Giáo trình Thiết kế hệ thống nhúng

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội  
Bộ môn Điều khiển tự động  
Nội dung  
Tài liệu tóm tắt bài giảng  
1
2
MỞ ĐẦU................................................................................................................................5  
1.1  
1.2  
1.3  
Các khái niệm về hệ nhúng......................................................................................5  
Lĩnh vực ứng dụng của hệ nhúng...........................................................................7  
Đặc điểm công nghệ và xu thế phát triển của hệ nhúng.....................................8  
1.3.1 Đặc điểm công nghệ.....................................................................................8  
1.3.2 Xu thế phát triển và sự tăng trưởng của hệ nhúng .................................9  
Mục đích và nội dung môn học.............................................................................10  
HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN NHÚNG  
(Embedded Control Systems)  
TS. Lưu Hồng Việt  
1.4  
CẤU TRÚC PHẦN CỨNG HỆ NHÚNG........................................................................11  
2.1  
Các thành phần kiến trúc cơ bản...........................................................................11  
2.1.1 Đơn vị xử lý trung tâm CPU.....................................................................11  
2.1.2 Xung nhịp và trạng thái tín hiệu..............................................................13  
2.1.3 Bus địa chỉ, dữ liệu và điều khiển............................................................16  
2.1.4 Bộ nhớ ..........................................................................................................17  
2.1.5 Không gian và phân vùng địa chỉ............................................................21  
2.1.6 Ngoại vi........................................................................................................21  
2.1.7 Giao diện......................................................................................................33  
Một số nền phần cứng nhúng thông dụng (µP/DSP/PLA) ...............................37  
2.2.1 Chip Vi xử lý / Vi điều khiển nhúng .......................................................37  
2.2.2 Chip DSP......................................................................................................39  
2.2.3 PAL...............................................................................................................41  
2.2  
3
CƠ SỞ KỸ THUẬT PHẦN MỀM NHÚNG....................................................................48  
3.1  
3.2  
Đặc điểm phần mềm nhúng ..................................................................................48  
Biểu diễn số và dữ liệu ...........................................................................................48  
3.2.1 Các hệ thống cơ số......................................................................................48  
3.2.2 Số nguyên ....................................................................................................48  
3.2.3 Số dấu phảy tĩnh.........................................................................................50  
3.2.4 Số dấu phảy động.......................................................................................51  
3.2.5 Một số phép tính cơ bản............................................................................52  
Tập lệnh ....................................................................................................................55  
3.3.1 Cấu trúc tập lệnh CISC và RISC...............................................................55  
3.3.2 Định dạng lệnh ...........................................................................................57  
3.3.3 Các kiểu truyền địa chỉ toán tử lệnh .......................................................57  
3.3.4 Nguyên lý thực hiện pipeline.....................................................................60  
3.3.5 Harzard........................................................................................................61  
3.3  
1
2
3.4  
Ngôn ngữ và môi trường phát triển.....................................................................63  
3.4.1 Ngôn ngữ.....................................................................................................63  
3.4.2 Biên dịch ......................................................................................................65  
3.4.3 Simulator .....................................................................................................70  
3.4.4 Emulator ......................................................................................................71  
3.4.5 Thiết kế hệ thống bằng máy tính .............................................................71  
4
5
HỆ ĐIỀU HÀNH NHÚNG ...............................................................................................73  
4.1  
4.2  
4.3  
4.4  
Hệ điều hành............................................................................................................73  
Bộ nạp khởi tạo (Boot‐loader)..................................................................................74  
Các yêu cầu chung...................................................................................................76  
Hệ điều hành thời gian thực..................................................................................77  
KỸ THẬT LẬP TRÌNH NHÚNG .....................................................................................81  
5.1  
5.2  
Tác vụ và quá trình (process) ..................................................................................81  
Lập lịch (Scheduling)................................................................................................81  
5.2.1 Các khái niệm..............................................................................................81  
5.2.2 Các phương pháp lập lịch phổ biến ........................................................82  
5.2.3 Kỹ thuật lập lịch .........................................................................................85  
Truyền thông và đồng bộ.......................................................................................87  
5.3.1 Semaphore...................................................................................................87  
5.3.2 Monitor ........................................................................................................89  
Xử lý ngắt .................................................................................................................90  
5.3  
5.4  
6
THIẾT KẾ HỆ NHÚNG: TỔ HỢP PHẦN CỨNG VÀ MỀM.......................................93  
6.1  
6.2  
6.3  
Qui trình phát triển .................................................................................................93  
Phân tích yêu cầu.....................................................................................................93  
Mô hình hoá sự kiện và tác vụ ..............................................................................93  
6.3.1 Phương pháp mô hình Petrinet................................................................93  
6.3.2 Qui ước biểu diễn mô hình Petrinet ........................................................94  
6.3.3 Mô tả các tình huống hoạt động cơ bản với Petrinet ............................95  
6.3.4 Ngôn ngữ mô tả phần cứng (VHDL) ....................................................103  
Thiết kế phần mềm điều khiển............................................................................104  
6.4.1 Mô hình thực thi bộ điều khiển nhúng.................................................104  
6.4.2 Ví dụ thực thi bộ điều khiển PID số ......................................................106  
6.4  
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................................108  
3
4
1
MỞ ĐẦU  
Kỷ nguyên công nghệ mới đã và đang tiếp tục phát triển không ngừng nhằm thông  
minh hoá hiện đại hoá thông suốt các hệ thống. Có thể nói đánh dấu sự ra đời và phát  
triển của hệ nhúng trước tiên phải kể đến sự ra đời của các bộ vi xử lý, vi điều khiển.  
Nó được đánh dấu bởi sự ra đời của Chip vi xử lý đầu tiên 4004 vào năm 1971 cho mục  
đích tính toán thương mại bởi một công ty Nhật bản Busicom và sau đó đã được chắp  
cánh và phát triển vượt bậc bởi Intel để trở thành các bộ siêu xử lý như các Chip được  
ứng dụng cho PC như ngày nay. Thập kỷ 80 có thể được coi là khởi điểm bắt đầu kỷ  
nguyên của sự bùng nổ về phát triển các hệ nhúng. Từ đó khởi nguồn cho làn sóng ra  
đời của hàng loạt các chủng loại vi xử lý và gắn liền là các hệ nhúng để thâm nhập rộng  
khắp trong các ứng dụng hàng ngày của cuộc sống chúng ta ví dụ như, các thiết bị điện  
tử sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày (lò vi sóng, TV, tủ lạnh, máy giặt, điều hoà ...) và  
văn phòng làm việc (máy fax, máy in, máy điện thoại...)... Các bộ vi xử lý và phần mềm  
cũng ngày càng được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều các hệ thống nhỏ. Các loại vi xử  
lý được sử dụng trong các hệ thống nhúng hiện nay đã vượt xa so với PC về số lượng  
chủng loại (chiếm đến 79% số các vi xử lý đang tồn tại [2] ) và vẫn còn tiếp tục phát  
triển để nhằm đáp ứng và thoả mãn rất nhiều ứng dụng đa dạng. Trong số đó vẫn còn  
ứng dụng cả các Chip vi xử lý 8 bit, 16 bit và hiện nay chủ yếu vẫn là 32 bit (chiếm  
khoảng 75%). Gắn liền với sự phát triển phần cứng, phần mềm cũng đã phát triển với  
tốc độ nhanh không thua kém thậm chí sẽ tăng nhanh hơn rất nhiều theo sự phát triển  
hệ nhúng.  
Hình 1‐1: Một vài hình ảnh về hệ nhúng  
ƒ Hệ thời gian thực ?  
Trong các bài toán điều khiển và ứng dụng chúng ta rất hay gặp thuật ngữ “thời gian  
thực”. Thời gian thực có phải là thời gian phản ánh về độ trung thực của thời gian hay  
không? Thời gian thực có phải là hiển thị chính xác và đồng bộ theo đúng như nhịp  
đồng hồ đếm thời gian hay không? Không phải hoàn toàn như vậy! Thực chất, theo  
cách hiểu nếu nói trong các hệ thống kỹ thuật đặc biệt các hệ thống yêu cầu khắt khe về  
sự ràng buộc thời gian, thời gian thực được hiểu là yêu cầu của hệ thống phải đảm bảo  
thoả mãn về tính tiền định trong hoạt động của hệ thống. Tính tiền định nói lên hành vi  
của hệ thống thực hiện đúng trong một khung thời gian cho trước hoàn toàn xác định.  
Khung thời gian này được quyết định bởi đặc điểm hoặc yêu cầu của hệ thống, có thể là  
vài giây và cũng có thể là vài nano giây hoặc nhỏ hơn nữa. Ở đây chúng ta phân biệt  
yếu tố thời gian gắn liền với khái niệm về thời gian thực. Không phải hệ thống thực  
hiện rất nhanh là sẽ đảm bảo được tính thời gian thực vì nhanh hay chậm hoàn toàn là  
phép so sánh có tính tương đối vì mili giây có thể là nhanh với hệ thống điều khiển  
nhiệt nhưng lại là chậm đối với các đối tượng điều khiển điện như dòng, áp…. Hơn thế  
nữa nếu chỉ nhanh không thì chưa đủ mà phải đảm bảo duy trì ổn định bằng một cơ  
chế hoạt động tin cậy. Chính vì vậy hệ thống không kiểm soát được hoạt động của nó  
(bất định) thì không thể là một hệ thống đảm bảo tính thời gian thực mặc dù hệ thống  
đó có thể cho đáp ứng rất nhanh, thậm chí nhanh hơn rất nhiều so với yêu cầu đặt ra.  
Một ví dụ minh hoạ tiêu biểu đó là cơ chế truyền thông dữ liệu qua đường truyền  
chuẩn Ethernet truyền thống, mặc dù ai cũng biết tốc độ truyền là rất nhanh nhưng vẫn  
không phải hệ hoạt động thời gian thực vì không thoả mãn tính tiền định trong cơ chế  
truyền dữ liệu (có thể là rất nhanh và cũng có thể là rất chậm nếu có sự canh trạnh và  
giao thông đường truyền bị nghẽn).  
1.1  
Các khái niệm về hệ nhúng  
ƒ Hệ nhúng ?  
Trong thế giới thực của chúng ta bất kỳ một thiết bị hay hệ thống điện/điện tử có khả  
năng xử lý thông tin và điều khiển đều có thể tiềm ẩn trong đó một thiết bị hay hệ  
nhúng, ví dụ như các thiết bị truyền thông, thiết bị đo lường điều khiển, các thiết bị  
phục vụ sinh hoạt hàng ngày như lò vi sóng, máy giặt, camera…Rất dễ dàng để có thể  
kể ra hàng loạt các thiết bị hay hệ thống như vậy đang tồn tại quanh ta, chúng là hệ  
nhúng. Vậy hệ nhúng thực chất là gì và nên hiểu thế nào về hệ nhúng? Hiện nay cũng  
chưa có một định nghĩa nào thực sự thoả đáng để được chuẩn hoá và thừa nhận rộng  
rãi cho hệ nhúng mà vẫn chỉ là những khái niệm diễn tả về chúng thông qua những đặc  
thù chung. Tuy nhiên ở đây chúng ta có thể hiểu hệ nhúng là một phần hệ thống xử lý  
thông tin nhúng trong các hệ thống lớn, phức hợp và độc lập ví dụ như trong ôtô, các  
thiết bị đo lường, điều khiển, truyền thông và thiết bị thông minh nói chung. Chúng là  
những tổ hợp của phần cứng và phần mềm để thực hiện một hoặc một nhóm chức năng  
chuyên biệt, cụ thể (Trái ngược với máy tính PC mà chúng ta thường thấy được sử  
dụng không phải cho một chức năng mà là rất nhiều chức năng hay phục vụ chung cho  
nhiều mục đích). PC thực chất lại là một hệ thống lớn, tổ hợp của nhiều hệ thống nhúng  
ví dụ như card màn hình, âm thanh, modem, ổ cứng, bàn phím…Chính điều này làm  
chúng ta dễ lúng túng nếu được hỏi nên hiểu thế nào về PC, có phải là hệ nhúng hay  
không.  
5
6
Người ta phân ra làm hai loại đối với khái niệm thời gian thực là cứng (hard real‐time)  
và mềm (soft real‐time). Thời gian thực cứng là khi hệ thống hoạt động với yêu cầu thoả  
mãn sự ràng buộc trong khung thời gian cứng tức là nếu vi phạm thì sẽ dẫn đến hoạt  
động của toàn hệ thống bị sai hoặc bị phá huỷ. Ví dụ về hoạt động điều khiển cho một  
lò phản ứng hạt nhân, nếu chậm ra quyết định có thể dẫn đến thảm hoạ gây ra do phản  
ứng phân hạch và dẫn đến bùng nổ cả hệ thống. Thời gian thực mềm là khi hệ thống  
hoạt động với yêu cầu thoả mãn ràng buộc trong khung thời gian mềm, nếu vi phạm và  
sai lệch nằm trong khoảng cho phép thì hệ thống vẫn có thể hoạt động được và chấp  
nhận được. Ví dụ như hệ thống phát thanh truyền hình, nếu thông tin truyền đi từ trạm  
phát tới người nghe/nhìn chậm một vài giây thì cũng không ảnh hưởng đáng kể đến  
tính thời sự của tin được truyền đi và hoàn toàn được chấp nhận bởi người theo dõi.  
1.3  
Đặc điểm công nghệ và xu thế phát triển của hệ nhúng  
1.3.1 Đặc điểm công nghệ  
Các hệ thống như vậy đều có chung một số đặc điểm như yêu cầu về khả năng thời  
gian thực, độ tin cậy, tính độc lập và hiệu quả. Một câu hỏi đặt ra là tại sao hệ thống  
nhúng lại phát triển và được phổ cập một cách nhanh chóng như hiện nay. Câu trả lời  
thực ra nằm ở các yêu cầu tăng lên không ngừng trong các ứng dụng công nghệ hiện  
nay. Một trong những yêu cầu cơ bản đó là:  
Khả năng độc lập và thông minh hoá: Điều này được chỉ rõ hơn thông qua một số các  
thuộc tính yêu cầu, cụ thể như:  
;
;
;
;
;
Độ tin cậy  
Thực tế thấy rằng hầu hết hệ nhúng là các hệ thời gian thực và hầu hết các hệ thời gian  
thực là hệ nhúng. Điều này phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa hệ nhúng và thời gian  
thực và tính thời gian thực đã trở thành như một thuộc tính tiêu biểu của hệ nhúng. Vì  
vậy hiện nay khi đề cập tới các hệ nhúng người ta đều nói tới đặc tính cơ bản của nó là  
tính thời gian thực.  
Khả năng bảo trì và nâng cấp  
Sự phổ cập và tiện sử dụng  
Độ an toàn  
Tính bảo mật  
Hiệu quả: Yêu cầu này được thể hiện thông qua một số các đặc điểm của hệ thống như  
Hệ thời gian thực  
sau:  
;
;
;
;
;
Năng lượng tiêu thụ  
Hệ nhúng thời  
gian thực  
Kích thước về phần cứng và phần mềm  
Hiệu quả về thời gian thực hiện  
Kích thước và khối lượng  
Giá thành  
Hệ Nhúng  
Hình 1‐2: Phân bố và quan hệ giữa hệ nhúng và thời gian thực  
Phân hoạch tác vụ và chức năng hoá: Các bộ vi xử lý trong các hệ nhúng thường được  
sử dụng để đảm nhiệm và thực hiện một hoặc một nhóm chức năng rất độc lập và cũng  
đặc thù cho từng phần chức năng của hệ thống lớn mà nó được nhúng vào. Ví dụ như  
một vi xử lý thực hiện một phần điều khiển cho một chức năng thu thập, xử lý và hiển  
thị của ôtô hay hệ thống điều khiển quá trính. Khả năng này làm tăng thêm sự chuyên  
biệt hoá về chức năng của một hệ thống lớn và dễ dàng hơn cho quá trính xây dựng,  
vận hành và bảo trì.  
1.2  
Lĩnh vực ứng dụng của hệ nhúng  
Chúng ta có thể kể ra được rất nhiều các ứng dụng của hệ thống nhúng đang được sử  
dụng hiện nay, và xu thể sẽ còn tiếp tục tăng nhanh. Một số các lĩnh vực và sản phẩm  
thị trường rộng lớn của các hệ nhúng có thể được nhóm như sau:  
•
•
•
•
•
•
•
•
•
Các thiết bị điều khiển  
Ôtô, tàu điện  
Truyền thông  
Khả năng thời gian thực: Các hệ thống đều gắn liền với việc đảm nhiệm một chức năng  
chính và phải được thực hiện đúng theo một khung thời gian qui định. Thông thường  
một chức năng của hệ thống phải được thực hiện và hoàn thành theo một yêu cầu thời  
gian định trước để đảm bảo thông tin cập nhật kịp thời cho phần xử lý của các chức  
năng khác và có thể ảnh hưởng trực tiếp tới sự hoạt động đúng và chính xác của toàn  
hệ thống. Tuỳ thuộc vào từng bài toán và yêu cầu của hệ thống mà yêu cầu về khả năng  
thời gian thực cũng rất khác nhau.  
Thiết bị y tế  
Hệ thống đo lường thẩm định  
Toà nhà thông minh  
Thiết bị trong các dây truyền sản xuất  
Rôbốt  
...  
Tuy nhiên, trong thực tế không phải hệ nhúng nào cũng đều có thể thoả mãn tất cả  
những yêu cầu nêu trên, vì chúng là kết quả của sự thoả hiệp của nhiều yêu cầu và điều  
kiện nhằm ưu tiên cho chức năng cụ thể mà chúng được thiết kế. Chính điều này lại  
7
8
càng làm tăng thêm tính chuyên biệt hoá của các hệ/thiết bị nhúng mà các thiết bị đa  
năng không thể cạnh tranh được.  
FPGA, PSOC và sự tổ hợp của chúng...Kèm theo đó là các kỹ thuật phát triển phần  
mềm cho phép đảm nhiệm được các bài toán yêu cầu khắt khe trên cơ sở một nền phần  
cứng hữu hạn về khả năng xử lý và không gian bộ nhớ. Giải quyết các bài toán thời  
gian thực như phân chia tác vụ và giải quyết cạnh tranh chia sẻ tài nguyên chung. Hiện  
nay cũng đã có nhiều nhà phát triển công nghệ phần mềm lớn đang hướng vào thị  
trường hệ nhúng bao gồm cả Microsoft. Ngoài một số các hệ điều hành Windows quen  
thuộc dùng cho PC, Microsoft cũng đã tung ra các phiên bản mini như WindowsCE,  
WindowsXP Embedded và các công cụ phát triển ứng dụng kèm theo để phục vụ cho các  
thiết bị nhúng, điển hình như các thiết bị PDA, một số thiết bị điều khiển công nghiệp  
như các máy tính nhúng, IPC của Siemens...  
1.3.2 Xu thế phát triển và sự tăng trưởng của hệ nhúng  
Vì sự phát triển hệ nhúng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phần cứng và phần mềm  
nên công nghệ gắn liền với nó cũng chính là công nghệ kết hợp giữa các giải pháp cho  
phần cứng và mềm. Vì tính chuyên biệt của các thiết bị / hệ nhúng như đã giới thiệu  
nên các nền phần cứng cũng được chế tạo để ưu tiên đáp ứng cho chức năng hay nhiệm  
vụ cụ thể của yêu cầu thiết kế đặt ra.  
Lớp hệ nhúng ưu tiên phát triển theo tiêu chí về kích thước nhỏ gọn, tiêu thụ năng  
lượng ít, giá thành thấp. Các chíp xử lý nhúng cho lớp hệ thống ứng dụng đó thường  
yêu cầu về khả năng tính toán ít hoặc vừa phải nên hầu hết được xây dựng trên cở sở  
bộ đồng xử lý 8 bít ‐16 bit hoặc cùng lắm là 32 bit và không hỗ trợ dấu phảy động do sự  
hạn chế về dung lượng và khả năng tính toán.  
Có thể nói hệ nhúng đã trở thành một giải pháp công nghệ và phát triển một cách  
nhanh chóng, hứa hẹn nhiều thiết bị nhúng sẽ chiếm lĩnh được thị trường rộng lớn  
trong tương lai nhằm đáp ứng nhu cầu ứng dụng không ngừng trong cuộc sống của  
chúng ta. Đối với lĩnh vực công nghiệp về điều khiển và tự động hoá, hệ nhúng cũng là  
một giải pháp đầy tiềm năng đã và đang được ứng dụng rộng rãi. Nó rất phù hợp để  
thực thi các chức năng thông minh hoá, chuyên biệt trong các hệ thống và thiết bị công  
nghiệp, từ các hệ thống tập trung đến các hệ thống phân tán. Giải pháp hệ nhúng có thể  
thực thi từ cấp thấp nhất của hệ thống công nghiệp như cơ cấu chấp hành cho đến các  
cấp cao hơn như giám sát điều khiển quá trình.  
Lớp hệ nhúng ưu tiên thực thi khả năng xử lý tính toán với tốc độ thực hiện nhanh. Các  
chíp xử lý nhúng cho các hệ thống đó cũng sẽ là các Chip áp dụng các công nghệ cao  
cấp với kiến trúc xử lý song song để đáp ứng được cường độ tính toán lớn và tốc độ mà  
các Chip xử lý đa chức năng thông thường không đạt tới được.  
1.4  
Mục đích và nội dung môn học  
Lớp hệ thống ưu tiên cả hai tiêu chí phát triển của hai lớp trên, tức là kích thước nhỏ  
gọn, mức tiêu thụ năng lượng thấp, tốc độ tính toán nhanh. Tuỳ theo sự thoả hiệp giữa  
các yêu cầu và xu thế phát triển chính vì vậy cũng không có gì ngạc nhiên khi chúng ta  
thấy sự tồn tại song song của rất nhiều các Chip vi xử lý nhúng, vi điều khiển nhúng 8  
bit, 16 bit hay 32 bit cùng với các Chíp siêu xử lý khác vẫn đang được ứng dụng rộng  
rãi cho hệ nhúng. Đó cũng là sự kết hợp đa dạng và sự ra đời của các hệ nhúng nói  
chung nhằm thoả mãn các ứng dụng phát triển không ngừng.  
Hệ điều khiển nhúng là một môn học mới nhằm cung cấp kiến thức cho sinh viên về  
khả năng phân tích và thiết kế hệ thống điều khiển và thông minh hoá hệ thống theo  
chức năng theo giải pháp công nghệ. Thiết kế thực thi điều khiển trên nền phần cứng  
nhúng.  
Với mỗi một nền phần cứng nhúng thường có những đặc thù riêng và kèm theo một  
giải pháp phát triển phần mềm tối ưu tương ứng. Không có một giải pháp nào chung  
và chuẩn tắc cho tất cả các hệ nhúng. Chính vì vậy thông thường các nhà phát triển và  
cung cấp phần cứng cũng lại chính là nhà cung cấp giải pháp phần mềm hoặc công cụ  
phát triển phần mềm kèm theo. Rất phổ biến hiện nay các Chip vi xử lý hay vi điều  
khiển đều có các hệ phát triển (Starter Kit hay Emulator) để hỗ trợ cho các nhà ứng dụng  
và xây dựng hệ nhúng với hiểu biết hạn chế về phần cứng. Ngôn ngữ mã hoã phần  
mềm cũng thường là C hoặc gần giống như C (Likely C) thay vì phải viết hoàn toàn  
bằng hợp ngữ Assembly. Điều này cho phép các nhà thiết kế tối ưu và đơn giản hoá rất  
nhiều cho bước phát triển và xây dựng hệ nhúng.  
Trong xu thế phát triển không ngừng và nhằm thoả mãn được nhu cầu phát triển  
nhanh và hiệu quả có rất nhiều các công nghệ cho phép thực thi các giải pháp hệ  
nhúng. Đứng sau sự phổ cập rộng rãi của các Chip vi xử lý vi điều khiển nhúng, DSP  
phải kể đến các công nghệ cũng đang rất được quan tâm hiện nay như ASIC, CPLD,  
9
10  
Bộ giải mã chuyển đổi (thông dịch) các lệnh lưu trữ ở trong bộ mã chương trình thành  
các mã mà ALU có thể hiểu được và thực thi. Bộ tuần tự có nhiệm vụ quản lý dòng dữ  
liệu trao đổi qua bus dữ liệu của VXL. Các thanh ghi được sử dụng để CPU lưu trữ tạm  
thời các dữ liệu chính cho việc thực thi các lệnh và chúng có thể thay đổi nội dung trong  
quá trình hoạt động của ALU. Hầu hết các thanh ghi của VXL đều là các bộ nhớ được  
tham chiếu (mapped) và hội nhập với khu vực bộ nhớ và có thể được sử dụng như bất  
kỳ khu vực nhớ khác.  
2
CẤU TRÚC PHẦN CỨNG HỆ NHÚNG  
Các thành phần kiến trúc cơ bản  
2.1  
Các thanh ghi có chức năng lưu trữ trạng thái của CPU. Nếu các nội dung của bộ nhớ  
VXL và các nội dung của các thanh ghi tại một thời điểm nào đó được lữu giữ đầy đủ  
thì hoàn toàn có thể tạm dừng thực hiện phần chương trình hiện tại trong một khoảng  
thời gian bất kỳ và có thể trở lại trạng thái của CPU trước đó. Thực tế số lượng các  
thanh ghi và tên gọi của chúng cũng khác nhau trong các họ VXL/VĐK và thường do  
chính các nhà chế tạo qui định, nhưng về cơ bản chúng đều có chung các chức năng  
như đã nêu.  
Khi thứ tự byte trong bộ nhớ đã được xác định thì người thiết kế phần cứng phải thực  
hiện một số quyết định xem CPU sẽ lưu dữ liệu đó như thế nào. Cơ chế này cũng khác  
nhau tuỳ theo kiến trúc tập lệnh được áp dụng. Có ba loại hình cơ bản:  
Hình 2‐1: Kiến trúc điển hình của các chíp VXL/VĐK nhúng  
2.1.1 Đơn vị xử lý trung tâm CPU  
(1) Kiến trúc ngăn xếp  
(2) Kiến trúc bộ tích luỹ  
(3) Kiến trúc thanh ghi mục đích chung  
Kiến trúc ngăn xếp sử dụng ngăn xếp để thực hiện lệnh và các toán tử nhận được từ  
đỉnh ngăn xếp. Mặc dù cơ chế này hỗ trợ mật độ mã tốt và mô hình đơn giản cho việc  
đánh giá cách thể hiện chương trình nhưng ngăn xếp không thể hỗ trợ khả năng truy  
nhập ngẫu nhiên và hạn chế hiệu suất thực hiện lệnh.  
Kiến trúc bộ tích luỹ với lệnh một toán tử ngầm mặc định chứa trong thanh ghi tích luỹ  
có thể giảm được độ phức tạp bên trong của cấu trúc CPU và cho phép cấu thành lệnh  
rất nhỏ gọn. Nhưng thanh ghi tích luỹ chỉ là nơi chứa dữ liệu tạm thời nên giao thông  
bộ nhớ rất lớn.  
Kiến trúc thanh ghi mục đích chung sử dụng các tập thanh ghi mục đích chung và được  
đón nhận như mô hình của các hệ thống CPU mới, hiện đại. Các tập thanh ghi đó  
nhanh hơn bộ nhớ thường và dễ dàng cho bộ biên dịch xử lý thực thi và có thể được sử  
dụng một cách hiệu quả. Hơn nữa giá thành phần cứng ngày càng có xu thế giảm đáng  
kể và tập thanh ghi có thể tăng nhanh. Nếu cơ chế truy nhập bộ nhớ nhanh thì kiến trúc  
dựa trên ngăn xếp có thể là sự lựa chọn lý tưởng; còn nếu truy nhập bộ nhớ chậm thì  
kiến trúc thanh ghi sẽ là sự lựa chọn phù hợp nhất.  
Hình 2‐2: Cấu trúc CPU  
Người ta vẫn biết tới phần lõi xử lý của các bộ VXL là đơn vị xử lý trung tâm CPU  
(Central Processing Unit) đóng vai trò như bộ não chịu trách nhiệm thực thi các phép  
tính và thực hiện các lệnh. Phần chính của CPU đảm nhiệm chức năng này là đơn vị  
logic toán học (ALU – Arthimetic Logic Unit). Ngoài ra để hỗ trợ cho hoạt động của ALU  
còn có thêm một số các thành phần khác như bộ giải mã (decoder), bộ tuần tự (sequencer)  
và các thanh ghi.  
Một số thanh ghi với chức năng điển hình thường được sử dụng trong các kiến trúc  
CPU như sau:  
11  
12  
năng tương thích khi có sự hoạt động phối hợp giữa các thiết bị ghép nối hay mở rộng  
trong hệ thống. Thông thường thông tin về các nhịp thời gian hoạt động cũng như đặc  
tính kỹ thuật chi tiết được cung cấp hoặc qui định bởi các nhà chế tạo.  
ƒ Thanh ghi con trỏ ngăn xếp (stack pointer):  
Thanh ghi này lưu giữ địa chỉ tiếp theo của ngăn xếp. Theo nguyên lý giá trị địa chỉ  
chứa trong thanh ghi con trỏ ngăn xếp sẽ giảm nếu dữ liệu được lưu thêm vào ngăn xếp  
và sẽ tăng khi dữ liệu được lấy ra khỏi ngăn xếp.  
Một số đặc trưng về thời gian của các trạng thái hoạt động cơ bản của các tín hiệu hệ  
thống gồm có như sau:  
ƒ Thanh ghi chỉ số (index register)  
9 Thời gian tăng hoặc giảm  
Thanh ghi chỉ số được sử dụng để lưu địa chỉ khi mode địa chỉ được sử dụng. Nó còn  
được biết tới với tên gọi là thanh ghi con trỏ hay thanh ghi lựa chọn tệp (Microchip).  
9 Thời gian trễ lan truyền tín hiệu  
9 Thời gian thiết lập  
9 Thời gian giữ  
ƒ Thanh ghi địa chỉ lệnh /Bộ đếm chương trình (Program Counter)  
9 Trễ cấm hoạt động và trạng thái treo (Tri‐State)  
9 Độ rộng xung  
9 Tần số nhịp xung hoạt động  
Một trong những thanh ghi quan trọng nhất của CPU là thanh ghi bộ đếm chương  
trình. Thanh ghi bộ đếm chương trình lưu địa chỉ lệnh tiếp theo của chương trình sẽ  
được CPU xử lý. Mỗi khi lệnh được trỏ tới và được CPU xử lý thì nội dung giá trị của  
thanh ghi bộ đếm chương trình sẽ tăng lên một. Chương trình sẽ kết thúc khi thanh ghi  
PC có giá trị bằng địa chỉ cuối cùng của chương trình nằm trong bộ nhớ chương trình.  
ƒ Thời gian tăng hoặc giảm  
ƒ Thanh ghi tích lũy (Accumulator)  
Thanh ghi tích lũy là một thanh ghi giao tiếp trực tiếp với ALU, được sử dụng để lưu  
giữ các toán tử hoặc kết quả của một phép toán trong quá trình hoạt động của ALU.  
2.1.2 Xung nhịp và trạng thái tín hiệu  
Trong VXL và các vi mạch số nói chung, hoạt động của hệ thống được thực hiện đồng  
bộ hoặc dị bộ theo các xung nhịp chuẩn. Các nhịp đó được lấy trực tiếp hoặc gián tiếp  
từ một nguồn xung chuẩn thường là các mạch tạo xung hoặc dao động thạch anh. Để  
mô tả hoạt động của hệ thống, các tín hiệu dữ liệu và điều khiển thường được mô tả  
trạng thái theo giản đồ thời gian và mức tín hiệu như được chỉ ra trong Hình 2‐3: Mô tả  
và trạng thái tín hiệu hoạt động trong VXL  
Hình 2‐4: Mô tả trạng thái tín hiệu logic tăng và giảm  
Thời gian tăng được định nghĩa là khoảng thời gian để tín hiệu tăng từ 20% đến 80%  
mức tín hiệu cần thiết. Thời gian giảm là khoảng thời gian để tín hiệu giảm từ 80% đến  
20% mức tín hiệu cần thiết.  
ƒ Thời gian trễ lan truyền:  
Là khoảng thời gian tín từ khi thay đổi tín hiệu vào cho tới khi có sự thay đổi tín hiệu ở  
đầu ra. Đặc tính này thường do cấu tạo và khả năng truyền dẫn tín hiệu vật lý trong hệ  
thống tín hiệu.  
Hình 2‐3: Mô tả và trạng thái tín hiệu hoạt động trong VXL  
Mục đích của việc mô tả trạng thái tín hiệu theo giản đồ thời gian và mức tín hiệu là để  
phân tích và xác định chuỗi sự kiện hoạt động chi tiết trong mỗi chu kỳ bus. Nhờ việc  
mô tả này chúng ta có thể xem xét đến khả năng đáp ứng thời gian của các sự kiện thực  
thi trong hệ thống và thời gian cần thiết để thực thi hoạt động tuần tự cũng như là khả  
Hình 2‐5: Mô tả trạng thái và độ trễ lan truyền tín hiệu  
ƒ Thời gian thiết lập và lưu giữ  
Khoảng thời gian cần thiết để tín hiệu trích mẫu đạt tới một trạng thái ổn định trước khi  
nhịp xung chuẩn đồng hồ thay đổi được gọi là thời gian thiết lập. Thời gian lưu giữ là  
13  
14  
Hình 2‐8: Mô tả chu kỳ tín hiệu 3 trạng thái và contention  
khoảng thời gian cần thiết để duy trì tín hiệu trích mẫu ổn định sau khi xung nhịp  
chuẩn đồng hồ thay đổi. Thực chất khoảng thời gian thiết lập và thời gian lưu giữ là cần  
thiết để đảm bảo tín hiệu được ghi nhận chính xác và ổn định trong quá trình hoạt  
động và chuyển mức trạng thái. Giản đồ thời gian trong Hình 2‐6: Thời gian thiết lập và  
lưu giữ minh họa thời gian thiết lập và lưu giữ trong hoạt động của Triger D.  
Độ rộng xung và tần số nhịp xung chuẩn  
Hình 2‐6: Thời gian thiết lập và lưu giữ  
Hình 2‐9: Độ rộng và tần số xung nhịp chuẩn  
Trong trường hợp hoạt động chuyển trạng thái tín hiệu không đồng bộ và không đảm  
bảo được thời gian thiết lập và lưu giữ sẽ có thể dẫn đến sự mất ổn định hay không xác  
định mức tín hiệu trong hệ thống. Hiện tượng này được biết tới với tên gọi là  
metastabilit. Để minh họa cho hiện tượng này trong Hình 2‐7 mô tả hoạt động lỗi của  
một Triger khi các mức tín hiệu vào không thỏa mãn yêu cầu về thời thiết lập và lưu  
giữ.  
2.1.3 Bus địa chỉ, dữ liệu và điều khiển  
Bus địa chỉ  
ƒ
Bus địa chỉ là các đường dẫn tín hiệu logic một chiều để truyền địa chỉ tham chiếu tới  
các khu vực bộ nhớ và chỉ ra dữ liệu được lưu giữ ở đâu trong không gian bộ nhớ.  
Trong qúa trình hoạt động CPU sẽ điều khiển bus địa chỉ để truyền dữ liệu giữa các  
khu vực bộ nhớ và CPU. Các địa chỉ thông thường tham chiếu tới các khu vực bộ nhớ  
hoặc các khu vực vào ra, hoặc ngoại vi. Dữ liệu được lưu ở các khu vực đó thường là 8‐  
bit (1 byte), 16‐bit, hoặc 32‐bit tùy thuộc vào cấu trúc từng loại vi xử lý/vi điều khiển.  
Hầu hết các vi điều khiển thường đánh địa chỉ dữ liệu theo khối 8‐bit. Các loại vi xử lý  
8‐bit, 16‐bit và 32‐bit nói chung cũng đều có thể làm việc trao đổi với kiểu dữ liệu 8‐bit  
và 16‐bit.  
Chúng ta vẫn thường được biết tới khái niệm địa chỉ truy nhập trực tiếp, đó là khả năng  
CPU có thể tham chiếu và truy nhập tới trong một chu kỳ bus. Nếu vi xử lý có N bit địa  
chỉ tức là nó có thể đánh địa chỉ được 2N khu vực mà CPU có thể tham chiếu trực tiếp  
tới. Qui ước các khu vực được đánh địa chỉ bắt đầu từ địa chỉ 0 và tăng dần đến 2N‐1.  
Hiện nay các vi xử lý và vi điều khiển nói chung chủ yếu vẫn sử dụng phổ biến các bus  
dữ liệu có độ rộng là 16, 20, 24, hoặc 32‐bit. Nếu đánh địa chỉ theo byte thì một vi xử lý  
16‐bit có thể đánh địa chỉ được 216 khu vực bộ nhớ tức là 65,536 byte = 64Kbyte. Tuy  
nhiên có một số khu vực bộ nhớ mà CPU không thể truy nhập trực tiếp tới tức là phải  
sử dụng nhiều nhịp bus để truy nhập, thông thường phải kết hợp với việc điều khiển  
phần mềm. Kỹ thuật này chủ yếu được sử dụng để mở rộng bộ nhớ và thường được  
biết tới với khái niệm đánh địa chỉ trang nhớ khi nhu cầu đánh địa chỉ khu vực nhớ  
vượt quá phạm vi có thể đánh địa chỉ truy nhập trực tiếp.  
Hình 2‐7: Hiện tượng Metastabilit trong hoạt động của Triger D  
Chu kỳ tín hiệu 3 trạng thái và contention  
Ví dụ: CPU 80286 có 24‐bit địa chỉ sẽ cho phép đánh địa chỉ trực tiếp cho 224 byte (16  
Mbyte) nhớ. CPU 80386 và các loại vi xử lý mạnh hơn có không gian địa chỉ 32‐bit sẽ có  
thể đánh được tới 232 byte (4Gbyte) địa chỉ trực tiếp.  
15  
16  
ƒ
Bus dữ liệu  
Trong kiến trúc von Neumann không phân biệt vùng chứa dữ liệu và mã chương trình.  
Cả chương trình và dữ liệu đều được truy nhập theo cùng một đường. Điều này cho  
phép đưa dữ liệu vào vùng mã chương trình ROM, và cũng có thể lưu mã chương trình  
vào vùng dữ liệu RAM và thực hiện từ đó.  
Bus dữ liệu là các kênh truyền tải thông tin theo hai chiều giữa CPU và bộ nhớ hoặc các  
thiết bị ngoại vi vào ra. Bus dữ liệu được điều khiển bởi CPU để đọc hoặc viết các dữ  
liệu hoặc mã lệnh thực thi trong qúa trình hoạt động của CPU. Độ rộng của bus dữ liệu  
nói chung sẽ xác định được lượng dữ liệu có thể truyền và trao đổi trên bus. Tốc độ  
truyền hay trao đổi dữ liệu thường được tính theo đơn vị là [byte/s]. Số lượng đường  
bit dữ liệu sẽ cho phép xác định được số lượng bit có thể lưu trữ trong mỗi khu vực  
tham chiếu trực tiếp. Nếu một bus dữ liệu có khả năng thực hiện một lần truyền trong 1  
μs, thì bus dữ liệu 8‐bit sẽ có băng thông là 1Mbyte/s, bus 16‐bit sẽ có băng thông là  
2Mbyte/s và bus 32‐bit sẽ có băng thông là 4Mbyte/s. Trong trường hợp bus dữ liệu 8‐  
bit với chu kỳ bus là T=1μs (tức là sẽ truyền được 1byte/1chu kỳ) thì sẽ truyền được 1  
Mbyte trong 1s hay 2Mbyte trong 2s.  
ƒ
Bus điều khiển  
Bus điều khiển phục vụ truyền tải các thông tin dữ liệu để điều khiển hoạt động của hệ  
thống. Thông thường các dữ liệu điều khiển bao gồm các tín hiệu chu kỳ để đồng bộ  
các nhịp chuyển động và hoạt động của hệ thống. Bus điều khiển thường được điều  
khiển bởi CPU để đồng bộ hóa nhịp hoạt động và dữ liệu trao đổi trên các bus. Trong  
trường hợp vi xử lý sử dụng dồn kênh bus dữ liệu và bus địa chỉ tức là một phần hoặc  
toàn bộ bus dữ liệu sẽ được sử dụng chung chia sẻ với bus địa chỉ thì cần một tín hiệu  
điều khiển để phân nhịp truy nhập cho phép chốt lưu trữ thông tin địa chỉ mỗi khi bắt  
đầu một chu kỳ truyền. Một ví dụ về các chu kỳ bus và sự đồng bộ của chúng trong  
hoạt động của hệ thống bus địa chỉ và dữ liệu dồn kênh được chỉ ra trong Hình 2‐10.  
Đây là hoạt động điển hình trong họ vi điều khiển 8051 và nhiều loại tương tự.  
Hình 2‐11: Kiến trúc bộ nhớ von Neumann và Havard  
Kiến trúc Havard tách/phân biệt vùng lưu mã chương trình và dữ liệu. Mã chương trình  
chỉ có thể được lưu và thực hiện trong vùng chứa ROM và dữ liệu cũng chỉ có thể lưu  
và trao đổi trong vùng RAM. Hầu hết các vi xử lý nhúng ngày nay sử dụng kiến trúc bộ  
nhớ Havard hoặc kiến trúc Havard mở rộng (tức là bộ nhớ chương trình và dữ liệu tách  
biệt nhưng vẫn cho phép khả năng hạn chế để lấy dữ liệu ra từ vùng mã chương trình).  
Trong kiến trúc bộ nhớ Havard mở rộng thường sử dụng một số lượng nhỏ các con trỏ  
để lấy dữ liệu từ vùng mã chương trình theo cách nhúng vào trong các lệnh tức thời.  
Một số Chip vi điều khiển nhúng tiêu biểu hiện nay sử dụng cấu trúc Havard là 8031,  
PIC, Atmel AVR90S. Nếu sử dụng Chip 8031 chúng ta sẽ nhận thấy điều này thông qua  
việc truy nhập lấy dữ liệu ra từ vùng dữ liệu RAM hoặc từ vùng mã chương trình.  
Chúng ta có một vài con trỏ được sử dụng để lấy dữ liệu ra từ bộ nhớ dữ liệu RAM,  
nhưng chỉ có duy nhất một con trỏ DPTR có thể được sử dụng để lấy dữ liệu ra từ vùng  
mã chương trình. Hình 2‐11 mô tả nguyên lý kiến trúc của bộ nhớ von Neumann và  
Harvard.  
Ưu điểm nổi bật của cấu trúc bộ nhớ Harvard so với kiến trúc von Neumann là có hai  
kênh tách biệt để truy nhập vào vùng bộ nhớ mã chương trình và dữ liệu nhờ vậy mà  
mã chương trình và dữ liệu có thể được truy nhập đồng thời và làm tăng tốc độ luồng  
trao đổi với bộ xử lý.  
Hình 2‐10: Chu kỳ hoạt động bus dồn kêch  
2.1.4 Bộ nhớ  
Kiến trúc bộ nhớ  
Kiến trúc bộ nhớ được chia ra làm hai loại chính và được áp dụng rộng rãi trong hầu  
hết các Chip xử lý nhúng hiện nay là kiến trúc bộ nhớ von Neumann và Havard.  
17  
18  
ƒ Bộ nhớ Flash  
Cũng giống như EPROM được cấu tạo bởi một mảng transistor khả trình nhưng có thể  
xoá được bằng điện và chính vì vậy có thể nạp lại chương trình mà không cần tách ra  
khỏi nền phần cứng VXL. Ưu điểm của bộ nhớ flash là có thể lập trình trực tiếp trên  
mạch cứng mà nó đang thực thi trên đó.  
Hình 2‐12: Nguyên lý điều khiển tách kênh truy nhập bus địa chỉ và bus dữ liệu  
Bộ nhớ chương trình – PROM (Programmable Read Only Memory)  
Hình 2‐14: Sơ đồ nguyên lý ghép nối EPROM với VXL  
Vùng để lưu mã chương trình. Có ba loại bộ nhớ PROM thông dụng được sử dụng cho  
hệ nhúng và sẽ được giới thiệu lần lượt sau đây.  
Bộ nhớ dữ liệu ‐ RAM  
Vùng để lưu hoặc trao đổi dữ liệu trung gian trong quá trình thực hiện chương trình.  
ƒ EPROM  
Bao gồm một mảng các transistor khả trình. Mã chương trình sẽ được ghi trực tiếp và vi  
xử lý có thể đọc ra để thực hiện. EPROM có thể xoá được bằng tia cực tím và có thể  
được lập trình lại. Cấu trúc vật lý của EPROM được mô tả như trong Hình 2‐13.  
Hình 2‐15: Cấu trúc nguyên lý bộ nhớ RAM  
Có hai loại SRAM và DRAM  
Hình 2‐13: Nguyên lý cấu tạo và hoạt động xoá của EPROM  
19  
20  
dụng phổ biến trong các nhiệm vụ đếm xung, đo khoảng thời gian các sự kiện, hoặc  
định chu kỳ thời gian thực thi các tác vụ. Một trong những ứng dụng quan trọng của bộ  
định thời gian là tạo nhịp từ bộ tạo xung thạch anh cho bộ truyền thông dị bộ đa năng  
hoạt động. Thực chất đó là ứng dụng để thực hiện phép chia tần số. Để đạt được độ  
chính xác, tần số thạch anh thường được chọn sao cho các phép chia số nguyên được  
thực hiện chính xác đảm bảo cho tốc độ truyền thông dữ liệu được tạo ra chính xác.  
Chính vì vậy họ vi điều khiển 80C51 thường hay sử dụng thạch anh có tần số dao động  
là 11.059 thay vì 12MHz để tạo ra nhịp hoạt động truyền thông tốc độ chuẩn 9600.  
Hình 2‐16: Cấu trúc một phần tử nhớ DRAM  
Hình 2‐18: Bộ định thời/ bộ đếm 8 bit của AVR  
Bộ điều khiển ngắt  
Ngắt là một sự kiện xảy ra làm dừng hoạt động chương trình hiện tại để phục vụ thực  
thi một tác vụ hay một chương trình khác. Cơ chế ngắt giúp CPU làm tăng tốc độ đáp  
ứng phục vụ các sự kiện trong chương trình hoạt động của VXL/VĐK. Các VĐK khác  
nhau sẽ định nghĩa các nguồn tạo ngắt khác nhau nhưng đều có chung một cơ chế hoạt  
động ví dụ như ngắt truyền thông nối tiếp, ngắt bộ định thời gian, ngắt cứng, ngắt  
ngoài...Khi một sự kiện yêu cầu ngắt xuất hiện, nếu được chấp nhận CPU sẽ lưu cất  
trạng thái hoạt động cho chương trình hiện tại đang thực hiện ví dụ như nội dung bộ  
đếm chương trình (con trỏ lệnh) các nội dung thanh ghi lưu dữ liệu điều khiển chương  
trình nói chung để thực thi chương trình phục vụ tác vụ cho sự kiện ngắt. Thực chất  
quá trình ngắt là CPU nhận dạng tín hiệu ngắt, nếu chấp nhận sẽ đưa con trỏ lệnh  
chương trình trỏ tới vùng mã chứa chương trình phục vụ tác vụ ngắt. Vì vậy mỗi một  
ngắt đều gắn với một vector ngắt như một con trỏ lưu thông tin địa chỉ của vùng bộ  
nhớ chứa mã chương trình phục vụ tác vụ của ngắt. CPU sẽ thực hiện chương trình  
Hình 2‐17: Nguyên lý ghép nối (mở rộng) RAM với VXL  
2.1.5 Không gian và phân vùng địa chỉ  
2.1.6 Ngoại vi  
Bộ định thời gian/Bộ đếm  
Hầu hết các chip vi điều khiển ngày nay đều có ít nhất một bộ định thời gian/bộ đếm có  
thể cấu hình hoạt động linh hoạt theo các mode phục vụ nhiều mục đích trong các ứng  
dụng xử lý, điều khiển. Các bộ định thời gian cho phép tạo ra các chuỗi xung và ngắt  
thời gian hoặc đếm theo các khoảng thời gian có thể lập trình. Chúng thường được ứng  
21  
22  
phục vụ tác vụ ngắt đến khi nào gặp lệnh quay trở về chương trình trước thời điểm sự  
kiện ngắt xảy ra. Có thể phân ra 2 loại nguồn ngắt: Ngắt cứng và Ngắt mềm.  
ƒ Ngắt mềm  
Ngắt mềm thực chất thực hiện một lời gọi hàm đặc biệt mà được kích hoạt bởi các  
nguồn ngắt là các sự kiện xuất hiện từ bên trong chương trình và ngoại vi tích hợp trên  
Chip ví dụ như ngắt thời gian, ngắt chuyển đổi A/D, … Cơ chế ngắt này còn được hiểu  
là loại thực hiện đồng bộ với chương trình vì nó được kích hoạt và thực thi tại các thời  
điểm xác định trong chương trình. Hàm được gọi sẽ thực thi chức năng tương ứng với  
yêu cầu ngắt. Các hàm đó thường được trỏ bởi một vector ngắt mà đã được định nghĩa  
và gán cố định bởi nhà sản xuất Chip. Ví dụ như hệ điều hành của PC sử dụng ngắt số  
21hex để gán cho ngắt truy nhập đọc dữ liệu từ đĩa cứng và xuất dữ liệu ra máy in.  
Hình 2‐19: Sơ đồ nguyên lý hoạt động của bộ định thời chó canh  
ƒ Ngắt cứng  
Ngắt cứng có thể được xem như là một lời gọi hàm đặc biệt trong đó nguồn kích hoạt là  
một sự kiện đến từ bên ngoài chương trình thông qua một cấu trúc phần cứng (thường  
được kết nối với thế giới bên ngoài qua các chân ngắt). Ngắt cứng thường được hiểu  
hoạt động theo cơ chế dị bộ vì các sự kiện ngắt kích hoạt từ các tín hiệu ngoại vi bên  
ngoài và tương đối độc lập với CPU, thường là không xác định được thời điểm kích  
hoạt. Khi các ngắt cứng được kích hoạt CPU sẽ nhận dạng và thực hiện lời gọi hàm thực  
thi chức năng phục vụ sự kiện ngắt tương ứng.  
Trong các cơ chế ngắt khoảng thời gian từ khi xuất hiện sự kiện ngắt (có yêu cầu phục  
vụ ngắt) tới khi dịch vụ ngắt được thực thi là xác định và tuỳ thuộc vào công nghệ phần  
cứng xử lý của Chip.  
Bộ định thời chó canh – Watchdog Timer  
Thông thường khi có một sự cố xảy ra làm hệ thống bị treo hoặc chạy quẩn, CPU sẽ  
không thể tiếp tục thực hiện đúng chức năng. Đặc biệt khi hệ thống phải làm việc ở chế  
độ vận hành tự động và không có sự can thiệp trực tiếp thường xuyên bởi người vận  
hành. Để thực hiện cơ chế tự giám sát và phát hiện sự cố phần mềm, một số VXL/VĐK  
có thêm một bộ định thời chó canh. Bản chất đó là một bộ định thời đặc biệt để định  
nghĩa một khung thời gian hoạt động bình thường của hệ thống. Nếu có sự cố phần  
mềm xảy ra sẽ làm hệ thống bị treo khi đó bộ định thời chó canh sẽ phát hiện và giúp  
hệ thống thoát khỏi trạng thái đó bằng cách thực hiện khởi tạo lại chương trình.  
Chương trình hoạt động khi có bộ định thời phải đảm bảo reset nó trước khi khung thời  
gian bị vi phạm. Khung thời gian này được định nghĩa phụ thuộc vào sự đánh giá của  
người thực hiện phần mềm, thiết lập khoảng thời gian đảm bảo chắc chắn hệ thống  
thực hiện bình thường không có sự cố phần mềm.  
(a)  
(b)  
Hình 2‐20: Nguyên lý hoạt động bộ định thời chó canh  
Có một số cơ chế thực hiện cài đặt bộ định thời cho canh để giám sát hoạt động của hệ  
thống như sau:  
Bộ điều khiển truy nhập bộ nhớ trực tiếp – DMA  
DMA (Direct Memory Access) là cơ chế hoạt động cho phép hai hay nhiều vi xử lý hoặc  
ngoại vi chia sẻ bus chung. Thiết bị nào đang có quyền điều khiển bus sẽ có thể toàn  
23  
24  
quyền truy nhập và trao đổi dữ liệu trực tiếp với các bộ nhớ như hệ thống có một vi xử  
lý. Ứng dụng phổ biến nhất của DMA là chia sẻ bộ nhớ chung giữa hai bộ vi xử lý hoặc  
các ngoại vi để truyền dữ liệu trực tiếp giữa thiết bị ngoại vi vào/ra và bộ nhớ dữ liệu  
của VXL.  
cần có một bước xử lý để quyết định xem thiết bị nào sẽ đươc nhận quyền điều khiển  
trong trường hợp có nhiều hơn một thiết bị có nhu cầu sử dụng DMA. Thông thường  
kiểu DMA chu kỳ nhóm cần ít dữ liệu thông tin điều khiển (overhead) nên có khả năng  
trao đổi với tốc độ cao nhưng lại chiếm nhiều thời gian truy nhập bus do truyền cả khối  
dữ liệu lớn. Điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt động của cả hệ thống do trong suốt  
quá trình thực hiện DMA nhóm, CPU sẽ bị khoá quyền truy nhập bộ nhớ và không thể  
xử lý các nhiệm vụ khác của hệ thống mà có nhu cầu bộ nhớ, ví dụ như các dịch vụ  
ngắt, hoặc các tác vụ thời gian thực...  
Truy nhập bộ nhớ trực tiếp được sử dụng để đáp ứng nhu cầu trao đổi dữ liệu vào ra  
tốc độ cao giữa ngoại vi với bộ nhớ. Thông thường các ngoại vi kết nối với hệ thống  
phải chia sẻ bus dữ liệu và được điều khiển bởi CPU trong quá trình trao đổi dữ liệu.  
Điều này làm hạn chế tốc độ trao đổi, để tăng cường tốc độ và loại bỏ sự can thiệp của  
CPU, đặc biệt trong trường hợp cần truyền một lượng dữ liệu lớn. Cơ chế hoạt động  
DMA được mô tả như trong Hình 2‐21. Thủ tục được bắt đầu bằng việc yêu cầu thực  
hiện DMA với CPU. Sau khi xử lý, nếu được chấp nhận CPU sẽ trao quyền điều khiển  
bus cho ngoại vi và thực hiện quá trình trao đổi dữ liệu. Sau khi thực hiện xong CPU sẽ  
nhận được thông báo và nhận lại quyền điều khiển bus. Trong cơ chế DMA, có hai cách  
để truyền dữ liệu: kiểu DMA chu kỳ đơn, và kiểu DMA chu kỳ nhóm (burst).  
ƒ Chu kỳ rỗi (Cycle Stealing)  
Trong kiểu này DMA sẽ được thực hiện trong những thời điểm chu kỳ bus mà CPU  
không sử dụng bus do đó không cần thực hiện thủ tục xử lý cấp phát quyền truy nhập  
và thực hiện DMA.  
Hầu hết các vi xử lý hiện đại đều sử dụng gần như 100% dung lượng bộ nhớ và băng  
thông của bus nên sẽ không có nhiều thời gian dành cho DMA thực hiện. Để tiết kiệm  
và tối ưu tài nguyên thì cần có một trọng tài phân xử và dữ liệu sẽ được truyền đi xếp  
chồng theo thời gian. Nói chung kiểu DMA dạng burst hiệu quả nhất khi khoảng thời  
gian cần thực hiện DMA tương đối nhỏ. Trong khoảng thời gian thực hiện DMA, toàn  
bộ băng thông của bus sẽ được sử dụng tối đa và toàn bộ khối dữ liệu sẽ được truyền đi  
trong một khoảng thời gian rất ngắn. Nhưng nhược điểm của nó là nếu dữ liệu cần  
truyền lớn và cần một khoảng thời gian dài thì sẽ dẫn đến việc block CPU và có thể bỏ  
qua việc xử lý các sự kiện và tác vụ khác. Đối với DMA chu kỳ đơn thì yêu cầu truy  
nhập bộ nhớ, truyền một từ dữ liệu và giải phóng bus. Cơ chế này cho phép thực hiện  
truyền interleave và được biết tới với tên gọi inteleaved DMA. Kiểu truyền DMA chu kỳ  
đơn phù hợp để truyền dữ liệu trong một khoảng thời gian dài mà có đủ thời gian để  
yêu cầu truy nhập và giải phóng bus cho mỗi lần truyền một từ dữ liệu. Chính vì vậy sẽ  
giảm băng thông truy nhập bus do phải mất nhiều thời gian để yêu cầu truy nhập và  
giải phóng bus. Trong trường hợp này CPU và các thiết bị khác vẫn có thể chia sẻ và  
truyền dữ liệu nhưng trong một dải băng thông hẹp. Trong nhiều hệ thống bus thực  
hiện cơ chế xử lý và giải quyết yêu cầu truy nhập (trọng tài) thông qua dữ liệu truyền vì  
vậy cũng không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ truyền DMA.  
DMA được yêu cầu khi khả năng điều khiển của CPU để truyền dữ liệu thực hiện quá  
chậm. DMA cũng thực sự có ý nghĩa khi CPU đang phải thực hiện các tác vụ khác mà  
không cần nhu cầu truy nhập bus.  
IC chức năng chuyên dụng  
Hình 2‐21: Nhịp hoạt động DMA  
DAC/ADC  
ƒ DMA chu kỳ đơn và nhóm  
Trong kiểu hoạt động DMA chu kỳ nhóm, ngoại vi sẽ nhận được quyền điều khiển và  
truyền khối dữ liệu rồi trả lại quyền điều khiển cho CPU. Trong cơ chế DMA chu kỳ  
đơn ngoại vi sau khi nhân được quyền điều khiển bus chỉ truyền một từ dữ liệu rồi trả  
lại ngay quyền kiểm soát bộ nhớ và bus dữ liệu cho CPU. Trong cơ chế thực hiện DMA  
25  
26  
Hình 2‐24: Sơ đồ nguyên lý cấu trúc ADC1754A  
Hình 2‐22: Sơ đồ nguyên lý mạch chuyển đổi DAC  
Hình 2‐23: Sơ đồ nguyên lý mạch chuyển đổi ADC  
Ví dụ ADC 754A  
Đặc điểm kỹ thuật:  
9 Chế tạo theo công nghệ CMOS.  
9 12‐bit với giao diện tương thích với các loại VXL/VĐK 8, 12 và 16‐bit. Có thể lập  
trình để hoạt động chuyển đổi 8 bit hoặc 12 bit.  
9 Tín hiệu dữ liệu ra tương thích với chuẩn TTL và ghép nối thông qua loại cổng  
logic 3 trạng thái.  
9 Dải giá trị điện áp đầu vào có thể lựa chọn nhờ cấu hình giá trị điện trở nội đầu  
vào để nhận các dải tín hiệu (0÷10)V, (0÷20)V, (‐5÷+5)V, và (‐10÷+10)V.  
9 Có thêm khả năng cung cấp nguồn tham chiếu nội Vref = +10V.  
9 Nguồn cung cấp có thể là +5V, ± 12V, hoặc ± 15V  
Hình 2‐25: Sơ đồ bố trí chân của Chip ADC574A  
Nguyên lý điều khiển  
ADC 574 được điều khiển bởi các chân tín hiệu như mô tả trong bảng sau:  
Bảng 1: Tín hiệu điều khiển ADC 574A  
Ký hiệu  
CE (Pin 6)  
Định nghĩa  
Chức năng  
Chip Enable  
(active high)  
Must be high (“1”) to either initiate a conversion or read output data. 0-1 edge may be used to  
initiate a conversion.  
9 Thời gian chuyển đổi cực đại là 25 µs với thời gian truy nhập bus là 150ns.  
Chip Select  
(active low)  
Must be low (“0”) to either initiate a conversion or read output data. 1-0 edge may be used to  
initiate a conversion.  
CS (Pin 3)  
27  
28  
Read/Convert  
(“1” = read)  
(“0” = convert)  
Must be low (“0”) to initiate either 8- or 12-bit conversions. 1-0 edge may be used to initiate a  
conversion.  
Must be high (“1”) to read output data. 0-1 edge may be used to initiate a read operation.  
R /C (Pin 5)  
In the start-convert mode, AO selects 8-bit (AO= “1”) or 12-bit (AO= "0") conversion mode.  
When reading output data in two 8-bit bytes, AO= “0” accesses 8 MSBs (high byte) and AO= “1”  
accesses 4 LSBs and trailing “0s” (low byte).  
Byte Address  
Short Cycle  
AO (Pin 4)  
Data Mode  
Select  
(“1” = 12 bits)  
(“0” = 8 bits)  
When reading output data, 12/8 = “1” enables all 12 output bits simultaneously. 12/8 = “0” will  
enable the MSBs or LSBs as determined by the AOline.  
12/ 8 (Pin 2)  
(1) Thiết lập chế độ hoạt động: Mode chuyển đổi 8‐bit hay 12‐bit được thiết lập bởi  
tín hiệu A0. Tín hiệu này phải được chốt trước khi nhận được tín hiệu lệnh bắt  
đầu thực hiện chuyển đổi.  
(2) Kích hoạt quá trình chuyển đổi: Bộ chuyển đổi thực hiện chuyển đổi khi nhận  
được tín hiệu mệnh lệnh tích cực từ chân tín hiệu hoặc CE/CS, hoặc R/C với điều  
kiện các tín hiệu điều khiển khác đã được xác lập.  
(3) Trạng thái chuyển đổi: Tín hiệu đầu ra STATUS báo trạng thái chuyển đổi hiện  
hành của ADC; thiết lập ở mức cao nếu đang thực hiện chuyển đổi và ở mức  
thấp nếu đã hoàn thành. Trong quá trình chuyển đổi các tín hiệu điều khiển bị  
khoá và dữ liệu không thể được đọc vì các đường tín hiệu ra được chuyển sang  
trạng thái cao trở.  
(4) Đọc dữ liệu ra: Quá trình đọc dữ liệu ra có thể được thực thi nếu các tín hiệu  
điều khiển xác lập ở trạng thái cho phép đọc và tín hiệu STATUS ở trạng thái  
thấp. Tuỳ thuộc vào mode chuyển đổi được thiết lập và định dạng dữ liệu đọc ra  
bởi tổ hợp trạng 12/ 8 và A0.  
Hình 2‐26: Giản đồ khối chức năng của 82C55A  
Chức năng và ý nghĩa của các chân on chip của 82C55A được mô tả trong Bảng 2: Chức  
năng các chân on chip của 82C55A.  
Cổng song song khả trình 82C55A  
82C55A là một giao diện ngoại vi cổng song song khả trình được chế tạo theo công  
nghệ CMOS. Nó là một thiết bị ngoại vi vào ra khả trình đa mục đích và có thể được sử  
dụng với nhiều loại VXL/VĐK khác nhau. 82C55A có 24 chân vào ra on Chip được chia  
ra thành 2 nhóm, mỗi nhóm 12 chân và có thể được sử dụng theo 3 chế độ hoạt động  
khác nhau. Hình 2‐26 mô tả giản đồ khối chức năng của chip 82C55A.  
Bảng 2: Chức năng các chân on chip của 82C55A  
Ký hiệu  
Kiểu  
Mô tả chức năng  
VCC: The +5V power supply pin. A 0.1µF capacitor between VCC and GND is recommended for  
decoupling.  
VCC  
GND  
GROUND  
D0-D7  
I/O  
I
DATA BUS: The Data Bus lines are bidirectional three-state pins connected to the system data bus.  
RESET: A high on this input clears the control register and all ports (A, B, C) are set to the input  
mode with the “Bus Hold” circuitry turned on  
RESET  
CHIP SELECT: Chip select is an active low input used to enable the 82C55A onto the Data Bus for  
CPU communications.  
CS  
RD  
WR  
I
I
I
READ: Read is an active low input control signal used by the CPU to read status information or data  
via the data bus.  
WRITE: Write is an active low input control signal used by the CPU to load control words and data  
into the 82C55A.  
ADDRESS: These input signals, in conjunction with the RD and WR inputs, control the selection of  
one of the three ports or the control word register. A0 and A1 are normally connected to the least  
significant bits of the Address Bus A0, A1.  
A0-A1  
I
PORT A: 8-bit input and output port. Both bus hold high and bus hold low circuitry are present on  
this port.  
PA0-PA7  
PB0-PB7  
I/O  
I/O  
PORT B: 8-bit input and output port. Bus hold high circuitry is present on this port.  
29  
30  
9 Các đường tín hiệu vào không được chốt  
PC0-PC7  
I/O  
PORT C: 8-bit input and output port. Bus hold circuitry is present on this port.  
9 Có thể cấu hình 16 kiểu hoạt động vào ra khác nhau  
82C55A cung cấp 3 chế độ hoạt động chính và có thể lập trình để lựa chọn  
Mode 1 (Vào ra có bắt tay): Chế độ hoạt động này cung cấp khả năng truyền dữ liệu tới  
hoặc đi từ một cổng cụ thể cùng với các tín hiệu bắt tay. Trong chế độ này cổng A, B  
được sử dụng để truyền dữ liệu và cổng C hoạt động như cổng điều khiển cơ chế động  
bộ bắt tay. Chế độ hoạt động này cung cấp các chức năng chính sau:  
9 Hai nhóm cổng (Nhóm A và Nhóm B). Mỗi nhóm bao gồm 1 cổng 8‐bit và một  
cổng dữ liệu điều khiển 4‐bit.  
•
•
•
Mode 0: Hoạt động vào ra cơ bản  
Mode 1: Hoạt động vào ra nắm bắt (strobed)  
Mode 2: Hoạt động Bus 2 chiều  
Việc lựa chọn chế độ hoạt động được thực hiện thông qua thanh ghi từ điều khiển và  
được mô tả như trong Hình 2‐27.  
9 Cổng dữ liệu 8‐bit có thể hoạt động như hoặc là cổng vào hoặc là cổng ra và cả hai  
chiều dữ liệu đều được chốt.  
9 The 4‐bit port is used for control and status of the 8‐bit port.  
Mode 2 (Bus vào ra hai chiều có bắt tay): Chế độ hoạt động này cung cấp khả năng  
truyền thông với các ngoại vi hoặc các bus dữ liệu 8‐bit cho việc truyền nhận dữ liệu.  
Các tín hiệu bắt tay được cung cấp để duy trì dòng tín hiệu bus tương tự như chế độ 1.  
Các cơ chế tạo ngắt cũng có thể được thực hiện ở chế độ này. Một số các chức năng  
chính hỗ trợ trong chế độ này bao gồm:  
9 Chỉ sử dụng nhóm A  
9 Một cổng bus 2 chiều 8‐bit (cổng A) và một cổng điều khiển 5‐bit (Cổng C)  
9 Cả hai chiều dữ liệu vào và ra đều đươc chốt.  
9 Cổng điều khiển 5‐bit (Cổng C) được sử dụng cho mục đích điều khiển và trạng  
thái cho cổng A để trao đổi dữ liệu 2 chiều 8 bit.  
Bộ định thời/Bộ đếm C8254  
Đây là bộ đếm tốc độ cao cung cấp 3 bộ định thời 16‐bit độc lập và có thể được cấu hình  
để hoạt động ở nhiều chế độ hoạt động. Mỗi bộ đếm có các kênh dữ liệu và điều khiển  
riêng biệt. Hỗ trợ 2 kiểu mã hoá đếm nhị phân (0‐ 65535) hoặc BCD (binary coded  
decimal) (0‐9999). Có 4 thanh ghi tích hợp On‐chip để lưu giá trị đếm và cấu hình hoạt  
động (từ điều khiển).  
Hình 2‐27: Thanh ghi từ điều khiển chọn chế độ hoạt động cho 82C55A  
Khi đầu vào RESET được điều khiển ở mức cao thì tất cả các cổng sẽ được thiết lập hoạt  
động ở chế độ cổng vào với 24 đường tín hiệu vào duy trì ở mức logic 1. Sau khi tín  
hiệu điều khiển RESET ở mức tích cực bị loại bỏ thì 82C55A có thể duy trì chế độ hoạt  
động mà không cần thêm bất kỳ việc khởi tạo nào nữa. Điều này sẽ giúp loại bỏ được  
các điện trở treo cao hoặc treo thấp trong các thiết kế cho mạch CMOS. Khi kích hoạt  
chế độ thiết lập thì thanh ghi từ điều khiển sẽ chứa giá trị 9Bh. Trong qúa trình thực  
hiện chương trình vẫn có thể thay đổi lựa chọn chế độ hoạt động khác nhau, điều này  
cho phép 82C55 hoạt động một cách đa dạng đáp ứng cho nhiều bài toán ứng dụng  
khác nhau. Trong qúa trình thanh ghi từ điều khiển đang được viết thì tất cả các cổng  
được thiết lập hoạt động ở chế độ cổng ra sẽ được khởi tạo bằng zero.  
Tần số hoạt động của bộ đếm có thể làm việc với xung nhịp tần số 10 MHz và hỗ trợ 6  
chế độ hoạt động và có thể cấu hình riêng lẻ.  
Mode 0 (Vào ra cơ bản): Cấu hình chế độ hoạt động này cung cấp các hoạt động vào ra  
đơn giản cho cả 3 cổng A, B và C. Dữ liệu được trao đổi trực tiếp và không cần phải có  
cơ chế bắt tay. Chế độ hoạt động này hỗ trợ các chức năng cụ thể như sau:  
9 Hai cổng 8‐bit và 2 cổng 4‐bit  
9 Bất kỳ cổng nào cũng có thể là cổng vào hoặc cổng ra  
9 Các đường dữ liệu tín hiệu ra được chốt  
31  
32  
Giao diện nối tiếp  
USART  
Hình 2‐30: Cấu trúc đơn giản hoá của USART  
Hình 2‐31: Mode hoạt động truyền thông đồng bộ  
Hình 2‐32: Mode hoạt động truyền thông dị bộ  
Hình 2‐28: Sơ đồ cấu trúc chức năng 8254  
2.1.7 Giao diện  
Giao diện song song 8bit/16bit  
Các cổng song song là một dạng giao diện vào ra đơn giản và phổ biến nhất để kết nối  
thông tin với ngoại vi. Có nhiều loại cấu trúc giao diện vật lý điện tử từ dạng cổng vào  
ra đơn giản cực Collector TTL hở trong các ứng dụng cổng máy in đến các loại cấu trúc  
giao diện cổng tốc độ cao như các chuẩn bus IEEE‐488 hay SCSI. Hầu hết các chip điều  
khiển nhúng có một vài cổng vào ra song song khả trình (có thể cấu hình). Các giao  
diện đó phù hợp với các cổng vào ra đơn giản như các khoá chuyển. Chúng cũng phù  
hợp trong các bài toán phục vụ giao diện kết nối điều khiển và giám sát theo các giao  
diện như kiểu rơle bán dẫn.  
Hình 2‐29: Cấu trúc nguyên lý điển hình của một cổng vào/ra logic  
33  
34  
I2C (Inter‐IC)  
có một VĐK giữ vai trò là Chủ (Master) và các VĐK còn lại có thể hoặc là Chủ hoặc là  
Tớ. SPI có 4 tốc độ có thể lập trình, cực và pha nhịp đồng hồ khả trình và kết thúc ngắt  
truyền thông. Nhịp đồng hồ không nằm trong dòng dữ liệu và phải được cung cấp như  
một tín hiệu tách độc lập. Có ba thanh ghi SPSR, SPCR và SPDR cho phép thực hiện các  
chức năng điều khiển, trạng thái và lữu trữ. Có bốn chân cơ bản cần thiết để thực thi  
chuẩn giao diện truyền thông này.  
Giao thức ưu tiên truyền thông nối tiếp được phát triển bởi Philips Semiconductor và  
được gọi là bus I2C. Vì nguồn gốc nó được thiết kế là để điều khiển liên thông IC (Inter  
IC) nên nó được đặt tên là I2C. Tất cả các chíp có tích hợp và tương thích với I2C đều có  
thêm một giao diện tích hợp trên Chip để truyền thông trực tiếp với các thiết bị tương  
thích I2C khác. Việc truyền dữ liệu nối tiếp theo hai hướng 8 bit được thực thi theo 3 chế  
độ sau:  
ƒ Dữ liệu ra MOSI (Master Output – Slave Input)  
ƒ Dữ liệu vào MISO (Master Input – Slave Output)  
ƒ Nhịp xung chuẩn SCLK (Serial Clock)  
ƒ
ƒ
ƒ
Chuẩn (Standard)—100 Kbits/sec  
Nhanh (Fast)—400 Kbits/sec  
Tốc độ cao (High‐Speed)—3.4 Mbits/sec  
ƒ Lựa chọn thành phần tớ SS (Slave Select)  
Đường bus thực hiện truyền thông nối tiếp I2C gồm hai đường là đường truyền dữ liệu  
nối tiếp SDA và đường truyền nhịp xung đồng hồ nối tiếp SCL. Vì cơ chế hoạt động là  
đồng bộ nên nó cần có một nhịp xung tín hiệu đồng bộ. Các thiết bị hỗ trợ I2C đều có  
một địa chỉ định nghĩa trước, trong đó một số bit địa chỉ là thấp có thể cấu hình. Đơn vị  
hoặc thiết bị khởi tạo quá trình truyền thông là đơn vị Chủ và cũng là đơn vị tạo xung  
nhịp đồng bộ, điều khiển cho phép kết thúc quá trình truyền. Nếu đơn vị Chủ muốn  
truyền thông với đơn vị khác nó sẽ gửi kèm thông tin địa chỉ của đơn vị mà nó muốn  
truyền trong dữ liệu truyền. Đơn vị Tớ đều được gán và đánh địa chỉ thông qua đó đơn  
vị Chủ có thể thiết lập truyền thông và trao đổi dữ liệu. Bus dữ liệu được thiết kế để cho  
phép thực hiện nhiều đơn vị Chủ và Tớ ở trên cùng Bus.  
Hình 2‐33: Kết nối nguyên lý truyền thông SPI giữa một Master và một Tớ  
Hình 2‐33 chỉ ra nguyên lý kết nối giữa một đơn vị Chủ và một đơn vị Tớ trong truyền  
thông SPI. Trong đó tín hiệu SCLK sẽ được tạo ra bởi đơn vị Chủ và là tín hiệu vào của  
đơn vị Tớ. MOSI là đường truyền dữ liệu ra từ đơn vị Chủ tới đơn vị Tớ và MISO là  
đường truyền dữ liệu vào đơn vị Chủ đến từ đơn vị Tớ. Đơn vị Tớ được lựa chọn khi  
đơn vị Chủ kích hoạt tín hiệu SS .  
Quá trình truyền thông I2C được bắt đầu bằng tín hiệu start tạo ra bởi đơn vị Chủ. Sau  
đó đơn vị Chủ sẽ truyền đi dữ liệu 7 bit chứa địa chỉ của đơn vị Tớ mà nó muốn truyền  
thông, theo thứ tự là các bit có trọng số lớn nhất MSB sẽ được truyền trước. Bit thứ tám  
tiếp theo sẽ chứa thông tin để xác định đơn vị Tớ sẽ thực hiện vai trò nhận (0) hay gửi  
(1) dữ liệu. Tiếp theo sẽ là một bit ACK xác nhận bởi đơn vị nhận đã nhận được 1 byte  
trước đó hay không. Đơn vị truyền (gửi) sẽ truyền đi 1 byte dữ liệu bắt đầu bởi MSB.  
Tại điểm cuối của byte truyền, đơn vị nhận sẽ tạo ra một bit xác nhận ACK mới. Khuôn  
mẫu 9 bit này (gồm 8 bit dữ liệu và 1 bit xác nhận) sẽ được lặp lại nếu cần truyền tiếp  
byte nữa. Khi đơn vị Chủ đã trao đổi xong dữ liệu cần nó sẽ quan sát bit xác nhận ACK  
cuối cùng rồi sau đó sẽ tạo ra một tín hiệu dừng STOP để kết thúc quá trình truyền  
thông.  
I2C là một giao diện truyền thông đặc biệt thích hợp cho các ứng dụng truyền thông  
giữa các đơn vị trên cùng một bo mạch với khoảng cách ngắn và tốc độ thấp. Ví dụ như  
truyền thông giữa CPU với các khối chức năng trên cùng một bo mạch như EEPROM,  
cảm biến, đồng hồ tạo thời gian thực... Hầu hết các thiết bị hỗ trợ I2C hoạt động ở tốc độ  
400Kbps, một số cho phép hoạt động ở tốc độ cao vài Mbps. I2C khá đơn giản để thực  
thi kết nối nhiều đơn vị vì nó hỗ trợ cơ chế xác định địa chỉ.  
Hình 2‐34: Sơ đồ kết nối truyền thống SPI của một đơn vị Chủ với nhiều đơn vị Tớ  
Nếu hệ thống có nhiều đơn vị tớ đơn vị Chủ sẽ tạo phải ra các tín hiệu tách biệt để chọn  
đơn vị Tớ. Cơ chế đó được thực hiện nhờ sơ đồ kết nối nguyên lý mô tả như trong Hình  
2‐34. Đơn vị Chủ sẽ tạo ra tín hiệu chọn đơn vị Tớ nhờ các chân tín hiệu logic đa chức  
năng. Các tín hiệu này phải được điều khiển và đảm bảo ổn định về thời gian để tránh  
trường hợp tín hiệu bị thay đổi trong quá trình đang truyền dữ liệu. Một điều dễ nhận  
SPI  
SPI là một giao diện cổng nối tiếp đồng bộ ba dây cho phép kết nối truyền thông nhiều  
VĐK được phát triển bởi Motorola. Trong cấu hình mạng kết nối truyền thống này phải  
35  
36  
ra rằng SPI không hỗ trợ cơ chế xác nhận trong quá trình thực hiện truyền thông. Điều  
này phụ thuộc vào giao thức định nghĩa hoặc phải thực hiện bổ sung thêm một số các  
mở rộng phụ bên ngoài.  
hợp thêm các ngoại vi. Các ngoại vi thường là các khối chức năng ngoại vi thông dụng  
như bộ định thời gian, bộ đếm, bộ chuyển đổi A/D, giao diện song song, nối tiếp…Mức  
độ tích hợp ngoại vi cũng khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích ứng dụng sẽ có thể tìm  
được Chip phù hợp. Thực tế với các ứng dụng yêu cầu độ tích hợp cao thì sẽ sử dụng  
giải pháp tích hợp trên chip, nếu không thì hầu hết các Chip đều cung cấp giải pháp để  
mở rộng ngoại vi đáp ứng cho một số lượng ứng dụng rộng và mềm dẻo.  
Khả năng truyền thông đồng thời hai chiều với tốc độ lên đến khoảng vài Mbit/s và  
nguyên lý khá đơn giản nên SPI hoàn toàn phù hợp để thực hiện truyền thông giữa các  
thiết bị yêu cầu truyền thông tốc độ chậm, đặc biệt hiệu quả trong các ứng dụng một  
đơn vị Chủ và một đơn vị Tớ. Tuy nhiên trong các ứng dụng với nhiều đơn vị Tớ việc  
thực thi lại khá phức tạp vì thiếu cơ chế xác định địa chỉ, và sự phức tạp sẽ tăng lên khi  
số đơn vị Tớ tăng.  
Khối giải mã địa chỉ  
CPU  
Bộ nhớ  
Ngoại vi  
và điều khiển Logic  
2.2  
Một số nền phần cứng nhúng thông dụng (µP/DSP/PLA)  
Trong phần này giới thiệu ngắn gọn cấu trúc nguyên lý của các chip xử lý nhúng ứng  
dụng trong các nền phần cứng nhúng hiện nay.  
Bus Địa chỉ  
Bus Dữ liệu  
Sự phát triển nhanh chóng các chủng loại Chip khả trình với mật độ tích hợp cao đã và  
đang có một tác động đáng kể đến sự thay đổi trong việc thiết kế các nền phần cứng  
thiết bị xử lý và điều khiển số trong thập kỷ gần đây. Mỗi chủng loại đều có những đặc  
điểm và phạm vi đối tượng ứng dụng và luôn không ngừng phát triển để đáp ứng một  
cách tốt nhất cho các yêu cầu công nghệ. Chúng đang hướng tới tập trung cho một thị  
trường công nghệ tiềm năng rộng lớn đó là các thiết bị xử lý và điều khiển nhúng.  
Trong bài viết này tác giả giới thiệu ngắn gọn về các chủng loại chip xử lý, điều khiển  
nhúng điển hình đang tồn tại và phát triển về một số đặc điểm và hướng phạm vi ứng  
dụng của chúng.  
Bus Điều khiển  
Hình 2‐35: Kiến trúc nguyên lý của VĐK với cấu trúc Havard  
Ví dụ về kiến trúc của họ VĐK AVR  
Có thể kể ra hàng loạt các Chíp khả trình có thể sử dụng cho các bài toán thiết kế hệ  
nhúng như các họ vi xử lý/vi điều khiển nhúng (Microprocessor/ Microcontroller), Chip  
DSP (Digital Signal Processing), các Chip khả trình trường (FPD – Field Programmable  
Device). Chúng ta dễ bị choáng ngợp nếu bắt đầu công việc thiết kế bằng việc tìm kiếm  
một Chip xử lý điều khiển phù hợp cho ứng dụng. Vì vậy cần phải có một hiểu biết và  
sự phân biệt về đặc điểm và ứng dụng của chúng khi lựa chọn và thiết kế. Các thông tin  
liên quan như nhà sản xuất cung cấp Chip, các kiến thức và công cụ phát triển kèm  
theo…Một số chủng loại Chip điển hình sẽ được giới thiệu.  
2.2.1 Chip Vi xử lý / Vi điều khiển nhúng  
Đây là một chủng loại rất điển hình và đang được sử dụng rất phổ biến hiện này.  
Chúng được ra đời và sử dụng theo sự phát triển của các Chip xử lý ứng dụng cho máy  
tính. Vì đối tượng ứng dụng là các thiết bị nhúng nên cấu trúc cũng được thay đổi theo  
để đáp ứng các ứng dụng. Hiện nay chúng ta có thể thấy các họ vi xử lý điều khiển của  
rất nhiều các nhà chế tạo cung cấp như, Intel, Atmel, Motorola, Infineon. Về cấu trúc,  
chúng cũng tương tự như các Chíp xử lý phát triển cho PC nhưng ở mức độ đơn giản  
hơn nhiều về công năng và tài nguyên. Phổ biến vẫn là các Chip có độ rộng bus dữ liệu  
là 8‐bit, 16‐bit, 32‐bit. Về bản chất cấu trúc, Chip vi điều khiển là chip vi xử lý được tích  
Hình 2‐36: Kiến trúc của họ VĐK AVR  
37  
38  
số nguyên 16‐bit hoặc các số thực trong một miền giá trị cố định. Tuy nhiên các giá trị  
và hệ số trung gian có thể được lưu trữ với độ chính xác là 32‐bit trong thanh ghi tích  
luỹ 40‐bit nhằm giảm thiểu lỗi tính toán do phép làm tròn trong quá trính tính toán.  
Thông thường các loại DSP dấu phảy tĩnh có giá thành rẻ hơn các loại DSP dấu phảy  
động vì yêu cầu số lượng chân On‐chip ít hơn và cần sử dụng lượng silicon ít hơn.  
Ưu điểm nổi bật của các DSP dấu phảy động là có thể xử lý và biểu diễn số trong dải  
phạm vi giá trị rộng và động. Do đó vấn đề về chuyển đổi và hạn chế về phạm vi biểu  
diễn số không phải quan tâm như đối với loại DSP dấu phảy tĩnh. Một loại DSP 32‐bit  
dấu phảy tĩnh điển hình là TMS320C67x có thể xử lý và biểu diễn số gồm 24‐bit  
mantissa và 8‐bit exponent. Phần mantissa biểu diễn phần số lẻ trong phạm vi ‐1.0 – +1.0  
và phần exponent biểu diễn vị trí của dấu phảy nhị phân và có thể dịch chuyển sang trái  
hoặc phải tuỳ theo giá trị số mà nó biểu diễn. Điều này trái ngược với các thiết kế trên  
nền DSP dấu phảy tĩnh, người phát triển chương trình phải tự qui ước, tính toán và  
phân chia ấn định thang biểu diễn số và phải luôn lưu tâm tới khả năng tràn số có thể  
xảy ra trong quá trình xử lý tính toán. Chính điều này đã gây ra khó khăn không nhỏ  
đối với người lập trình. Nói chung phát triển chương trình cho DSP dấu phảy động  
thường đơn giản hơn nhưng giá thành lại cao hơn nhiều và năng lượng tiêu thụ thông  
thường cũng lớn hơn.  
Ví dụ độ chính xác của DSP dấu phảy động 32 bit là 2−23 với 24 bit biểu diễn phần  
mantissa. Vùng động là 1.18 ×10−38 ≤ x ≤ 3.4 × 1038.  
Những nhà thiết kế hệ thống phải quyết định vùng và độ chính xác cần thiết cho các  
ứng dụng. Các vi xử lý dấu phảy động thường được sử dụng cho các ứng dụng yêu cầu  
về độ chính xác cao và dải biểu diễn số lớn phù hợp với hệ thống có cấu trúc bộ nhớ lớn  
Hơn nữa các DSP dấu phảy động cho phép phát triển phần mềm hiệu quả và đơn giản  
hơn bằng các trình biên dịch ngôn ngữ bậc cao như C do đó có thể giảm được giá thành  
và thời gian phát triển. Tuy nhiên giá thành lại cao nên các DSP dấu phảy động phù  
hợp với các ứng dụng khá đặc biệt và thường là với số lượng ít.  
Hình 2‐37: Sở đồ khối chức năng kiến trúc PIC16F873A  
2.2.2 Chip DSP  
[Ref. Sen Kuo]  
DSP vẫn được biết tới như một loại vi điều khiển đặc biệt với khả năng xử lý nhanh để  
phục vụ các bài toán yêu cầu khối lượng và tốc độ xử lý tính toán lớn. Với ưu điểm nổi  
bật về độ rộng băng thông của bus và thanh ghi tích luỹ, cho phép ALU xử lý song song  
với tốc độ đọc và xử lý lệnh nhanh hơn các loại vi điều khiển thông thường. Chip DSP  
cho phép thực hiện nhiều lệnh trong một nhịp nhờ vào kiến trúc bộ nhớ Havard.  
Thông thường khi phải sử dụng DSP tức là để đáp ứng các bài toán tính toán lớn và tốc  
độ cao vì vậy định dạng biểu diễn toán học sẽ là một yếu tố quan trọng để phân loại và  
được quan tâm. Hiện nay chủ yếu chúng vẫn được phân loại theo hai kiểu là dấu phảy  
động và dấu phảy tĩnh. Đây cũng chính là một yếu tố quan trọng phải quan tâm đối với  
người thiết kế để lựa chọn được một DSP phù hợp với ứng dụng của mình. Các loại  
DSP dấu phảy tĩnh thường là loại 16‐bit hoặc 24‐bit còn các loại dấu phảy tĩnh thường  
là 32‐bit. Một ví dụ điển hình về một DSP 16‐bit dấu phảy tĩnh là TMS320C55x, lưu các  
39  
40  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 54 trang Thùy Anh 16880 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Thiết kế hệ thống nhúng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_thiet_ke_he_thong_nhung.pdf