
phía trên đầu có những con voi và những người
quản tượng giống như ở Sanchi. Nhưng ở đây chỉ
có hai người cưỡi trên mỗi con vật quay mặt ra
ngoài, và chỉ hướng về phần giữa của giáo đường.
Đền thờ đá ở Karle là một công trình kiến trúc
bằng đá granit màu xanh xám đậm, toàn bộ tạo ấn
tượng thật oai nghiêm, tương phản với vẻ ngoài
mộc mạc của Bhaja, nơi này có những chiếc cột
đơn sơ hình lăng trụ không có đế hoặc đầu cột,
vươn lên từ trần nhà và đi thẳng đến mái vòm. Ở
Karle, chúng ta nhận ra những hình ảnh tinh xảo
hơn nhiều và được chạm khắc hết sức phong phú.
Không gian nội thất ở Karle dường như linh hoạt
hơn, mượt mà hơn so với khoảng không bất động
mà chúng ta cảm nhận ở Bhaja.
Những chánh điện Chaitya ở Bhaja và Karle được
đẽo sâu vào trong núi đá, như những khuôn mẫu
của những chánh điện Chaitya vĩ đại đứng riêng
biệt, những chánh điện trước đó được xây dựng
bằng gỗ và sau đó bằng gạch và đá, nhưng ngày
nay chúng hoàn toàn biến mất hoặc bị tàn phá.
Những công trình kiến trúc ngoại lệ này là một
phong cách kiến trúc nội thất thật sự, vì mục đích
sử dụng làm nơi tập hợp và để cho những tín đồ
có thể thực hiện nghi lễ đi vòng quanh bảo tháp ở
phần gần cuối nội thất chánh điện. Nhìn vào sơ đồ
của Karle chúng ta có thể hiểu về cách bố trí của
nó. Đầu tiên là lưu ý chiếc cổng vòm, một cổng
vòm – Narthex phía trong và một cổng vào chia
làm ba lối vào – một dẫn vào hai gian bên, và một
cổng chính dẫn vào chánh điện. Cổng vòm
Narthex ở Karle được chạm khắc ở phía mặt
ngoài với những pano có các hình nhân nam và nữ
được gọi là những người cúng dường. Có nhiều
pano khác với những hình ảnh quen thuộc của đạo
Phật từ thế IV đến thế kỷ VI hoặc VII; nhưng
công trình kiến trúc duy nhất chúng ta quan tâm
lại thuộc thế kỷ I. Chúng có một phong cách cao
quý, dù chúng ta biết chúng thật sự không phải là
những người cúng dường hay những cặp tình
nhân yêu đương – mithuna. Ít khi trong lịch sử mỹ
thuật có những hình dáng của người nam và nữ
được thể hiện thật to lớn và nhiều như thế trên
một phạm vi, với sự lành mạnh về thể chất dường
như tràn ngập trong đó một dòng sinh khí bất tận.
Phẩm chất của Prana – hơi thở, được thỉnh thoảng
đề cập đến trong mối quan hệ với nền điêu khắc
Ấn Độ, được thể hiển rõ ràng trong những hình
ảnh các nhân vật này. Hơi thở và điệu múa, là hai
yếu tố rất quan trọng trong việc quyết định cái
nhìn của phong cách điêu khắc Ấn Độ vì nó ảnh
hưởng đến thế đứng và sự thể hiện thân hình
(Sherman E Lee, 2007, tr. 108 – 110).
4.3 Bảo tháp Amaravati – phong cách Nam Ấn
Ngược về phương Nam, có một loạt những bảo
tháp với chất lượng cao và có phong cách chịu
ảnh hưởng của phong cách vùng Nam Ấn Độ
thuộc những thời kỳ hậu Phật giáo, khi Hindu bắt
đầu lấn át. Sự phát triển của khu vực này bắt đầu
vào thế kỷ V, vùng Nam Ấn kể luôn khu vực
quanh sông Krishna (ngày xưa là Kistna), sâu
trong nội địa cách biển khoảng ba đến bốn dặm.
Bảo tháp Amaravati ở Andhra Pradesh là địa điểm
điển hình của khu vực này, có hai bảo tháp nổi
tiếng khác là Nagarjunakonda và Jaggayyapeta.
Cả ba đều được xây dựng dưới triều đại
Satavahana, triều đại này cũng thống trị vùng
Trung Bắc Ấn và xây dựng bảo tháp Sanchi.
Chánh điện là một khoảng không dài và đơn giản
được xác định bằng những chiếc cột, mở rộng
vòng quanh phía xa của bảo tháp tạo nên một nơi
dùng để đi lại. Không có những nhà nguyện được
Nhìn chung, phong cách Amaravati có thể mang
nét đặc trưng về cơ cấu và năng động hơn bất cứ
8
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
những gì chúng ta đã trông thấy trước đó. Tương
phản với nét đặc trưng mang tính cách nào đó với
tác phẩm đương thời Kushan ở miền Bắc, một
tính cách dịu dàng hơn và mượt mà hơn dường
như đã được thăng hoa ở miền Nam.
chạm nổi minh họa những thời kỳ đầu và cuối của
phong cách Amaravati - những phong cách quen
thuộc và phổ biến.
Phong cách sau ở Amaravati là sự đi vòng quanh
thuộc những khuynh hướng của trường phái
Andhra và có lẽ được thể hiện trong vòng tròn nổi
tiếng ở hàng rào chấn song, trình bày hình ảnh
Đức Phật đang thuần phục voi điên. Đây là một
tác phẩm điêu khắc tiến bộ nhất cho đến ngày nay
về cách xử lý không gian và việc trình bày hình
ảnh các nhân vật. Tỷ lệ được xử lý đầy tinh xảo,
đó là hình ảnh con voi thật to và con người thật
nhỏ; hình ảnh những người ở xa được thể hiện
nhỏ hơn những người ở gần. Sự hòa hợp tâm lý
mở rộng từ toàn bộ cảnh tượng cho đến từng phần
của nó, như ở trong một nhóm nhỏ, nơi ấy một
phụ nữ né tránh con voi và được một người phía
sau bà ta làm cho bình tĩnh lại. Có lẽ toàn bộ bố
cục chịu ảnh hưởng của nền hội họa đương thời.
Những tác phẩm như thế này được trình bày ở
những bức tranh tường đầu tiên ở Ajanta,
Maharashtra. Chủ nghĩa tự nhiên tuyệt vời chứa
đựng cảm xúc cao độ, sự tích cực dữ dội, và yên
ả, thật vô cùng lạ thường. Ngoài khía cạnh kiến
trúc và một hoặc hai chiếc dây cương của con voi,
hầu như không có một đường thẳng trong bố cục;
khắp nơi có những đường cong hơi xoắn hoặc gợn
sóng và những hình dáng thật tròn. Không có
những mặt phẳng bẹt, mọi vật đều được xử lý một
cách có trật tự và khêu gợi. Nó là một phong cách
sẽ gây một ảnh hưởng lớn lao, nơi sự phát triển
của phong cách điêu khắc Hindu thuộc miền Nam
Ấn vào thời kỳ Pallava, khoảng 500 – 750 SCN
(Sherman E Lee, 2007, tr 114).
Ba bảo tháp ở vùng Kistna phần lớn bị tàn phá,
nhưng chúng ta có thể tái thiết vẻ bề ngoài của
bảo tháp Amaravati bằng cách dựa trên thiết kế
của bảo tháp Nagarjunakonda và Jaggayyapeta.
Những sự thể hiện hay hình ảnh được bảo quản
hoàn hảo nhất của bảo tháp Amaravati là ở trên
một tảng đá đẹp từ một trong những hàng rào
chấn song sau này, có lẽ thuộc thế kỷ III, cho
chúng ta thấy một cái gò to lớn mà bề mặt được
trát gạch hoặc đá và cuối cùng là vữa stuco (là
loại vữa được tạo ra từ cát – ciment – vôi và
nước) [Phụ lục hình 4]. Các bức tranh khắc chạm
nổi ở chung quanh đế của cái trống và hàng rào
chấn song lan can phía trên cao, được ngắt quãng
bởi một cái tháp năm cột kỳ lạ ở mỗi cổng ra vào.
Các phần này có liên hệ với Torana ở Sanchi
nhưng có hình dáng hoàn toàn khác biệt, con sử tử
trên đầu các chiếc cột. Cuối cùng là một hàng rào
chấn song rất cao, mặt ngoài với vô số vòng hoa
hồng, hoa sen và những tranh khắc chạm nổi các
Yaksha. Ở trung tâm của những cổng ra vào có
những phiến đá đẹp, điêu khắc hình ảnh của Đức
Phật mang hình dáng thú vật lẫn người. Trên nóc
của bảo tháp là một hàng rào chấn song quanh
một cây ở đây được tượng trưng bằng hai chiếc đà
ở hai bên của một cột trụ nằm ở giữa. Ở đây,
chúng ta có thể thấy một chút quen thuộc với
phong cách Kushan của phương Bắc. Những thiên
thần ở hai bên sườn bảo tháp ở trên, với những
đôi chân và đôi cánh tay uốn cong, được xử lý khá
linh động. Ở phía bên hông của một phiến đá xinh
đẹp khác chúng ta có thể thấy hình tượng thú vật
được sử dụng lại, trong một cách mô tả về cuộc
tấn công của Ma Vương - vị chúa tể của sự mê
đắm trần tục, chống lại đức Phật đang tham thiền,
với nỗ lực ngăn chặn sự giác ngộ của Ngài. Ở
những trụ ngạch, Đức Phật được thể hiện một
cách thực tế, sáng tạo mới mẻ hợp nhất với truyền
thống vật linh cổ xưa. Hai bức tranh điêu khắc
5. KẾT LUẬN
Nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ các thời kỳ Maurya –
Shunga và Andhra có những đặc điểm hết sức thú
vị. Đầu tiên, đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
kiến trúc và điêu khắc trong từng tác phẩm, chính
yếu tố này đã góp phần làm cho các công trình
kiến trúc Phật giáo đồ sộ có phần thô cứng trở nên
mềm mại uyển chuyển và đầy tính nghệ thuật. Hai
là, nền nghệ thuật Phật giáo nguyên sơ mang tính
9
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
biểu tượng cao. Để thể hiện sự tôn kính đối với
Đức Phật, các nhà nghệ sĩ đã sử dụng một số hình
ảnh tượng trưng như hoa sen, cây bồ đề, bánh xe
pháp,… về sau cho đến thời kỳ Andhra, các hình
tượng Đức Phật mới được sử dụng một cách trực
tiếp. Ba là, chủ đề trong Phật giáo có sự vay mượn
từ Balomon giáo và tín ngưỡng phồn thực Ấn Độ
truyền thống. Sự tồn tại của tín ngưỡng phồn thực
trong nền nghệ thuật Phật giáo thời kỳ này có thể
con người muốn đề cập một triết lý của Phật giáo
là sinh – diệt, diệt – sinh, trong sinh có diệt và
ngược lại, để đi đến chỗ giải thoát hoàn toàn cần
có sự tu tập nghiêm túc và đoạn diệt luân hồi sinh
tử. Và sự có mặt của một số vị thần Balamon
trong nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ cũng là một
điều dễ hiểu, vì Phật giáo được ra đời trong một
thời điểm mà Balom có một sự ảnh hưởng và chi
phối sâu sắc trong nền văn hóa – chính trị - xã hội
Ấn Độ lúc bấy giờ. Bốn là, phong cách cũng như
kỹ thuật của nghệ thuật Phật giáo trong ba thời kỳ
được tìm hiểu có sự ảnh hưởng to lớn không chỉ
cho nghệ thuật Phật giáo nói riêng mà cho cả nền
mỹ thuật – điêu khắc – kiến trúc Ấn Độ nói chung
sau này. Cuối cùng, đó là sự tương đồng về cách
thức tạo hình nhân vật và động vật trong điêu
khắc Phật giáo Ấn Độ cổ điển với điêu khắc
Persia và Hy Lạp cổ đại.
C Scott Littleton. (2003). Trí tuệ phương Đông.
Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin.
Chiêm Tế. (1977). Lịch sử thế giới cổ đại – tập 1
– Các nền văn minh cổ phương Đông. Hà Nội:
Nhà xuất bản Giáo dục.
Drukpa Việt Nam. (2014). Nghệ thuật Mật thừa –
cánh cửa dẫn tới giác ngộ. Hà Nội: Nhà xuất
bản Tôn giáo.
Lê Phụng Hoàng., Hà Bích Liên., & Trần Hồng
Ngọc. (2003). Các công trình kiến trúc nổi
tiếng trong lịch sử thế giới cổ trung đại. Hà
Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.
Lương Ninh (chủ biên)., Đinh Ngọc., Đặng
Quang Minh., Nguyễn Gia Phu., & Nghiêm
Đình Vỹ. (2003). Lịch sử thế giới cổ đại. Hà
Nội: Nhà xuất bản Giáo Dục.
Robert E. Fisher. (2000). Nghệ thuật và kiến trúc
Phật giáo (Thích Thiện Minh & Trần Văn
Huân biên dịch). TPHCM: Nhà xuất bản
TPHCM.
Trần Đăng Sinh., & Đào Đức Doãn. (2009). Giáo
trình tôn giáo học. TPHCM: Nhà xuất bản Đại
học sư phạm.
Sherman E. Lee. (2007). Lịch sử mỹ thuật Viễn
Đông (Trần Văn Huân biên dịch). TPHCM:
Nhà xuất bản Mỹ Thuật.
Với những đặc điểm nêu trên, chúng ta có thể
nhận thấy, nền nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ thời
kỳ Maurya – Shung – Andhra đã trở thành những
tác phẩm nguyên mẫu điển hình của nền nghệ
thuật Phật giáo Ấn Độ cổ điển, góp phần trong
việc nhắc nhở - củng cố những chân lý bất diệt
của Phật giáo, cùng với sự phát triển và phong
cách của nó đã duy trì toàn bộ lịch sử Phật giáo.
Trần Quang Thuận. (2013). Nguyên nhân thăng
trầm thịnh suy của Phật giáo Ấn Độ. Hà Nội:
Nhà xuất bản Hồng Đức.
Hoàng Tâm Xuyên. (1999). Mười tôn giáo lớn
trên thế giới. Hà Nội: Nhà xuất bản CTQG.
10
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
PHỤ LỤC HÌNH 1
(Nguồn: Sherman E. Lee, 2007, tr.94 – 96)
Đầu cột hình sư tử
Đầu cột hình con bò
Yaksha Parkham - Yakshi
Besnaga
PHỤ LỤC HÌNH 2
(Nguồn: Sherman E. Lee, 2007, tr.98)
Mặt tiền Chaitya Bhaja
11
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 28 (2), 1 – 12
PHỤ LỤC HÌNH 3
(Nguồn: Sherman E. Lee, 2007, tr.106)
Torana
Sanchi Shalabhanjika
PHỤ LỤC HÌNH 4
(Nguồn: Sherman E. Lee, 2007, tr.109 – 112)
Bảo tháp Amaravati
Chaitya Karle
12
Bạn đang xem tài liệu "Nghệ thuật phật giáo Ấn Độ thời kỳ Maurya – Shunga – Andhra (thế kỷ IV TCN – thế kỷ III SCN)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghe_thuat_phat_giao_an_do_thoi_ky_maurya_shunga_andhra_the.pdf

