Kết nối trường phái lý thuyết marketing với lý thuyết năng lực cạnh tranh của khoa học quản trị kinh doanh để vận dụng vào tái cấu trúc doanh nghiệp Việt Nam trong khủng hoảng

HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
KẾT NỐI TRƯỜNG PHÁI LÝ THUYẾT MARKETING VỚI LÝ THUYẾT  
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH ĐỂ  
VẬN DỤNG VÀO TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG  
KHỦNG HOẢNG  
CONNECTING THE SCHOOL OF MARKETING THEORY WITH THE THEORY OF  
COMPETITIVENESS IN THE SCIENCE OF BUSINESS ADMINISTRATION TO APPLY  
TO CORPORATE RESTRUCTURING IN VIETNAM DURING THE CRISIS  
PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng  
Đại học Kinh tế Quốc dân  
TÓM TẮT  
Khoa học quản trị kinh doanh phát triển nhanh chóng và theo một định hướng nhất định nhằm tối ưu hoá  
những tác động của quản trị đối với các chức năng kinh tế. Marketing là một chức năng trong quản trị doanh  
nghiệp và là tổ hợp hàng loạt công việc nhằm gia tăng sức mạnh thị trường của doanh nghiệp nhằm giảm  
thiểu tình trạng hàng hoá bị tồn đọng nhiều, cung vượt cầu, đẩy các nước và doanh nghiệp vào tình trạng suy  
thoái nặng nề thậm chí rơi vào đại suy thoái như năm 1929-1933. Đây là tiêu điểm của khoa học quản trị vào  
những năm 1980 mà thực chất là khoa học marketing (P. Kotler) khẳng định vai trò không thể thiếu của nó  
trong quản trị doanh nghiệp. Đến những năm 1990, khoa học về năng lực cạnh tranh (M.Porter) trở thành mối  
quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách và quản trị doanh nghiệp và cho đến nay, khoa học  
năng lực cạnh tranh trở thành tiêu điểm cao nhất thu hút sự quan tâm của các quốc gia, ngành, doanh  
nghiệp, sản phẩm hoặc dịch vụ. Cả hai trường phái lý thuyết này quyết định sự thành công của tư duy trong  
khoa học quản trị và thực tế của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao đã chứng minh những đóng góp có giá trị  
của chúng đối với các hoạt động kinh doanh. Trong điều kiện Việt Nam tiến hành quá trình phục hồi và tái cấu  
trúc doanh nghiệp để vượt quá thách thức khủng hoảng, việc vận dụng kết hợp hai trường phái lý thuyết này  
là cần thiết để có chương trình hành động thích hợp.  
Từ khoá: Trường phái lý thuyết marketing; lý thuyết năng lực cạnh tranh; khoa học quản trị kinh doanh;  
vận dụng kết hợp; tái cấu trúc doanh nghiệp; khủng hoảng.  
ABSTRACT  
The science of business administration has been rapidly developed in a given direction to optimize the  
impact of management on business functions. Marketing is a function of corporate management and it is a full  
set of activities that aim to increase the market power of business to minimize the huge inventory, the excess  
of supply over the demand for goods, pushing countries and businesses into a severe recession, even into  
that like 1929-1933 the Great Depression. This was the focus of business administration science in the 1980s,  
specifically the marketing science (P.Kotler) that affirmed its indispensable role in corporate management. By  
the year 1990s, the theory of competitiveness (M.Porter) had became the top concern for all policymakers and  
managers and so far the science of competitiveness has been the top focus of the countries, industries,  
businesses and products or services. Both schools of theory have decided the success of the science of the  
business administration and the reality of the high performing enterprises have proved their valuable  
contributions to business activities. In the case of corporate recovery and restructuring in Vietnam with the  
goal of overcoming the challenges of crisis, it is necessary to combine such two schools of theory to build the  
appropriate applied action plans.  
Keywords: school of marketing theory; theory of competitiveness; the science of business administration;  
combined application; corporate restructuring; crisis.  
đặc trưng và nội hàm đang thay đổi của nó.  
Marketing là quá trình đáp ứng nhu cầu thị  
trường một cách hiệu quả nhất. Ở phạm vi lớn  
hơn, marketing còn là quá trình tạo ra nhu cầu  
1. Trường phái lý thuyết marketing  
Có nhiều quan niệm khác nhau về  
marketing và thuật ngữ này được sử dụng trực  
tiếp, không dịch sang tiếng Việt để thấy tính  
5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
và đáp ứng nhu cầu đó một cách hiệu quả và  
thế của các sản phẩm khác trong thời gian rất  
ngắn và làm lỗi thời hàng loạt sản phẩm. Nếu  
tất cả doanh nghiệp đều thực hiện chiến lược  
và chiến dịch marketing có hiệu quả, thị trường  
sẽ có những thay đổi quan trọng cả về lượng  
cung, lượng cầu, giá cả, chất lượng, kiểu dáng,  
phương thức tiêu thụ. Đó là những yếu tố làm  
thay đổi cơ bản trạng thái thị trường. Đồng  
thời, marketing còn nhằm làm cho doanh  
nghiệp hiểu được tính chất chu kỳ của sản  
phẩm để chuẩn bị sản phẩm mới kịp thời cũng  
như làm lạc hậu có kế hoạch sản phẩm để làm  
chủ thị trường ở mức cao nhất. Ngoài ra,  
marketing còn tạo cơ sở để dự báo sự vận động  
của thị trường phù hợp để các doanh nghiệp  
cũng như khách hàng đón đầu. Những kết quả  
trên lĩnh vực nghiên cứu và phát triển đwocj  
quan tâm đặc biệt vì chúng có thể quyết định  
đến vị thế thị trường của doanh nghiệp.  
theo góc độ này, marketing là một quá trình tạo  
giá trị chủ động. Dưới góc độ quản trị,  
marketing là trường phái lý thuyết của khoa  
học ra quyết định dưa trên cơ sở định hướng thị  
trường nghĩa là tất cả các vấn đề có liên quan  
đến sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp  
đều lấy thị trường làm căn cứ cơ bản và chỗ  
dựa trung tâm trong hệ thống các vấn đề cần  
xử lý để doanh nghiệp vận hành có hiệu quả.  
Nhận thức của các nhà quản trị luôn xoay  
quanh tiêu điểm marketing với các yếu tố cấu  
thành cơ bản là sản phâm, giá cả, phân phối và  
xúc tiến (4P). Sự phát triển mạnh khoa học  
marketing theo nhiều hướng và trở thành một  
ngành khoa học độc lập tạo điều kiện giải  
quyết rất nhiều việc làm cả đối với doanh  
nghiệp, nhà nghiên cứu, thị trường lao động.  
Về nội dung, các yếu tố cấu thành khoa học  
marketing được mở rộng. Hơn nữa, sự phát  
triển của khoa học marketing còn kéo theo sự  
phát triển của công nghệ, hệ thống mạng, các  
phương tiện truyền thông, quảng bá…và những  
dịch vụ phát sinh có tính chuyên sâu như ngành  
nghệ thuật (đồ hoạ, âm nhạc, tạo hình…) giành  
cho quảng cáo, khuyếch trương…Khoa học  
này được áp dụng và đang tạo ra những khoản  
lợi nhuận khổng lồ cho các doanh nghiệp. Điều  
này có nghĩa là marketing trở thành một tiêu  
điểm khoa học mang tính ứng dụng cao và tạo  
ra giá trị lớn đối với nền kinh tế quốc gia và  
nền kinh tế thế giới.  
Hình 1: Lý thuyết marketing tạo tư duy lực đẩy  
doanh nghiệp ra thị trường  
Mặc dù có các cách tiếp cận truyền thống  
và mang tính nền tảng về marketing song các  
cách tiếp cận mới vẫn được phát triển nhằm  
đưa ra các cơ hội phát triển mới của khoa học  
chuyên ngành. Sự phát triển này hầu như  
không có điểm dừng. Marketing đóng vai trò  
trung tâm kết nối nhiều khoa học trong kinh  
doanh, công nghệ và quản trị trong điều kiện  
phát triển mới. Bản chất của marketing là sự  
bộc lộ mọi thế mạnh ra bên ngoài để thu hút  
khách hàng một cách có chủ đích. Sự xuất hiện  
và phát triển của khoa học này gắn với tình  
trạng sản xuất dư thừa hay tình trạng nhiều  
người bán và ít người mua có khả năng làm  
ngưng trệ sự vận hành chuỗi giá trị. Hơn nữa,  
marketing còn nhằm tạo ra phương pháp luận  
kinh doanh phù hợp với điều kiện thị trường  
cạnh tranh ngày càng găy gắt trong và ngoài  
nước. Khoa học này còn tạo căn cứ đáng tin  
cậy do đưa ra triết lý mới là nhu cầu của con  
Bản chất của marketing là làm bộc lộ tối đa  
các thông tin về đối tượng tham gia thị trường  
nhằm làm thay đổi vị thế hiện có. Đó là một  
quá trình định vị linh hoạt, tự tin và có mục  
đích rõ ràng gắn với doanh nghiệp, sản phẩm,  
dịch vụ, uy tín, quan hệ và triển vọng phát  
triển. Nói cách khác, marketing là quá trình  
làm lan toả ánh hưởng một cách tối ưu của các  
chủ thể tham gia thị trường bằng các kênh  
truyền thông và các loại kỹ thuật có liên quan.  
Do đó, có thể thấy trường phái lý thuyết  
marketing tập trung vào việc tạo các lực đẩy thị  
trường và tạo nguồn động lực vận hành toàn bộ  
thị trường (xem hình 1). Một sản phẩm mới  
xuất hiện trên thị trường có thể làm thay đổi vị  
6
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
người thường xuyên thay đổi và cơ hội kinh  
doanh hầu như mở ra vô tận.  
trước đây đang hình thành và đang mở ra khả  
năng đưa khoa học marketing lên một trình độ  
phát triển mới.  
Trung Quốc là một quốc gia có truyền  
thống thương mại, buôn bán lâu đời với hình  
ảnh “con đường tơ lụa” vào khoảng 2.500 năm  
trước công nguyên. Kiểu tổ chức và phong  
cách kinh doanh“buôn có bạn, bán có phường”  
của Trung Quốc có những đặc trưng nhất định,  
trở thành triết lý kinh doanh và trường phái  
kinh doanh hay có thể gọi dó là trường phái  
marketing kiểu Trung Quốc mặc dù marketing  
không phải là thuật ngữ do Trung Quốc sáng  
tạo. Trường phái này hầu như coi trọng việc  
phát huy bản sắc văn hoá đặc sắc kiểu Trung  
Quốc. Hấu như các cửa hàng, cửa hiệu…của  
Trung Quốc đều treo đèn lồng đỏ hoặc các dấu  
hiệu tương tự như là một biểu tượng đánh dấu  
sự hiện diện của văn hoá Trung Hoa cả trong  
nước và ngoài nước. Chính biểu tượng “đèn  
lồng đỏ” tạo ra kiểu marketing mang đăc sắc  
Trung Quốc và mang đậm nét Phương Đông.  
Điều này gần như tương tự với việc xây dựng  
quan hệ mang tính cộng đồng, họ hàng thân  
hữu thậm chí các quan hệ còn mang tính gia  
đình. Có thể nhận dạng những đặc trưng của  
marketing “đèn lồng đỏ” là có tính khép kín  
cao, đặc sắc và mang đặc trưng văn hoá cao.  
Chính vì thế, rất khó có yếu tố bên ngoài nào  
có thể tham gia vào hệ thống cũng như cách  
thức tổ chức này khó học hỏi hoặc bắt chước  
do tính chất dễ nhận dạng của chúng mà nếu  
bắt chước có thể coi là hành vi “ăn cắp”. Mô  
hình kinh doanh “đèn lồng đỏ” của Trung  
Quốc mang đặc trưng của loại hình marketing  
khép kín và thậm chí còn mang tính chất  
“phường hội, cục bộ, nhóm nhỏ”. Chữ tín giữa  
các chủ thể kinh doanh được coi trọng ở mức  
cao nhất thậm chí còn vượt lên trên cả những  
quy định pháp luật. Sự kết hợp giữa kiểu tố  
chức buôn bán và thương mại khép kín kiểu  
phố Trung Hoa (China Town) của Trung Quốc  
gắn với những đặc điểm của marketing theo  
kiểu phương Tây có thể tạo ra một kiểu  
marketing đặc biệt và đặc thù. Hơn nữa, với lhả  
năng sử dụng kỹ thuật dự báo khá có hiệu quả  
theo triết lý phương Đông, nền tảng xây dựng  
một loại hình marketing mới chưa từng có  
Mô hình chuỗi siêu thị là hệ thống kết nối  
chặt chẽ của chuỗi cung ứng mở, có khả năng  
tích hợp và lan toả lớn kể cả việc hình thành  
mạng lưới cung ứng trên toàn cầu. Các yếu tố  
bên ngoài có thể tham gia vào hệ thống dễ  
dàng và cơ hội để áp dụng các tiến bộ về công  
nghệ truyền thông rất lớn. Tiến bộ về công  
nghệ truyền thông càng phát triển mạnh mức  
độ phát triển của marketing càng nhanh. Chính  
vì thế, với lịch sử phát triển kinh tế thị trường  
và thời gian tham gia vào thương mại quốc tế  
ngắn hơn rất nhiều lần so với lịch sử phát triển  
thương mại của Trung Quốc, các chuỗi siêu thị  
văn minh, hiện đại kiểu Âu-Mỹ phát triển với  
tốc độ nhanh chóng. Và kết quả là, kiểu thực  
hiện marketing của Trung Quốc dần dần tiếp  
cận với khoa học marketing của các nước  
Phương Tây hơn là kiểu marketing Âu-Mỹ học  
tập kinh nghiệm hay mô hình tổ chức kiểu  
Trung Quốc mặc dù về mặt lịch sử, việc buôn  
bán ở Trung Quốc diễn ra rất sớm. Thực tế cho  
thấy, hiệu quả của việc học hỏi theo mô hình  
phương Tây trong quá trình chuyển đổi thành  
công từ kinh tế kế hoạch hoá sang kinh tế thị  
trường, Trung Quốc đạt được những kết quả to  
lớn trong chiếm lĩnh thị trường toàn cầu trong  
thời gian ngắn, thậm chí vượt ra ngoài cả khả  
năng dự đoán ban đầu.  
Như vậy, trường phái lý thuyết marketing  
trở thành hiện tượng phổ biến của các quốc gia,  
doanh nghiệp, hộ gia đình thậm chí cá nhân để  
tăng khả năng bộc lộ các điểm mạnh hay  
những ưu thế nổi trội nhằm thu hút khách hàng  
hoặc sự chú ý của dư luận để đạt được các  
khoản lợi ích thương mại. Khi thị trường biết  
đến sản phẩm, dịch vụ, chất lượng, giá cả,  
điểm mạnh và hạn chế của doanh nghiệp hoặc  
chủ thể nói chung nghĩa là thông tin trở nên  
hoàn hảo, khả năng đi đến quyết định hợp tác,  
cùng phát triển hoặc các quyết định mua bán  
được thực hiện nhanh chóng và đạt hiệu quả  
cao hơn. Đây là một trong những động lực  
quan trọng thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế  
thị trường. Khi các quốc gia, doanh nghiệp  
7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
nhận thức đầy đủ giá trị của marketing làm  
cao (chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, công  
nhân trình độ cao), cơ sở hạ tầng hiện đại như  
hệ thống hạ tầng viễn thông, hệ thống ngân  
hàng phát triển, nguồn lực về vốn đầu tư lớn…  
Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội bộ ngành  
là động lực trực tiếp để gia tăng năng lực cạnh  
tranh. Bên cạnh đó, các điều kiện về cầu bao  
gồm cầu trên thị trường trong nước và thị  
trường nước ngoài cùng với sự phát triển của  
công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp có liên quan  
trong hệ thống các ngành công nghiệp hỗ trợ  
lẫn nhau có ảnh hưởng đến năng lực cạnh  
tranh. (xem hình 2) Như vậy, lý thuyết năng  
lực cạnh tranh chỉ ra rõ ràng các yếu tố cấu  
thành năng lực cạnh tranh đồng thời cũng cho  
thấy có nhiều yếu tố làm tăng mức độ găy gắt  
của cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh quốc gia  
có thể đo lường chi tiết thông qua hàng trăm  
chỉ tiêu và đối với doanh nghiệp hay ngành  
cũng có một hệ thống chỉ tiêu để đánh giá.  
hình thành các tiêu chuẩn chung và khách  
quan, tạo nền tảng kết nối các chủ thể lâu dài  
để hình thành chuỗi giá trị thống nhất và việc  
đầu tư vào dịch vụ này sẽ được coi trọng.  
2. Lý thuyết năng lực cạnh tranh  
Lý thuyết này được M.Porter đưa ra vào  
cuối những năm 1980 và đầu 1990. Ban đầu, lý  
thuyết này chỉ để nhằm định vị quốc gia trong  
bản đồ cạnh tranh thế giới và năng lực cạnh  
tranh được hiểu là năng lực sáng tạo và đổi  
mới. Tiếp theo, lý thuyết được phát triển đến  
cấp ngành và sau đó là cấp doanh nghiệp với  
các mô hình quan trọng như mô hình viên kim  
cương, mô hình 5 áp lực cạnh tranh. Để kiến  
tạo năng lực cạnh tranh, các nguồn lực truyền  
thống như đất đai, lao động tay chân giản đơn  
hầu như không phù hợp mà cần có các nguồn  
lực tiên tiến như nguồn nhân lực chất lượng  
Hình 2: Một số mô hình của lý thuyết năng lực cạnh tranh  
Nguồn: M. Porter, Năng lực cạnh tranh quốc gia (1990)  
Lý thuyết năng lực cạnh tranh mở ra hướng  
Hệ thống chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh  
cấp tỉnh khá toàn diện và mang tính đặc thù  
Việt Nam. Hệ thống chỉ số này đóng vai trò  
quan trọng đối với việc kiểm định năng lực  
điều hành của hệ thống quản lý nhà nước.  
nghiên cứu mới đối với các nhà nghiên cứu,  
hoạch định chính sách, doanh nghiệp, sản  
phẩm và dịch vụ…Điều này đang tạo thị  
trường sản phẩm trí tuệ cao đối với các chủ thể  
cũng như hàng loạt việc làm và các hoạt động  
trao đổi kiến thức, phối hợp nghiên cứu hoặc  
diễn đàn kinh tế thế giới, khu vực và quốc gia  
gia tăng. Ở Việt Nam, bên cạnh việc đánh giá  
năng lực cạnh tranh quốc gia, còn có việc đánh  
giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đây là một  
phạm trù khá mới ở Việt Nam được xây dựng  
và áp dụng trên cơ sở mô hình năng lực cạnh  
tranh do nhóm nghiên cứu của Đại học Tổng  
hợp Harvard (Mỹ) hỗ trợ kỹ thuật từ năm 2005.  
Mô hình năng lực cạnh tranh được phát  
triển từ quan điểm lấy định vị làm trung tâm  
sang cạnh tranh cho tương lai (Prahalad, 1996)  
và trở thành tiêu điểm quan trọng của chính  
sách đầu tư quốc gia, ngành, tập đoàn, doanh  
nghiệp…và cạnh tranh trở thành đặc trưng  
quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu khi có sự  
phụ thuộc và chi phối lẫn nhau rất lớn. Do đó,  
việc thường xuyên cải thiện năng lực cạnh  
8
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
tranh là cần thiết để giảm thiểu tối đa khả năng  
bị loại khỏi thị trường.  
là sự lắp ghép cơ học đơn thuần mà là một quá  
trình phát triển những điểm cốt lõi của cả hai  
trường phái nhằm tăng tính thống nhất và hoàn  
chỉnh về nhận thức. Việc kết nối hai trường  
phái lý thuyết cơ bản trong quản trị kinh doanh  
với nhau tạo khả năng hình thành cách tiếp cận  
tổng quát, phát triển phương pháp luận mới để  
có những giải pháp, tri thức hoặc mô hình quản  
lý mới, tránh được tình trạng nhận thức một  
chiều mang tính phiến diện. Đây là sự kết nối  
giữa tư duy phân tích với tư duy tổng hợp  
trong việc tạo nền tảng hoạch định chiến lược,  
kế hoạch và đề xuất biện pháp hành động đối  
với doanh nghiệp. Bản chất trường pháp lý  
thuyết marketing là mô hình lực đẩy còn lý  
thuyết năng lực cạnh tranh là mô hình lực hút.  
Cả hai trường phải này kết nối theo phương  
thức vừa bổ sung vừa thay thế trong đó sự bổ  
sung là chủ yếu. Việc kết nối theo các khía  
cạnh nhất định về bản chất, phương thức tư  
duy và sự tương tác qua lại (xem hình 3). Điều  
này có khả năng mở ra cách tiếp cận mới trong  
khoa học về quản trị.  
Tư duy năng lực cạnh tranh đặt ra yêu cầu  
kết nối chặt chẽ các loại nguồn lực để vừa tạo  
lợi thế cạnh tranh vừa xây dựng năng lực cạnh  
tranh lâu dài đối với chủ thể. Mức độ kết nối và  
tích hợp nguồn lực càng cao, năng lực cạnh  
tranh càng lớn. Do đó, lý thuyết năng lực cạnh  
tranh hình thành tiêu điểm thu hút hay tạo lực  
hút nguồn lực tối đa - cách tiếp cận gần như  
khác với tiếp cận marketing- tạo lực đẩy nguồn  
lực ra thị trường để mở rộng và gia tăng thị  
phần hay tăng sức mạnh thị trường. Từ góc độ  
tư duy, có thể thấy marketing tạo ra cách tiếp  
cận phân tích để tăng sự khác biệt nhằm hấp  
dẫn khách hàng còn lý thuyết năng lực cạnh  
tranh tạo ra cách tiếp cận tổng hợp để hình  
thành sức cạnh tranh cao nhất so với đối thủ  
cạnh tranh có thể cả hiện tại và tương lai.  
Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh có thể  
thông qua giá cả, chất lượng, hệ thống phân  
phối và các loại công cụ, kỹ thuật khuyếch  
trương. Đây là các yếu tố của marketing nhưng  
được nhìn nhận dưới góc độ năng lực cạnh  
tranh hay cũng là những khía cạnh của cạnh  
tranh được đánh giá từ góc độ marketing. Các  
góc độ này căn cứ nhìn nhận các khía cạnh vấn  
đề một cách sâu sắc và có hệ thống. Do đó, cả  
trường phái lý thuyết marketing và lý thuyết  
năng lực cạnh tranh có những điểm có thể kết  
hợp với nhau trong thực hiện mục tiêu chiến  
lược của tổ chức.  
Hình 3: Các khía cạnh kết nối trường phái  
marketing với lý thuyết năng lực cạnh tranh  
(Nguồn: Tác giả)  
Theo hình 3, việc kết nối hai trường phái lý  
thuyết thực hiện theo các khía cạnh lực đẩy-lực  
hút, phân tích-tổng hợp và bổ sung-thay thế.  
Các khía cạnh này có mối quan hệ qua lại với  
nhau. Sự phát triển liên tục và với tốc độ cao  
của cả hai trường phái này cho thấy còn có  
nhiều khía cạnh  
3. Kết nối trường phái lý thuyết marketing  
với lý thuyết năng lực cạnh tranh  
Cả trường phái lý thuyết marketing và lý  
thuyết năng lực cạnh tranh đều là những sản  
phẩm cơ bản của tư duy khoa học quản trị và  
điều hành trong nền kinh tế thị trường. Việc kết  
nối trường phái lý thuyết marketing với lý  
thuyết năng lực cạnh tranh là cần thiết để bảo  
đảm loại trù những điểm chưa thật hoàn thiện  
trong mỗi trường phái lý thuyết khi tiếp cận ở  
các góc độ khác nhau. Cho đến nay cả trường  
phái marketing và lý thuyết năng lực cạnh  
tranh vẫn tiếp tục phát triển mạnh và chúng  
gần như song song phát triển. Đây không phải  
Thứ nhất, khía cạnh lực đẩy- lực hút cho  
thấy sự tương tác qua lại giữa ảnh hưởng của  
marketing tạo lực đẩy các lợi thế của doanh  
nghiệp với năng lực cạnh tranh mở ra khả năng  
thu hút nguồn lực và lợi thế bên ngoài để sự  
vận động đạt tới sự tối ưu. Marketing có thể  
coi là trường phái “phát năng lượng” kinh  
doanh còn năng lực cạnh tranh có thể coi là lý  
thuyết “thu năng lượng”. Trường phái  
marketing coi trọng các khía cạnh khai thác cơ  
9
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
hội thị trường còn năng lực cạnh tranh đề cao  
cạnh tranh còn năng lực cạnh tranh là phạm trù  
đề cập đến phần bên trong hay “phần chìm”  
của chủ thể trong môi trường cạnh tranh găy  
gắt của nền kinh tế thị trường toàn cầu. Năng  
lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền  
kinh tế thị trường suy cho cùng thể hiện tiềm  
lực của chúng trên thị trường. Khi dự báo đúng  
xu hướng phát triển của thị trường, đón đầu sự  
thay đổi của công nghệ, việc đầu tư vào phát  
triển sản phẩm mới với khả năng thành công  
cao sẽ góp phần cải thiện quyền lực thị trường  
của doanh nghiệp.  
các thế mạnh cốt lõi để tạo lợi thế cạnh tranh  
tổng hợp. Điều này cho thấy trường phái  
marketing và năng lực cạnh tranh có sự thống  
nhất hữu cơ rất lớn trong quá trình sáng tạo giá  
trị. Do đó, cần bảo đảm thời điểm phù hợp nhất  
và phương thức tiếp nhận các tác động tối ưu  
nhất giữa quá trình thực hiện lực đẩy và lực  
hút.  
Thứ hai, khía cạnh phân tích- tổng hợp  
phản ánh phương thức tư duy trong việc đưa ra  
các quyết định về quản trị trong đó, tư duy  
phân tích của marketing theo hướng “suy nghĩ  
tổng hợp, hành động chi tiết” còn tư duy của  
năng lực cạnh tranh vận động theo hướng  
“phân tích sâu sắc và kết nối chặt chẽ”. Việc  
kết hợp cả hai trường phái này góp phần bảo  
đảm được cả khía cạnh phân tích và tổng hợp  
trong phương thức tư duy, luận giải các hiện  
tượng kinh doanh đầy đủ cũng như đưa ra các  
quyết định mang tính toàn diện. Các loại kỹ  
thuật marketing mang tính phân tích và kỹ  
thuật phân tích cạnh tranh mang tính tổng hợp  
cao cần được áp dụng để có giải pháp phù hợp.  
Sự kết nối của hai trường phái này tạo cơ  
sở lý thuyết nền tảng và bao trùm hầu hết các  
lĩnh vực của khoa học quản trị. Nó tạo ra được  
phương pháp luận xử lý các vấn đề vướng mắc  
và phức tạp của doanh nghiệp cũng như tạo  
nền tảng để xây dựng mô hình quản lý mới. Có  
thể khái quát hoá tất cả các vấn đề phát sinh  
trong kinh doanh và những tương tác qua lại  
trên thị trường thường có nguyên nhân từ phạm  
trù marketing hay phạm trù năng lực cạnh  
tranh với sự mặc định tình trạng cạnh tranh thị  
trường không có điểm kết thúc và những thay  
đổi thậm chí những “cú sốc” từ môi trường bên  
ngoài kể cả những thay đổi đột ngột của chính  
sách hay tình trạng khủng hoảng là đặc tính  
không thể lảng tránh của môi trường cạnh tranh  
hiện nay. Do đó, khi doanh nghiệp rơi vào tình  
trạng khủng hoảng, suy thoái, “lao dốc” có thể  
tìm kiếm giải pháp từ phía marketing hoặc giải  
pháp từ phía năng lực cạnh tranh hoặc sự kết  
hợp cả hai khía cạnh này thông qua phương  
thức tái cơ cấu, điều chỉnh chiến lược, mở rộng  
hay thu hẹp lĩnh vực kinh doanh, sáp nhập,  
mua lại...  
Thứ ba, khía cạnh bổ sung- thay thế cho  
thấy phương thức tổ chức các hoạt động  
marketing và cải thiện năng lực cạnh tranh  
luôn là những hoạt động bổ sung cho nhau với  
mục tiêu tạo vị thế vững mạnh đối với doanh  
nghiệp trên thị trường. Khái niệm năng lực  
cạnh tranh tổng hợp cung cấp phương pháp  
luận tổng thể trong phân tích, nhận dạng, tìm  
kiếm nguồn lực như vốn, công nghệ, quản lý,  
nhân lực, quan hệ để tạo lợi thế cạnh tranh  
cũng như đánh giá năng lực cạnh tranh còn  
marketing sử dụng tổng thể các loại kỹ thuật và  
phương tiện, biện pháp để sản phẩm, dịch vụ  
có vị trí tối ưu trên thị trường. Một số kỹ thuật  
hoặc cách thức thực hiện mục tiêu của hai  
trường phái này có thể thay thế nhau nhưng  
phần thay thế khó xác định rạch ròi. Phạm trù  
cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ bằng các kỹ  
thuật marketing có thể làm phong phú thêm các  
công cụ và phương thức cạnh tranh trong phạm  
trù năng lực cạnh tranh. Nói cách khác, trường  
phái marketing quan tâm nhiều đến phần nhận  
dạng rõ nét nhất hay “phần nổi” của năng lực  
10  
4. Vận dụng kết nối hai trường phái vào tái  
cấu trúc doanh nghiệp Việt Nam trong  
khủng hoảng  
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái  
kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 2008 và kéo dài  
đến năm 2013 mới có dấu hiệu hồi phục yếu  
ớt. Việt Nam thực hiện chính sách thắt chặt  
tiền tệ để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ  
mô và bảo đảm an sinh xã hội. Theo Bộ Kế  
hoạch và Đầu tư, tính đến đầu năm 2013, có tới  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
hơn 100 ngàn doanh nghiệp bị thu hẹp sản  
nên phương thức kinh doanh và mô hình tổ  
chức rất khác nhau. Các doanh nghiệp tư nhân  
có quy mô nhỏ, dễ bị ảnh hưởng của cạnh  
tranh. Các doanh nghiệp nhà nước hiệu quả  
kinh doanh không cao nếu chưa nói là rơi vào  
tình trạng thua lỗ nặng nề. Tình trạng nợ xấy  
của ngân hàng thương mại rất cao chiếm  
khoảng 10-12% GDP. Trong khi đó, các doanh  
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam  
có vị thế ngày càng tăng trên thị trường do vận  
dụng hiệu quả sự kết nối giữa trường phái  
marketing và trường phái lý thuyết năng lực  
cạnh tranh. Mặc dù có tác động bất lợi của  
khủng hoảng nhưng tính đến giữa năm 2013,  
xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư  
nước ngoài vẫn chiếm khoảng 60% tổng kim  
ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Nếu không tái  
cấu trúc doanh nghiệp và cả nền kinh tế phù  
hợp, nền kinh tế Việt Nam có khả năng rơi vào  
tình trạng phụ thuộc năng nề vào nước ngoài.  
xuất, bị mua lại, sáp nhập đóng cửa hoặc phá  
sản mặc dù số lượng doanh nghiệp thành lập  
mới vào khoảng 65 ngàn doanh nghiệp. Tình  
trạng này đặt ra vấn đề tái cấu trúc doanh  
nghiệp để phục hồi và phát triển ít nhất để tăng  
khả năng “kháng cự” với tình trạng kinh tế khó  
khăn do tác động của khủng hoảng cũng như  
những điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô,  
chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng  
sang chiều sâu. Tình trạng đình đốn sản xuất  
đặc biệt là lượng hàng tồn kho chủ yếu tồn kho  
bất động sản làm cho việc tiêu thụ trở nên khó  
khăn, thị trường giảm tăng trưởng, sức mua xã  
hội bị giảm mạnh…Quá trình tái cấu trúc  
doanh nghiệp là một công việc phức tạp có thể  
làm thay đổi cơ bản thạm chí làm đảo lộn toàn  
bộ hệ thống tổ chức và vận hành của doanh  
nghiệp. Quá trình đó liên quan đến sự tồn tại  
của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường  
với mức độ hội nhập ngày càng sâu, tác động  
đến mức độ đóng góp vào ngân sách quốc gia,  
hoạt động sản xuất trong nước, việc làm của  
người lao động…Để quá trình tái cấu trúc diễn  
ra thuận lợi nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi  
tình trạng suy giảm tăng trưởng cũng như  
khống chế tình trạng giải thể hoặc phá sản  
doanh nghiệp, cần có hệ thống lý thuyết tạo cơ  
sở nhận thức đúng đắn để hành động hiệu quả.  
Do đó, việc kết nối hai trường phái lý thuyết  
cung cấp nền tảng lý luận quan trọng để nhìn  
nhận và phân tích thực trạng hiện nay của  
doanh nghiệp Việt Nam.  
Như vậy, cả lý thuyết và thực tiễn tại Việt  
Nam đều cho thấy việc thiếu vận dụng sự kết  
nối của hai trường phái lý thuyết vào quản trị  
doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị  
trường đều dẫn đến những sự tổn thương đáng  
kể khi môi trường kinh doanh có sự thay đổi.  
Ngược lại, các doanh nghiệp vận dụng kết nối  
hai trường phái này một cách sáng tạo, đều  
phát triển bền vững kể cả khi điều kiện kinh  
doanh không thuận lợi thậm chí khủng hoảng.  
Đối với Việt Nam, hệ thống doanh nghiệp chưa  
phát huy hiệu quả như mong đợi đối với nền  
kinh tế cho nên kể cả trong trường hợp không  
chịu sự tác động của khủng hoảng việc tái cấu  
trúc cả hệ thống doanh nghiệp vẫn hết sức cần  
thiết. Điều này gắn với quá trình chuyển đổi  
nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hoá  
tập trung sang cơ chế thị trường định hưỡng xã  
hội chủ nghĩa.  
Về thực trạng doanh nghiệp  
Hầu hết doanh nghiệp Việt Nam đều có  
quy mô nhỏ và vừa và con số này có thể lên tới  
khoảng 80% số lượng doanh nghiệp hiện tại.  
Các doanh nghiệp Việt Nam được thành lập  
chịu tác động rất lớn của tư duy kế hoạch hoá  
tập trung mệnh lệnh và cơ chế”xin-cho”, những  
tác động của cơ chế thị trường chưa có tác  
động đáng kể cho nên những phản ứng nhanh  
nhạy với những thay đổi của thị trường chưa  
cao. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam  
có nhiều loại hình như doanh nghiệp nhà nước,  
doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp có vốn  
đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân…cho  
Một số đề xuất vận dụng sự kết nối  
Phục hồi và tái cấu trúc doanh nghiệp là  
một vấn đề quản trị phức tạp đối với Việt Nam  
hiện nay. Thành công của công cuộc tái cấu  
trúc doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng kết  
nối giữa trường pháo lý thuyết marketing và lý  
thuyết cạnh tranh. Để sự kết nối này phù hợp  
11  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
tại Việt Nam, có thể và cần phải áp dụng gợi ý  
sau đây:  
Tăng cường nghiên cứu sâu sắc và có hệ  
Sử dụng cách tiếp cận kết nối giữa hai  
trường phái để đánh giá thực trạng hiện nay  
của doanh nghiệp. Những quan sát bước đầu  
cho thấy chiến lược marketing để thích nghi  
kịp thời với thị trường thường xuyên biến động  
của các doanh nghiệp Việt Nam chưa cao, các  
giải pháp cải thiện năng lực cạnh tranh chưa  
tạo được kết quả đáng kể. Chính vì thế, xuất  
hiện tình trạng hàng tồn kho rất lớn cùng với  
chất lượng hàng hoá, dịch vụ được tạo ra chưa  
cao, hàng hoá nước ngoài cạnh tranh gay gắt  
gây nguy cơ lấn át doanh nghiệp trong nước,  
chiếm lĩnh đáng kể thị trường kể cả những mặt  
hàng giá rẻ và chất lượng thấp của Trung Quốc  
chẳng hạn. Chiến lược marketing quốc tế và  
cải thiện năng lực cạnh tranh quốc tế trong nền  
kinh tế toàn cầu của các doanh nghiệp Việt  
Nam chưa được thực hiện đồng bộ và có hiệu  
quả, vì thế, mức độ chiếm lĩnh thị trường nước  
ngoài chưa tương xứng với tiềm năng và mong  
đợi.  
thống cả hai trường phái lý thuyết này, cần coi  
chúng là hai trụ cột của khoa học quản trị kinh  
doanh rất cần thiết và phù hợp với điều kiện  
Việt Nam để định hình tư duy quản trị doanh  
nghiệp theo cơ chế thị trường. Đây là quá trình  
loại bỏ dần tư duy kế hoạch hoá tập trung và  
mệnh lệnh hoặc cơ chế “xin-cho”. Chất lượng  
tăng trưởng kinh tế Việt Nam và hiệu quả kinh  
doanh của doanh nghiệp phụ thuộc trực tiếp  
vào việc vận dụng tối ưu sự kết nối của hai  
trường phái lý thuyết. Quá trình chuyển sang  
nền kinh tế thị trường của Việt Nam còn khá  
lâu dài cho nên việc học tập và phát triển sự kết  
nối giữa các trường phái lý thuyết này cần  
được tiếp tục để tìm kiếm những điểm phù  
hợep nhất của chúng đối với Việt Nam. Đồng  
thời, việc nghiên cứu các trường phái lý thuyết  
còn nhằm xây dựng được định hướng chiến  
lược kinh doanh phù hợp, giảm thiểu chi phí  
điều chỉnh trong tương lai.  
Từ những đánh giá trên đây, các giải pháp  
vận dụng sự kết nối là cần thiết. Các giải pháp  
này xoay quanh viêc áp dụng đồng bộ cả các  
tác động của kỹ thuật marketing từ thô sơ đến  
tinh xảo để duy trì và phát triển thị trường ở  
mức cao nhất cùng với giải pháp cải thiện ráo  
riết và quyết liệt năng lực cạnh tranh bằng mô  
hình tổ chức tối ưu và hoạt động đầu tư có  
trọng điểm, đúng thời điểm, có hiệu quả và đủ  
mức độ cần thiết. Cảc giải pháp này đều có thể  
thực hiện ở các cấp độ khác nhau từ cấp doanh  
nghiệp, ngành, địa phương đến chính phủ./.  
Đẩy mạnh việc học hỏi kinh nghiệm và bài  
học quản lý từ các nước có nền kinh tế thị  
trường phát triển và các doanh nghiệp thành  
công trong cải thiện năng lực cạnh tranh và  
thực hiện chiến lược marketing thành công cả  
các tập đoàn xuyên quốc gia và doanh nghiệp  
có quy mô nhỏ và vừa. Đây là những tính  
huống thực tế và những ví dụ cụ thể có sức  
thuyết phục cao đối với quá trình tài cấu trúc  
doanh nghiệp Việt Nam trên nền tảng kết nối  
hai trường phái trong khoa học quản trị. Chẳng  
hạn, chiến lược thu hẹp và mở rộng thị trường,  
thu hút nhân tài, chiến lược thâm nhập thị  
trường nước ngoài ráo tiết…cần được xây  
dựng và thực hiện phù hợp.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Trương Đình Chiến (2013), Giáo trình marketing. Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân  
[2] Đại học Kinh tế quốc dân (2012), Kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.  
Phần các lý thuyết mới về kinh tế quốc tế  
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia- Hà  
Nội  
12  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
[4] Chính phủ (2013), Đề án tổng thể về tái cơ cấu, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh  
tranh của nền kinh tế. (Cổng thông tin điện tử Chính phủ)  
[5] Khoa Khoa học quản lý (2013), Giáo trình Quản trị học, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc  
dân  
[6] P.Kotler (1998), Marketing căn bản. Nhà xuất bản Thống kê  
[7] Nguyễn Thường Lạng (2013), Những định hướng cơ bản trong phục hồi và tái cấu trúc doanh  
nghiệp Việt Nam trong hội nhập. (www.gsneu.edu.vn/thongtin-tracuu)  
[8] M.Porter (1990), Năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhà xuất bản Mac-Graw Hill.  
[9] C.K. Prahalad (1996), Competing for the future, Amazone.com  
[10] VCCI (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.  
(http://www.pcivietnam.org)  
13  
pdf 9 trang Thùy Anh 13020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kết nối trường phái lý thuyết marketing với lý thuyết năng lực cạnh tranh của khoa học quản trị kinh doanh để vận dụng vào tái cấu trúc doanh nghiệp Việt Nam trong khủng hoảng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfket_noi_truong_phai_ly_thuyet_marketing_voi_ly_thuyet_nang_l.pdf