Xây dựng chiến lược marketing của doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh bất động sản trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam

KHOA H“C & C«NG NGHª  
Xây dựng chiến lược marketing  
của doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh bất động sản  
trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tạiViệt Nam  
The establishment of marketing strategies in real estate entrepreneurs during the age  
of 4.0-industrialization revolution in Vietnam  
Đặng Thế Hiến  
I. Đặt vấn đề  
Chiến lược marketing là chiến lược bộ phận trong chiến lược  
Tóm tắt  
Doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh bất động sản  
(BĐS) là những doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong sự  
phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, việc xây dựng  
chiến lược marketing và thực thi chiến lược marketing của  
doanh nghiệp trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là vấn  
đề rất quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển  
của doanh nghiệp cũng như thị trường BĐS. Qua tìm hiểu  
thực tiễn hoạt động, những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây  
dựng chiến lược marketing của doanh nghiệp đầu tư và kinh  
doanh bất động sản bao gồm: nhóm yếu tố về định hướng  
hoạt động và thấu hiểu khách hàng; nhóm yếu tố nghiệp vụ  
tiếp cận thị trường; nhóm yếu tố về năng lực tổ chức. Những  
yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng chiến lược  
marketing của doanh nghiệp trong nền kinh tế toàn cầu hóa  
hiện nay, từ đó tác giả nghiên cứu đề xuất xây dựng khung  
chiến lược marketing của doanh nghiệp đầu tư và kinh  
doanh bất động sản phù hợp với bối cảnh của thị trường.  
chung của doanh nghiệp xây dựng. Tuy nhiên, với quan niệm mới  
về marketing và chiến lược marketing trong nền kinh tế hiện nay,  
chiến lược marketing trở thành một trong các chiến lược quan trọng  
bao trùm toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  
Với đặc thù của doanh nghiệp kinh doanh BĐS, hoạt động kinh  
doanh của doanh nghiệp đòi hỏi sự tương tác giữa doanh nghiệp  
và khách hàng nhiều hơn các doanh nghiệp khác. Chính vì vậy, việc  
nghiên cứu xây dựng chiến lược marketing là nhiệm vụ quan trọng  
của doanh nghiệp kinh doanh BĐS, đồng thời cần phải đặt việc  
nghiên cứu xây dựng chiến lược marketing trong sự vận động của  
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng hội nhập quốc tế của  
nền kinh tế nước ta hiện nay.  
II. Nội dung chính  
1. Quan điểm về marketing trong cuộc cách mạng công  
nghiệp 4.0  
Philip Kotler và các cộng sự Hermawan Kartajaya, Iwan  
setiawan đưa ra định nghĩa marketing 4.0 là phương pháp tiếp cận  
marketing kết hợp giữa các tương tác trực tuyến và trực tiếp, giữa  
doanh nghiệp và người tiêu dùng, pha trộn giữa phong cách và giá  
trị thực tế trong quá trình xây dựng thương hiệu, quan trọng nhất  
là sự bổ trợ lẫn nhau giữa kết nối máy - máy và tiếp xúc trực tiếp  
người - người nhằm tăng cường cam kết gắn bó của khách hàng  
với doanh nghiệp [7].  
Từ khóa: Chiến lược marketing, Doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh  
bất động sản, cách mạng công nghiệp 4.0  
Abstract  
Real estate entrepreneurs play an important role in the development  
of the Vietnamese economy while the establishment and application  
of marketing strategy during the ego of the 4.0-industrialization  
revolution is a survival issue that can define the development of the  
firms and real-estate market as well. Numerous factors can affect the  
establishment of firms' marketing strategies including the factors  
involved in directing the operation and understanding customers;  
the factors involved in the competence of approaching market, the  
factors involved in controllable abilities. These factors can play a  
variety of essential roles in defining diversified marketing strategies  
in real-estate firms in current globalization economies, from that,  
the author can offer a framework of marketing strategies.  
Khác với các quan điểm marketing trước đó, quan điểm về  
marketing trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có những đặc  
điểm sau:  
- Khách hàng trong thương mại điện tử được liên kết với nhau  
thông qua internet và công nghệ số (mạng xã hội, blogs, thư điện tử,  
thông qua quảng cáo Pop-up và Pop-under, quảng cáo định dạng  
dữ liệu rich media…), do đó doanh nghiệp hạn chế tiếp cận người  
tiêu dùng một cách trực tiếp như marketing truyền thống.  
- Tính kết nối trong mạng xã hội giúp khách hàng có quyền chia  
sẻ và đánh giá dễ dàng về hoạt động của một doanh nghiệp. Chính  
vì thế, doanh nghiệp không thể tự định vị thương hiệu của mình như  
các cách tiếp cận marketing trước đây mà quyền định vị thương  
hiệu của doanh nghiệp đã chuyển dịch dần sang phía khách hàng.  
Khách hàng không còn đơn giản là mua sản phẩm để thỏa mãn  
những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống, mà còn để củng cố giá trị  
và cái tôi của bản thân khách hàng. Ngoài ra, người tiêu dùng có thể  
tham gia vào quá trình chăm sóc khách hàng, sử dụng kết nối để  
chia sẻ với người dùng khác trong quá trình hậu mãi.  
Key words: Marketing strategies, real estate entrepreneurs,  
4.0-industrialisation revolution  
TS. Đặng Thế Hiến  
Bộ môn Kinh tế xây dựng và quản lý, Khoa Quản lý đô thị  
- Marketing trong thời kỳ này không chỉ là marketing dưới góc  
nhìn của doanh nghiệp (mô hình 4P phát triển lên mô hình 5P, 6P,  
7P truyền thống) mà còn là marketing dưới góc nhìn của khách hàng  
(mô hình 4C hiện đại: Co-creation - cùng thiết kế, currency - chi phí,  
communal activation - lan truyền trong cộng đồng, conversation -  
đối thoại với khách hàng). Khách hàng trong marketing 4.0 có quyền  
tham gia vào tất cả các khâu từ thiết kế sản phẩm cho tới định giá  
ĐT: 0916340159 - 0989340159  
Email: dangthehien[email protected]  
Ngày nhận bài: 16/01/2020  
Ngày sửa bài: 08/4/2020  
Ngày duyệt đăng: 18/11/2021  
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG  
58  
và truyền thông cho chính sản phẩm.  
- Trí tuệ nhân tạo đã giúp ích cho doanh nghiệp rất  
nhiều, trong lĩnh vực marketing thông qua trí tuệ nhân  
tạo, doanh nghiệp có thể nhanh chóng thu hẹp phạm vi  
của việc mở rộng dòng sản phẩm hay những mẩu tin  
quảng cáo, để có thể đầu tư vào những thử nghiệm xa  
hơn. Trí tuệ nhân tạo cũng có thể mô tả được những sản  
phẩm mới hay vạch ra giải pháp dịch vụ cho những vấn  
đề của khách hàng bằng việc kết hợp những trường hợp  
có thể thay thế nhau mà chúng ta thường không nghĩ tới.  
2. Thực trạng hoạt động marketing và xây dựng  
chiến lược marketing của doanh nghiệp đầu tư và  
kinh doanh bất động sản  
a. Thực trạng hoạt động marketing của doanh nghiệp  
đầu tư và kinh doanh bất động sản  
Qua kết quả PVĐT các doanh nghiệp ĐT&KD BĐS  
(thông qua việc phát phiếu điều tra 66 doanh nghiệp với  
32 câu hỏi về thực trạng hoạt động marketing và xây  
dựng chiến lược marketing) cho thấy, các nhà quản trị  
doanh nghiệp ngày càng nhận thức được vai trò và vị  
trí của việc xây dựng chiến lược marketing trong hoạt  
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên,  
việc xây dựng và triển khai chiến lược marketing trong thực  
tiễn hoạt động của các doanh nghiệp còn nhiều vấn đề tồn  
tại, làm rõ những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của  
nó để doanh nghiệp thấy được những thách thức mà các  
doanh nghiệp ĐT&KD BĐS phải giải quyết để từ đó có thể  
xây dựng được chiến lược marketing có hiệu quả nhất cho  
doanh nghiêp, những nội dung đó bao gồm:  
Hình 1. Tình hình xây dựng chiến lược marketing của  
các doanh nghiệp ĐT&KD BĐS được phỏng vấn điều tra  
phận nghiên cứu và triển khai áp dụng chiến lược marketing  
vào hoạt động của doanh nghiệp một vị trí xứng đáng. Bộ  
phận này gần như chưa được tách ra hoạt động độc lập như  
một phòng ban chức năng trong doanh nghiệp mà vẫn được  
ghép, gắn với các phòng ban khác.  
- Việc phân tích thị trường xây dựng, dự báo sự phát triển  
của thị trường trong tương lai nhằm xác định thị trường mục  
tiêu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp  
chưa được các doanh nghiệp xem xét nghiên cứu đầy đủ,  
logic, khoa học dẫn đến việc xây dựng chiến lược marketing  
chưa có cơ sở khoa học vững chắc.  
- Về mặt thể chế pháp luật và chính sách kinh tế vĩ mô:  
Chính phủ đã xây dựng nền kinh tế theo thể chế kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện môi trường  
pháp lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên,  
hệ thống văn bản về đầu tư xây dựng, về kinh doanh BĐS, về  
doanh nghiệp và cạnh tranh…chưa hoàn thiện, ảnh hưởng  
đến việc định hướng chiến lược phát triển doanh nghiệp nói  
chung và chiến lược marketing nói riêng, ảnh hưởng đến  
việc mở rộng thị trường và cách tiếp cận với khách hàng tiềm  
năng trong và ngoài nước của doanh nghiệp.  
- Tính đặc thù của doanh nghiệp hoạt động đầu tư và  
kinh doanh bất động sản như: các vấn đề về huy động vốn,  
thời gian xây dựng, các đặc điểm về giao dịch và phân phối  
bất động sản…chưa được nghiên cứu đầy đủ làm cơ sở xây  
dựng chiến lược marketing cho doanh nghiệp.  
b. Thực trạng hoạt động xây dựng chiến lược marketing của  
doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh bất động sản  
- Mức độ nhận thức và triển khai áp dụng hoạt động  
marketing vào sản xuất kinh doanh của các nhà quản trị  
doanh nghiệp có nhiều khác biệt so với các nước phát triển,  
chủ yếu dựa trên kinh nghiệm kinh doanh là chủ yếu. Các  
nghiên cứu về marketing trong lĩnh vực đầu tư và kinh doanh  
BĐS hiện nay rất ít, kết quả nghiên cứu về marketing có  
nhiều sự khác biệt (khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn nhận  
thức về marketing, giữa lý thuyết và thực tiễn trong chiến  
lược và kế hoạch marketing, giữa lý thuyết và thực tiễn về  
công nghệ marketing và marketing số). Đây chính là nguyên  
nhân dẫn đến việc các nhà quản trị doanh nghiệp không có  
căn cứ đủ tin cậy để triển khai các hoạt động marketing tại  
doanh nghiệp mình.  
Đa phần các doanh nghiệp ĐT&KD BĐS chưa xây dựng  
một chiến lược marketing hoàn chỉnh để tăng khả năng cạnh  
tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Các doanh nghiệp  
thường chỉ thực hiện bước xác định mục tiêu của chiến lược  
sau đó đưa ra phương án chiến lược marketing và triển  
khai thực hiện, do đó việc xây dựng chiến lược marketing  
chưa được tính đến các yếu tố về thị trường, môi trường  
marketing và hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp. Ngoài ra,  
các doanh nghiệp cũng chưa xây dựng kế hoạch thực hiện  
phương án chiến lược marketing đã chọn, chưa bố trí ngân  
sách phù hợp cho các hoạt động có liên quan để thực hiện  
chiến lược marketing.  
Việc xây dựng và phối hợp giữa các thành phần marketing  
trong các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, các thành phần  
marketing được xây dựng khá độc lập, các doanh nghiệp  
chưa sử dụng nội dung của các thành phần marketing này  
để làm căn cứ xây dựng các thành phần marketing khác,  
những vấn đề còn tồn tại các doanh nghiệp được tác giả  
trình bày cụ thể như:  
- Mức độ triển khai các hoạt động marketing trong doanh  
nghiệp còn nhiều hạn chế, quan niệm marketing mới chỉ là  
quảng cáo, giới thiệu năng lực công ty, cạnh tranh về giá  
bán, mua sản phẩm BĐS, chiết khấu sản phẩm BĐS… đây  
là những quan điểm khá lạc hậu, chưa phù hợp với những  
quan điểm mới về marketing hiện đại, chưa tạo lập và triển  
khai marketing hỗn hợp trong quá trình hoạt động của doanh  
nghiệp.  
- Sản phẩm, dịch vụ: doanh nghiệp hoạt động đầu tư  
và kinh doanh BĐS cũng mới chỉ tập trung vào một số lĩnh  
vực bán và cho thuê căn hộ, văn phòng cho thuê, đầu tư  
kinh doanh dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng... Việc nâng cao chất  
- Trong việc tổ chức bộ máy quản lý hoạt động của doanh  
nghiệp, các nhà quản trị doanh nghiệp chưa dành cho bộ  
S¬ 43 - 2021  
59  
KHOA H“C & C«NG NGHª  
lượng hoạt động đầu tư kinh doanh BĐS được doanh nghiệp  
tập trung vào một số nội dung như: nâng cao chất lượng  
công tác thiết kế công trình, thiết kế nội ngoại thất, chất  
lượng nguồn nhân lực làm dịch vụ BĐS, chất lượng công tác  
quản lý hợp đồng ký kết với khách hàng... Tuy nhiên, mức độ  
của các hoạt động này còn hạn chế và chưa mang lại hiệu  
quả cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Sự phối  
hợp giữa các biện pháp về sản phẩm, dịch vụ với các biện  
pháp marketing khác chưa được thực hiện.  
- Giá sản phẩm, dịch vụ: Định giá sản phẩm, dịch vụ BĐS  
của doanh nghiệp chủ yếu hướng tới mục tiêu về lợi nhuận  
là chính. Nhân tố từ phía thị trường ảnh hưởng đến chính  
sách giá chưa được các doanh nghiệp đánh giá cao. Việc áp  
dụng phương pháp định giá chưa phân biệt được với từng  
loại sản phẩm khác nhau, đối tượng khách hàng khác nhau  
mà chỉ mới dừng ở phương pháp chung cho tất cả các đối  
tượng. Doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh BĐS chủ yếu lựa  
chọn chính sách giá thị trường, chưa tính đến phương pháp  
dựa theo thu nhập, dựa theo chi phí thực và theo lợi nhuận,  
tính cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua chính sách giá  
chưa mang lại hiệu quả cao.  
Bảng 1: Nhân tố ảnh hưởng đến chính sách định giá  
sản phẩm của các doanh nghiệp ĐT&KD BĐS được  
phỏng vấn điều tra  
- Phân phối sản phẩm dịch vụ: Doanh nghiệp sử dụng  
kênh phân phối còn chưa phù hợp với với lĩnh vực kinh  
doanh, việc thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm nâng cao  
hiệu quả phân phối chưa được thực hiện triệt để. Việc quản  
lý hợp đồng giao dịch BĐS thường gặp vấn đề về chậm tiến  
độ, bàn giao công trình có chất lượng không đảm bảo, chất  
lượng không giống trong cam kết với khách hàng là những  
yếu tố cản trở sự cạnh tranh của doanh nghiệp.  
Số lượng Tỷ lệ (%)  
Nhân tố ảnh hưởng  
đến chính sách giá  
STT  
1
doanh  
nghiệp  
tương  
ứng  
Nhân tố 1 - Chế độ chính  
sách, chế độ quản lý giá của  
Nhà nước (định mức, đơn giá  
xây dựng, thị trường BĐS)  
50  
50  
50  
100  
100  
100  
- Truyền thông marketing: các giải pháp marketing này  
được doanh nghiệp thực hiện còn khá đơn giản, mới dừng  
ở hoạt động quảng cáo, giới thiệu về năng lực của doanh  
nghiêp, giới thiệu về sản phẩm doanh nghiệp. Hoạt động  
xúc tiến bán hàng, marketing trực tiếp và marketing trực  
tuyến chưa được phát huy trong môi trường hiện nay. Các  
doanh nghiệp chưa xây dựng được truyền thông marketing  
tích hợp để phát huy hiệu quả của nó trong hoạt động kinh  
doanh của doanh nghiệp.  
Nhân tố 2 - Nhân tố từ phía  
thị trường (cung cầu về BĐS,  
lạm phát, rủi ro,…)  
2
Nhân tố 3 - Nhân tố từ phía  
doanh nghiệp (lợi nhuận kì  
vọng, mục tiêu của doanh  
nghiệp)  
3
4
5
6
Nhân tố 4 - Nhân tố khác  
Nhân tố 1,2,3  
4
43  
9
8
86  
18  
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chiến lược  
marketing của doanh nghiệp trong cuộc cách mạng  
công nghiệp 4.0  
Nhân tố 1,2,3,4  
Bảng 2: Các hoạt động trong chính sách truyền  
thông của các doanh nghiệp ĐT&KD BĐS được  
phỏng vấn điều tra  
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ diễn ra trên 3 lĩnh  
vực chính gồm: công nghệ sinh học, kỹ thuật số và vật lý.  
Mức độ ảnh hưởng của nó đến việc xây dựng chiến lược  
marketing chủ yếu ở lĩnh vực kỹ thuật số, trong đó bao gồm  
những yếu tố cốt lõi: trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối  
(internet of things - IoT) và dữ liệu lớn (Big Data). Sự phát  
triển vượt bậc của công nghệ thông tin trong kỷ nguyên số  
được thể hiện rõ nhất ở sự phổ biến của những thiết bị di  
động và số hóa hiện đại cho phép con người giao tiếp và kết  
nối ở mọi thời điểm. Do đó, những yếu tố có khả năng tác  
động đến việc xây dựng và triển khai chiến lược marketing  
trong doanh nghiệp có thể được chia thành 3 nhóm chính  
sau [8]:  
Số lượng Tỷ lệ (%)  
Các hoạt động trong chính  
sách truyền thông  
STT  
doanh  
nghiệp  
tương  
ứng  
Hoạt động 1 - Hoạt động  
quảng cáo  
1
2
3
4
5
6
50  
44  
33  
39  
50  
28  
100  
88  
Hoạt động 2 - Hoạt động xúc  
tiến bán hàng  
Hoạt động 3 - Marketing  
tương tác/Internet  
66  
• Nhóm yếu tố về định hướng hoạt động và thấu hiểu  
khách hàng  
Hoạt động 4 - Marketing trực  
tiếp  
78  
- Cách mạng công nghệ số và thay đổi mô hình kinh  
doanh của doanh nghiệp: Công nghệ số cho phép khách  
hàng có thể tự tìm kiếm và mua hàng trực tuyến đòi hỏi  
doanh nghiệp phải xác định và xây dựng lại mô hình kinh  
doanh của mình, đặc biệt là chiến lược marketing của doanh  
nghiệp. Khái niệm marketing số hình thành, phát triển và đi  
vào thực tế có tác động sâu rộng và thay đổi về bản chất các  
mô hình kinh doanh truyền thống.  
Hoạt động 5 - Quan hệ công  
chúng  
100  
56  
Hoạt động 6 - Hoạt động bán  
hàng cá nhân  
7
8
9
Hoạt động 7 - Hoạt động khác  
Hoạt động 1,2,3,5,6  
4
4
8
8
Hoạt động 1,2,3,4,5,6  
14  
17  
2
28  
34  
4
- Xu hướng sáng tạo và đổi mới: Khi các quyết định  
marketing của doanh nghiệp quá phụ thuộc vào nguồn dữ  
liệu đã thu thập, hoạt động marketing sẽ dần mất đi các ý  
tưởng sáng tạo và mới mẻ, do đó có thể gây nhàm chán cho  
đối tượng người tiêu dùng.  
10 Hoạt động 1,2,4,5  
11 Hoạt động 1,3,4,5  
12 Hoạt động 1,3,4,5,7  
13 Hoạt động 1,2,4,5,7  
14 Hoạt động 1,2,3,4,5,7  
2
4
2
4
- Thấu hiểu khách hàng: Trong kỷ nguyên số, dữ liệu  
được tập hợp thành những mảng thông tin khổng lồ và phức  
3
6
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG  
60  
tạp, đây là tiền đề cho sự ra đời của big data. Việc thu  
thập thông tin và xử lý kho dữ liệu khổng lồ như big  
data đã vượt quá khả năng của các công cụ quản lý cơ  
sở dữ liệu đơn giản truyền thống.  
• Nhóm yếu tố nghiệp vụ tiếp cận thị trường  
- Hoạt động truyền thông xã hội và xây dựng  
thương hiệu: Sự phổ biến của mạng xã hội cho phép  
đo lường ảnh hưởng vô cùng lớn đến từ những tương  
tác của người dùng. Môi trường internet giúp cho  
những những thông tin phản hồi về sản phẩm, doanh  
nghiệp và mức độ hài lòng của khách hàng được lan  
truyền nhanh hơn và được phổ biến rộng rãi hơn.  
- Khả năng xác định khách hàng mục tiêu trực  
tuyến: Xác định và có kế hoạch tiếp cận khách hàng  
ở cả hai kênh trực tuyến và ngoại tuyến (online and  
offline channels). Sự phổ biến của Internet và công  
nghệ thông tin vốn đã giúp cho mọi đối tượng khách  
hàng đều có khả năng tiếp cận công nghệ trực tuyến,  
qua đó tiếp cận được sản phẩm của doanh nghiệp trên  
thị trường.  
- Giá cả minh bạch: Sự xuất hiện của các website  
có khả năng liệt kê giá và so sánh giá cùng một sản  
phẩm từ các nhà cung cấp khác nhau.  
Hình 2. Các bước xây dựng khung chiến lược marketing  
của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản  
- Tương tác tự động với khách hàng trở nên tiện  
lợi hơn với các kênh trực tuyến và tự động. Tuy được  
coi là một giải pháp giúp tiết kiệm chi phí cho doanh  
nghiệp nhưng dịch vụ tự động có tiềm ẩn nhiều rủi ro,  
tiêu biểu nhất là người tiêu dùng có thể không hài lòng với  
việc bị buộc phải sử dụng những phương thức dịch vụ trực  
tuyến này.  
4. Xây dựng khung chiến lược marketing của doanh  
nghiệp kinh doanh bất động sản trong cuộc cách mạng  
công nghiệp 4.0  
Hoạt động kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp  
là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua,  
nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho  
thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi  
giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch  
vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm  
mục đích sinh lợi. Trong các doanh nghiệp kinh doanh BĐS,  
việc xây dựng chiến lược marketing cũng cần được nghiên  
cứu trong các yếu tố đặc thù của lĩnh vực hoạt động KDBĐS  
và môi trường marketing của doanh nghiệp. Việc xây dựng  
chiến lược marketing cần được nghiên cứu xây dựng cho  
một doanh nghiệp cụ thể, trong điều kiện bối cảnh cụ thể của  
doanh nghiệp. Chính vì vậy, khi nghiên cứu xây dựng chiến  
lược marketing của doanh nghiệp KDBĐS, tác giả đề xuất  
khung chiến lược marketing như là một tài liệu quan trọng có  
cơ sở khoa học và thực tiễn giúp cho việc quản lý, điều hành  
của doanh nghiệp KDBĐS trở nên hiệu quả và đạt được các  
mục tiêu kinh doanh đã đề ra. Khung chiến lược marketing  
giúp doanh nghiệp KDBĐS khắc phục được những yếu kém  
trong hoạt động xây dựng chiến lược marketing trong thời  
gian vừa qua, đồng thời giúp cho doanh nghiệp KDBĐS có  
những cơ sở vững chắc để nâng cao khả năng cạnh tranh  
của mình trong bối cảnh của nền kinh tế hiện nay.  
- Hệ thước đo đánh giá trực tuyến: Số liệu đánh giá trực  
tuyến nên được sử dụng song song với số liệu truyền thống  
để đánh giá đầy đủ hiệu quả của hoạt động kinh doanh trực  
tuyến và ngoại tuyến của doanh nghiệp. Tuy vậy, doanh  
nghiệp trong thời đại công nghệ số gặp không ít khó khăn  
khi đo lường dữ liệu trực tuyến marketing nhằm đánh giá sự  
tiến bộ, tạo thuận lợi cho việc phân tích nhu cầu thông qua  
các phương tiện truyền thông xã hội, thị trường trực tuyến  
và các kênh thông tin.  
• Nhóm yếu tố về năng lực tổ chức  
Với những thay đổi to lớn đến từ cuộc cách mạng công  
nghiệp 4.0 đặc biệt là công nghệ số, xây dựng chiến lược  
marketing của doanh nghiệp đòi hỏi nguồn nhân lực chất  
lượng cao có năng lực phù hợp cũng như cách tổ chức  
doanh nghiệp hiệu quả hơn, cụ thể:  
- Nguồn nhân lực chất lượng cao: Việc thiếu nhân lực  
chất lượng cao có kinh nghiệm trong lĩnh vực marketing nói  
chung và kỹ năng xây dựng chiến lược marketing nói riêng là  
một thách thức lớn với các doanh nghiệp. Những hoạt động  
như nghiên cứu dữ liệu khách hàng, quảng cáo trực tuyến,  
phát triển website hay thực hiện thống kê phân tích dữ liệu  
đều là những nhiệm vụ đòi hỏi năng lực và nghiệp vụ của  
nguồn nhân lực chất lượng cao.  
Thông qua cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược  
marketing, quan điểm nhận thức về marketing trong cuộc  
cách mạng công nghiệp 4.0, những đặc điểm của marketing  
KDBĐS. Tác giả đưa ra trình tự xây dựng khung chiến lược  
marketing của doanh nghiệp KDBĐS được thực hiện qua  
các bước chủ yếu như sau:  
Khả năng tổ chức và năng lực hoạt động của phòng ban  
chức năng: Hoạt động quản lý nội bộ (giữa bộ phận phụ  
trách marketing và các phòng ban khác trong doanh nghiệp)  
thường có những vấn đề như gặp khó khăn trong tương  
tác, dẫn đến phối hợp không hiệu quả hay chồng chéo chức  
năng. Môi trường công nghệ số hiện đại thay đổi quá nhanh  
khiến doanh nghiệp khó có những thay đổi kịp thời về mặt tổ  
chức sao cho phù hợp với cách thức hoạt động mới.  
a. Thiết lập các mục tiêu của chiến lược marketing  
Thiết lập các mục tiêu của chiến lược marketing: các mục  
tiêu của chiến lược marketing thường được định hướng từ  
mục tiêu của chiến lược kinh doanh tổng thể. Mục tiêu của  
S¬ 43 - 2021  
61  
KHOA H“C & C«NG NGHª  
KDBĐS cần tiến hành phân đoạn thị trường, qua đó giúp  
doanh nghiệp lựa chọn được thị trường mục tiêu. Việc lựa  
chọn thị trường mục tiêu cần đảm bảo được các yếu tố có thể  
đánh giá được của thị trường như: yếu tố ưu thế của đoạn  
thị trường, doanh lợi của đoạn thị trường, mức độ hạn chế  
rủi ro của đoạn thị trường, tính khả thi của đoạn thị trường.  
d. Xác định phương án chiến lược marketing phù hợp  
Phương án chiến lược marketing của doanh nghiệp  
KDBĐS được xác định căn cứ vào thị thường mục tiêu đã  
lựa chọn ở trên. Phương án chiến lược marketing được lựa  
chọn của doanh nghiệp KDBĐS có thể xác định dựa trên  
một số phương án chiến lược marketing như: Chiến lược  
dẫn đầu, chiến lược chi phí thấp, chiến lược marketing của  
doanh nghiệp theo sau, chiến lược quan hệ hợp tác với các  
đối tác trên thị trường…  
e. Xây dựng marketing hỗn hợp  
Nội dung của marketing hỗn hợp chính là sự phối hợp  
giữa các thành phần của marketing hỗn hợp, như hình 2.  
Hình 3. Các thành phần của marketing hỗn hợp trong  
chiến lược marketing của doanh nghiệp kinh doanh  
bất động sản  
• Sản phẩm  
- Bất động sản không đồng nhất, có tính cá biệt: khác  
nhau về quy mô, vị trí, thời gian xây dựng, nội ngoại thất  
công trình, mức độ hoàn thiện, các tiện nghi công cộng. Bất  
động sản có tính bền lâu, gắn liền với đất đai, mà đất đai có  
vị trí địa lý cố định và có giới hạn về diện tích và không gian.  
Mặt khác, các công trình xây dựng, công trình kiến trúc và  
vật kiến trúc có tuổi thọ cao, có thể đến hàng trăm năm. Bất  
động sản mang nặng yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý xã  
hội, như là: nhu cầu về bất động sản ở mỗi khu vực, mỗi  
quốc gia, mỗi dân tộc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi yếu tố  
tập quán, thị hiếu và tâm lý xã hội; yếu tố tín ngưỡng, tôn  
giáo, tâm linh của dân cư gắn với BĐS. Ngoài ra, hàng hóa  
bất động sản chịu sự chi phối mạnh mẽ của pháp luật và sự  
quản lý của Nhà nước. Các quan hệ giao dịch về bất động  
sản thường có tác động rất nhiều đến hầu hết các hoạt động  
kinh tế - xã hội.  
chiến lược marketing có thể bao gồm: số lượng các hợp  
đồng bán, cho thuê, thuê mua và chuyển nhượng BĐS được  
giao dịch thành công; hiệu suất bán, cho thuê, thuê mua của  
dự án đầu tư kinh doanh BĐS; giá trị doanh thu và lợi nhuận  
đạt được từ các dự án đầu tư kinh doanh BĐS. Những mục  
tiêu này cần được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên để tập trung  
thực hiện trong từng giai đoạn phát triển. Ngoài ra, mục tiêu  
của doanh nghiệp là tạo nên vị thế của doanh nghiệp trong  
lĩnh vực kinh doanh BĐS, tạo ra và trân trọng giá trị cốt lõi  
trong đạo đức kinh doanh, đảm bảo lợi ích cho khách hàng  
b. Phân tích, dự báo thị trường và phân tích SWOT  
Ở giai đoạn này, doanh nghiệp cần tiến hành phân tích  
hoạt động kinh doanh BĐS, thực trạng hoạt động marketing  
trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, các yếu tố ảnh hưởng của  
môi trường marketing đến hoạt động kinh doanh BĐS, phân  
tích thị trường BĐS và phân tích SWOT, qua đó làm căn cứ  
để phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu.  
• Giá sản phẩm bất động sản  
- Cũng như các hàng hoá thông thường khác, giá BĐS  
được hình thành trên cơ sở chi phí sản xuất (xây dựng) BĐS  
và quan hệ cung - cầu về BĐS trên thị trường. Tuy nhiên,  
BĐS là hàng hoá đặc biệt, do đó giá BĐS có một số đặc  
trưng riêng như: BĐS bao giờ cũng gắn liền với địa điểm  
và diện tích đất đai nhất định, không thể di dời được; giá cả  
BĐS thể hiện ở nhiều loại giá khác nhau căn cứ vào công  
dụng của BĐS (giá thị trường giá thuê, giá thế chấp, giá đển  
bù, giá tính thuế); giá BĐS được hình thành trong từng giao  
dịch riêng lẻ mà thực chất là giao dịch lợi ích mà BĐS đó  
mang lại, lợi ích không giống nhau thì giá cả cũng khác nhau.  
Phân tích quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng  
(mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng có nhu cầu  
về BĐS, giữa doanh nghiệp với các trung gian BĐS và sàn  
giao dịch BĐS); phân tích mức độ ảnh hưởng của yếu tố môi  
trường marketing đến hoạt động của doanh nghiệp (cơ chế  
chính sách tác động đến thị trường BĐS, mức độ ổn định  
kinh tế vĩ mô, mức độ cạnh tranh của các nhà đầu tư kinh  
doanh BĐS đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, thu nhập  
của người dân có nhu cầu BĐS, quan điểm của Chính phủ  
về việc phát triển thị trường BĐS như: thị trường nhà ở, thị  
trường BĐS du lịch nghỉ dưỡng, thị trường văn phòng cho  
thuê); phân tích các nguồn lực của doanh nghiệp (nguồn  
lực tài chính để triển khai các dự án BĐS, kinh nghiệm triển  
khai các dự án BĐS quy mô lớn, tiếp cận và triển khai thực  
hiện các dự án BĐS có vị trí thuận lợi, hệ thống mạng lưới  
phân phối sản phẩm BĐS). Việc phân tích SWOT giúp doanh  
nghiệp KDBĐS xác định được điểm mạnh, điểm yếu cũng  
như cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp, qua đó  
doanh nghiệp có căn cứ quan trọng để tiến hành phân đoạn  
thị trường.  
- Khi lựa chọn phương pháp định giá BĐS phải đảm bảo  
nguyên tắc phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời  
phù hợp với đặc điểm, tính chất, công năng của BĐS cần  
định giá.  
• Phân phối sản phẩm bất động sản  
- Đặc điểm nổi bật của phân phối BĐS chính là các hoạt  
động được thực hiện trên giấy tờ pháp lý chứ không vận  
chuyển, lưu kho các BĐS này được. Nó bao gồm các hoạt  
động như: mua bán, chuyển nhượng BĐS; cho thuê, thuê  
mua, giao dịch cho thuê, cho thuê lại; dịch vụ hỗ trợ giao dịch  
bất động sản bao gồm dịch vụ môi giới, định giá, tư vấn, đấu  
giá, quảng cáo, quản lý bất động sản; dịch vụ chuyển quyền  
sở hữu nhà, chuyển quyền sử dụng đất, xin cấp giấy chứng  
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, cho vay  
c. Phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu  
Dựa vào kết quả phân tích SWOT, các doanh nghiệp  
T„P CHŠ KHOA H“C KI¦N TR”C - XŸY D¼NG  
62  
mua nhà trả chậm.  
trường hoặc những sản phẩm BĐS.  
- Với doanh nghiệp KDBĐS thì hoạt động của kênh phân  
phối có thể là phân phối trực tiếp, phân phối không trực tiếp.  
Ngoài ra, chính sách phân phối có thể là phân phối rộng rãi,  
phân phối chọn lọc, phân phối độc quyền.  
- Mối quan hệ với chủ thể là khách hàng có nhu cầu BĐS  
thông qua các hoạt động: hoạt động quảng cáo; ký hợp đồng  
giao dịch BĐS; ứng xử với khách hàng giao dịch BĐS; nghệ  
thuật bàn giao BĐS hoàn thành; nghệ thuật thanh toán theo  
hợp đồng.  
• Truyền thông marketing  
- Mối quan hệ trong quá trình thực hiện hợp đồng được  
ký kết giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng như: mối quan  
hệ trong quản lý tiến độ bàn giao BĐS cho khách hàng theo  
thời gian được ghi trong hợp đồng; mối quan hệ trong quản  
lý kỹ thuật, chất lượng công trình với hợp đồng thi công xây  
dựng đã ký kết; mối quan hệ trong lĩnh vực giá hợp đồng  
BĐS, giá trị thanh toán theo các đợt  
- Với tính chất của doanh nghiệp KDBĐS thì hoạt động  
quảng cáo có những hình thức sau: quảng cáo về thương  
hiệu của doanh nghiệp trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh  
BĐS, quảng cáo về dự án BĐS mà các doanh nghiệp đang  
triển khai (các thông tin căn bản và nổi bật của các BĐS về  
địa điểm, thiết kế, kết nối với cơ sở hạ tầng đô thị, giá BĐS),  
quảng cáo về các dịch vụ hỗ trợ khách hàng có liên quan đến  
giao dịch BĐS. Doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một  
chương trình quảng cáo phù hợp với mục tiêu quảng cáo:  
quảng cáo để bán, cho thuê các BĐS như căn hộ, văn phòng  
cho thuê, khách sạn, khu du lịch… nhằm tăng doanh thu và  
lợi nhuận cho doanh nghiệp.  
• Chính sách của doanh nghiệp  
- Chính sách của doanh nghiệp (marketing chính sách)  
là một thành phần của marketing hỗn hợp, marketing chính  
sách chính là việc doanh nghiệp KDBĐS tiến hành thu thập,  
phân tích dữ liệu của khách hàng trên thị trường mục tiêu (sở  
thích về BĐS, mối quan tâm về các loại BĐS, mong muốn về  
các loại dịch vụ đi kèm với các giao dịch BĐS, mức giá BĐS  
mong muốn, thủ tục pháp lý có liên quan…), nghiên cứu và  
đánh giá dữ liệu lớn (big - data); xây dựng và điều chỉnh các  
chính sách phù hợp; truyền thông theo đúng mục tiêu.  
- Doanh nghiệp KDBĐS cần tiến hành hoạt động xúc tiến  
bán hàng với các trung gian BĐS và người tiêu dùng. Để các  
giao dịch được diễn ra thành công, doanh nghiệp cần có các  
chế độ với các đơn vị, bộ phận trung gian như cung cấp các  
tài liệu chuẩn về dự án, sản phẩm BĐS, chế độ chiết khấu,  
hoa hồng cho bộ phận trung gian…  
f. Lập kế hoạch marketing  
- Hoạt động marketing trực triếp và marketing trực tuyến  
cần được doanh nghiệp áp dụng triệt để trong quá trình  
kinh doanh, ứng dụng thành quả của cuộc cách mạng công  
nghiệp 4.0 vào công tác truyền thông marketing của doanh  
nghiệp.  
Việc lập kế hoạch phải chỉ rõ các hoạt động marketing  
cần tổ chức thực hiện trên cơ sở phương án chiến lược đã  
lựa chọn. Kế hoạch marketing của doanh nghiệp KDBĐS  
được lập phải làm rõ được một số vấn đề sau: thời gian và  
trình tự thực hiện các biện pháp marketing, mức kinh phí  
dành cho hoạt động marketing, nguồn lực huy động để thực  
hiện các biện pháp, con người và bộ phận chịu trách nhiệm  
thực hiện các biện pháp marketing và cơ chế phối hợp giữa  
các phòng ban chức năng.  
• Con người  
- Con người trong thành phần của marketing hỗn hợp bao  
gồm toàn bộ cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp, từ  
cán bộ giữ chức vụ quản lý đến nhân viên của các phòng  
ban, các nhân viên bán hàng làm việc bán thời gian…Trong  
hoạt động đầu tư và kinh doanh BĐS, vấn đề quyết định đến  
hiệu quả của chiến lược marketing chính là chất lượng của  
dịch vụ BĐS hay chính là chất lượng của những người trực  
tiếp tạo ra dịch vụ đó.  
III. Kết luận  
Nghiên cứu xây dựng chiến lược marketing của doanh  
nghiệp KDBĐS là nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động sản  
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt trong sự phát  
triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì việc nghiên  
cứu xây dựng chiến lược marketing nhằm phù hợp với  
những yêu cầu mới của nền kinh tế càng trở nên cấp thiết.  
Trình tự nội dung các bước xây dựng khung chiến lược  
marketing của doanh nghiệp KDBĐS đã được tác giả trình  
bày ở trên là những nghiên cứu có tính khoa học và thực  
tiễn, trở thành tài liệu quan trọng giúp các nhà quản trị doanh  
nghiệp KDBĐS nghiên cứu áp dụng vào doanh nghiệp cụ thể  
của mình, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh  
nghiệp và mang lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp  
trên thị trường./.  
- Các chính sách về con người sẽ tác động tích cực vào  
các chính sách khác, tạo ra hoạt động đầu tư và kinh doanh  
BĐS có năng suất và chất lượng cao hơn (thiết kế sản phẩm  
BĐS, phát triển và sản xuất sản phẩm BĐS; nghiên cứu thị  
trường để xác định nhu cầu của khách hàng về sản phẩm  
BĐS; quản lý chuỗi cung ứng để đảm bảo bàn giao BĐS  
đúng tiến độ; cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng và đóng  
vai trò là điểm tiếp xúc cho tương tác của khách hàng…),  
cung cấp cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ BĐS  
tốt nhất có thể.  
• Quan hệ công chúng  
- Mục tiêu của quan hệ công chúng tập trung vào nhiệm  
vụ làm tăng thêm uy tín, vị thế của doanh nghiệp trên thị  
Giáo dục Việt Nam, 2016.  
T¿i lièu tham khÀo  
1. Vũ Trí Dũng, Nguyễn Đức Hải, Marketing lãnh thổ, NXB Đại học  
kinh tế quốc dân, 2011.  
6. Philip Kotler, Kevin Keller, Quản trị marketing, NXB Lao động -  
xã hội, 2013.  
7. Philip Kotler, Tiếp thị 4.0 - Dịch chuyển từ truyền thống sang công  
nghệ số, NXB Trẻ, 2017, trang 68-72.  
2. Nguyễn Tiến Dũng, Marketing căn bản, NXB Giáo dục Việt Nam,  
2012.  
8. Philip Kotler, Marketing trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0,  
NXB thế giới, 2018.  
3. Nguyễn Đăng Hạc, Giáo trình marketing của doanh nghiệp xây  
dựng, NXB Xây dựng, 2016.  
9. Leeflang Peter S.H., Verhoef Peter C., Dahlstrưm Peter, Freundt  
Tjark, “Challenges and solutions for marketing in a digital era”,  
European Management Journal, 2014, Pages 1-12  
4. Bùi Mạnh Hùng, Kinh tế xây dựng, NXB Xây dựng, 2019.  
5. Phạm Thị Huyền, Trương Đình Chiến, Quản trị Marketing, NXB  
S¬ 43 - 2021  
63  
pdf 6 trang Thùy Anh 13860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xây dựng chiến lược marketing của doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh bất động sản trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxay_dung_chien_luoc_marketing_cua_doanh_nghiep_dau_tu_va_kin.pdf