Giáo trình Kỹ thuật điện tử - Chương 4: Transistor hiệu ứng trường (Field-Effect Transistors)
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
4
Transistor hiệu ứng
trường (Field-Effect
Transistors)
4-1 Giới thiệu
FET cũng là một linh kiện ba cực giống như BJT. Tuy nhiên, FET hoạt động dựa trên nguyên
lý khác với BJT. FET được xem là một linh kiện đơn cực (unipolar) vì dòng điện qua linh kiện chỉ
do một trong hai loại hạt dẫn: lỗ trống hoặc electron tự do. Tên gọi FET (Field-Effect Transistor)
xuất phát từ lý do dòng điện trong linh kiện được điều khiển dựa trên điện trường ngoài được cung
cấp từ một nguồn áp đặt vào linh kiện. FET có hai loại chính: JFET (Junction FET) và MOSFET
(Metal-Oxide-Semiconductor FET).
4-2 JFET
Hình 4-1 trình bày cấu trúc của JFET cũng như ba cực của linh kiện. Cấu trúc này gồm một
thanh bán dẫn loại N có hai vùng bán dẫn loại P nằm hai bên. Hai vùng P được nối chung với nhau
và kết nối chung giữa chúng được gọi là cực cổng G (gate). Một cực của thanh N được gọi là cực
máng D (drain), cực còn lại được gọi là cực nguồn S (source). Vùng N nằm giữa hai vùng P được
gọi là kênh dẫn (channel). Transistor này được gọi là JFET kênh N. Nếu JFET được tạo nên từ một
thanh bán dẫn loại P với các vùng N ở hai bên thì JFET này được gọi là JFET kênh P. Khi tìm hiểu
về lý thuyết của JFET, ta có thể so sánh cực máng của JFET với cực thu của BJT, cực nguồn của
JFET tương ứng với cực phát của BJT và cực cổng của JFET tương ứng với cực nền của BJT. Như
ta sẽ thấy, đối với JFET, điện áp đặt vào cực cổng sẽ điều khiển dòng giữa cực máng và cực nguồn
cũng giống như điện áp tại cực nền điều khiển dòng qua cực thu và cực phát của BJT.
1/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
Hình 4-1
Cấu trúc của JFET kênh N.
Khi đặt một điện áp ngoài vào giữa cực máng và cực nguồn của JFET kênh N sao cho cực
máng dương hơn thì dòng điện được hình thành từ dòng electron qua kênh N sẽ xuất hiện với chiều
qui ước là từ máng đến nguồn (dòng electron xuất phát từ cực nguồn). Dòng điện này bị giới hạn
bởi điện trở của vật liệu bán dẫn loại N. Khi JFET hoạt động ở chế độ thông thường, một điện áp
ngoài sẽ được đặt giữa cực cổng và cực nguồn để hai chuyển tiếp PN ở mỗi bên bị phân cực ngược.
Vì vậy, cực cổng sẽ mang điện thế âm tương ứng so với cực nguồn như được trình bày trong hình
4-2. Phân cực ngược này gây ra hai vùng nghèo trong kênh dẫn. Vì khi thiết kế JFET, kênh dẫn
được pha tạp chất với nồng độ thấp hơn so với cực cổng, do đó vùng nghèo sẽ lấn sâu hơn vào phía
kênh.
Hình 4-2
Phân cực ngược chuyển tiếp gate-
source tạo nên vùng nghèo. VGS
là điện áp phân cực ngược nhỏ
cho trường hợp này.
Bề rộng của vùng nghèo trong hình 4-2 phụ thuộc vào độ lớn của điện áp phân cực ngược VGS .
Khi điện áp phân cực ngược âm dần, vùng nghèo sẽ mở rộng và độ rộng của kênh dẫn giảm xuống.
Kết quả là điện trở kênh dẫn tăng lên và vì vậy làm giảm dòng ID từ máng đến nguồn.
Để phân tích ảnh hưởng của việc tăng VDS trên dòng máng ID , ta tạm thời ngắn mạch cực
máng và cực nguồn (VGS = 0 ). Khi VDS tăng lớn hơn 0 một chút, dòng ID tăng tỉ lệ với nó như
được trình bày trong hình 4-3(a). Điều này là do khi tăng điện áp trên một kênh dẫn có điện trở cố
định thì dòng điện qua nó phải tuân theo định luật Ohm. Nếu cứ tiếp tục tăng VDS , vùng nghèo bắt
đầu chiếm ưu thế như trong hình 4-3(b). Cần phải lưu ý là vùng nghèo rộng hơn tại đầu kênh dẫn
gần với cực máng (điểm A) so với đầu kênh dẫn gần với cực nguồn (điểm B). Đó là do khi dòng
điện chảy qua kênh dẫn, nó tạo ra một điện áp rơi dọc theo chiều dài của kênh. Ở phía đầu kênh dẫn
gần cực máng điện áp xấp xỉ VDS , do đó có một điện áp phân cực ngược lớn đặt giữa kênh N và cực
cổng P. Càng tiến xuống phía dưới của kênh dẫn điện áp ngày càng giảm vì điện áp rơi trên điện trở
kênh dẫn ngày càng tăng. Kết quả là điện áp phân cực ngược giảm và vùng nghèo trở nên nhỏ hơn
2/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
khi tiến đến gần cực nguồn. Nếu tiếp tục tăng VDS , vùng nghèo ngày càng mở rộng làm cho kênh
dẫn trở nên hẹp hơn (tại điểm A) và điện trở kênh vì thế tăng lên. Lúc này dòng điện qua kênh dẫn
không còn tăng tỉ lệ thuận với việc tăng điện áp VDS mà chỉ tăng rất nhẹ như ta thấy ở đoạn cong
trong hình 4-3(a).
Hình 4-3
Hiệu quả của việc tăng VDS khi ngắn mạch cực cổng đến nguồn (VGS = 0 ).
Hình 4-4(a) cho thấy kết quả của việc tăng VDS đến một giá trị đủ lớn làm cho vùng nghèo hai
bên kênh dẫn gặp nhau tại đầu gần cực máng. Điều kiện này được gọi là nghẽn (pinch-off). Tại
điểm xảy ra nghẽn, chuyển tiếp giữa cực cổng và kênh được phân cực ngược bởi chính giá trị VDS ,
giá trị này được gọi là điện áp nghẽn (pinch-off voltage),
Vp . Thông số này rất quan trọng đối với
JFET, giá trị của nó phụ thuộc vào mức độ pha tạp chất và cấu trúc của linh kiện. Vp luôn có giá trị
âm đối với JFET kênh N và có giá trị dương đối với JFET kênh P. Trong hình 4-4(b), dòng điện sẽ
đạt đến giá trị tối đa tại điểm nghẽn và giữ không đổi khi VDS tăng vượt quá VP . Dòng này được
gọi là dòng bão hòa (saturation current) IDSS
.
Hình 4-4
JFET kênh N tại điểm nghẽn.
3/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
Giá trị thông thường cho Vp và IDSS là −4 V và 12 mA , giả sử là JFET này được dùng trong
hình 4-5(a). Trong hình này, cực cổng và nguồn không còn bị ngắn mạch mà được nối với nguồn
−1 V để phân cực ngược chuyển tiếp này. Điện áp phân cực ngược này sẽ làm cho bề rộng vùng
nghèo dọc theo kênh dẫn mở rộng hơn so với khi ngắn mạch. Do đó, nếu bây giờ điện áp VDS được
tăng dần từ 0 ta sẽ thấy là dòng điện ban đầu vẫn tiếp tục tăng tuyến tính như trong hình 4-5(b).
Tuy nhiên, độ dốc của đoạn tăng này thấp hơn so với đường ứng với VGS
=
0
bởi vì toàn bộ điện trở
của kênh là lớn hơn trường hợp trước (do bề rộng kênh hẹp hơn). Khi tiếp tục tăng
VDS , vùng
nghèo lại tiếp tục mở rộng cho đến khi gặp nhau. Điểm nghẽn sẽ xảy ra tại VDS = 3 V thay vì 4 V
vì chuyển tiếp giữa kênh dẫn và cực cổng đã được phân cực ngược trước bởi điện áp VGS = −1 V .
Trong hình 4-5(b), dòng bão hòa có giá trị 6.75 mA khi VDS tăng vượt quá 3 V .
Hình 4-5
Hiệu quả của việc tăng VDS khi VGS = −1 V
.
Nếu giảm VGS xuống −2 V thay vì −1 V và lặp lại quá trình ta sẽ thấy điểm nghẽn xảy ra tại
VDS = 2 V ứng với dòng bão hòa là 3 mA . Rõ ràng là khi tăng giá trị phân cực ngược giữa kênh và
cực cổng (bằng cách làm cho VGS âm hơn) thì điểm nghẽn xảy ra sớm hơn (tức là ứng với VDS nhỏ
hơn) và dòng bão hòa cũng nhỏ hơn. Hình 4-6 biểu diễn đường cong đặc tuyến, còn gọi là đặc
tuyến máng, có được khi cho VGS lần lượt là 0, -1, -2, -3 và -4 V. Đường parabol đứt nét cho thấy
tập hợp các điểm xảy ra nghẽn. Giá trị của VDS trên đường cong này được gọi là điện áp bão hòa
VDS (sat) . Tại một giá trị VGS bất kỳ, giá trị VDS (sat) tương ứng là hiệu số giữa VGS và Vp
:
VDS
=
VGS
−
VP . Biểu thức của đường parabol là:
(
sat)
2
V
⎛
⎞
DS sat
(
)
ID = IDSS
(4-1)
⎜
⎜
⎟
⎟
Vp
⎝
⎠
Để minh họa, cho VP = −4 V và IDSS
=12 mA ; tại VDS = 3 V ta tìm được
2
3
⎛
⎞
I = 12 mA
= 6.75 mA
(
)
D
⎜
⎝
⎟
⎠
−4
chính là dòng bão hòa của đường VGS = −1 V . Lưu ý là trong hình 4-6, vùng bên phải của
đường parabol được gọi là vùng nghẽn. Đây là vùng hoạt động thông thường của JFET khi được sử
dụng ở chế độ khuếch đại. Nó còn được gọi là vùng tích cực (active) hoặc vùng bão hòa
4/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
(saturation). Vùng bên trái của đường parabol được gọi là vùng điện trở phụ thuộc áp (voltage-
controlled-resistance), vùng ohmic, hoặc vùng triode. Trong vùng này, điện trở giữa cực máng và
cực nguồn được điều khiển bởi VGS
.
Hình 4-6
Đặc tuyến máng của
JFET kênh N.
Đường nằm dọc theo trục hoành trong hình 4-6 cho thấy ID = 0 khi VGS = −4 V bất chấp giá trị
VDS . Khi VGS phân cực ngược chuyển tiếp giữa cực cổng và kênh dẫn bằng giá trị Vp , vùng
của
nghèo hai bên kênh dẫn mở rộng chiếm toàn bộ kênh và dòng máng bị tắt. Vì giá trị của VGS tại đó
dòng máng bị tắt bằng Vp , điện áp nghẽn còn được gọi là điện áp tắt cổng-nguồn (gate-to-source
cutoff voltage). Từ đó có thể thấy là để xác định giá trị Vp từ đặc tuyến máng ta có hai cách: thứ
nhất, đó là giá trị của VDS tại đó ID bão hòa khi VGS = 0 V ; thứ hai, đó là giá trị của VGS tại đó toàn
bộ dòng máng đều tắt, nghĩa là VP =VGS(cutoff )
.
Điểm đặc biệt đáng giá của FET khi được dùng trong các bộ khuếch đại điện áp đó là điện trở
ngõ vào rất cao tại cực cổng của nó. Vì giữa cực cổng và cực nguồn là chuyển tiếp PN phân cực
ngược nên dòng chảy vào cực cổng lúc này chỉ có dòng rò rất nhỏ của chuyển tiếp. Do đó, nguồn
tín hiệu chỉ lái cực cổng bằng một dòng rất nhỏ và FET được xem là có điện trở ngõ vào rất cao.
Giá trị này có thể đến vài trăm megaohms.
Hình 4-7 vẽ cấu trúc và đặc tuyến máng cho JFET kênh P. Trong JFET kênh P, tất cả các cực
của điện áp là ngược lại so với JFET kênh N. Hình 4-7(b) chứng tỏ là các giá trị dương của VGS
điều khiển độ lớn dòng bão hòa trong vùng nghẽn.
5/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
Hình 4-7
Cấu trúc và đặc tuyến của JFET kênh P.
Hình 4-9
Hình 4-8
Đặc tuyến đánh thủng của JFET kênh N.
Biểu tượng mạch cho JFET.
Hình 4-8 vẽ ký hiệu qui ước để biểu diễn JFET kênh N và kênh P. Hình 4-9 biểu diễn đặc
tuyến đánh thủng của một JFET kênh N. Đánh thủng xảy ra tại các giá trị VDS lớn và do cơ chế
đánh thủng thác lũ gây ra.
4-2-1 Đặc tuyến truyền đạt
Đặc tuyến truyền đạt của linh kiện biểu diễn quan hệ giữa dòng ngõ ra và điện áp ngõ vào với
một điện áp ngõ ra cố định. Khi ngõ vào của JFET là điện áp giữa cực cổng và cực nguồn và dòng
ngõ ra là dòng máng (cấu hình nguồn chung), đặc tuyến truyền đạt có thể được suy ra từ đặc tuyến
máng. Ta chỉ cần dựng một đường thẳng đứng trên đặc tuyến máng (VDS là hằng số) và ghi lại giá
trị của ID tại mỗi giao điểm với đường VGS là hằng số. Các giá trị của ID có thể được vẽ theo VGS
để tạo nên đặc tuyến truyền đạt. Hình 4-10 mô tả quá trình này.
Trong hình 4-10, đặc tuyến truyền đạt được vẽ cho VDS
VDS này làm cho tất cả các điểm làm việc đều nằm trong vùng nghẽn. Ví dụ, giao điểm của đường
VDS 8 V và đường VGS = 0 V xảy ra tại ID = IDSS 12 mA . Tại VDS 8 V và VGS = −1 V , ta có
ID = 6.75 mA . Tập hợp của các giá trị ID và VGS này tạo nên một đặc tuyến truyền đạt có dạng
parabol. Lưu ý là giao điểm của đường đặc tuyến này với trục ID là IDSS và với trục VGS là Vp
= 8 V . Như ta thấy trong hình, giá trị
=
=
=
.
6/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
Hình 4-10
Xây dựng đặc tuyến truyền đạt cho
JFET kênh N từ đặc tuyến máng.
Biểu thức cho đặc tuyến truyền đạt trong vùng nghẽn là
2
⎛
⎜
⎝
⎞
VGS
Vp
ID = IDSS 1−
(4-2)
⎜
⎟
⎟
⎠
Biểu thức này cho phép xác định được chính xác giá trị của ID = IDSS khi VGS = 0 V và ID = 0
khi VGS =Vp . Đặc tuyến truyền đạt thường được gọi là đặc tuyến luật bình phương (square-law) của
JFET và được sử dụng trong một số ứng dụng trong đó ngõ ra là một hàm phi tuyến của ngõ vào.
Ví dụ 4-1
Một JFET kênh N có điện áp nghẽn là −4.5 V và IDSS = 9 mA .
1. Tìm giá trị của VGS trong vùng nghẽn khi ID = 3 mA .
2. Tìm giá trị VDS (sat) khi ID = 3 mA .
Hướng dẫn
1. Ta dùng biểu thức 4-2 cho VGS :
2
⎛
⎞
VGS
Vp
ID
1−
=
⎜
⎜
⎟
⎟
IDSS
⎝
⎠
1−VGS VP = ID IDSS
V =V 1− I IDSS
(
)
GS
P
D
⎡
⎤
VGS = −4.5 1− 3 mA / 9 mA = −1.9 V
(
) (
)
⎣
⎦
2. Biểu thức 4-1 cho thấy liên hệ của ID và VDS (sat)
7/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
2
VDS (sat)
=
V
(
2 ID IDSS
=
4.5 3 mA / 9 mA = 2.6 V
)
(
) (
) (
)
P
Chú ý là ta chọn căn bậc hai dương vì VDS là dương đối với JFET kênh N. Đối với một JFET kênh
P, ta cần phải chọn căn âm. Giá trị của VDS cũng có thể được tính từ
VDS
=VGS −VP = −1.9 V − −4.5 V = 2.6 V .
)
4-3 Phân cực cho JFET
4-3-1 Phân cực cố định
Cũng như đối với BJT, JFET thường được sử dụng như một mạch khuếch đại ac, do đó nó
cũng phải được phân cực để tạo một thành phần dc quanh nó thành phần ac có thể thay đổi. Khi
một JFET được kết nối trong cấu hình nguồn chung (common-source), điện áp ngõ vào là VGS và
điện áp ngõ ra là VDS . Do đó, mạch phân cực phải đặt các giá trị tĩnh cho VDS và ID . Hình 4-11
trình bày một phương pháp có thể dùng để phân cực cho JFET kênh N và kênh P.
Hình 4-11
Mạch phân cực cố định cho JFET
kênh N và kênh P.
Chú ý là trong hình 4-11 một nguồn dc VDD được sử dụng để cung cấp dòng máng cho JFET
thông qua điện trở D , và một nguồn khác được dùng để tạo điện áp giữa cực nguồn và cực cổng
GS . Phương pháp phân cực này được gọi là phân cực cố định (fixed bias) vì điện áp VGS được giữ
R
V
cố định bởi một nguồn áp. Từ hình 4-11 ta có
VDS =VDD − ID RD N −channel
(
)
(4-3)
VDS = −VDD + ID RD P − channel
(
)
Khi dùng các biểu thức này, VDD phải luôn luôn có giá trị dương để đảm bảo dấu của VDS là
chính xác. VDS phải có giá trị dương đối với JFET kênh N và có giá trị âm đối với JFET kênh P. Ví
dụ trong một JFET kênh N, VDD là +15 V từ cực máng đến cực nguồn, nếu ID là 10 mA và RD là
1 kΩ , ta có VDS =15− 10 mA 1 kΩ = +5 V . Đối với một JFET kênh P, khi điện áp nguồn VDD
(
)(
)
là −15 V từ máng đến nguồn thì VDS = −15+ 10 mA 1 kΩ = −5 V . Biểu thức 4-3 cũng có thể
)
được viết lại dưới dạng
ID = − 1 R V
+
VDD RD
N
−
channel
(
)
)
D
DS
(4-4)
ID
=
1 R V
+
VDD RD
P
−
channel
(
)
(
)
D
DS
Biểu thức 4-4 là phương trình đường tải dc cho JFET kênh N và kênh P, mỗi đường có thể
được vẽ trên tập hợp các đặc tuyến máng để xác định điểm làm việc tĩnh Q. Cách này cũng giống
như cách đã làm đối với mạch phân cực cho BJT. Đường tải cắt trục VDS tại VDD và cắt trục ID tại
VDD RD
.
Ví dụ 4-2
8/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
JFET trong hình 4-12 có đặc tuyến máng được vẽ trong hình 4-13. Tìm các giá trị tĩnh của ID và
VDS khi (1) VGS = −1.5 V và (2) VGS = −0.5 V .
Hình 4-12
Hình 4-13
Ví dụ 4-2.
Ví dụ 4-2.
Hướng dẫn
1. Đường tải cắt trục VDS tại VDD = +16 V và trục ID tại ID = 16 V 2 kΩ = 8 mA. Tại giao
)
điểm của đường tải với VGS = −1.5 V (điểm
Q trên hình 4-13) giá trị của điểm tĩnh là ID ≈ 3.9 mA
1
và VDS ≈ 8.4 V .
2. Đường tải giống như câu 1. Thay đổi VGS đến −0.5 V làm cho điểm
Ta thấy là ID ≈ 6.7 mA và VDS ≈ 2.6 V .
Q di chuyển đến điểm Q2 .
Câu 2 của ví dụ trên cho thấy một kết quả quan trọng. Lưu ý là việc thay đổi VGS đến giá trị
−0.5 V trong mạch phân cực của hình 4-12 làm cho điểm di chuyển ra khỏi vùng nghẽn và vào
trong vùng điện trở phụ thuộc áp. Như đã nói, điểm phải nằm trong vùng nghẽn đối với các
mạch khuếch đại thông thường. Để đảm bảo điểm nằm trong vùng nghẽn, giá trị tĩnh của VDS
phải lớn hơn VP − VGS . Điện áp nghẽn đối với linh kiện mà đặc tuyến của nó được cho trong hình
4-13 có giá trị xấp xỉ −4 V . Vì VGS 0.5 V và giá trị tĩnh của VDS tại Q2 là 2.6 V , nên biểu thức
Q
Q
Q
=
VDS > VP − VGS không thỏa mãn. Do đó Q2 nằm ngoài vùng nghẽn.
Giá trị của ID cũng có thể tính được bằng cách dùng đặc tuyến truyền đạt của JFET. Vì đặc
tuyến truyền đạt vẽ ID theo VGS , ta chỉ cần xác định VGS và đọc giá trị ID tương ứng. Giá trị của
VDS có thể tính bằng cách dùng biểu thức 4-3. Phương pháp này sử dụng đồ thị để tính và cho phép
ta thấy được hoạt động bên trong của linh kiện, trong đó các biến trong mạch ảnh hưởng lẫn nhau.
Giá trị tĩnh của VDS và ID cũng có thể tính bằng cách dùng các biểu thức nếu ta biết giá trị của IDSS
và Vp
.
9/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
Ví dụ 4-3
Cho JFET trong hình 4-12 có IDSS
=10 mA và VP = −4 V , hãy tính giá trị tĩnh cho ID và VDS khi
VGS = −1.5 V . Giả sử là JFET được phân cực trong vùng nghẽn.
Hướng dẫn
Từ biểu thức 4-2,
2
−
−
1.5
2
⎛
⎝
⎞
ID
=
IDSS
1
(
−
VGS VP
=
10 mA 1
−
= 3.9 mA
)
(
)
⎜
⎟
⎠
4
Từ biểu thức 4-2, VDS =VDD − I R =16 − 3.9 mA 2 kΩ = 8.2 V . Kết quả này khá chính xác so
)
D
D
với các tính toán từ đồ thị trong ví dụ 4-3. Chú ý là ta cần phải có giả sử là JFET nằm trong vùng
nghẽn. Nếu tính toán trên tạo ra kết quả VDS nhỏ hơn VP − VGS = 2.5 V , ta kết luận là linh kiện
không được phân cực trong vùng nghẽn và ta phải sử dụng phương pháp khác để tính điểm
Các giá trị của IDSS và VDS có thể thay đổi rất rộng đối với các JFET khác nhau. Khi mạch
phân cực cố định được dùng để xác định điểm , một sự thay đổi trong các thông số của JFET có
Q .
Q
thể làm cho các giá trị phân cực tĩnh thay đổi rất lớn. Giả sử là một JFET có IDSS =13 mA và
VP = −4.3 V được thay vào mạch phân cực hình 4-12 trong ví dụ 4-3, với VGS = −1.5 V như cũ, thì
2
−1.5
−4.3
⎛
⎝
⎞
⎠
I = 13 mA 1−
= 5.51 mA
(
)
D
⎜
⎟
VDS =16 − 5.51 mA 2 kΩ = 4.98 V
)(
(
)
Các kết quả này cho thấy là ID tăng 41.3 % so với giá trị đã có được trong ví dụ 4-3 và VDS
giảm 68.7 % . Do đó, ta có thể kết luận là mạch phân cực cho JFET dùng phân cực cố định có độ
ổn định phân cực không được tốt.
Hình 4-14 biểu diễn một dạng mạch phân cực có sự ổn định tốt hơn mà chỉ dùng một nguồn
cung cấp. Phương pháp này được gọi là tự phân cực vì điện áp rơi trên RS do dòng tĩnh ngõ ra gây
ra sẽ xác định điện áp phân cực VGS . Ta thấy là VS = ID RS tại cực nguồn so với đất. Đối với JFET
kênh N, điều này có nghĩa là cực nguồn là dương so với cực cổng vì cực cổng được nối đất. Nói
cách khác, cực cổng là âm so với cực nguồn như yêu cầu phân cực của JFET kênh N: VGS = −ID RS .
Đối với JFET kênh P, cực cổng là dương so với cực nguồn VGS = ID RS .
Hình 4-14
Mạch tự phân cực.
VGS = −ID RS
VGS = ID RS
N − channel
(4-5)
(4-6)
(
)
P − channel
(
)
10/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
Các biểu thức 4-5 và 4-6 mô tả các đường thẳng khi vẽ trên hệ trục VGS − ID . Các đường này
được gọi là đường phân cực (bias line). Giá trị phân cực tĩnh của ID có thể tìm được bằng đồ thị
bằng cách vẽ đường phân cực trên cùng trục tọa độ với đặc tuyến truyền đạt. Giao điểm của hai
đường này xác định vị trí của điểm
Q . Ta cũng có thể giải hệ phương trình bao gồm biểu thức
đường phân cực và biểu thức luật bình phương để tìm điểm làm việc tĩnh này. Giá trị phân cực tĩnh
của VDS có thể được tính bằng cách cộng các điện áp cho ngõ ra trong hình 4-14:
VDS =VDD − ID R + R
S
N − channel
(
)
D
(4-7)
VDS = −VDD + ID R + R
P − channel
(
S ) (
)
D
Ví dụ 4-4
Đặc tuyến truyền đạt của JFET trong hình 4-15 được vẽ trong hình 4-16. Tìm các giá trị phân cực
tĩnh cho ID và VDS bằng cách dùng đồ thị.
Hình 4-15
Hình 4-16
Ví dụ 4-4.
Ví dụ 4-4.
Hướng dẫn
Vì RS = 600 Ω , biểu thức đường phân cực là VGS = −600ID . Lưu ý là đường phân cực luôn luôn đi
qua gốc tọa độ. Vẽ đường này lên hệ trục và xác định giao điểm của nó với đường đặc tuyến truyền
đạt. Giao điểm của nó là ID ≈ 3 mA , đó là dòng máng tĩnh. Giá trị VGS tương ứng là xấp xỉ 1.8 V
.
Giá trị tĩnh của VDS được tính bằng biểu thức 4-7.
VDS =15− 3 mA ⎡ 1.5 kΩ + 0.6 kΩ ⎤ = 8.7 V
(
) (
) (
)
⎣
⎦
4-3-2 Phương pháp đại số - tự phân cực
Các giá trị tĩnh của ID và VGS trong mạch tự phân cực cũng có thể được tính bằng cách giải hệ
phương trình như đã nói ở phần trên. Để thực hiện được phương pháp này ta cần phải biết giá trị
của IDSS và Vp . Cũng như trong trường hợp phân cực cố định, các kết quả chỉ có ý nghĩa nếu điểm
11/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
làm việc nằm trong vùng nghẽn, nghĩa là VDS > VP − VGS . Biểu thức 4-8 cho thấy kết quả của việc
tính toán giá trị tĩnh ID , VDS , VGS bằng phương pháp đại số. Các biểu thức này dùng được cho
JFET kênh N lẫn JFET kênh P vì biểu thức dùng trị tuyệt đối của các giá trị trong tính toán.
−B − B2 − 4AC
ID =
2A
A = RS2
Vp2
⎛
⎞
B = − 2 V R +
⎜
⎟
⎟
p
S
⎜
IDSS
⎝
⎠
C =Vp2
(4-8)
VDS = VDD − ID R + R
(
)
D
S
VGS = ID RS
Ví dụ 4-5
Sử dụng biểu thức 4-8 để tìm điểm phân cực trong ví dụ 4-5.
Hướng dẫn
Như trong hình 4-15, RS = 600 Ω và RD =1.5 kΩ . Đặc tuyến truyền đạt trong hình 4-16 cho thấy
IDSS =10 mA và VP = −4 V. Vì vậy, với biểu thức 4-8 ta có:
A = RS2 = 3.6×105
2
VP2
(
)
⎡
⎤
⎥
⎛
⎞
⎟
⎠
−4
B = − 2 V R +
= − 2 4 600 +
= −6.4×103
⎢
( )(
)
⎜
P
S
IDSS
10×10−3
⎢
⎥
⎦
⎝
⎣
C =VP2 =16
6.4×103 − 40.96×106 − 4 3.6×105 16
−B − B2 − 4AC
2A
(
)
(
)
ID =
=
= 3 mA
2 3.6×105
(
)
VDS = VDD − ID R + R =15 V −3 mA 1.5 kΩ + 600 Ω = 8.7 V
(
)
(
)
D
S
VGS = I R = 3 mA 600 Ω =1.8 V
(
)(
)
D
S
Vì JFET là kênh N, VGS = −1.8 V . Các kết quả này phù hợp với ví dụ 4-4. Vì
VDS = 8.7 V> VP − VGS = 4 V −1.8 V = 2.2 V , điểm phân cực nằm trong vùng nghẽn và các kết
quả là có giá trị.
Để thấy là phương pháp tự phân cực cho độ ổn định phân cực tốt hơn phương pháp phân cực
cố định, ta sẽ so sánh mức độ thay đổi giá trị tĩnh của ID của mỗi phương pháp, khi các thông số
của JFET trong ví dụ trước bị thay đổi thành IDSS =12 mA và VP = −4.5 V . Trong mỗi trường hợp,
ta giả sử là điểm phân cực ban đầu (khi dùng JFET có IDSS =10 mA và VP = −4 V ) được đặt tại
ID = 3 mA , sau đó JFET mới được thay vào trong mạch. Ta đã thấy là ID = 3 mA khi
VGS = −1.8 V , do đó mạch phân cực cố định có VGS được xác định bằng một nguồn −1.8 V. Khi
IDSS được thay đổi là 12 mA và Vp là −4.5 V, với VGS cố định tại −1.8 V, ta tìm được giá trị mới
của ID trong mạch phân cực cố định là
12/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
2
ID = IDSS 1−V VP = 4.32 mA
(
)
GS
Sự thay đổi này của ID là khoảng 44 % , từ 3 mA đến 4.32 mA .
Bây giờ ta sẽ xem xét ảnh hưởng của việc thay đổi JFET trong mạch tự phân cực. Dùng biểu
thức 4-8 ta có thể tìm được ID là 3.46 mA . Trong trường hợp này, ID chỉ thay đổi khoảng
15.3 % , sự thay đổi này là ít hơn một nửa so với phân cực cố định.
Hình 4-17
Giá trị tĩnh của ID ban đầu là
3 mA cho cả phân cực cố
định và tự phân cực. Khi hàm
truyền đạt thay đổi thì sự thay
đổi của ID trong mạch tự
phân cực nhỏ hơn trong mạch
phân cực cố định.
Hình 4-17 biểu diễn đặc tuyến truyền đạt của JFET có IDSS =10 mA và VP = −4 V và đặc
tuyến truyền đạt của JFET có IDSS =12 mA và VP = −4.5 V . Đường phân cực VGS = −600ID được
vẽ cắt cả hai đặc tuyến tại các điểm đã xác định được ở trên: 3 mA và 3.46 mA . Trên đồ thị còn
vẽ đường thẳng đứng VGS = −1.8 V , là đường tương ứng của phương pháp phân cực cố định.
Đường này cắt các đặc tuyến tại hai giá trị: 3 mA và 4.32 mA . Đồ thị này có thể cho ta thấy rõ
ràng là tại sao phương pháp tự phân cực lại tạo ra ít thay đổi hơn so với phương pháp phân cực cố
định khi thay đổi thông số JFET: độ dốc của đường phân cực càng nhỏ, mức độ thay đổi trong các
giá trị tĩnh càng thấp.
4-3-3 Phân cực bằng cầu chia áp
Trên hình 4-17, ta có thể thấy là độ dốc của đường phân cực càng nhỏ thì độ thay đổi trong ID
càng thấp. Độ dốc của đường này có thể càng nhỏ hơn nữa nếu ta tăng RS , tuy nhiên, nếu RS quá
lớn sẽ làm cho giá trị ID trở nên quá nhỏ. Có một cách khác có thể làm giảm độ dốc của đường
phân cực mà vẫn giữ cho ID không quá nhỏ là nối một nguồn VGG đến cực cổng (đối với JFET
kênh N) trong mạch tự phân cực.
13/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
Hình 4-18
Nguồn VGG làm giảm độ dốc của đường phân cực và cải thiện độ ổn định phân cực.
Hình 4-19
Phân cực cực cổng bằng cách
dùng cầu phân áp.
Hình 4-18(a) vẽ dạng phân cực này. VGG làm cho điểm giao của đường phân cực và trục hoành
dịch đến giá trị VGG như trong hình 4-18(b). Biểu thức của đường phân cực lúc này là
VGS =VGG − ID RS
(4-9)
Trong thực tế, điện áp dương tại cực cổng được tạo ra bằng cách dùng cầu phân áp nối đến cực
nguồn từ áp cung cấp VDD . Đối với JFET kênh P, cực cổng phải mang điện áp âm, áp này được tạo
ra từ cầu phân áp −VDD . Hình 4-19 biểu diễn các dạng phân cực này. Vì điện trở ngõ vào cực cổng
là rất lớn (do cấu trúc phân cực ngược), cầu chia áp không bị gánh tải, do đó khi phân tích ta có thể
bỏ qua tải của cầu phân áp này (khác với cầu phân áp của phân cực cho BJT). Điện áp giữa cực
cổng và đất là
⎛
⎜
⎝
⎞
⎟
⎠
R2
R + R2
V =
V
(4-10)
G
DD
1
Đối với JFET kênh P là VG = −R2VDD R + R . Biểu thức đường phân cực cho JFET kênh N
)
1
2
và kênh P là
VGS =VG − ID RS
VGS =VG − ID RS
N − channel
P − channel
(4-11)
(4-12)
(
(
)
)
Lưu ý là VG dương trong biểu thức 4-11 và âm trong biểu thức 4-12.
4-3-4 Phương pháp đại số cho phương pháp phân cực dùng cầu phân áp
Dạng tổng quát để tìm điểm phân cực trong phương pháp dùng cầu phân áp được cho trong
biểu thức 4-13. Các kết quả này là đúng cho cả JFET kênh N lẫn kênh P. Các giá trị tìm được phải
14/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
kiểm tra điều kiện VDS > VP − VGS để đảm bảo là điểm làm việc nằm trong vùng nghẽn. Biểu thức
4-13 cũng có thể được dùng như biểu thức 4-8 khi cho VG là 0.
−B − B2 − 4AC
ID =
2A
A = RS2
Vp2
⎛
⎞
B = − 2 V + V R +
⎜
⎟
⎟
(
)
p
G
S
⎜
IDSS
⎝
⎠
2
(4-13)
C = V + V
(
)
p
G
R2
R + R2
VG =
VDD
1
VDS = VDD − ID R + R
(
)
D
S
VGS = VG − ID RS
Ví dụ 4-6
JFET kênh P trong hình 4-20 có đặc tuyến truyền đạt được cho trong hình 4-21. Tìm các giá trị tĩnh
cho ID (1) bằng đồ thị và (2) bằng phương pháp đại số.
Hình 4-20
Hình 4-21
Ví dụ 4-6.
Ví dụ 4-6.
Hướng dẫn
1. Để tìm biểu thức đường phân cực, ta cần tìm điện áp VG
:
47×103
⎛
⎜
⎝
⎞
⎟
⎠
V =
−20 = −4 V
(
)
G
188×103 + 47×103
Từ biểu thức 4-12, đường phân cực là
VGS = − 1.65
103 ID
4
+
×
(4-14)
15/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
Đường này cắt trục VGS tại −4 V . Điểm cắt thứ hai là giao điểm với trục ID :
4
ID =
= 2.42 mA
1.65×103
Đường phân cực này được vẽ trong hình 4-21. Có thể thấy là đường phân cực này cắt đặc tuyến
truyền đạt tại ID ≈ 4 mA .
2. Từ hình 4-20, RD =1.85 kΩ , RS =1.65 kΩ và VDD = 20 V . Từ đặc tuyến truyền đạt trong hình
4-21 ta thấy là VP = 5 V và IDSS =18 mA . Trong phần (1) ta đã tính được VG là −4 V . Sử dụng
biểu thức 4-13, ta có
A = R2 = 1.65×103 = 2.7225×106
(
)
S
VP2
⎡
⎤
B = − 2 V + V R +
= −31.09×103
(
)
⎢
⎣
P
G
S
⎥
⎦
IDSS
2
C = V + V
= 81
(
)
P
G
Thay các giá trị này vào biểu thức tính ID ta có ID = 4.02 mA .
VDS = VDD − ID R + R = 20 V − 4.02 mA 1.85 kΩ +1.65 kΩ = 5.93 V
(
)
)
S
D
Vì JFET là kênh P nên VDS = −5.93 mA .
VGS = V − I R = 4 V − 4.02 mA 1.65 kΩ = 2.63 V
(
)
G
D
S
Vì 5.93 V > 5 V − 2.63 V = 2.37 V , các kết quả này là được chấp nhận.
4-4 Thiết kế phân cực JFET
Trong thiết kế phân cực cho JFET, ta cần phải tính RD , RS , và R , R2 để có ID và VDS theo
1
yêu cầu thiết kế với nguồn VDD cho trước. Biểu thức 4-15 dùng cho mạch tự phân cực có thể được
suy ra từ biểu thức 4-7 để tìm RD , và giải biểu thức 4-5, 4-6 với biểu thức luật bình phương để tìm
RS . Các kết quả này có thể dùng cho JFET kênh N và kênh P.
−B − B2 − 4AC
RS =
2A
A = ID2
B = −2 Vp ID
(4-15)
⎛
⎞
⎟
⎠
ID
2
C =Vp 1−
⎜
IDSS
⎝
VDD − VDS − ID RS
RD =
ID
Lưu ý là giá trị VG có thể được chọn trước nếu giới hạn mà điểm phân cực có thể thay đổi là
xác định. Đường thẳng nối các điểm phân cực mong muốn khi đặc tuyến thay đổi sẽ cắt trục hoành
tại giá trị VG . Giá trị này có thể được tính từ độ dốc của đường phân cực như trong hình 4-22.
Với VG đã biết, R có thể được tính bằng biểu thức 4-15 bằng cách chọn trước R2 . Thông
1
thường R2 nhỏ hơn R vì vậy R2 xác định giới hạn trên cho điện trở ngõ vào của mạch.
1
16/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
ID1
V
− VGS1
(
)
− VGS1
GS 2
VG =
I
D2 − ID1
)
−B − B2 − 4AC
2A
A = ID2
RS =
B = −2 V + V
I
D
(4-16)
(
)
p
G
C = V + V 2 −Vp2
ID
(
)
p
G
IDSS
VDD − VDS − ID RS
RD =
ID
R V − VG
(
)
2
DD
cho R2 , R =
1
VG
Ví dụ 4-7
Một JFET kênh N được phân cực tại VDS = 6 V bằng một nguồn cung cấp VDD =15 V . Đặc tuyến
tối ưu của FET có VP = −3.5 V và IDSS =13.5 mA . Dòng máng tĩnh không nên thay đổi quá
±0.5 mA quanh giá trị tối ưu 6 mA khi đặc tuyến của JFET thay đổi từ VP = −3 V đến VP = −4 V
với ID thay đổi từ 12 mA đến 15 mA . Tìm các giá trị R , R2 , RD , RS trong mạch phân cực dùng
1
cầu phân áp.
Tìm giới hạn thực của ID và VDS trên giới hạn của đặc tuyến JFET khi dùng các điện trở chuẩn
5 % , giả sử là các điện trở này có giá trị tối ưu.
17/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
Hình 4-22
Tính giá trị của VG cho mạch dùng cầu phân áp khi biết trước giới hạn cụ thể của
các điểm phân cực, V 2 , ID đến V , I .
D1
(
)
(
)
GS
2
GS
1
Hướng dẫn
Đầu tiên ta phải tìm VG sử dụng hình 4-22. Các giá trị VGS1 và VGS 2 tương ứng với ID1 = 6.5 mA và
ID2 = 5.5 mA là
⎛
⎞
ID
V =V 1−
⎜
⎟
⎟
GS
P
⎜
IDSS
⎝
⎠
⎛
⎞
5.5 mA
12 mA
Do đó VGS = −3 V 1
−
= −0.969 V
(
)
⎜
⎜
⎟
⎟
1
⎝
⎠
⎛
⎞
6.5 mA
Và VGS = −4 V 1
−
= −1.367 V
(
)
⎜
⎜
⎟
⎟
2
15 mA
⎝
⎠
Từ hình 4-22,
18/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
ID
V
− VGS
(
)
− VGS
1
GS
2
1
VG =
=
1
ID2 − ID
1
5.5 mA 1.367 V − 0.969 V
(
)
=
− 0.969 V =1.22 V
6.5 mA −5.5 mA
Dùng biểu thức 4-16,
A = ID2 = 36×10−6
B = −2 V + V I = −2 3.5+1.22 6×10−3 = −56.64×10−3
(
)
(
)
(
)
P
G
D
VP2ID
IDSS
6 mA
2
2
2
⎛
⎞
C = V + V
−
= 3.5+1.22 − 3.5
(
=16.83
)
(
)
(
)
P
G
⎜
⎝
⎟
⎠
13.5 mA
−B − B2 − 4AC
RS =
2A
2
56.64×10− − 56.64×10− − 4 36×10− 16.83
3
3
6
(
)
(
)
(
)
=
= 398 Ω
6
2 36×10−
(
)
VDD − VDS − ID RS 15 V − 6 V − 6 mA 398 Ω
)
RD =
=
=1.1 kΩ
ID
6 mA
Chọn R2 = 330 kΩ ta có
R V − VG
330 kΩ 15 V −1.22 V
(
)
=
(
)
2
DD
R =
= 3.7 MΩ
1
VG
1.22 V
Các giá trị điện trở chuẩn 5 % gần nhất là RS = 390 Ω, RD =1.1 kΩ, R = 3.6 MΩ và R2 = 330 kΩ .
1
Dùng các giá trị này trong biểu thức 4-18 ta có thể tìm được giới hạn của ID là từ 5.65 mA đến
6.65 mA khi VDS thay đổi từ 5.09 V đến 6.58 V trên giới hạn thay đổi của đặc tuyến JFET.
4-5 Metal-Oxide-Semiconductor FET
Metal-Oxide-Semiconductor FET (MOSFET) có nhiều điểm tương tự như JFET. Nó cũng có
cực máng, cực cổng và cực nguồn, khả năng dẫn điện của kênh dẫn cũng được điều khiển bằng
điện áp giữa cực cổng và cực nguồn. Điểm chủ yếu để phân biệt giữa JFET và MOSFET là cực
cổng của MOSFET thực ra được cách ly khỏi kênh dẫn. Do đó, MOSFET còn được gọi là FET có
cực cổng cách ly (Insulated-Gate FET), hoặc IGFET. Có hai dạng MOSFET: MOSFET kênh có sẵn
(depletion-mode) và MOSFET kênh không có sẵn (enhanced-mode). Các tên này được đặt dựa theo
cách thức mà MOSFET tạo ra kênh dẫn bằng cách thay đổi VGS.
4-5-1 MOSFET kênh có sẵn (Depletion-type MOSFET)
Hình 4-23 cho thấy cấu trúc của MOSFET kênh N có sẵn. Một khối bán dẫn loại P có điện trở
lớn được dùng làm nền (subtract). Hai vùng loại N+ (pha nhiều tạp chất) được đặt vào trong đó.
Một lớp SiO2, là vật liệu cách điện, được phủ lên bề mặt. Các tiếp điểm kim loại xuyên qua lớp
SiO2 và nối vào hai vùng N+ tạo nên cực máng và cực nguồn. Nối hai vùng N+ là một vùng bán dẫn
loại N khác với mật độ hạt dẫn thấp hơn tạo thành kênh dẫn. Nhôm được phủ lên lớp SiO2 tại vùng
đối diện kênh dẫn và tạo thành cực cổng. Lưu ý là lớp SiO2 đã cách điện kênh dẫn khỏi cực cổng do
đó không có chuyển tiếp PN được tạo nên từ cực cổng và kênh dẫn như đối với JFET.
19/29
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tử
Email: [email protected]
Hình 4-23
Cấu trúc của MOSFET kênh N có sẵn.
Hình 4-24 cho thấy chế độ hoạt động thông thường của MOSFET kênh N có sẵn. Một điện áp
VDS được nối giữa cực máng và cực nguồn làm cho cực máng dương hơn so với cực nguồn. Cực
nền thường được nối với cực nguồn. Khi cực cổng bị âm hơn so với cực nguồn do VGS gây ra, điện
trường nó tạo ra trong kênh dẫn đẩy các electron khỏi vùng kênh gần lớp SiO2. Vùng này trở thành
vùng thiếu hạt dẫn và bề rộng kênh dẫn trở nên hẹp hơn. Kênh dẫn càng hẹp thì điện trở của nó
càng lớn và dòng từ máng đến nguồn chảy qua nó càng nhỏ. Vì vậy, linh kiện hoạt động giống như
JFET kênh N, sự khác biệt chủ yếu đó là độ rộng kênh dẫn được điều khiển bằng điện trường chứ
không phải bằng sự thay đổi độ rộng vùng nghèo của chuyển tiếp PN. Vì không có phân cực ngược
chuyển tiếp PN, điện áp VGS có thể dương. Thật vậy, nếu VGS dương nó sẽ hút các electron vào
kênh dẫn và vì vậy gia tăng độ dẫn điện của kênh. Vì vậy, điện áp tại cực cổng của MOSFET kênh
N có sẵn có thể thay đổi từ âm sang dương và linh kiện có thể hoạt động ở cả hai chế độ nghèo và
giàu hạt dẫn.
Hình 4-24
Hoạt động của MOSFET kênh N có
sẵn. Điện trường gây ra bởi VGS tạo
ra một vùng nghèo trong kênh dẫn.
Mặc dù có một chuyển tiếp PN giữa cực nền loại P và vật liệu N, chuyển tiếp này lại luôn bị
phân cực ngược và có một dòng rất nhỏ chảy qua vùng nền. Điện trở nhìn vào cực cổng là cực kỳ
lớn, có thể đến vài ngàn MΩ vì tại đó không có chuyển tiếp PN và cũng không có đường để dòng
điện đi qua lớp cách điện giữa cực cổng và kênh dẫn.
Vì sự tương tự giữa MOSFET kênh có sẵn và JFET, ta sẽ thấy là các thông số và đặc tính hoạt
động của chúng là tương tự nhau. Kết quả này được trình bày trong hình 4-25. Dòng điện tăng một
cách tuyến tính khi VDS tăng cho đến khi đến vùng nghẽn. Trong vùng nghẽn, dòng máng không
thay đổi và có độ lớn phụ thuộc VGS . VGS càng âm thì vùng nghẽn càng xảy ra sớm hơn và dòng
bão hòa càng có giá trị nhỏ hơn. Nếu VGS = 0 V , dòng máng bão hòa tại IDSS khi VDS = −VP . Nếu
VGS đủ âm để làm nghẽn toàn bộ kênh, dòng máng sẽ bị tắt. Giá trị VGS tại đó xảy ra điều kiện này
được gọi là điện áp cắt (gate-to-source cutoff voltage), VGS (cutoff )
=VP . Lưu ý là đặc tuyến trong hình
4-25 cũng cho thấy hoạt động trong chế độ giàu hạt dẫn, tức là VGS dương. Hình 4-26 biểu diễn đặc
20/29
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Kỹ thuật điện tử - Chương 4: Transistor hiệu ứng trường (Field-Effect Transistors)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_ky_thuat_dien_tu_chuong_4_transistor_hieu_ung_tru.pdf

