Giao lưu, tiếp biến văn hóa của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng

VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
CULTURAL EXCHANGE AND ACCULTURATION OF THE LO LO  
PEOPLE IN BAO LAC DISTRICT, CAO BANG PROVINCE  
Hoang Thi Le Thao  
Institute of Anthropology  
Received:  
Reviewed:  
Revised:  
Accepted:  
Released:  
27/9/2021  
16/10/2021  
24/10/2021  
05/11/2021  
30/11/2021  
DOI:  
he process of existence and development of ethnic communities often takes place in cultural  
exchange and acculturation, in which ethnic minority groups with smaller populations are often  
T
partly influenced or completely assimilated by the ethnic majority groups. To a minority ethnic community,  
in order to survive and develop, they have had to face two problems: adapting to live in harmony with the  
majority community in the same area; take action to maintain their cultural identity. To integrate and not  
to be dissolved is a challenge for ethnic minority communities. Each community has a different choice  
of ways to simultaneously exist and preserve its own cultural practices. In this article, by using fieldwork  
method and inheriting existing research results, the author mentions the ways that the Lo Lo people in  
Bao Lạc district, Cao Bằng province have done from history to the present to be able to survive, develop,  
preserve and enrich their culture.  
Keywords: Acculturation; Culture; Preservation; Development; Lo Lo ethnic.  
1. Đặt vấn đề  
bản sắc văn hóa, đồng thời tiếp thu có chọn lọc,  
không đánh mất bản sắc riêng của mình, không bị  
đồng hóa bởi các dân tộc khác. Bài viết này đề cập  
đến trường hợp người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc (tỉnh  
Cao Bằng) đã có sự tiếp biến văn hóa nhưng vẫn giữ  
được bản sắc của mình thông qua một số đặc điểm  
như: tụ cư, sinh kế, hôn nhân.  
Trong lịch sử nhân loại, hầu như không có tộc  
người nào có thể tồn tại hoàn toàn biệt lập. Các  
cộng đồng người lân cận luôn có sự giao lưu văn  
hóa với nhau và quá trình giao lưu văn hóa thường  
dẫn đến sự tiếp biến văn hóa. Khi đó, văn hóa tộc  
người được tiếp thu, biến đổi do chịu ảnh hưởng  
của những yếu tố văn hóa du nhập từ bên ngoài. Và  
trong khi giao lưu, tiếp biến văn hóa, bản thân nền  
văn hóa tiếp nhận cũng biến đổi từng phần để thích  
ứng, dung hợp với những yếu tố văn hóa mới. Có  
thể nói, chính nhờ sự giao lưu, tiếp biến mà các nền  
văn hóa và các cộng đồng người có được thêm các  
nguồn lực ngoại sinh để làm mới, thích ứng và phát  
triển. Nếu tồn tại riêng rẽ, không có sự giao lưu, tộc  
người và văn hóa tộc người không những không thể  
phát triển mà còn có nguy cơ suy thoái, biến mất khi  
đứng trước những biến đổi của môi trường tự nhiên  
(như lũ lụt, động đất…) và các tác động xã hội (như  
chiến tranh, nạn đói…). Mặc dù vậy, trong thực tế,  
quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa có thể dẫn đến  
sự đánh mất bản sắc của một nền văn hóa ngay cả  
khi dân tộc đó đang tồn tại. Tuy nhiên, từ trong lịch  
sử cho đến nay, đã có nhiều dân tộc giữ gìn được  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Các nghiên cứu về dân tộc Lô Lô thu hút sự  
quan tâm của các học giả từ những năm 1980.  
Những thông tin về dân số và nguồn gốc lịch sử,  
môi trường tự nhiên, đời sống, kinh tế, tổ chức xã  
hội, văn hóa được các nhà nghiên cứu trình bày  
một cách khái quát đối với người Lô Lô ở phạm  
vi cả nước (Dien & Binh, 2007; Nam, 2013) hoặc  
nhóm địa phương ở một tỉnh (Trung, 2009). Bên  
cạnh đó, nhiều tác giả đi sâu vào một khía cạnh đời  
sống cụ thể của tộc người Lô Lô, như văn hóa tinh  
thần (Hien & Minh, 2008), nghi lễ tang ma (Huong,  
2010), nghệ thuật múa (Ngoc, 2008), dân ca và lễ  
hội (Pao, 2004), hệ thống thân tộc và các mối quan  
hệ trong gia đình, dòng họ (Huy, 1985), phong tục  
làm nhà (Can, 2007), trang phục (Son, 2006), tập  
quán canh tác (Tung, 2012). Các học giả chủ yếu  
Volume 10, Issue 4  
135  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
khai thác tư liệu về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Bảo Lạc. Người Lô Lô cư trú trong khu vực núi cao,  
của người Lô Lô trong bối cảnh truyền thống. Cho ít có điều kiện khai phá ruộng nước, chủ yếu trồng  
đến gần đây (Thu, 2019) đã bước đầu đề cập đến sự trọt trên nương đất dốc. Cây trồng truyền thống và  
biến đổi kinh tế-xã hội của người Lô Lô trên cơ sở phổ biến là lúa nương, lúa nước, ngô, sắn. Hoạt  
tổng quan tài liệu cũng như các tư liệu thực địa của động chăn nuôi gia súc, gia cầm chậm phát triển, do  
tập thể tác giả Viện Dân tộc học.  
hiện tượng thiếu nước trong sản xuất và diện tích  
đồng cỏ nhỏ hẹp. Sản phẩm chăn nuôi chủ yếu phục  
vụ cho lễ nghi tín ngưỡng và những ngày đặc biệt  
(lễ tết, tiếp khách). Về tiểu thủ công nghiệp, người  
dân còn duy trì nghề dệt và cắt khâu trang phục, tuy  
nhiên, kỹ thuật dệt vải cũng như kinh nghiệm trồng  
bông, kéo sợi của tộc người khá đơn giản.  
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu đã đề cập  
đến đặc trưng văn hóa Lô Lô, thể hiện qua các khía  
cạnh, lĩnh vực cụ thể như tập quán canh tác, văn  
hóa vật chất, văn hóa tinh thần, tổ chức xã hội. Qua  
đó, bức tranh văn hóa Lô Lô được thể hiện ở nhiều  
chiều cạnh. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tìm  
hiểu về sự tiếp biến văn hóa của dân tộc Lô Lô trong  
Tổ chức gia đình có tính chất phụ quyền với vai  
bối cảnh họ sinh sống ở những vùng khó khăn cơ sở trò quan trọng của người cha. Luật tục Lô Lô quy  
hạ tầng và cộng cư với các dân tộc có dân số đông định quyền thừa kế tài sản thuộc về những người  
hơn. Người Lô Lô đã phải thích nghi với điều kiện anh em trai trong nhà. Chị em gái chỉ được kế thừa  
cộng cư như thế nào và cách thức ứng phó của họ để đồ trang sức của mẹ và lúc lấy chồng được một số  
tồn tại, giữ được bản sắc, phát triển cộng đồng. Đây của hồi môn (Nam, 2002). Các gia đình trong các  
chính là sự bổ khuyết mà bài viết này mong muốn dòng họ thường cư trú tập trung thành từng chòm  
được đóng góp.  
hay một xóm. Những người mang cùng một họ,  
trong quá trình phát triển sinh con đẻ cái, cũng chia  
ra thành nhiều chi hay nhiều tông tộc khác nhau.  
Với các đặc điểm là thành viên của tông tộc thường  
ở chung một bản, thờ chung một ông tổ, có một khu  
nghĩa địa riêng, có một trống đồng riêng, các thành  
viên trong tông tộc có trách nhiệm giúp nhau trong  
tang ma, cưới xin. Mỗi tông tộc có một trưởng tộc  
đứng đầu chăm lo việc thờ cúng chung cho toàn tộc  
và duy trì sự gắn bó trong tộc là thầy cúng chung  
của cả tộc. Mối quan hệ dòng họ của người Lô Lô  
rất mật thiết và có sự sắp xếp theo tôn ti trật tự giữa  
các thế hệ và thứ bậc các chi trong vùng thế hệ. Trật  
tự đó được thể hiện thông qua các hoạt động của  
dòng họ trong đời sống hàng ngày như cúng bái tổ  
tiên, qui định nơi chôn cất các thành viên khi họ qua  
đời. Nếu tính từ đỉnh dốc xuống, đầu tiên phải là nơi  
chôn cất các thành viên của thế hệ cao nhất, sau đó  
lần lượt đến các thế hệ kế tiếp, chi trưởng, sau đó  
mới đến các thành viên thuộc các chi thứ.  
Người Lô Lô theo tín ngưỡng đa thần, thờ tổ  
tiên, thổ công. Đặc biệt, trong đám ma của người Lô  
Lô có trống đồng để làm nghi thức.  
4.2. Sự hòa nhập văn hóa của người Lô Lô với  
các dân tộc có số dân đông tại địa phương  
Dân cư của huyện Bảo Lạc phân bố không đều.  
Đồng bào các dân tộc thiểu số của huyện chủ yếu  
sinh sống ở vùng cao và vùng lưng chừng núi, một  
bộ phận đồng bào dân tộc Tày, Nùng, sinh sống ở  
vùng thấp dọc lưu vực sông Gâm, sông Neo, người  
Lô Lô sống ở khu vực núi cao, có độ dốc lớn, nhiều  
bản làng nằm sát đường biên giới với Trung Quốc.  
Khu vực đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống  
có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị và quốc  
phòng, an ninh.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Bài viết sử dụng các tư liệu điền dã để tìm hiểu  
về sự “hòa nhập, không hòa tan” của một cộng đồng  
dân tộc thiểu số rất ít người ở khu vực miền núi phía  
Bắc nước ta - Dân tộc Lô Lô. Các tư liệu được tác  
giả thu thập từ những cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận  
nhóm, quan sát tham dự được thực hiện năm 2019  
tại các bản của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh  
Cao Bằng. Đồng thời, bài viết có sự kế thừa kết quả  
nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Sơ lược về dân tộc Lô Lô ở huyện Bảo Lạc  
Dân số và địa bàn cư trú.  
Lô Lô là một trong mười bốn dân tộc rất ít người  
ở Việt Nam, có tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ  
Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng) và địa bàn cư trú  
tập trung khu vực biên giới phía Bắc (chủ yếu là  
các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng). Dân tộc Lô Lô có  
4.827 người (Tong cuc Thong ke, 2020), trong đó,  
59% tập trung ở tỉnh Cao Bằng (2.861 người). Hơn  
nửa dân số Lô Lô tỉnh Cao Bằng cư trú ở huyện Bảo  
Lạc. Tại đây, người Lô Lô có 304 hộ với 1.517 nhân  
khẩu, cư trú tập trung tại 7 xóm của 3 xã (Hồng Trị,  
Kim Cúc, Cô Ba).  
Bảng 1. Phân bố dân tộc Lô Lô ở huyện Bảo Lạc  
TT  
1
Xã  
Số hộ  
223  
61  
Số khẩu  
1.121  
289  
Hồng Trị  
Kim Cúc  
Cô Ba  
2
3
20  
107  
Tổng số  
304  
1.517  
Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Bảo Lạc, 2019.  
Ở huyện Bảo Lạc, cộng đồng Tày, Nùng chiếm  
gần 49% dân số toàn tỉnh, con số tương ứng của dân  
tộc Lô Lô là 2,8%. Có thể thấy, tỉnh Cao Bằng nói  
Đặc trưng kinh tế-xã hội.  
Trồng trọt và chăn nuôi là những hoạt động mưu  
sinh chính trong đời sống kinh tế của người Lô Lô ở  
136  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
chung và huyện Bảo Lạc nói riêng là địa bàn tụ cư khu công nghiệp trong và ngoài tỉnh), hoặc là lao  
của người Tày, Nùng với dân số đông và có nhiều động xuyên biên giới (đi làm thuê ở Trung Quốc).  
tác động về kinh tế-xã hội đối với địa phương.  
Lao động nội địa yêu cầu thời gian đi làm dài ngày,  
có khi một vài tháng mới được về nhà. Còn lao động  
xuyên biên giới là đi nhanh về sớm, thường chỉ vài  
ngày hoặc vài tuần. Xu hướng người Lô Lô đi lao  
động ở Trung Quốc nhiều hơn là đi lao động nội địa  
bởi họ có tâm lý “sợ mất vợ mất chồng nếu đi xa  
lâu ngày” (Thảo luận nhóm với Ban Dân tộc tỉnh  
Cao Bằng tháng 10/2019). Các công việc mà người  
Lô Lô làm thuê ở bên kia biên giới là: chặt mía,  
ép đường, làm thuốc lá và làm các công việc nông  
nghiệp khác. Hàng năm, ở huyện Bảo Lạc có hàng  
trăm lượt người Lô Lô sang Trung Quốc làm thuê.  
Vì vậy, người Lô Lô cũng bị ảnh hưởng và tác  
động về văn hoá cũng như ngôn ngữ của người Tày,  
Nùng (Dien & Binh, 2007). Ảnh hưởng văn hoá  
Tày, Nùng đến người Lô Lô được thể hiện trong  
một số yếu tố như văn hoá cư trú, ẩm thực, tập quán  
sản xuất, sinh hoạt,… Đặc điểm rõ nhất là các bản  
của người Lô Lô được đặt tên theo tiếng Tày, Nùng,  
như: bản Ngàm Lồm, xã Cô Ba (nghĩa Tày, Nùng là  
“Miệng gió”), bản Khuổi Khon, xã Kim Cúc (nghĩa  
tiếng Tày, Nùng nghĩa là “Suối bản”). Thảo luận  
nhóm xã Hồng Trị cho thấy, việc sử dụng tên bản  
bằng tiếng Tày, Nùng đã ghi vào các văn bản hành  
4.3. Sự thích ứng để tồn tại và phát triển của  
chính và trở nên thông dụng hàng ngày. Hiện nay, văn hóa người Lô Lô  
chỉ các cụ già khoảng 60-70 tuổi trở lên còn nhớ  
được tên bản bằng tiếng Lô Lô cũng như gốc tích  
vì sao lại đặt tên bản như vậy (xem thêm ở Bảng 2).  
Để tồn tại và phát triển, bên cạnh sự hòa nhập  
văn hóa, người Lô Lô đã có sự thích ứng để duy  
trì bản sắc văn hóa dân tộc mình. Một trong những  
Bảng 2. Tên các bản của người Lô Lô ở xã Hồng thách thức của cộng đồng Lô Lô là bảo lưu các yếu  
Trị, huyện Bảo Lạc  
tố văn hóa trong điều kiện dân số ít. Gia đình, dòng  
họ là nơi nuôi dưỡng và trao truyền văn hóa qua các  
thế hệ. Vì vậy, việc phát triển số lượng gia đình,  
dòng họ là yếu tố quan trọng để cộng đồng người  
Lô Lô ở huyện Bảo Lạc có thể đảm bảo lưu giữ bản  
sắc và thực hành văn hóa tộc người.  
Gia đình của người Lô Lô là kiểu gia đình phụ  
quyền. Mô hình gia đình phổ biến gồm có vợ chồng  
và con cái. Khi con cái lớn lên xây dựng gia đình, bố  
mẹ chia tài sản và ở riêng. Đứng đầu trong gia đình  
là chồng, cha, còn người phụ nữ giúp chồng các  
công việc trông nom nội trợ. Trong gia đình, người  
Lô Lô quý trọng con trai, con trai được kế thừa tài  
sản, có nhiệm vụ phụng dưỡng bố mẹ lúc về già, tổ  
chức lễ mừng thọ, thờ cúng bố mẹ khi đã khuất. Do  
đó, các cặp vợ chồng luôn mong muốn đẻ con trai.  
Địa vị người con gái trong gia đình cũng như ngoài  
xã hội thấp hơn con trai, không được thừa kế tài sản,  
trừ trường hợp thừa kế tài sản khi về ở rể đời, nuôi  
dưỡng cha mẹ và thờ cúng.  
Bên cạnh đó, dân tộc Lô Lô có tập quán ở rể đời.  
Đối với những gia đình chỉ sinh con gái, không có  
con trai, người con rể sẽ thực hiện các nghĩa vụ như  
con trai trong gia đình. Tương tự các dân tộc khác,  
khi ở rể, người con trai phải làm các nghi lễ gia  
nhập tổ tiên, đảm nhiệm việc thờ cúng của gia đình  
vợ, các con sinh ra mang họ mẹ. Tuy nhiên, người  
Lô Lô lại không khắt khe trong việc quy định phải  
đổi sang họ vợ trong trường hợp ở rể đời. Ví dụ,  
trường hợp chàng trai Tày lấy vợ Lô Lô thì các con  
được sinh ra sẽ mang họ của người Tày, nhưng danh  
tính dân tộc là Lô Lô. Điều này có thể góp phần giải  
thích sự xuất hiện các họ của người Tày trong cộng  
đồng Lô Lô. Trong trường hợp này, chú rể người  
Tày vẫn thờ bố mẹ Tày của mình bằng một bàn thờ  
nhỏ trong nhà. Nhưng đến đời con thì chỉ thờ ông bà  
tổ tiên người Lô Lô bên mẹ, không thờ ông bà bên  
cha. Ông Chung (sinh năm 1959, dân tộc Lô Lô, xã  
Tên bản  
hiện nay  
Yếu tố tiếng  
Tày, Nùng  
Tên bản theo tiếng  
Lô Lô  
Tha Sả (nghĩa là  
“đặt trước”)  
Cốc Sả  
Na Van  
“Cốc” = gốc  
“Nà” = ruộng, “Van” = Nà Vé (nghĩa là  
ngọt => Ruộng nước  
“tách ra”)  
Cà Đu (nghĩa là  
“đất ngô”, là nơi  
trồng ngô tốt)  
Khảu Chang  
“Khảu” = ruộng  
Cỏn Gà (nghĩa là  
“kiện nhiều”, là  
mảnh đất hay có  
người kiện nhau)  
Khảu Cà  
“Khảu” = ruộng  
“Khuổi” = suối  
Khuổi Khon  
Cà Pu  
Nguồn. Thảo luận nhóm ở thôn Cốc Xả Dưới, xã  
Hồng Trị, 2019.  
Sự hòa nhập văn hóa của người Lô Lô với cộng  
đồng các dân tộc đa số ở địa phương còn được thể  
hiện trong hoạt động sinh kế hàng ngày. Cư trú  
ở vùng giáp biên giới Trung Quốc, người Lô Lô  
thường xuyên tham gia các hoạt động trao đổi, mua  
bán ở các phiên chợ giáp biên. Họ sang mua các loại  
hàng hoá như phân bón, vải, quần áo may sẵn, các  
loại giống (ngô, lúa và các cây trồng khác). Nguồn  
thu nhập đáng kể của người Lô Lô ở xã Hồng Trị là  
bán các loại lâm sản và thảo dược sang Trung Quốc.  
Tuy nhiên, hoạt động này không diễn ra trực tiếp,  
mà thông qua trung gian là các tộc người có nhiều  
đồng tộc ở bên kia biên giới, như Tày, Nùng, Mông.  
Là những cư dân nông nghiệp, hết mùa cấy gặt,  
người Lô Lô có thời gian nông nhàn. Trước đây,  
thời gian nông nhàn là nghỉ ngơi, ở nhà. Những năm  
gần đây, người Lô Lô có thêm sự lựa chọn sinh kế là  
đi lao động nội địa (làm công nhân ở các nhà máy,  
Volume 10, Issue 4  
137  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
Hồng Trị) cho biết, xuất phát điểm của người Lô của dân tộc. Để thực hiện điều này, họ đã thực hiện  
Lô khi vào Bảo Lạc chỉ là một dòng họ, họ Chi. Họ cơ chế mở trong tập quán hôn nhân, dung nạp họ  
Chi nguyên gốc là tên của một ông tổ của người Lô mới (của con rể là người khác dân tộc). Nhờ vậy,  
Lô tên là Chi, về sau con cháu lấy làm họ1. Nhưng họ đã phát triển số lượng dòng họ phong phú. Đó  
đến nay, người Lô Lô ở Bảo Lạc còn mang nhiều là cơ sở để phát triển dân số và duy trì các phong  
họ khác nhau như Pâu (Châu), Chông (Chung), Cô tục tập quán của tộc người.  
(Tô), Lý, Bàn, Hoàng, Lang, Lặc,… Đây là họ có  
gốc từ các dân tộc khác như Tày, Nùng.  
Có thể thấy, người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc đã có  
sự thích ứng với điều kiện xã hội tại chỗ để tồn tại  
Nhìn tổng thể trong quá trình tộc người, thay và phát triển. Họ đã nhận định được yếu tố cố định  
vì khuôn cứng trong việc phải đổi họ khi ở rể như và yếu tố linh hoạt trong tập quán hôn nhân, để từ  
nhiều tộc người khác, người Lô Lô đã có sự linh đó có lựa chọn phù hợp cho sự phát triển của cộng  
hoạt để dung nạp họ mới (của dân tộc khác) trong đồng. Đây chính là sự tích cực của việc giao lưu,  
khi vẫn giữ điều kiện bắt buộc tộc danh Lô Lô cho tiếp biến văn hóa để dân tộc Lô Lô, tuy có dân số  
đời con, xác định ý thức tộc người thông qua việc rất ít nhưng vẫn bền bỉ duy trì và phát triển văn hóa  
thờ cúng tổ tiên, duy trì và thực hành văn hóa dân dân tộc, ý thức dân tộc riêng của mình suốt bao thế  
tộc. Chính vì vậy, dân số và số lượng dòng họ của kỷ qua. Họ vẫn tồn tại và phát triển với tư cách là  
người Lô Lô có cơ hội phát triển. Đó cũng là cơ sở một dân tộc độc lập có bản sắc văn hóa, ngôn ngữ,  
để bản sắc văn hóa dân tộc Lô Lô được duy trì, kế ý thức dân tộc rõ ràng. Họ đã hòa nhập với điều  
thừa và phát triển.  
kiện cư trú, kinh tế-xã hội của địa phương, nhưng  
họ không bị đồng hóa và không hòa tan trong một  
cộng đồng dân tộc khác.  
5. Thảo luận  
Xuất phát điểm là cộng đồng dân tộc thiểu số  
ít người, sinh sống ở nơi hạn chế các điều kiện  
về diện tích đất trồng trọt, nguồn nước, nhưng  
6. Kết luận  
Mỗi cộng đồng dân tộc luôn có lựa chọn cách  
cộng đồng người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc (tỉnh thức riêng để đồng thời tồn tại và giữ gìn các tập  
Cao Bằng) luôn nỗ lực để tồn tại và phát triển suốt quán văn hoá của dân tộc mình. Người Lô Lô ở  
trong hàng thế kỷ qua. Họ sống cộng cư cùng các huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng đã có sự tiếp biến  
dân tộc có dân số đông như Tày, Nùng, Dao, Mông. văn hoá, nhưng vẫn giữ được nét bản sắc độc đáo  
Do đó, họ chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa của các của dân tộc thông qua một số đặc điểm: tụ cư, sinh  
dân tộc này, trong cách đặt tên làng bản, trong sinh kế, hôn nhân. Họ đã thích ứng điều kiện tự nhiên  
hoạt hàng ngày, giao thương, việc làm. Tuy nhiên, xã hội tại chỗ để tồn tại và phát triển; đã nhận định  
người Lô Lô luôn ý thức cần giữ gìn văn hóa riêng được yếu tố cố định và yếu tố linh hoạt trong tập  
quán hôn nhân để có lựa chọn phù hợp cho cộng  
1. Điều này cũng cho thấy người Lô Lô cũng có tục phụ tử  
liên danh là tục cũng xuất hiện ở các tộc người thuộc nhóm  
Tạng - Miến như người Hà Nhì ở Việt Nam và người Di  
đồng tộc với họ ở bên kia Trung Quốc. Ở người Lô Lô, việc  
xưng hô cùng thế hệ không xét theo vai vế con anh con em,  
mà ai thấy mặt trời trước là anh.  
đồng. Đây chính là sự tích cực của việc giao lưu,  
tiếp biến văn hoá để một dân tộc có dân số ít như  
người Lô Lô vẫn duy trì và phát triển văn hoá dân  
tộc, ý thức dân tộc riêng mình - một sự hoà nhập cần  
thiết với thời đại, nhưng không hề bị hoà tan trong  
văn hoá của cộng đồng có dân số đông.  
Tai lieu tham khao  
Can, N. Van. (2007). Phong tuc lam nha cua dan  
toc Lo Lo. Tap chi Nghien cuu Ton giao, so  
9, tr.45-48.  
Huy, N. Van. (1985). Van hoa va nep song Ha  
Nhi. Ha Noi: Nxb. Van hoa.  
Huyen, N. C., & cong su. (2010). Nguon goc  
lich su toc nguoi vung bien gioi phia Bac Viet  
Nam. Ha Noi: Nxb. Van hoa Dan toc.  
Cuong, N. T. (2008). Tiep bien van hoa va bao  
ton ban sac van hoa Viet Nam trong toan cau  
hoa. Ky yeu Hoi nghi Viet Nam hoc lan thu  
3. Ha Noi.  
Uy ban nhan dan huyen Bao Lac (2019). Bao  
cao thuc trang kinh te-xa hoi va ket qua thuc  
hien chuong trinh muc tieu quoc gia giam  
ngheo ben vung tren dia ban huyen Bao Lac.  
Dien, K., & Binh, T. (2007). Dan toc Lo Lo o  
Viet Nam. Ha Noi: Nxb. Thong tan.  
Hien, P. D., & Minh, N. Van. (2008). Van hoa  
tinh than cua nguoi Lo Lo. Tu lieu luu tai  
phong Thong tin Thu vien, Vien Dan toc hoc.  
Nam, H. (2002). Dac trung van hoa co truyen  
cac dan toc Viet Nam. Ha Noi: Nxb. Van hoa  
Dan toc.  
Huong, N. T. (2010). Nghi le tang ma cua nguoi  
Lo Lo den o Viet Nam. Tu lieu luu tai Dai hoc  
Khoa hoc, Dai hoc Thai Nguyen.  
Nam, H. (2013). Tong quan van hoa truyen  
thong cac dan toc Viet Nam. Ha Noi: Nxb.  
Van hoa Dan toc.  
138  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
Ngoc, T. M. (2008). Nghe thuat mua cua nguoi  
Lo Lo o Ha Giang. Luan van thac si Van hoa  
hoc, Vien Nghien cuu Van hoa.  
Toan, H. H. (1975). Nguoi Lo Lo o Bao Lac, Cao  
Bang. Tap chi Dan toc hoc, so 2, tr.94-109.  
Tong cuc Thong ke. (2020). Ket qua tong dieu  
tra dan so va nha o Viet Nam nam 2019. Ha  
Noi: Nxb. Thong ke.  
Pao, L. G. (2004). Dan ca trong le hoi cua nguoi  
Lo Lo. Ha Noi: Nxb. Van hoa Dan toc.  
Pao, L. G., & Nam, H. (1994). Truyen co Lo Lo.  
Trung, V. D. (2009). Nguoi Lo Lo den o Ha  
Giang. Ha Noi: Nxb. Van hoa Dan toc.  
Ha Noi: Nxb. Van hoa Dan toc.  
Son, L. H. (2006). Doi net ve trang phuc co  
truyen cua nguoi Lo Lo. Tap chi Dan toc hoc,  
so 2, tr.8-16.  
Tung, M. Van. (2012). Tap quan canh tac truyen  
thong cua nguoi Lo Lo. Tap chi Van hoa  
Nghe thuat, so 341, tr.19-23.  
Thu, N. T. (2019). Dan toc Lo Lo. Trong cuon  
sach do V. X. Tinh (Chu bien), Cac dan toc  
Viet Nam (Tap 4): Nhom ngon ngu H’mong  
Dao - Han Tang. Ha Noi: Nxb. Chinh tri  
quoc gia Su that.  
Tuyet, P. T. Y., Tiep, N. Van, Phan, T., Canh, N.  
K., Binh, N. T., Lan, N. T. P., & Thu, H. N.  
(2008). Nhan hoc dai cuong. Nxb. Dai hoc  
Quoc gia thanh pho Ho Chi Minh.  
GIAO LƯU, TIẾP BIẾN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI LÔ LÔ  
Ở HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG  
Hoàng Thị Lê Thảo  
Viện Dân tộc học  
Ngày nhận bài:  
27/9/2021  
Ngày phản biện: 16/10/2021  
Ngày tác giả sửa: 24/10/2021  
Ngày duyệt đăng: 05/11/2021  
Ngày phát hành: 30/11/2021  
DOI:  
uá trình tồn tại và phát triển của các cộng đồng dân tộc thường diễn ra sự giao lưu, tiếp biến văn  
hóa, trong đó, các dân tộc có dân số ít hơn thường chịu ảnh hưởng một phần hoặc bị đồng hóa hoàn  
Q
toàn bởi dân tộc chiếm đa số. Đối với một cộng đồng dân tộc có dân số ít, để tồn tại và phát triển, phải đối  
diện với 2 vấn đề: thích ứng để chung sống hài hòa với cộng đồng chiếm đa số trong cùng khu vực; có  
động thái để duy trì bản sắc của dân tộc mình. Hòa nhập và không để bị hòa tan chính là thách thức đối với  
cộng đồng dân tộc thiểu số. Mỗi cộng đồng có lựa chọn cách thức khác nhau để đồng thời tồn tại và giữ gìn  
các tập quán văn hóa riêng của dân tộc mình. Trong bài viết này, bằng các tư liệu thực địa và kế thừa các  
kết quả nghiên cứu đã có, tác giả đề cập đến cách thức mà người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng  
đã thực hiện từ trong lịch sử đến nay để có thể tồn tại, phát triển, giữ gìn và làm giàu văn hóa của mình.  
Từ khóa: Tiếp biến; Văn hoá; Bảo tồn; Dân tộc Lô Lô; Huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.  
Volume 10, Issue 4  
139  
pdf 5 trang Thùy Anh 16240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giao lưu, tiếp biến văn hóa của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_luu_tiep_bien_van_hoa_cua_nguoi_lo_lo_o_huyen_bao_lac_t.pdf