Đồ trang sức thuộc di tích khảo cổ học cần giờ trong mạng lưới thương mại Đông Nam Á thời Tiền - Sơ sử qua các tư liệu nghiên cứu

60  
CHUYÊN MỤC  
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC  
ĐỒ TRANG SỨC THUỘC DI TÍCH  
KHẢO CỔ HỌC CẦN GIỜ TRONG MẠNG LƯỚI  
THƯƠNG MẠI ĐÔNG NAM Á THỜI TIỀN - SƠ SỬ  
QUA CÁC TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU  
NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH*  
NGUYỄN THỊ TÚ ANH**  
Bài viết hệ thống lại các nghiên cứu đã công bố về loại hình đồ trang sức được  
tìm thấy tại các di tích khảo cổ học vùng ven biển Cần Giờ (TPHCM) và so sánh  
với các loại hình có sự tương đồng về hình dáng, chất liệu và kỹ thuật tìm thấy tại  
các địa điểm khác thuộc khu vực Đông Nam Á lục địa và hải đảo thời tiền - sơ sử,  
như: Sa Huỳnh (miền Trung Việt Nam), Fengtian (Đài Loan), Borneo (Philippines),  
Khao Sam Kaeo (Thái Lan)… Qua đó, góp phần chứng minh các cộng đồng cư  
dân cổ của Cần Giờ đã có sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa với các cộng đồng khác  
trong khu vực Đông Nam Á và xa hơn; có thể đã từng là một trong những “cảng  
thị sơ khai”, nơi trung chuyển của mạng lưới hải thương quốc tế.  
Từ khóa: Cần Giờ, khảo cổ học, đồ trang sức, mạng lưới thương mại, Đông Nam Á  
Nhận bài ngày: 5/3/2021; đưa vào biên tập: 10/3/2021; phản biện: 18/3/2021; duyệt  
đăng: 05/5/2021  
1. DẪN NHẬP  
bố trên các gò đất nổi cao từ 1m đến  
1,5m so với bãi bồi thường xuyên  
ngập mặn, diện tích các giồng từ vài  
trăm mét vuông đến hàng ngàn mét  
vuông. Theo thống kê, có khoảng 26  
di tích phân bố chủ yếu trên các giồng  
đất đỏ và số ít giồng cát thuộc địa  
phận xã Long Hòa (16 địa điểm), thị  
trấn Cần Thạnh (6 địa điểm), xã Lý  
Nhơn (3 địa điểm) và ở xã An Thới  
Đông (1 địa điểm) (dẫn theo Nguyễn  
Thị Hậu, 2010). Dấu vết của cộng  
Theo kết quả những cuộc khảo sát  
năm 1978-1979 và các cuộc khai quật  
trong thập niên 1990, hiện vật khảo cổ  
được ghi nhận trên hầu khắp các  
giồng đất của khu vực huyện Cần Giờ  
(TPHCM), các di chỉ này thường phân  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
**  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và  
Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH - NGUYỄN THỊ TÚ ANH – ĐỒ TRANG SỨC THUỘC…  
61  
đồng cư dân cổ nơi này là các nền đất cạnh màu xanh đen; 6 tiêu bản khuyên  
cháy, lớp than tro, mảnh gốm ken dày;  
bên trên là mộ táng dày đặc, với táng  
thức mộ chum là chủ đạo, tiêu biểu là  
các di chỉ Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt,  
Giồng Am, Khu Bao Đồng (Nguyễn  
Thị Hậu, 1997; Đặng Văn Thắng và  
nnk, 1998). Theo Đặng Văn Thắng và  
nnk(1998), tại các di tích này, bên  
cạnh sự phong phú của đồ gốm cả về  
loại hình lẫn số lượng thì đồ trang sức  
dạng khuyên tai hai đầu thú và  
khuyên tai ba mấu được xem là di vật  
tiêu biểu, cho thấy sự gần gũi với  
phong cách Sa Huỳnh và tương đồng  
với di vật tìm thấy trong các mộ chum  
ở Dầu Giây, Phú Hòa, Suối Chồn  
(Đồng Nai) trong giai đoạn tiền sử  
muộn và sơ sử.  
tai hình vành khăn với 5 tiêu bản màu  
xanh lá cây và 1 chiếc màu xanh  
nước biển; hơn 200 tiêu bản hạt chuỗi  
hình khối tròn; 15 tiêu bản vòng tay  
còn nguyên cùng một số mảnh vỡ,  
trong đó có 3 chiếc màu tím.  
- Trang sức bằng kim loại: 65 hạt  
chuỗi vàng, một số hạt chuỗi bằng vỏ  
nhuyễn thể bọc vàng, 2 mảnh vàng  
dát mỏng có trổ lỗ hình tam giác; 6  
tiêu bản vòng tay dạng vòng tròn hở  
từ chất liệu đồng-sắt.  
- Trang sức bằng đất nung: loại hình  
khuyên tai gốm với 206 tiêu bản, trong  
đó có 1 khuyên tai ba mấu nhọn và 1  
khuyên tai hình hoa ba cánh.  
Những phát hiện mới về các di tích  
mộ táng có quy mô lớn ở khu vực ven  
biển với khung niên đại khoảng từ thế  
kỷ 5 đến đầu Công nguyên, cùng với  
sự phong phú về số lượng và đa dạng  
về loại hình của hiện vật tùy táng mà  
nổi bật nhất là đồ trang sức, Cần Giờ  
được nhận định là một trung tâm sản  
xuất và có quan hệ văn hóa rộng rãi  
với nhiều di tích lân cận, tham góp  
tích cực vào con đường thương mại  
đông - tây giữa Ấn Độ - Trung Quốc  
qua khu vực Đông Nam Á. Với tầm  
quan trọng nói trên, từ những phát  
hiện đầu tiên, các di tích thuộc khu  
vực Cần Giờ đã nhận được sự quan  
tâm nghiên cứu của các nhà khoa học  
trong và ngoài nước nhằm làm rõ về  
sự hình thành và phát triển và các  
quan hệ văn hóa mạnh mẽ của các  
- Trang sức chế tác từ đá quý, đá bán  
quý: 15 tiêu bản khuyên tai hai đầu  
thú, trong đó có 1 chiếc hình khánh,  
tất cả còn nguyên; 3 tiêu bản khuyên  
tai ba mấu, trong đó có 2 chiếc bị gãy  
một phần móc đeo, chiếc còn lại gãy  
một mấu; 1 tiêu bản khuyên tai hình  
khối tám cạnh màu xanh và bị gãy  
móc đeo; 581 hạt chuỗi bằng đá ngọc,  
mã não với nhiều hình dáng như hình  
ống tiết diện tròn, hình thoi, hình tròn,  
một số có vân trắng hoặc đen, một số  
hạt màu trắng trong suốt; 9 chiếc vòng  
tay và nhiều mảnh vòng.  
- Trang sức bằng thủy tinh: 6 tiêu bản  
khuyên tai hai đầu thú màu xanh nước  
biển và rêu đen, trong đó có 2 mộ tìm  
thấy 2 chiếc; 3 tiêu bản khuyên tai ba  
mấu gãy móc đeo hoặc mấu trang trí; trung tâm, đô thị sơ khai ven biển của  
1 tiêu bản khuyên tai hình khối tám khu vực Đông Nam Á, là tiền đề quan  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
62  
trọng để bước vào kỷ nguyên ra đời đại sắt sớm. Điều kiện môi trường tự  
các nhà nước đầu tiên ở khu vực.  
nhiên và địa hình ven biển của khu  
vực Cần Giờ là yếu tố quan trọng đưa  
đến nhận định đây là một trong những  
địa điểm kết nối cư dân địa phương,  
bằng lưu thông hàng hải, không chỉ  
với các vùng văn hóa trong khu vực  
mà còn với thế giới (Nguyễn Thị Hậu,  
1997: 130-32).  
2. NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC LIÊN  
QUAN ĐẾN ĐỒ TRANG SỨC THUỘC  
KHU DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC CẦN  
GIỜ THỜI TIỀN - SƠ SỬ  
Năm 1994, trong bài viết Kết quả phân  
tích quang phổ các mẫu thủy tinh và  
đá ở Giồng Cá Vồ - huyện Cần Giờ,  
TPHCM, Nguyễn Kim Dung và Vũ  
Quốc Hiền (1994: 154-156) nhận định:  
di chỉ Giồng Cá Vồ và Giồng Phệt  
(Cần Giờ) có thể là nơi sản xuất thủy  
tinh của cư dân cổ nơi này, khung  
niên đại của các mẫu thủy tinh vào  
khoảng 2.400 đến 2.100 năm cách  
ngày nay. Tuy nhiên, các tác giả chưa  
đề cập đến vai trò của hai di tích này  
với nghề chế tác thủ công và mối  
quan hệ với các di tích khác ở khắp  
vùng Đông Nam Á.  
Cũng trong nghiên cứu này, Nguyễn  
Thị Hậu đã đưa ra các nhận định về  
các hoạt động thương mại giữa cư  
dân Cần Giờ và cư dân sinh sống sâu  
trong lục địa, đến các khu vực thuộc  
văn hóa Đồng Nai thời tiền - sơ sử.  
Theo đó, nhiều loại hình hàng hóa và  
đồ gốm đã được họ vận chuyển xuôi  
ngược theo hệ thống sông Đồng Nai  
để đến với các chi lưu. Vùng Cần Giờ  
đã hình thành và phát triển các mối  
quan hệ giao lưu, trao đổi với các di  
tích cùng thời kỳ ở miền Trung Việt  
Nam ngày nay, với Thái Lan,  
Campuchia, đặc biệt là Ấn Độ qua  
việc tiếp thu kỹ thuật chế tác đồ thủy  
tinh và ngọc. Các dấu vết còn lại cho  
phép giả định khu vực Cần Giờ là  
“cảng thị sơ khai”, nơi nhập nguyên  
liệu thủy tinh và đá để chế tác các loại  
hình trang sức. Cũng cần lưu ý rằng,  
các di chỉ khảo cổ học ở Cần Giờ  
(khoảng thế kỷ 5 - 4 trước Công  
nguyên) có niên đại sớm hơn một số  
địa điểm có cùng kỹ thuật chế tác các  
loại hình di vật này (một số di chỉ ở Ấn  
Độ, khoảng thế kỷ 2 Công nguyên)  
(Nguyễn Thị Hậu, 1997: 156-157).  
Năm 1997, trong nghiên cứu Di tích  
mộ chum miền Đông Nam Bộ - Những  
phát hiện mới tại Cần Giờ - TPHCM  
Nguyễn Thị Hậu trình bày đầy đủ về di  
tích cũng như các di vật được tìm thấy  
tại Cần Giờ. Đặc biệt, các loại hình  
trang sức ở Giồng Phệt và Giồng Cá  
Vồ được thống kê cụ thể (Nguyễn Thị  
Hậu, 1997: 40-96). Mặc dù tác giả  
không thống kê chính xác số lượng  
nhưng đồ trang sức làm bằng đá ngọc  
và thủy tinh tìm thấy tại Cần Giờ cho  
thấy sự tương đồng với các loại hình  
di vật tìm thấy trong văn hóa Sa  
Huỳnh. Đồng thời tác giả cho rằng,  
nhóm hiện vật này được đánh giá  
giống với các loại hình di vật được tìm Năm 1998, công trình Khảo cổ học  
thấy ở khắp vùng Đông Nam Á thời tiền sử và sơ sử TPHCM được công  
NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH - NGUYỄN THỊ TÚ ANH – ĐỒ TRANG SỨC THUỘC…  
63  
bố bởi Đặng Văn Thắng và cộng sự trang sức ở đây” (Đặng Văn Thắng và  
đã tổng hợp tư liệu về các di tích nnk 1998: 301-330).  
khảo cổ học được khảo sát, thám sát  
và khai quật trên địa bàn thành phố.  
Trong đó, những di vật đồ trang sức  
tùy táng tìm thấy trong các mộ chum  
tại Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ được hệ  
thống, khảo tả và phân tích chi tiết về  
số lượng, loại hình, chất liệu, bên  
cạnh những loại hình hiện vật khác  
như đồ gốm, công cụ đá, kim loại...  
Nhóm tác giả đã đưa ra các nhận  
định về quan hệ văn hóa giữa các di  
tích tiền - sơ sử của TPHCM với các  
di tích thuộc truyền thống văn hóa  
Đồng Nai (Dầu Giây, Phú Hòa, Hàng  
Gòn) thông qua các loại hình đồ  
trang sức như hạt chuỗi thủy tinh,  
vàng, vòng tay bằng đá ngọc, khuyên  
tai ba mấu, vật đeo hai đầu thú,  
khuyên tai hình vành khăn bằng đá  
và thủy tinh. Đây cũng là những loại  
hình phổ biến trong văn hóa Sa  
Huỳnh (trừ đồ trang sức bằng vàng)  
cũng như nhiều di tích mộ chum khác  
ở khu vực Đông Nam Á, sau tới một  
số loại hình đồ gốm. Tuy nhiên,  
nguyên nhân được đưa ra để lý giải  
cho sự giống nhau về loại hình đồ  
trang sức giữa các nhóm di tích nói  
trên đó là sự tương đồng trong đời  
sống tâm linh, “sự thống nhất trong  
đa dạng về mặt tâm lý mỹ cảm” của  
cư dân truyền thống mộ chum ở  
Đông Nam Á, đồng thời thể hiện sự  
giao lưu rộng rãi, “đã mang lại những  
sản phẩm có nguồn gốc từ bên ngoài  
và tạo nên những sản phẩm có kiểu  
dáng du nhập nhưng được sản xuất  
Năm 2001, trong bài viết “Jewelry  
from Late Prehistoric Sites Recently  
Excavated in South Vietnam” (Đồ  
trang sức tại một số di tích thuộc giai  
đoạn tiền sử muộn được khai quật  
gần đây ở miền Nam Việt Nam),  
Nguyễn Kim Dung (2001: 107-113)  
qua nghiên cứu sự phổ biến các loại  
hình đồ trang sức tìm thấy ở nhiều di  
tích trong khung niên đại 500 BC - 100  
AD tại Nam Bộ như hạt chuỗi, vòng  
tay, khuyên tai bằng các chất liệu đá  
quý (agate, carnelian, rock crystal,  
nephrite), kim loại (đồng, vàng) cũng  
như đất nung, đã so sánh sự tương  
đồng giữa đồ trang sức tại khu vực  
này, đặc biệt nhấn mạnh đến đồ trang  
sức tìm thấy tại các di tích vùng Cần  
Giờ (Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ), với  
các di tích đồng đại thuộc văn hóa Sa  
Huỳnh (miền Trung) cũng như các  
quốc gia lân cận như Thái Lan,  
Campuchia, Philippines, Ấn Độ. Các  
nội dung này là những ghi nhận và  
biên soạn lại các nhận định đã công  
bố trong công trình Khảo cổ học tiền  
sử và sơ sử TPHCM (1998). Các vấn  
đề về mối quan hệ giữa di tích “cảng  
thị sơ khai” Cần Giờ và các khu vực  
khác qua giao lưu thương mại chưa  
được đề cập rõ nét.  
Năm 2010, với đề tài Điều tra khảo sát  
khảo cổ học phục vụ nhu cầu quy  
hoạch, xây dựng và phát triển huyện  
Cần Giờ, TPHCM (giai đoạn 2006-  
2010), Nguyễn Thị Hậu đã xác lập các  
tại chỗ”, “làm nên đặc trưng của đồ đặc trưng cơ bản cũng như các giai  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
64  
đoạn phát triển mang tính liên tục của “cảng thị sơ khai”. Trong chuyên khảo  
Sa Huỳnh - Lâm Ấp - Champa: thế kỷ  
5 trước Công nguyên đến thế kỷ 5 sau  
Công nguyên (một số vấn đề khảo cổ  
học), Lâm Thị Mỹ Dung (2017: 363-  
364) đề cập đến việc sản xuất đồ  
trang sức bằng thủy tinh, đá quý, vàng  
và kim loại ở Sa Huỳnh, (đặc điểm nổi  
bật là càng ở giai đoạn muộn của văn  
hóa Sa Huỳnh thì các loại hình đồ  
trang sức bằng thủy tinh càng chiếm  
ưu thế) trong đó có loại hình di vật  
tương tự với khu di tích khảo cổ học  
Cần Giờ. Công trình này đã phân tích  
các loại hình hạt chuỗi, ví dụ hạt chuỗi  
Indo-Pacific(1), hạt chuỗi Collar(2), hạt  
chuỗi Etched(3) và hạt chuỗi Banded(4)  
đều được nhập khẩu chủ yếu từ Ấn  
Độ hay sản xuất tại chỗ với kỹ thuật  
Ấn Độ; hạt chuỗi vàng với số lượng  
không nhiều, có thể có nguồn gốc từ  
khu vực Địa Trung Hải.  
hệ thống di tích ở Cần Giờ. Đồng thời,  
thông qua so sánh những loại hình  
hiện vật tiêu biểu tìm thấy tại Giồng  
Phệt - Giồng Cá Vồ, trong đó nổi bật  
là đồ trang sức (hạt chuỗi, vật đeo hai  
đầu thú...), phác thảo mối quan hệ  
văn hóa giữa các di tích này trong bối  
cảnh thời tiền - sơ sử miền Nam Việt  
Nam, tiêu biểu là văn hóa Đồng Nai,  
văn hóa Sa Huỳnh và xa hơn. Qua  
các tư liệu có được, Nguyễn Thị Hậu  
và cộng sự đã nhận định vai trò của  
Cần Giờ là một “cảng thị sơ khai”, “là  
trung tâm thủ công sản xuất đồ trang  
sức từ các chất liệu vàng, đá quý,  
thủy tinh và từ vỏ nhuyễn thể. Tại đây,  
đồ trang sức bằng đá giữ vai trò chủ  
đạo cả về số lượng, mẫu mã và kỹ  
thuật sản xuất”. Hơn nữa, “dễ dàng  
nhận ra yếu tố giao lưu kỹ thuật với  
Ấn Độ và xa hơn, nhất là trong việc  
chế tạo đồ ngọc và thủy tinh”.  
Tuy đã xác định về sự xuất hiện của  
các hạt chuỗi trong đời sống các cộng  
đồng cổ đại, và quá trình trao đổi hàng  
hóa giữa cư dân Sa Huỳnh - Cần Giờ  
với các thương nhân; nhưng nguồn  
nguyên liệu và mạng lưới tiêu thụ sản  
phẩm vẫn chưa có giải thích thỏa đáng.  
Năm 2017, dựa trên nghiên cứu về  
loại hình hiện vật và chất liệu các loại  
hình đồ trang sức được tìm thấy tại  
các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh,  
đối chiếu với các di vật trang sức cùng  
loại được tìm thấy ở Cần Giờ cũng  
như nhiều quốc gia Đông Nam Á (điển  
hình là Khao Sam Kaeo, Thái Lan),  
Nguyễn Kim Dung (2017: 311-332) lý  
giải vai trò của mạng lưới trao đổi  
hàng hóa trong khoảng 3.000 năm  
đến 2.500 năm cách ngày nay ở các  
di tích thuộc Việt Nam, và cho rằng vị  
trí địa lý là điều kiện quan trọng giúp  
các di tích văn hóa Sa Huỳnh và khu  
vực Cần Giờ được xem như những  
Nhìn chung, sưu tập đồ trang sức tại  
các di tích khảo cổ học khu vực ven  
biển Cần Giờ đã được các nhà nghiên  
cứu tổng hợp, hệ thống và giới thiệu  
kỹ lưỡng. Các phương pháp như so  
sánh loại hình học, kỹ thuật học và sử  
dụng các kết quả phân tích về chất  
liệu gần đây của các học giả nước  
ngoài, mối quan hệ văn hóa và giao  
thương giữa Cần Giờ và các nền văn  
NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH - NGUYỄN THỊ TÚ ANH – ĐỒ TRANG SỨC THUỘC…  
65  
hóa khác ở miền Trung Việt Nam, Đài Prancis (1995: 3-9) đã đánh giá yếu tố  
Loan, Philippines, Thái Lan và xa hơn  
như Ấn Độ, Trung Quốc vào những  
thế kỷ cuối trước Công nguyên đã  
được nhận diện. Qua đó, vai trò của  
Cần Giờ nổi lên như một “cảng thị sơ  
khai”, trạm trung chuyển và trao đổi  
các sản phẩm trên con đường thương  
mại đông - tây qua khu vực Đông  
Nam Á cổ đại. Tuy nhiên, vẫn còn một  
số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sâu  
hơn với các di tích tại vùng ven biển  
này, chẳng hạn, quy mô trao đổi của  
“cảng thị sơ khai” Cần Giờ trong mạng  
lưới thương mại biển và với các di  
tích nằm sâu trong bán đảo Đông  
Dương; nguồn nguyên liệu và kỹ thuật  
sản phẩm đồ trang sức; yếu tố ngoại  
nhập và truyền thống trong sản xuất  
mặt hàng này; đời sống và phương  
tiện di chuyển của cư dân bản địa...  
Mặt khác, các loại hình di vật trang  
sức của Cần Giờ nói riêng được công  
bố bằng tiếng nước ngoài chưa nhiều  
về số lượng, do vậy ít nhiều gây khó  
khăn cho các học giả quốc tế trong  
việc tiếp cận nghiên cứu, đặc biệt khi  
sử dụng tài liệu để đối chiếu so sánh  
với các quốc gia trong khu vực Đông  
Nam Á và trên thế giới.  
địa lý đặc biệt của Việt Nam nằm ở vị  
trí trung tâm của hai nền văn minh Ấn  
Độ và Trung Quốc đã tạo điều kiện để  
nơi đây tiếp nhận và trở thành trung  
tâm giao thoa thương mại và văn hóa  
khắp vùng Đông Nam Á và xa hơn,  
với ba nền văn hóa tiêu biểu từ bắc  
vào nam là Đông Sơn (1.100 - 300 BC),  
Sa Huỳnh (1.400 BC - AD 200) và Óc  
Eo (100 - 700 AD). Trong đó, văn hóa  
Sa Huỳnh đã được nhấn mạnh với ba  
loại hình vật đeo đặc trưng là khuyên  
tai hình vành khăn, khuyên tai ba mấu  
(còn gọi là lingling-o) và vật đeo hai  
đầu thú (bicephalic pendants, hay,  
double zoomorphic-heads). Các loại  
hình đồ trang sức tìm thấy đều bằng  
đá và thường là đá ngọc nephrite, vốn  
là chất liệu khá phổ biến trong giai  
đoạn sớm; ngoài Sa Huỳnh, Giồng  
Phệt và Giồng Cá Vồ, đồ trang sức  
còn được tìm thấy ở nhiều di tích khác  
ở khu vực Đông Nam Á, một số địa  
điểm đã tìm thấy các di vật với số  
lượng đáng kể như Hồng Kông, Đài  
Loan, Philippines, Thái Lan; bên cạnh  
đó, những đồ trang sức mô phỏng  
bằng đất nung và vỏ nhuyễn thể cũng  
được tìm thấy tại các nơi này. Về niên  
3. NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ VỀ ĐỒ đại và sự phát triển kỹ thuật chế tác  
TRANG SỨC TƯƠNG TỰ VỚI NHỮNG  
DI VẬT THUỘC KHU DI TÍCH KHẢO  
CỔ HỌC CẦN GIỜ TRONG BỐI  
CẢNH KHU VỰC ĐÔNG NAM Á  
THỜI TIỀN - SƠ SỬ  
thủy tinh trong văn hóa Sa Huỳnh,  
Francis (2002) nhận định rằng cả ba  
loại hình trang sức nói trên với chất  
liệu bằng thủy tinh đều thuộc về giai  
đoạn muộn. Đáng lưu ý, loại hình  
lingling-o làm bằng thủy tinh chưa  
được tìm thấy bên ngoài Việt Nam, và  
chỉ duy nhất hai tiêu bản vật đeo hai  
Năm 1995, trong Beads in Vietnam:  
an Initial Report (Hạt chuỗi ở Việt  
Nam: một báo cáo ban đầu), Peter  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
66  
đầu thú bằng thủy tinh được tìm thấy trưng khác nhau, thể hiện mối tương  
tác/giao lưu giữa hai khu vực:  
tại hai địa điểm của Philippines (Fox  
1970: 123-139). Sự phổ biến của các  
loại hình vật đeo này, nhất là ở các di  
tích của Philippines, có thể minh  
chứng cho mối quan hệ văn hóa giữa  
khu vực hải đảo và Việt Nam.  
- Vào đầu thời kỳ thứ nhất (Period 1),  
tương ứng với những thế kỷ cuối  
trước Công nguyên, tại Đông Nam Á  
đã tìm thấy một tỷ lệ cao các đồ trang  
sức được chế tác bằng kỹ thuật của  
Ấn Độ nhưng mang phong cách địa  
phương. Điều này được lý giải rằng,  
những tầng lớp quý tộc, có địa vị xã  
hội ở khu vực Đông Nam Á thời cổ đại  
đã đặt hàng các nhà sản xuất Ấn Độ  
những sản phẩm chất lượng tốt  
nhưng theo phong cách tương ứng  
với nhu cầu và các giá trị văn hóa của  
riêng họ. Bài viết cũng nhấn mạnh vai  
trò tích cực của các cộng đồng cư dân  
Đông Nam Á, cụ thể là tầng lớp trên,  
trong việc định hình và kiểm soát  
mạng lưới giao thương sớm trong khu  
vực cũng như mở rộng ảnh hưởng  
đến các vùng xa hơn bằng cách tác  
động (thậm chí định hướng) đến việc  
sản xuất và cung ứng các sản phẩm  
xa xỉ, điển hình là Ấn Độ.  
Di tích Giồng Cá Vồ đã tìm thấy bằng  
chứng về việc sản xuất thủy tinh,  
thông qua các nguyên liệu thủy tinh có  
màu sắc tương tự loại hình khuyên tai  
ba mấu cùng với cát trắng được tìm  
thấy trong lòng đất, và Francis (2002)  
xem đó là một dấu chỉ của công nghệ  
sản xuất thủy tinh của Sa Huỳnh (Sa  
Huynh glass industry). Với hạt chuỗi  
thủy tinh, mặc dù tại các di tích thuộc  
Cần Giờ đã tìm thấy nhiều hạt chuỗi  
Indo-Pacific, nhưng không có chứng  
cứ về việc sản xuất chuỗi thủy tinh tại  
đây mà có thể là được nhập khẩu từ  
bên ngoài, có thể là Ấn Độ. Francis lý  
giải rằng, thủy tinh có thể đã được sản  
xuất và chế tạo thành nhiều loại hình  
đồ trang sức tại nhiều địa điểm ở miền  
Nam Việt Nam, và nó muộn hơn so  
với quá trình chuyển giao công nghệ  
làm hạt chuỗi Indo-Pacific tại đây.  
- Sang thời kỳ thứ hai (Period 2),  
tương ứng giai đoạn trước thế kỷ V  
Công nguyên, các trung tâm sản xuất  
bắt đầu hình thành ở khu vực Đông  
Nam Á, mạng lưới giao thương trao  
đổi liên khu vực được tăng cường  
mạnh mẽ, thể hiện qua số lượng hiện  
vật trang sức tìm thấy ngày càng tăng,  
trong đó nổi bật là các loại hạt chuỗi.  
Tuy nhiên, phần lớn chúng là những  
tiêu bản có chất lượng trung bình hay  
thấp, mặc dù không thể bác bỏ rằng,  
hình dạng, kiểu dáng và kỹ thuật đều  
mô phỏng theo các sản phẩm của Ấn  
Năm 2003, trong bài viết Beads,  
Social Change and Interaction Between  
India and South-East Asia (Hạt chuỗi,  
chuyển biến xã hội và sự tương tác  
giữa Ấn Độ và Đông Nam Á), Bérénice  
Bellina (2003: 285-297) thông qua các  
nghiên cứu về kỹ thuật chế tác loại  
hình hạt chuỗi từ chất liệu agate và  
carnelian tìm thấy trong các di chỉ  
khảo cổ ở Ấn Độ và Đông Nam Á đã  
phân thành hai thời kỳ với các đặc  
NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH - NGUYỄN THỊ TÚ ANH – ĐỒ TRANG SỨC THUỘC…  
67  
Độ, bên cạnh đó một số ít vẫn có khả Đông Nam Á hải đảo và các vùng  
năng nhập khẩu từ Ấn Độ, hoặc sản khác ở lưu vực sông Mekong, mà Óc  
xuất tại chỗ bởi lực lượng thợ thủ  
công đến từ Ấn Độ.  
Eo giữ vai trò như một nhà cung cấp -  
sản xuất sản phẩm theo nhu cầu,  
đồng thời là trung tâm phân phối và  
cảng trung chuyển vào những thế kỷ  
đầu Công nguyên.  
Việc tìm hiểu phương thức chuyển  
giao hay bản chất của sự tương tác,  
trao đổi văn hóa trong nội vùng Đông  
Nam Á và khu vực này với thế giới  
bên ngoài qua các di chỉ cảng thị sớm  
(early-port site) như Khao Sam Kaeo  
(Thái Lan) hay những bằng chứng  
Các hạt chuỗi có hình dáng phức tạp  
(hình quả trám, oval dài, hình ống,  
hình trụ đa giác... từ nhiều loại chất  
liệu) đã cho thấy một trình độ phát  
sớm nhất về trao đổi giữa Ấn Độ và triển cao, được tiếp thu từ truyền  
Đông Nam Á cũng góp phần dự đoán thống kỹ thuật của Ấn Độ và phương  
Tây thông qua con đường thương mãi  
đông - tây vào cuối thiên niên kỷ thứ  
nhất trước Công nguyên. Theo đó,  
thủy tinh nguyên liệu được đưa lên  
các tàu buôn Syria, vùng Trung Đông  
và đặc biệt là Ấn Độ, chuyển đến các  
cảng thị ở khu vực Đông Nam Á  
(Kirano, 2005: 808-819).  
ảnh hưởng đến nền kinh tế, đô thị hóa  
và việc hình thành những nhà nước  
cổ đại ở khu vực này.  
Năm 2005, trong bài viết Đồ trang sức  
thủy tinh ở Việt Nam: Từ một nghiên  
cứu về giao lưu văn hóa giữa các di  
chỉ cảng chính ở thời đại đồ sắt, Yuko  
Hirano đã phân tích các loại hình đồ  
trang sức bằng thủy tinh (khuyên tai,  
vòng đeo tay và hạt chuỗi) tìm thấy  
trong các di chỉ thuộc thời đại đồ sắt  
tại khu vực miền Bắc, miền Trung  
(thuộc phạm vi văn hóa Đông Sơn và  
Sa Huỳnh, tiêu biểu là di chỉ Làng Vạc)  
và miền Nam (với di chỉ Giồng Cá Vồ  
và di chỉ Óc Eo). Ở miền Bắc và miền  
Trung khuyên tai và vòng đeo tay  
được đúc, mang các đặc trưng giao  
lưu về kỹ thuật với miền Nam Trung  
Quốc, các loại hình hạt chuỗi còn lại  
được chế tác bằng kỹ thuật kéo. Khu  
Nghiên cứu của Hsiao-Chun Hung và  
nhiều người khác (2007: 19745-19750)  
đã thiết lập “sơ đồ” về sự tồn tại của  
một trong những mạng lưới thương  
mại biển rộng lớn nhất thông qua duy  
nhất vật liệu khoáng sản được khai  
thác từ giai đoạn tiền sử. Theo đó,  
nephrite xanh xuất phát từ một nguồn  
ở phía đông Đài Loan, đã được sử  
dụng để tạo ra hai dạng đồ trang sức  
rất thông dụng vào khoảng từ 500  
năm trước Công nguyên đến 500 năm  
đầu Công nguyên là hạt chuỗi và vòng  
vực Đông Nam Bộ các đồ trang sức đeo tay. Hai loại hình này có thể đã  
thủy tinh phong phú, sáng tạo những được phân phối bằng đường biển đến  
điểm khác biệt mang tính địa phương,  
và chứng tỏ sự tiếp thu và phát triển  
kỹ thuật chế tác của cư dân vùng  
vùng Philippines, hoặc theo các tàu  
buôn để đến nhiều vùng đất khác  
nhau ở Đông Nam Á như đông  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
68  
Malaysia, miền Nam Việt Nam và bán thấy, nguyên liệu chế tác các di vật ở  
đảo Thái Lan. Các địa điểm đó tạo cả hai quốc gia đều không phải là  
thành một vòng cung có đường kính nguồn nguyên liệu tại chỗ (unlocated  
3.000km suốt dọc các bờ biển phía nephrite sources), mặc dù chúng đã  
nam và phía đông trên khắp vùng biển được dùng để chế tác đồ trang sức từ  
của Đông Nam Á. Nhóm nghiên cứu thời đồ đá mới (Hung và nnk, 2007:  
của Hsiao-Chun Hung đã xem xét hai 19746). Nghiên cứu này cũng chỉ ra  
loại hình trang sức gồm vật đeo ba rằng nhiều di vật chế tác từ đá ngọc  
mấu (penannular earring with three phát hiện ở Đại Lãnh, Giồng Cá Vồ  
pointed circumferential projections) (Việt Nam) hay tại các di tích ở Khao  
được gọi chung là “Lingling-o”(5), và Sam Kaeo (Thái Lan) đều có nguồn  
vật đeo (thường được gọi là khuyên nguyên liệu khởi phát từ Đài Loan.  
tai) hai đầu thú (double animal-headed Các di chỉ xưởng chế tác rải rác khắp  
pendant). Vật đeo ba mấu phổ biến khu vực Đông Nam Á là những vệ tinh,  
nhất ở Đông Nam Á cổ đại (khu vực nơi đó chế tác và hoàn thiện sản  
đông nam Đài Loan, Philippines, phẩm vật đeo này và đưa chúng đến  
Sarawak, miền Trung và miền Nam với người tiêu dùng bản địa. Mặc dù  
Việt Nam, miền Trung và miền Nam vậy, nhóm tác giả cũng thừa nhận có  
Thái Lan cùng với miền Đông nhiều di vật chất liệu đá nephrite lại có  
Campuchia). Điểm chung nhất của nguồn gốc khác với nguồn mỏ đá  
các đồ trang sức này là sự tương được tìm thấy ở Đài Loan. Đây cũng  
đồng về kiểu dáng, kỹ thuật chế tác và  
là câu hỏi mở để tiếp tục nghiên cứu,  
kích thước (khoảng 30 - 35mm). Các xác định nguồn đá nephrite trong khu  
vật đeo (pendant) hai đầu thú được  
tìm thấy ở đảo Lanyu (ngoài khơi phía  
đông nam Đài Loan), Philippines,  
miền Trung và miền Nam Việt Nam,  
miền Trung Thái Lan. Niên đại 14C của  
hai loại hình trang sức đặc trưng này  
tìm thấy ở khu vực Đông Nam Á vào  
khoảng 500 năm trước Công nguyên  
đến 500 năm Công nguyên (Hung và  
nnk, 2007: 19745).  
vực được khai thác và sử dụng để  
sản xuất vật dụng và các loại hình  
“lingling-o” được tìm thấy ở Việt Nam  
và Đông Nam Á.  
Năm 2008, bài viết Buôn bán và sự  
phát triển của nó trong thời đại đồ sắt  
Việt Nam qua nghiên cứu về đồ trang  
sức bằng thủy tinh, một lần nữa Yuko  
Hirano nhận định khu vực Đông Nam  
Á là nơi diễn ra các hoạt động quan  
trọng của mạng lưới thương mại thế  
giới, đặc biệt vào thời kỳ đồ sắt (cuối  
thiên niên kỷ thứ nhất trước Công  
nguyên đến vài thế kỷ đầu Công  
Về xác định nguồn gốc nguyên liệu, kỹ  
thuật EPMA đã triển khai lấy mẫu trên  
một loạt các đồ tạo tác từ đá nephrite  
với các màu khác nhau được khai  
quật từ các di tích khảo cổ học ở nguyên) với các trung tâm thương mại  
Philippines và Việt Nam. Kết quả cho tập trung quanh lưu vực sông Mekong.  
NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH - NGUYỄN THỊ TÚ ANH – ĐỒ TRANG SỨC THUỘC…  
69  
Trong đó, đồ trang sức bằng thủy tinh đại đồ đồng ở khu vực Đông Nam Á  
là một mặt hàng có giá trị, dần được  
ưa chuộng và thay thế vai trò của  
trang sức bằng đá. Kế thừa các kết  
quả phân tích kỹ thuật học và hóa học  
trên các mẫu trang sức thủy tinh ở  
khu vực Đông Nam Á, trong đó có các  
di tích tại khu vực Cần Giờ, tác giả  
góp thêm nhận định cho rằng, nơi đây  
không chỉ tiếp nhận kỹ thuật, tiêu biểu  
như kỹ thuật cuộn - xoắn, tạo hạt  
bằng cách cuốn thủy tinh nóng chảy  
quanh một cái que, và kỹ thuât cắt  
một ống thủy tinh được kéo dài từ  
một khối thủy tinh nóng chảy; kỹ thuật  
ép khuôn các loại hình hoa tai; kỹ  
thuật xoay tròn và ép đơn giản vòng  
tay cũng như làm bóng sản phẩm;  
đặc biệt là nhận định về nguyên liệu  
sản xuất có thể được nhập từ bên  
ngoài (ví dụ như Ấn Độ, Trung Đông).  
Điều này chứng tỏ sự tham gia tích  
cực của cư dân khu vực trong mạng  
lưới thương mại, hình thành các di  
chỉ cảng ở vị trí quan trọng trên các  
tuyến hải thương trong vùng và quốc  
tế, sản xuất và cung cấp các mặt  
hàng trang sức phù hợp (Hirano,  
2008: 39-43).  
được mở rộng thực sự ở thời đại đồ  
sắt.  
Các kết quả nghiên cứu mới cho thấy,  
hai di chỉ vừa nêu đều cung cấp một  
số hàng hóa đặc trưng với kỹ thuật  
cao, được phân phối rộng rãi trên  
khắp các địa điểm tiền sử muộn của  
khu vực Đông Nam Á và có thể được  
coi là đã dẫn đến việc tạo ra hệ thống  
biểu tượng chung đầu tiên trong khu  
vực. Điển hình là một số đồ trang sức  
bằng đá bán quý từ địa điểm Ban Don  
Ta Phet có sự tương đồng về phong  
cách và kỹ thuật chế tác với các địa  
điểm tiền sử muộn như Khao Sam  
Kaeo, các địa điểm thuộc văn hóa Sa  
Huỳnh ở miền Trung và miền Nam  
Việt Nam như Giồng Cá Vồ, với các  
hang động Tabon  
ở
Palawan  
(Philippines). Chúng bao gồm hạt  
chuỗi carnelian hình lục giác dẹt (flat  
hexagonal beads) xuất hiện thường  
xuyên ở những địa điểm trên, đặc biệt  
là tại Khao Sam Kaeo, và cũng được  
tìm thấy tại Leang Buidane ở quần  
đảo Talaud (phía đông bắc Indonesia)  
cũng như nhiều địa điểm Sa Huỳnh ở  
miền Trung Việt Nam, chẳng hạn như  
Năm 2011, trong bài viết Ban Don Ta Gò Mun. Các hạt chuỗi mã não hình  
lục giác phẳng hiếm hơn và có thể  
được so sánh với một hạt được tìm  
thấy trong các hang động Tabon. Các  
hạt chuỗi dạng hình học phức tạp như  
hình kim tự tháp kép với mặt cắt hình  
lục giác được làm bằng mã não,  
carnelian và thạch anh.  
Phet and Khao Sam Kaeo: The Earliest  
Indian Contacts Re-assessed (Di tích  
Ban Don Ta Phet và Khao Sam Kaeo:  
tiếp cận lại các mối liên hệ sớm nhất  
của Ấn Độ), Ian Glover và Bérénice  
Bellina (2011) dựa trên các kết quả  
nghiên cứu và nhận định của nhiều  
học giả khác, cho rằng việc hình thành  
mạng lưới trao đổi nội khối trong thời  
Bằng chứng khảo cổ học phát hiện tại  
Khao Sam Kaeo (như các loại hình đồ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
70  
trang sức dạng nguyên liệu thô, đá văn hóa với nhau hơn so với các quốc  
gia xa xôi, tiêu biểu là cư dân sinh  
sống vùng nội địa. Khi xem xét kỹ hơn,  
bằng chứng từ Việt Nam và  
Philippines cho thấy nguồn gốc của  
trao đổi xuyên khu vực sớm nhất là  
khoảng 1.500 năm trước Công  
nguyên đến khoảng năm 100 Công  
Nguyên qua các di vật thuộc thời đại  
sắt và các di vật gốm. Với đồ trang  
sức, mặc dù có những khác biệt  
tương đối lớn, nhưng hai loại hình tiêu  
biểu được chế tác từ nephrite có  
nguồn gốc từ phía đông Đài Loan là  
khuyên tai ba mấu và vật đeo hai đầu  
thú, có kích thước và hình dạng gần  
như giống hệt nhau, cho thấy truyền  
thống sản xuất được chia sẻ và tiêu  
chuẩn hóa giữa các khu vực, trong đó  
có các di tích ở vùng Cần Giờ.  
mảnh, phác vật chưa hoàn thành ở  
các giai đoạn khác nhau, đá mài),  
Glover và Bellina giả thuyết rằng, địa  
điểm này là một “cảng thị sớm” và là  
một trung tâm sản xuất đồ trang sức  
bằng đá bán quý (phần lớn là mã não  
và carnelian), kể cả sản xuất thủy tinh,  
được tạo ra với phương pháp và kỹ  
thuật của Ấn Độ (cũng có thể là thợ  
thủ công từ Ấn Độ đến sống tại đây,  
và truyền đạt kiến  
thức cho cộng  
đồng bản địa) nhằm đáp ứng nhu cầu  
cụ thể của mạng lưới giao thương khu  
vực Đông Nam Á.  
Với loại hình hạt chuỗi thủy tinh, kết  
quả phân tích thành phần cho thấy  
dường như cả hai loại thủy tinh kali tại  
Ban Don Ta Phet đều không liên quan  
rõ ràng với thủy tinh kali tại Khao Sam  
Kaeo, Giồng Cá Vồ hoặc Arikamedu  
(Ấn Độ), mặc dù có sự tương đồng  
gần gũi của các hạt đá silic từ hai khu  
vực Đông Nam Á, điều này có thể cho  
thấy việc sản xuất thủy tinh thô không  
tập trung ở Thái Lan hoặc Myanmar  
vào giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước  
Công nguyên (Ian Glover, Bérénice  
Bellina, 2011: 17-46).  
Năm 2014, trong chuyên khảo  
Maritime Silk Roads’s Ornament  
Industries: Socio-political Practices  
and Cultural Transfers in the South  
China Sea (Các ngành công nghiệp  
chế tác trang sức trên các tuyến  
đường tơ lụa: thực tiễn chính trị - xã  
hội và các hình thức chuyển giao văn  
hóa ở khu vực Biển Đông), Bérénice  
Bellina (2014a: 345-377) đã đề cập  
đến các mạng lưới thương mại hàng  
hải ở Đông Nam Á, tiền đề của sự  
phát triển “con đường tơ lụa trên biển”.  
Mạng lưới thương mại này được xem  
xét trong khoảng thiên niên kỷ thứ  
nhất trước Công nguyên, giai đoạn  
diễn ra nhiều sự chuyển giao văn hóa  
lớn. Những vấn đề đó được phân tích  
dựa vào ngành công nghiệp chế tác  
Năm 2013, trong bài viết Coastal  
Connectivity: Long-Term Trading  
Networks Across the South China Sea  
(Kết nối ven biển: mạng lưới giao  
thương đường dài trên khắp vùng  
biển Đông), Hsiao-chun Hung và  
nhiều người khác (2013: 384-404) đã  
lý giải rằng, các cộng đồng sinh sống  
ven biển khắp vùng Biển Đông dễ  
dàng tương tác và chia sẻ các yếu tố  
NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH - NGUYỄN THỊ TÚ ANH – ĐỒ TRANG SỨC THUỘC…  
71  
đồ trang sức, có được qua khai quật Công nguyên) cũng đã được đánh giá  
lại, dựa trên việc phân tích kỹ lưỡng  
các ngành nghề thủ công và nguồn  
nguyên liệu của thời kỳ này, như thủy  
tinh, đồ trang sức bằng đá, ngọc, kim  
loại và các loại hình gốm. Nghiên cứu  
nhấn mạnh mạng lưới trao đổi thời  
tiền sử có từ trước ở khu vực Biển  
Đông và phương thức mà các xã hội  
cổ đại đã tiếp nhận và vận dụng để  
trao đổi với các dân tộc lân cận. Trong  
đó, khu vực từ bán đảo Thái Lan (Ban  
Don Ta Phet, Khao Sam Kaeo, Phu  
Khao Thong…) đến vùng ven biển  
Việt Nam (miền Nam - Giồng Cá Vồ,  
Giồng Phệt; miền Trung - văn hóa Sa  
Huỳnh) và Philippines, một số cộng  
đồng cư dân đã phát triển và tiếp thu  
các yếu tố văn hóa bên ngoài, bản địa  
hóa và duy trì yếu tố đó qua nhiều thế  
hệ để chúng trở thành truyền thống,  
điều đó nhờ vào các mạng lưới giao  
dịch thương mại vốn đã được thiết lập  
từ thời kỳ đá mới. Mặt hàng được  
dùng để trao đổi gồm mặt dây đeo  
bằng đá nephrite (lingling-o), nhẫn, vật  
đeo hai đầu thú và các loại gốm gần  
với truyền thống Sa Huỳnh-Kalanay  
(Bellina, 2014b: 23).  
khảo cổ học di tích Khao Sam Kaeo  
(Thái Lan) từ 2005 đến 2009, các di  
vật tại địa điểm này được phân tích và  
đối chứng, từ đó mở rộng đến các  
mạng lưới tổ chức sản xuất và tiêu thụ  
hàng hóa phân bố ở khắp khu vực  
biển Đông và sâu trong lục địa Đông  
Nam Á, trong đó đề cập đến sự tham  
góp của cộng đồng cư dân ven biển  
Việt Nam thời cổ đại như Sa Huỳnh và  
Cần Giờ, những mắt xích quan trọng  
trong mạng lưới chế tác và tiêu thụ  
sản phẩm.  
Bérénice Bellina cũng chỉ ra yếu tố kỹ  
thuật mang tính bản địa cũng như kết  
quả có được từ quá trình tương tác  
giữa các quốc gia thông qua thương  
mại hàng hải. Trong đó, khá nhiều di  
vật đồ trang sức vàng, bạc, carnelian  
và thủy tinh, phản ánh nhiều nét  
tương đồng giữa di tích Khao Sam  
Kaeo và Giồng Cá Vồ, các di chỉ của  
Philippines, đồng thời mở rộng ra toàn  
khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Tác  
giả đã khẳng định vai trò của thương  
mại biển trong vận chuyển, trao đổi  
nguyên liệu và kỹ thuật giữa di tích  
Khao Sam Kaeo và một vài nơi khác  
ở Đông Nam Á, cũng như tác động xã  
hội của nó vào khoảng thế kỷ thứ IV  
trước Công nguyên.  
4. TẠM KẾT  
Nhìn chung, các công trình và chuyên  
khảo của các học giả trong nước  
nghiên cứu về các các loại hình đồ  
trang sức tìm thấy tại di tích khảo cổ  
học của Cần Giờ rất phong phú bằng  
các phương pháp khảo tả, thống kê,  
so sánh loại hình học... từ đó đặt ra  
các giả thiết về mối quan hệ giữa các  
vùng/tiểu vùng văn hóa khảo cổ ở Việt  
Nghiên cứu của Bellina (2014) chỉ ra  
rằng, Đông Nam Á đã phát triển các  
tuyến thương mại rộng lớn từ thời kỳ  
đồ đá mới. Cường độ trao đổi giữa các  
quốc gia trong khu vực trở nên năng  
động hơn từ thời kỳ kim khí (khoảng  
giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
72  
Nam và khu vực trong thời sơ sử. Tuy loại hình học và phân tích về chất liệu,  
nhiên, các loại hình di vật trang sức kỹ thuật chế tác đồ đá và thủy tinh từ  
bộ sưu tập hiện vật đồ trang sức phát  
hiện tại nhiều di tích ở vùng biển Đông  
Nam Á vào sơ kỳ đồ sắt đến những  
thế kỷ đầu Công nguyên, đã cung cấp  
những minh chứng rõ ràng về mạng  
lưới trao đổi nguồn nguyên liệu,  
truyền thống chế tác và hoàn thiện  
các vật đeo được chia sẻ và tiêu  
chuẩn hóa giữa các di chỉ xưởng rải  
rác khắp khu vực Đông Nam Á; đồng  
thời là sự tiếp thu và học hỏi các kỹ  
thuật chế tác, nhất là đồ trang sức  
bằng thủy tinh, từ Ấn Độ. Tuy nhiên,  
do những hạn chế trong việc tiếp cận  
tư liệu nghiên cứu về Cần Giờ, cho  
nên hầu như rất ít nội dung xem xét kỹ  
đến vai trò của “cảng thị sơ khai” Cần  
Giờ cũng như mối liên hệ của khu vực  
này trong mạng lưới thương mại hàng  
hải giai đoạn tiền - sơ sử.  
của Cần Giờ nói riêng được công bố  
bằng tiếng nước ngoài chưa nhiều về  
số lượng, do vậy ít nhiều gây khó  
khăn cho các học giả quốc tế trong  
việc tiếp cận nghiên cứu, đặc biệt khi  
sử dụng tài liệu để đối chiếu so sánh  
với các quốc gia trong khu vực Đông  
Nam Á và trên thế giới. Trong khi đó,  
các công trình nghiên cứu của các  
học giả nước ngoài có đề cập và so  
sánh giữa các loại hình tượng tự với  
các di vật tìm thấy tại Cần Giờ về mặt  
niên đại, hình dáng, chất liệu... nhưng  
hầu như rất ít nội dung xem xét kỹ đến  
vai trò của “cảng thị sơ khai” Cần Giờ  
cũng như mối liên hệ của chúng trong  
mạng lưới thương mại hàng hải giai  
đoạn sơ sử.  
Các công trình nghiên cứu của các  
học giả nước ngoài, dựa trên so sánh  
CHÚ THÍCH  
Hình ảnh về bằng chứng sản xuất và phân bố trang sức ở khu vực Đông Nam Á  
Hình 1. Phân bố của loại hình khuyên tai ba mấu (lingling-o) ở khu vực  
NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH - NGUYỄN THỊ TÚ ANH – ĐỒ TRANG SỨC THUỘC…  
Hình 2. Phân bố của loại hình vật đeo (pendant) hai đầu thú ở khu vực Đông Nam Á  
73  
Hình 3. Phác vật và bằng chứng sản xuất trang sức bằng đá ngọc ở khu vực Đông Nam Á  
Nguồn hình 1, 2, 3: Hsiao-chun Hung & Peter Bellwood, 2010.  
(1) Hạt chuỗi Indo-Pacific (Indo-Pacific beads) là tên gọi chỉ hạt chuỗi thủy tinh được làm từ  
kỹ thuật Lada, có nhiều màu nhưng đơn sắc trên một tiêu bản (monochrome); có nhiều nơi  
chế tạo hạt chuỗi loại này ở Đông Nam Á sau khi tiếp xúc với Ấn Độ (Fancis, 2002).  
(2) Hạt chuỗi Collar (Collar beads) hay hạt chuỗi thắt ở hai đầu, thường là đá mã não màu đỏ,  
đá crystal không màu, trong suốt, được sản xuất nhiều ở phía nam Ấn Độ (Khambatt) hay  
vùng Iran. Hạt chuỗi này khi chế tác đòi hỏi nhiều thời gian, kỹ thuật cao, nên không phổ  
biến và đắt hơn các loại khác (Fancis, 2002; Bellina, 2007).  
(3) Hạt chuỗi Etched (Etched beads) thường bằng đá mã não, đá agate có khắc vạch trắng,  
được nhập khẩu từ Ấn Độ mỗi địa điểm tìm thấy chỉ 1, 2 tiêu bản (Glover; Bellina, 2003).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
74  
(4) Hạt chuỗi Banded (Banded beads) tìm thấy không nhiều, chỉ trên dưới 10 tiêu bản mỗi di  
tích, có thể được nhập khẩu từ Ấn Độ (Lâm Thị Mỹ Dung, 2017). Loại hạt chuỗi này tìm thấy  
trong các di chỉ như Giồng Cá Vồ, Gò Hàng, Gò Ô Chùa và phổ biến trong thời kỳ văn hóa  
Óc Eo và muộn hơn.  
(5)  
Thuật ngữ Lingling-o được nhà khảo cổ học người Mỹ Henry Otley Beyer đề cập vào  
những năm 1940 từ phát hiện về sự tương đồng giữa một số mặt đeo bằng đá ngọc ở khu  
vực Bantagas với mặt dây chuyền kim loại được cộng đồng dân tộc Ifugao, Bontoc và  
Kalinga ở Bắc Cordillera (đảo Luzon) sử dụng. Thuật ngữ này hiện được sử dụng phổ biến  
và để chỉ loại hình trang sức dây đeo nói chung.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bellina, Bérénice. 2003. “Beads, Social Change and Interaction Between India and  
South-East Asia”. Antiquity Volume 77 Issue 296, pp. 285-297. Published online by  
Cambridge University Press: 02 January 2015.  
2. Bellina, Bérénice. 2007. Cultural Exchange Between India and Southeast Asia:  
Production and Distribution of Hard Stone Ornaments (VI c. BC - VI c. AD). Paris:  
Éditions de la Maison des sciences de l’Homme.  
3. Bellina, Bérénice. 2014a. “Maritime Silk Roads’ Ornament Industries: Socio-Political  
Practices and Cultural Transfers in the South China Sea”. Cambridge Archaeological  
Journal, No.24, pp. 345-377.  
4. Bellina, Bérénice. 2014b. “Southeast Asia and the Early Maritime Silk Road”, In Lost  
Kingdoms: Hindu-Buddhist Sculpture of Early Southeast Asia. pp. 22-24, (Ed.) John Guy.  
New York: Metropolitan Museum of Art.  
5. Đặng Văn Thắng, Vũ Quốc Hiền, Nguyễn Thị Hậu, Ngô Thế Phong, Nguyễn Kim  
Dung, Nguyễn Lân Cường. 1998. Khảo cổ học tiền sử và sơ sử TPHCM. TPHCM: Nxb.  
Trẻ.  
6. Francis, Jr. Peter. 1990. “Glass Beads in Asia Part 2: Indo-Pacific beads”. Asian  
Perspect, No.29, pp. 1-23.  
7. Francis, Jr. Peter. 2002. Asia's Maritime Bead Trade. 300 B.C. to the Present.  
University of Hawai'i Press, Honolulu.  
8. Glover, Ian C. and Bellina, Bérénice. 2003. “Alkaline Etched Beads in Southeast Asia”,  
In Ornaments from the Past: Beads Studies After Beck, pp. 92-107. (Eds) Ian C. Glover,  
Helen Hughes Brock and Julian Henderson. Pubished and Distributed by The Bead  
Study Trust.  
9. Glover, Ian C. and Bellina, Bérénice. 2011. “Ban Don Ta Phet and Khao Sam Kaeo:  
The Earliest Indian Contacts Re-assessed”, In Early Interactions Between South and  
Southeast Asia: Reflections on Cross-Cultural Exchange, pp. 17-46. ISEAS Publishing.  
(Eds) Pierre-Yves Manguin, A. Mani, Geoff Wade. Online Publication Date: October  
2015.  
10. Hirano, Yuko. 2005. “Đồ trang sức thủy tinh ở Việt Nam: Từ một nghiên cứu về giao  
lưu văn hóa giữa các di chỉ cảng chính ở thời đại đồ Sắt”, Trong Một thế kỷ khảo cổ học  
Việt Nam - tập I. Viện Khảo cổ học. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 808-819.  
NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH - NGUYỄN THỊ TÚ ANH – ĐỒ TRANG SỨC THUỘC…  
75  
11. Hirano, Yuko. 2008. “Buôn bán và sự phát triển của nó trong thời đại đồ sắt Việt  
Nam qua nghiên cứu về đồ trang sức bằng thủy tinh”. Tạp chí Khảo cổ học, số 4/2008,  
tr. 39-45.  
12. Hung, Hsiao-chun & Bellwood, Peter. 2010. “Movement of Raw Materials and  
Manufactured Goods Across the South China Sea After 500 BCE from Taiwan to  
Thailand, and Back”, In 50 Years of Archaeology in Southeast Asia: Essays in Honour of  
Ian Glover, pp. 235-245. River Books. (Eds) Berenice Bellina, Elisabeth A Bacus,  
Thomas Oliver Pryce, and Jan Wisseman Christie.  
13. Hung, Hsiao-Chun; Iizuka, Yoshiyuki; Bellwood, Peter; Nguyen, Kim Dung; Bellina,  
Bérénice; Silapanth, Praon; Dizon, Eusebio; Santiago, Rey; Datan, Ipoi and Manton,  
Jonathan H. 2007. “Ancient Jades Map 3,000 Years of Prehistoric Exchange in  
Southeast Asia”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States  
of America, Vol. 104, No. 50 (Dec. 11, 2007), pp. 19745-19750. Published by: National  
Academy of Sciences. Source: <https://www.jstor.org/stable/25450787> JSTOR.  
Accessed 3/4/2020.  
14. Hung, Hsiao-chun; Nguyen, Kim Dung; Bellwood, Peter; Carson, Mike T. 2013.  
“Coastal Connectivity: Long-Term Trading Networks Across the South China Sea”.  
Journal of Island & Coastal Archaeology, No. 8, pp. 384-404. Publisher: Routledge.  
15. Lâm Thị Mỹ Dung. 2017. Sa Huỳnh - Lâm Ấp - Champa: thế kỷ V trước Công  
nguyên đến thế kỷ V sau Công nguyên (một số vấn đề khảo cổ học). Hà Nội: Nxb. Thế  
giới.  
16. Nguyễn Kim Dung, Vũ Quốc Hiền. 1994. “Kết quả phân tích quang phổ các mẫu  
thủy tinh và đá ở Giồng Cá Vồ - huyện Cần Giờ, TPHCM”, Trong Những phát hiện mới  
về khảo cổ học năm 1994, tr. 154-156.  
17. Nguyễn Kim Dung. 2001. “Jewelry from Late Prehistoric Sites Recently Excavated in  
South Vietnam”. Bulletin of the Indo Pacific Prehistoric Association 21, pp. 107-114.  
Source:  
Accessed 3/4/2020.  
18. Nguyễn Kim Dung. 2017. “The Sa Huynh Culture in Ancient Regional Trade  
Networks: A Comparative Study of Ornaments”. New Perspectives in Southeast Asian  
and Pacific Prehistory, pp. 311-332. (Eds) Philip J. Piper, Hirofumi Matsumura, David  
Bulbeck. Published by: ANU Press.  
19. Nguyễn Thị Hậu. 1997. Di tích mộ chum miền Đông Nam Bộ - những phát hiện mới  
tại Cần Giờ TPHCM. Luận án phó tiến sĩ Khảo cổ học. Thư viện Bảo tàng Lịch sử  
TPHCM.  
20. Nguyễn Thị Hậu. 2010. Điều tra khảo sát khảo cổ học phục vụ nhu cầu quy hoạch,  
xây dựng và phát triển huyện Cần Giờ TPHCM (giai đoạn 2006-2010). Báo cáo nghiệm  
thu đề tài, Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM.  
pdf 16 trang Thùy Anh 16040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đồ trang sức thuộc di tích khảo cổ học cần giờ trong mạng lưới thương mại Đông Nam Á thời Tiền - Sơ sử qua các tư liệu nghiên cứu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_trang_suc_thuoc_di_tich_khao_co_hoc_can_gio_trong_mang_lu.pdf