Thực trạng tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định hiện nay

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
14  
THỰC TRẠNG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU  
1
Ở NAM ĐỊNH HIỆN NAY  
Vũ Hồng Thuật, Vũ Thị Diệu  
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam  
Tóm tắt: Bài viết dựa trên những tư liệu điều tra điền dã nhân học năm 2019-2020 của tác  
giả để làm rõ vấn đề về Thực trạng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ ở Nam Định  
trong bối cảnh xã hội đương đại. Tín ngưỡng thờ Mẫu đang ngày càng phát triển, nhất là  
từ khi được UNESCO công nhận Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Nhiều điện thờ  
tư nhân được lập ra; đền, phủ sửa sang mới, hầu đồng nở rộ khắp nơi… Bên cạnh những  
yếu tố tích cực, vẫn còn nhiều yếu tố hạn chế xuất hiện sự lai căng, trục lợi, hiện đại hoá  
trong các nghi lễ hầu đồng. Bởi vậy, Nam Định đang tìm giải pháp để thực hành tín ngưỡng  
thờ Mẫu Tam phủ thích ứng với xã hội hiện đại mà không mất đi vẻ đẹp thuần khiết của tín  
ngưỡng dân gian này.  
Từ khóa: Người Việt, Nam Định, Thực trạng thực hành thờ Mẫu.  
Nhận bài ngày 10.7.2020; gửi phản biện, chỉnh sửa và duyệt đăng ngày 25.8.2020  
Liên hệ tác giả: Vũ Hồng Thuật; Email: [email protected]  
1. MỞ ĐẦU  
Thờ Mẫu là loại hình tín ngưỡng dân gian của một số tộc người (Tày, Nùng, Chăm,  
Hoa), trong đó nổi bật là người Việt. Tín ngưỡng này do người Việt sáng tạo từ lâu đời, gắn  
với sản phẩm của tư duy, nhận thức về tự nhiên và xã hội của cư dân nông nghiệp lúa nước.  
Dưới góc nhìn nhân học, thờ Mẫu mang nhiều giá trị đạo đức và nhân văn sâu sắc. Đó là tâm  
thức “uống nước nhớ nguồn”, tôn vinh những người tài cao, đức trọng, trở thành một biểu  
tượng của chủ nghĩa yêu nước, vị tha của người Việt Nam. Đây là một thực hành nghi lễ  
mang tính đặc biệt, chuyên chăm lo cuộc sống cho con người ở cuộc sống hiện tại nên tính  
dung hợp trong thờ Mẫu đều từ dân gian mà ra (Hồ Đức Thọ 2016: 516).  
Trong bức tranh văn hóa thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định là một mảng màu  
rất đặc sắc. Trước hết là trung tâm thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng  
1 Bài viết này thuộc khuôn khổ của đề tài cấp Bộ: "Định hướng quản lý văn hóa với thực hành nghi lễ liên quan  
đến tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt" do PGS. TS. Nguyễn Thị Hiền làm chủ nhiệm, Viện Văn  
hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam chủ trì.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - SỐ 43/2020  
15  
bằng Bắc Bộ với quần thể di tích phủ Dầy và phủ Nấp. Tín ngưỡng này thể hiện ý thức nhân  
sinh, cội nguồn, dân tộc; đồng thời hướng con người đến chân- thiện- mỹ. Trên nền tảng phát  
triển của tín ngưỡng thờ nữ thần, mẫu thần, vương mẫu đã hình thành và phát triển thờ Mẫu  
Tam phủ (Vũ Hồng Thuật- Vũ Thị Diệu 2018: 133). Vào cuối thế kỷ XVI, một hình thức  
thờ cúng thánh Mẫu Liễu Hạnh được hình thành cùng với những nhân vật lịch sử, huyền  
thoại có công với nước, với dân. Bà được tôn vinh là “Mẫu nghi thiên hạ” và là một trong  
bốn vị thánh “tứ bất tử” của người Việt. Các trung tâm thờ Mẫu Liễu Hạnh nổi tiếng là ở  
phủ Dầy, phủ Nấp (Nam Định); đền Sòng, phố Cát, phủ Mỗ (Thanh Hoá); phủ Tây Hồ (Hà  
Nội); đền Bắc Lệ, đền Đồng Đăng (Lạng Sơn).  
Lên đồng, hầu bóng là một hình thức diễn xướng văn hóa dân gian tổng hợp, trong đó  
có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghi lễ, sân khấu, âm nhạc, lời văn, trang phục, vũ đạo,…  
Bản chất của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là tôn thờ các vị nữ thần, mẫu thần,  
các nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, người có tài, có đức và thể hiện sự tri ân những vị  
thần “phù quốc tỷ dân” nhằm thể hiện ý thức về cội nguồn văn hoá dân tộc, giáo dục thế hệ  
mai hậu về lòng yêu nước. Thông qua thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu góp phần đề cao giá  
trị, vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình và xã hội. Với những giá trị di sản đa  
dạng như vậy, nó có thể coi như là “bảo tàng sống” lưu giữ lịch sử, di sản và bản sắc văn  
hoá của người Việt.  
Trong quá trình hình thành, phát triển đến nay, tín ngưỡng thờ Mẫu đã kế thừa và tiếp  
thu những giá trị đạo đức, nhân văn sâu sắc để trở thành một bộ phận văn hóa tinh thần của  
cộng đồng người Việt ở trong và ngoài nước. Với những giá trị về lịch sử, văn hóa, kinh tế,  
chính trị to lớn như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội phủ Dầy đã có nhiều công trình nghiên  
cứu, nhiều cuộc hội thảo khoa học trong nước, quốc tế. Tiêu biểu là các công trình nghiên  
cứu của GS.TS Ngô Đức Thịnh (1994, 2004, 2008) tiếp cận dưới góc độ văn hoá dân gian  
về tín ngưỡng thờ Mẫu và lên đồng; năm 2012, Nam Định tổ chức Hội thảo khoa học quốc  
tế Văn hóa thờ nữ thần ở Việt Nam và Châu Á- Bản sắc và giá trị; năm 2016, Nghiên cứu  
thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại (trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu); kỷ yếu hội  
thảo khoa học Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam, tổ chức tại Học viện Phật giáo  
Việt Nam (12-2018),… Các công trình nghiên cứu này từng bước làm sáng tỏ các giá trị của  
di sản văn hóa thờ Mẫu của người Việt. Bài viết này chúng tôi nghiên cứu về thực trạng thực  
hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở tỉnh Nam Định sau khi UNESCO vinh danh là Di sản văn hoá  
phi vật thể của nhân loại thì nó bị biến đổi như thế nào, sau đó tìm ra nguyên nhân và đưa ra  
giải pháp nhằm phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu một cách có hiệu quả trong đời sống xã hội  
đương đại.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu  
Thờ Mẫu có nghĩa là thờ Mẹ. Đây là loại hình tín ngưỡng dân gian, khởi nguyên là thờ  
nữ thần, được hình thành từ chế độ thị tộc mẫu hệ, tôn vinh những người phụ nữ có công  
phù quốc, giúp dân, chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hoá và đạo đức xã hội (Phạm Thị  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
16  
Mai, 2017: 246). Người Việt gắn với nền kinh tế nông nghiệp nên tôn sùng các vị thần tự  
nhiên, nhằm mục đích cầu mưa thuận, gió hoà, mùa màng bội thu, quốc thái dân an,… Hơn  
nữa, địa hình Nam Định có cả đồi núi sót, đồng bằng, sông, biển nên sự giao thoa văn hóa  
giữa các vùng, miền tương đối đậm nét hình thành nên tín ngưỡng thờ đa thần mang tính hỗn  
dung văn hóa trong thần điện thờ Mẫu. Đồng thời, tín ngưỡng này còn tích hợp nhiều hình  
thức văn hóa dân gian bản địa, như: âm nhạc, ngôn ngữ, tri thức, nghề thủ công, trang phục,  
kiến trúc, lễ vật, ẩm thực. Tiêu biểu của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu là gắn với nghi lễ  
hầu đồng, hát văn-một hình thức sân khấu tâm linh, mang tính thiêng của người Việt.  
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã xác định tôn giáo tín ngưỡng là nguồn  
lực phát triển kinh tế- xã hội. Vấn đề này được Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh: Tôn giáo  
tín ngưỡng ở nước ta không chỉ là một thành tố của văn hóa mà thực sự là một nguồn lực  
quan trọng, phát triển đất nước. Nguồn lực ấy thể hiện về kinh tế, an sinh xã hội, văn hóa và  
đạo đức (Trần Hữu Sơn 2019: 5). Theo bảng thống kê điểm thực hành tính ngưỡng thờ Mẫu  
Tam phủ của người Việt trên địa bàn tỉnh Nam Định có 604 di tích1. Phủ Dầy, phủ Nấp trở  
thành điểm du lịch tâm linh, hấp dẫn, mỗi năm đón hàng chục vạn lượt khách đến hành  
hương, đóng góp nguồn kinh phí đáng kể cho địa phương. Chỉ tính riêng hội chợ Viềng năm  
2019 ở xã Kim Thái đêm mồng 7 tháng Giêng các phủ Tiên Hương, Vân Cát, lăng Liễu  
Hanh, phủ Bóng; mỗi phủ đóng cho uỷ ban nhân dân huyện Vụ Bản là 155 triệu đồng; hội  
phủ Dầy ngày 3-3 âm lịch, mỗi phủ đóng 255 triệu đồng. Theo báo cáo của phòng văn hoá  
huyện Vụ Bản, hàng năm nguồn kinh phí thu về từ các dịch vụ di tích, lễ hội ở phủ Dầy lên  
đến vài chục tỷ đồng nộp vào ngân sách địa phương.  
2.2. Thực trạng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định hiện nay  
Một là, tín ngưỡng thờ Mẫu đang được lan tỏa rộng rãi trong đời sống văn hóa cộng  
đồng. Theo kết quả 100 phiếu điều tra nghiên cứu và phỏng vấn sâu các nhà quản lý văn hóa  
địa phương, thủ nhang, thầy đồng, người đi lễ về việc sau khi thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu  
Tam phủ của người Việt được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại  
thì hầu đồng lại nở rộ trên cả nước, trong đó có Nam Định. Nhiều điện thờ tư gia, đền, phủ  
thờ Mẫu được trùng tu, xây mới và đi liền với nó là nghi lễ hầu đồng, hát văn. Đây là loại  
hình tín ngưỡng dân gian chứa đựng nhiều yếu tố về vũ trụ luận, thể hiện ý thức nhân sinh,  
cội nguồn dân tộc và lòng yêu nước. Tất cả được thiêng hóa qua thời gian, nghi lễ và lan toả  
từ tiền nhân tới mai hậu. Các thầy đồng tin rằng, cuộc đời tốt đẹp là nhờ chỉ dẫn của các vị  
Thánh và họ được phúc, lộc vì làm đẹp lòng Thánh (Phúc Thanh, 2018). Bởi vậy, trong mọi  
hoàn cảnh, họ đều kiên trì công việc “kế tục truyền đăng” để bảo tồn, lưu giữ, phát triển tốt  
các giá trị di sản văn hóa thờ Mẫu tới cộng đồng: từ nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa đến  
công chức, viên chức, người lao động, buôn bán ở chợ, người về hưu, sinh viên, học sinh  
1 Tính đến tháng 8-2018, toàn tỉnh có 604 di tích thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu (không kể điện tư gia); trong  
đó Thành phố Nam Định: 74, huyện Giao Thuỷ: 17, Mỹ Lộc: 85, Nghĩa Hưng: 98, Trực Ninh: 69, Xuân  
Trường: 77, Ý Yên: 21, Hải Hậu: 41, Vụ Bản: 40, Nam Trực: 82 di tích . Theo số liệu phòng Di sản văn hoá-  
Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định, cung cấp ngày 3/3/2020.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - SỐ 43/2020  
17  
cũng tham gia thực hành nghi lễ với tấm lòng thành kính dâng lên các vị thánh Mẫu. Với  
những người có “căn duyên”, “căn số” thì ra trình đồng, mở phủ, hầu đồng tại điện thờ tư  
gia và các đền to, phủ lớn.  
Trong thực hành nghi lễ thờ Mẫu, nghi thức hầu đồng, hát văn là đặc sắc nhất. Những  
người đi theo tín ngưỡng này đều có quan niệm việc thờ, đi lễ, hầu Mẫu đều phải xuất phát  
từ cái tâm. Họ tin các Ngài luôn che chở, mang đến cho mọi người sức khỏe, tài lộc, công  
danh,… nên phải thể hiện lòng thành kính với Mẫu thông qua nghi lễ hầu đồng. Hầu đồng  
là hình thức múa thiêng, thể hiện sự ứng nhập thần linh qua thân xác thanh đồng. Mỗi động  
tác trong các giá hầu phản ánh chân thực tính lịch sử của từng vị thánh, kết hợp với âm nhạc,  
lời hát, nghệ thuật trang trí đồ thờ trên điện thần, lễ vật, không gian thiêng và sự cổ vũ của  
các con nhang đệ tử khiến cho buổi lễ thêm phần sinh động, linh thiêng, huyền diệu. Ngoài  
ra, nghệ thuật trang điểm tinh tế, sự khéo léo phối hợp màu sắc của trang phục hầu đồng với  
từng giá hầu của người hầu dâng cho thanh đồng cũng góp phần quan trọng vào sự thành  
công của buổi lễ. Sau mỗi vấn hầu, từ thanh đồng đến người tham dự đều cảm thấy thoải mái  
về tinh thần, thể chất khỏe mạnh, những khúc mắc trong cuộc sống được giải tỏa, hướng đến  
cuộc sống an vui, cát tường. Tất cả những hiện tượng này đều là những biểu hiện của đời  
sống văn hóa tinh thần, với các chức năng an ủi tâm lý, tôn giáo tín ngưỡng, kinh tế, cố kết  
cộng đồng, thừa nhận xã hội.  
Hai là, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ trong kho tàng văn hóa dân gian địa  
phương. Với những giá trị nêu trên Bảo tàng tỉnh Nam Định đã sưu tầm, trưng bày, giới thiệu  
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt: Bản sắc và giá trị phục vụ công chúng trong  
và ngoài tỉnh. Với loại hình chầu văn trong nghi lễ hầu đồng cũng là di sản văn hóa phi vật  
thể thuộc loại hình “nghệ thuật trình diễn dân gian” và “tập quán xã hội”. Theo kết quả kiểm  
kê di sản văn hóa phi vật thể bước đầu (năm 2012), nghi lễ hát chầu văn phân bố khắp 10  
huyện trong tỉnh, với tổng số 287 di tích thường xuyên có cung văn hát phục vụ hầu đồng;  
trong đó ở phủ Dầy, phủ Nấp, đền Bảo Lộc, đền Cổ Trạch cung văn hát thường nhật. Toàn  
tỉnh có 12 bản hội, 06 câu lạc bộ với tổng số 245 cung văn phục vụ cho 246 thầy đồng trong  
tỉnh1. Giai đoạn cuối thế kỷ XIX là thời kỳ thịnh vượng nhất của hát chầu văn, bởi có sự  
tham gia của các quan lại địa phương và triều đình phong kiến. Nhịp điệu và tiết tấu có chậm,  
vừa, nhanh; các điệu bồng mạc, sa mạc, cò lả và có âm hưởng của Ca trù trong các điệu bỉ,  
phú nói, phú bình, phú chênh, phú tỳ bà là những nét đặc sắc của hát văn Nam Định.  
Các di tích thờ Mẫu ở Nam Định đều có lưu giữ nhiều các bức hoành phi, câu đối, sắc  
phong, thần phả, thần tích gắn với Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Điều này đã giúp cho thực hành  
tín ngưỡng thờ Mẫu ngày càng phát triển và có thể vượt qua mọi thời đại và đồng thời dễ  
dàng tồn tại trong một không gian xã hội mới. Các bản thần tích về Thánh Mẫu Liễu Hạnh  
là một tác phẩm văn học, vừa mang tính dân gian vừa mang tính bác học và chịu ảnh hưởng  
của bản Vân Cát thần nữ truyện của Đoàn Thị Điểm. Ngoài ra, ở phủ Tiên Hương còn lưu  
1 Số liệu Bảo tàng tỉnh Nam Định cung cấp, ngày 3/3/2020.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
18  
giữ 14 đạo sắc phong từ thời Vĩnh Khánh 2 (1730) đến Khải Định 9 (1924); phủ Vân Cát có  
17 sắc phong, từ thời Cảnh Hưng 14 (1755) đến Khải Định 2 (1919), gắn với tín ngưỡng thờ  
Mẫu và Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Tấm bia đá ở Phủ Nấp ghi Quảng Cung linh từ phả chí cho  
biết, Thánh Mẫu Liễu Hạnh có “tam sinh tam hóa”; trong đó Nam Định có hai nơi Bà giáng  
sinh là phủ Nấp, phủ Dầy.  
Ba là, phản ánh sự giao thoa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa. Theo nội  
dung thần tích cùng với hệ thống tượng thờ, thực hành nghi lễ, sự giao thoa văn hóa trong  
tín ngưỡng thờ Mẫu chủ yếu là đạo Phật, Đạo giáo, Nho giáo. Bản thần tích của phủ Vân Cát  
(ký hiệu TT-TS, FQ4o18/VII.3.3, Viện Thông tin khoa học xã hội) nói về mẹ của Liễu Hạnh  
làm nghề thuốc và thường làm việc tâm đức cứu người, phát tâm kim ngân sửa sang đình,  
chùa, đúc chuông, tạc tượng và sự tích giáng sinh lần hai của Mẫu Liễu Hạnh vào gia đình  
ông Lê Thái Công và bà Trần Thị Phúc ở xã Vân Cát huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.  
Tương truyền, sau trận “Sòng Sơn đại chiến”, Mẫu Liễu Hạnh được Đức Phật ra tay cứu  
giúp nên đã quy y theo Phật. Vì vậy, trong lễ hội phủ Dầy thường tổ chức nghi lễ rước Mẫu  
lên chùa Gôi thỉnh kinh với sự tham gia đông đảo của cộng đồng, nhà sư, Phật tử, con nhang  
đệ tử. Trong điện thờ Mẫu tư gia và đền, phủ đều có phối thờ Phật Bà Quan Âm Bồ Tát, Phật  
Thích Ca (đền Bắc Lệ, Lạng Sơn). Ngoài ra, sự giao thoa giữa Đạo giáo, Nho giáo với tín  
ngưỡng thờ Mẫu rất sâu đậm đó là hình tượng vua cha Ngọc Hoàng và các sách cúng, sớ  
trạng, điệp, văn đều dùng chữ Hán. Tại các đền, phủ thờ Mẫu đều có thờ tượng vua cha Ngọc  
Hoàng với quan niệm là vị thần tối cao trong Đạo giáo và là thân phụ của Mẫu Liễu Hạnh ở  
chốn thiên đình. Khi thực hành nghi lễ hầu đồng, các pháp sư chạy hoa đàn, bắt quyết, phù  
chú chứng đàn, khai quang đàn lễ. Trong sớ, điệp, trạng, biểu và sắc cấp cho các tân đồng  
đều có chữ sắc lệnh của Ngọc Hoàng.  
Bốn là, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu hội tụ các yếu tố văn hóa nghệ thuật dân gian.  
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một hình thức tổng hợp các loại hình nghệ thuật dân gian: kiến trúc  
đền phủ, nghệ thuật tạo hình tượng thờ, hoành phi câu đối bên trong di tích, nghệ thuật sắp  
đặt lễ vật,... Đặc biệt, thực hành nghi lễ hầu đồng thể hiện nghệ thuật dưới góc nhìn tâm linh  
thông qua trang phục, trang sức, vũ đạo (múa hương lửa, mồi, cờ, quạt, song kiếm, long đao)  
và nội dung ca từ hát văn. Mỗi động tác vũ đạo, dâng hương tế thánh trong các giá hầu phản  
ánh chân thực lịch sử, nguồn gốc, công trạng, đức độ của từng vị thánh, kết hợp với lời ca  
tán xưng thánh của hát văn. Điều này cũng đồng quan điểm với ông Phạm Sanh Châu1 “Việc  
quan trọng nhất của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tổng hòa của rất nhiều vẻ đẹp, nó  
đẹp ở cái sự tri ân của chúng ta đối với thế hệ đi trước, có thể là một vị anh hùng dân tộc  
hoặc có thể là một người ở một dân tộc nào đó đã hy sinh thân mình vì sự nghiệp của cộng  
đồng. Và tín ngưỡng thờ Mẫu nó đẹp ở những bản nhạc và tôi ví nó như là một xiphoni. Đây  
là một giàn giao hưởng của Việt Nam khi mà nghe vào chúng ta thấy nó réo rắt”.  
1
Đại sứ, đặc phái viên của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam về các vấn đề UNESCO, trả lời phỏng vấn trong  
chương trình: Lo ngại biến tướng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của VTC1.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - SỐ 43/2020  
19  
Năm là, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống dân  
tộc. Đây là tín ngưỡng chứa đựng nhiều nhân tố về một hệ thống vũ trụ luận, thể hiện ý thức  
nhân sinh, cội nguồn dân tộc, lòng yêu nước; tất cả được thiêng hóa qua thực hành nghi lễ.  
Bà là nữ thần tối cao có quyền năng sáng tạo và được hóa thân thành Mẫu Địa và Mẫu  
Thượng thiên để cai quản hai phủ này. Mẫu là người Mẹ luôn gần gũi chở che, giúp đỡ mọi  
người vượt qua khó khăn, hoạn nạn và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Bởi vậy, người  
Việt ở khắp các tỉnh thành trong và ngoài nước1 lập phủ, đền, điện tư gia thờ Mẫu. Trong  
thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu, tâm là cái giá trị cốt lõi. Mẫu dạy con người sống theo hướng  
thiện biết ơn những người có công với dân với nước, phụng thờ tổ tiên, làm việc có ích cho  
bản thân, gia đình và xã hội.  
2.3. Một số hạn chế thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định hiện nay  
Cũng như bất cứ loại hình tôn giáo tín ngưỡng nào, ngoài những giá trị đạo đức, văn  
hóa, giáo dục hướng con người đến chân, thiện, mỹ, thì trong quá trình tồn tại và phát triển  
của nó sẽ còn những hạn chế cần khắc phục. Quá trình thực hành nghi lễ của tín ngưỡng này  
chủ yếu được lưu truyền trong dân gian thông qua hình thức truyền khẩu từ người này sang  
người khác. Đi đâu cũng bắt gặp các thanh đồng nói với nhau hôm nay tôi hầu thánh theo lối  
cổ, hát văn theo lối cổ, nhưng đến nay không có một văn bản nào đưa ra tiêu chí về mốc thời  
gian và quy chuẩn về cách thức hầu đồng để căn cứ xác định hầu theo lối cổ2. Nhiều đồng  
thầy muốn tạo “quyền lực” danh tiếng của mình với đệ tử và các đồng tân (mới ra trình đồng  
mở phủ) chưa hiểu hết được các bước quy trình, thủ tục, nghi lễ mà câu thành ngữ “Làm lính  
có công, làm đồng có phép” của các bậc tiền nhân thức tỉnh (Vũ Hồng Thuật, 2016: 232.  
Những đồng tân mới ra đồng đã làm thầy, chưa am hiểu về quy tắc thực hành nghi lễ nên  
làm giảm đi giá trị văn hóa tinh thần ban đầu của tín ngưỡng này. Nhiều hoạt động thực hành  
tín ngưỡng thờ Mẫu mang tính chất tự phát, thương mại hóa. Theo quy định của các đồng  
thầy, mỗi đàn lễ chỉ được mở phủ cho một đệ tử, năm 2018 có đồng thầy ở tỉnh A đã “ghép  
đàn”sang khăn mở phủ cho 16 đệ tử trở thành thầy đồng; hàng loạt các clip thầy đồng ăn  
mặc phản cảm hay có tư thế hầu thánh không đúng đắn được chia sẻ nhiều trên kênh  
youtube.com gây phẫn nộ với những người đồng thầy chân chính, có tâm.  
Sự nhiễu loạn, biến tướng trong nghi lễ hầu đồng cũng đã xảy ra với tình trạng dâng đốt  
(hóa) đồ mã quá nhiều. Một cựu thanh đồng chia sẻ: Có những canh đàn tôi chứng kiến đốt  
gần 200 triệu đồng tiền vàng mã. Đấy là điều rất lãng phí. Bây giờ chúng tôi thấy có nhiều  
loại vàng mã nó quá kỳ lạ luôn. Và chúng tôi là người lên đồng đã hơn 50 năm, nhưng có  
nhiều đệ tử hỏi tôi, loại vàng mã này dâng cúng vào tòa nào, ban nào, chúng tôi cũng không  
1 Làng Vu Đầu thị trấn Giang Bình, thành phố Đông Hưng tỉnh Quảng Tây có đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh  
(gọi là đền Đức Thánh Bà), Thủy tinh công chúa (đền ngoài khu rừng cấm), Trần Triều (gọi là đền Ông)- tư  
liệu điều tra điền dã của Vũ Hồng Thuật, 2012-2014; ở Mỹ (xem Nguyễn Thị Hiền, 2016).  
2 Phỏng vấn ông Vũ Hồng Phong, cán bộ quản lý di sản, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định, ngày  
3/3/2020.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
20  
biết1. Nhiều thủ nhang, đồng thầy thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu là một nghề mưu sinh. Họ  
làm hết tất cả các dịch vụ, từ cúng, mua đồ lễ, làm mã,... đến việc cho đệ tử thuê chỗ hầu,  
cung văn thuê chỗ ngồi hát, dịch vụ bán hàng, trông giữ ô tô, xe máy,... Nhiều cơ cánh bản  
hội từ địa phương khác đến các đền, phủ Nam Định hầu đồng mang theo cung văn của mình,  
theo kiểu “cơ cánh nào cung văn ấy” nhưng khi đến nơi, trước lúc hầu thánh, những cung  
văn đã mua chỗ hát của nhà đền trong cả năm thì họ không cho cung văn ở địa phương khác  
đến hát. Nếu cung văn ở bên ngoài muốn hát thì phải trả tiền cho cung văn đã nội tự từ 2-5  
triệu đồng. Tình trạng này xảy ra tương đối phổ biến và dẫn đến cãi nhau, khiến cho không  
gian thiêng bị vẩn đục.  
Nam Định là trung tâm thực hành và lan tỏa tín ngưỡng thờ Mẫu, hầu đồng nên có nhiều  
các đồng thầy ở các tỉnh thành về hành lễ đã dẫn đến tình trạng pha tạp văn hóa trong nghi  
thức hầu đồng ngày càng phổ biến. Theo các thủ nhang ở phủ Dầy, phủ Nấp chia sẻ, có nhiều  
vị thánh từ trước tới nay chưa thấy ai hầu nhưng nay đã có một số thanh đồng ở các tỉnh đến  
phủ hầu cả Phật Bà Quan Âm, vua cha Ngọc Hoàng, bà cô tổ, cậu bé mãnh tổ của dòng họ  
thầy đồng. Nhiều người còn hầu thánh mang tính khoe của, đeo vàng lủng lẳng trên người;  
thậm chí còn cười nói đùa cợt với người hầu dâng, con nhang đệ tử và mượn bóng thánh  
nhập vào thầy đồng rồi phán truyền, dọa dẫm không phải là không có. Tình trạng “ghen đồng  
ghen bóng” cũng đã xảy ra trong di tích. Đặc biệt là sau khi UNESCO ghi danh tín ngưỡng  
này, nhiều cá nhân, tổ chức lấy danh nghĩa Hiệp hội hay tổ chức phi chính phủ đã viết thư  
mời các thầy đồng trên cả nước đóng tiền theo cách thức “hỗ trợ” kinh phí cho liên hoan hầu  
đồng. Nhiều thầy đồng muốn có danh tiếng của mình với con nhang đệ tự, cộng đồng đã  
đóng 5-20 triệu đồng cho ban tổ chức để tham gia hầu đồng và nhận giấy chứng nhận của  
ban tổ chức. Ông Vũ Hồng Phong chia sẻ: Việc các hiệp hội đứng ra tổ chức diễn xướng hầu  
đồng rồi cấp giấy chứng nhận vinh danh cho các thầy đồng là sai về mặt quản lý văn hóa  
Nhà nước. Giấy chứng nhận tặng cho các đồng thầy cũng đồng nghĩa tặng cho “ông Thánh”.  
Người trần sao lại tặng hoa, tặng giấy chứng nhận, tặng bằng vinh danh hầu đồng cho “ông  
Thánh”. Những hạn chế này là nguyên nhân của sự phát triển “bùng nổ” của thực hành tín  
ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt trên cả nước phần nào cho thấy sự buông lỏng của  
cơ quan quản lý Nhà nước về loại hình tín ngưỡng này và nó đã nảy sinh nhiều vấn đề tiêu  
cực, nhất là nghi lễ hầu đồng.  
2.4. Nguyên nhân thực trạng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định hiện nay  
Thứ nhất, cộng đồng không tuân thủ các văn bản hướng dẫn của nhà nước về quản lý di  
sản văn hóa. Theo lời chia sẻ của ông Vũ Hồng Phong, hiện nay các văn bản của Nhà nước  
ban hành rất đầy đủ nhưng có một số địa phương, thủ nhang dường như không tuân thủ các  
quy định của các văn bản Nhà nước đề ra, như việc hạn chế đốt vàng mã, vung tiền trong  
hầu đồng, phát lộc. Việc quy định thời gian hầu đồng phải kết thúc trước 23 giờ đêm nhưng  
1 Phỏng vấn Thanh đồng Lưu Ngọc Đức, thủ nhang đền Tiên Hương vọng từ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, ngày  
15/4/2019.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - SỐ 43/2020  
21  
nhiều thủ nhang vẫn cho các thầy đồng hầu thánh cả ngày lẫn đêm.  
Theo sự phân cấp quản lý di sản văn hóa, các di tích cấp quốc gia do Ủy ban nhân dân  
huyện quản lý có thể thành lập Ban quản lý di tích để giám sát, theo dõi thực hành nghi lễ.  
Năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ra Quyết định thành lập Ban quản lý di tích phủ  
Dầy, nhân sự do Ủy ban huyện tuyển chọn đã gặp phải sự phản đối của cộng đồng. Bởi các  
di tích ở phủ Dầy, phủ Nấp đều do cá nhân tự bỏ kinh phí và kêu gọi xã hội hóa trong việc  
trùng tu, tu sửa và thủ nhang thay mặt cộng đồng quản lý thực hành nghi lễ. Mục đích của  
Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản thành lập Ban quản lý di tích nhằm thay vị trí của thủ nhang  
trong việc giám sát, điều hành thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tại các đền, phủ đã dẫn đến bất  
đồng quan điểm giữa Nhà nước với thủ nhang, cộng đồng nên đã xảy ra sự xung đột vào  
năm 2012 và cuối cùng bản Quyết định thành lập Ban quản lý di tích phủ Dầy phải hủy bỏ.  
Hiện nay, hầu hết các di tích thờ Mẫu đều do cá nhân và cộng đồng quản lý. Nhà nước chỉ  
tham gia quản lý công tác tổ chức lễ hội. Ở huyện Vụ Bản thành lập Ban tổ chức lễ hội chợ  
Viềng và lễ hội phủ Dầy theo mô hình quản lý Nhà nước với sự tham gia của cộng đồng. Do  
thiếu các cơ sở pháp lý cụ thể trong công tác quản lý tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định dẫn  
đến việc bị động, lúng túng trong việc xử lý các vi phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.  
Thứ hai, thiếu đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn  
giáo, tín ngưỡng, lễ hội. Theo kết quả nghiên cứu tại phòng văn hóa thể thao huyện Vụ Bản  
và huyện Ý Yên cho thấy đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa còn mỏng và thiếu cán bộ chuyên  
trách, như trường hợp trưởng phòng văn hóa thể thao huyện Vụ Bản học chuyên ngành Sư  
phạm Thể thao; trưởng phòng văn hóa thể thao huyện Ý Yên vốn là cán bộ bảo hiểm chuyển  
sang đảm trách chuyên môn quản lý văn hóa,... Trình độ cán bộ chưa đáp ứng được nhu cầu  
của xã hội, thiếu kinh nghiệm thực tế và thiếu am hiểu về loại hình tín ngưỡng này. Đặc biệt  
là chức năng, nhiệm vụ của cán bộ phòng văn hóa thể thao đảm trách với 31 đầu việc, trong  
khi đó số lượng cán bộ biên chế chỉ từ 6- 10 cán bộ. Họ chủ yếu quản lý các di tích đã được  
xếp hạng di tích lịch sử- văn hóa, dịp tổ chức lễ hội nên các ngày thường họ không có thời  
gian đi kiểm tra các cơ sở thờ Mẫu tư nhân.  
Ba là, vẫn còn nhiều chủ thể văn hóa nhận diện sai về di sản văn hóa thờ Mẫu. Về cơ  
bản, các thầy đồng, thủ nhang, đệ tử đều trân trọng những giá trị di sản thực hành tín ngưỡng  
thờ Mẫu với cái tâm trong sáng, ít trục lợi cá nhân. Bên cạnh đó vẫn còn nhiều đồng thầy,  
đệ tử thiếu sự am hiểu về tín ngưỡng này trên phương diện quản lý văn hoá Nhà nước. Điều  
này dẫn đến ý thức bảo tồn và phát triển di sản văn hóa thờ Mẫu bị hạn chế, thậm chí bị sai  
lệch về bản chất so với ban đầu. Nhiều người quan niệm, sau khi ra trình đồng mở phủ sẽ  
được ăn lộc thánh, cuộc sống của họ nhàn nhã và giàu có. Nhiều người dân đi lễ ít quan tâm  
tìm hiểu bảng tóm tắt lịch sử văn hóa hay nội quy, quy chế của cơ sở thờ tự. Họ thường chỉ  
quan tâm đến việc khấn cầu, mặc cả với Phật Thánh sao cho ban phát được nhiều phúc, lộc,  
danh, tài cho bản thân và gia đình.  
Bốn là, nội sinh từ đặc điểm thực hành tín ngưỡng mang tính chất dân gian. Bản thân  
của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu mang tính chất dân gian nên mọi tri thức liên quan đến  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
22  
tín ngưỡng này chủ yếu là truyền khẩu, không có hệ thống kinh sách, giáo chủ, giáo hội như  
tôn giáo. Do đó việc chuyển hóa các hoạt động thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu dưới góc độ  
quản lý Nhà nước là điều không dễ. Đặc tính của các thầy đồng là chỉ thích mọi người khen,  
không thích những người ngoại đạo góp ý. Họ thường chỉ nghe theo những sự mách bảo của  
thần thách qua dạy âm (giấc mơ) và đồng thầy của mình hướng dẫn. Đây là một thách thức  
lớn trong công tác quản lý Nhà nước về thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại.  
2.5. Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị và hạn chế các tiêu cực trong thực hành tín  
ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ ở Nam Định hiện nay  
Cần quán triệt quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về thực hành  
tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ hiện nay. Trong bối cảnh xã hội đương đại, hướng đến tâm  
linh không chỉ là một nhu cầu của cá nhân, cộng đồng mà còn giúp con người sống lương  
thiện hơn, tốt đẹp hơn. Tuy thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam được Nhà nước thừa nhận  
là loại hình tín ngưỡng nội sinh của dân tộc, người dân được tự do thể hiện đức tin của mình  
nhưng đều phải có sự quản lý của Nhà nước để tránh xảy ra tình trạng tái diễn hình thức hầu  
đồng với những vũ đạo “lệch chuẩn”, trang phục thái quá, đưa các lời hát đương đại vào hát  
văn, hầu các giá hầu mới, như: Phật Bà Quan Âm, Ngọc Hoàng,… vào nghi lễ hầu đồng.  
Để hạn chế những tiêu cực nêu trên, cần phải tăng cường công tác quản lý Nhà nước,  
hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh về tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có tín ngưỡng thờ  
Mẫu. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật liên quan đến quản  
lý văn hóa tín ngưỡng với cộng đồng thông qua các hệ thống tổ chức trính trị. Mở lớp tập  
huấn cho cán bộ chuyên trách quản lý văn hóa xã, các đồng thầy, thủ nhang về nhận diện,  
quản lý, bảo tồn, phát triển thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong bối cảnh hiện nay một cách  
có hiệu quả. Mục đích tổ chức tập huấn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ  
chuyên trách quản lý Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng để họ hiểu rõ được đối tượng quản  
lý thì khi đó triển khai công tác nghiệp vụ mới phù hợp lòng dân, thầy đồng, thủ nhang. Đồng  
thời, chính quyền địa phương, thủ nhang cần tuyên truyền, phổ biến tới các thanh đồng hạn  
chế đốt vàng mã, vung tiền khi hầu thánh và không tổ chức hoạt động liên hoan diễn xướng  
hầu đồng ở bên ngoài di tích thờ Mẫu. Ngoài ra, Nhà nước cần xây dựng một cơ chế phối  
hợp giữa các tổ chức xã hội, chủ thể văn hóa với các cơ quan quản lý các cấp về tôn giáo, tín  
ngưỡng thờ Mẫu. Chỉ khi nào cộng đồng tự nguyện cùng phối hợp với cơ quan quản lý Nhà  
nước trong việc giám sát, theo dõi, điều chỉnh thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu thì việc đấu  
tranh với những hành vi trục lợi, buôn thần, bán thánh của một số thầy đồng mới được hạn  
chế và dần dần sẽ loại bỏ khỏi đời sống xã hội.  
3. KẾT LUẬN  
Thực trạng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở nước ta nói chung và ở  
Nam Định nói riêng phần lớn là phát huy được các giá trị di sản văn hóa của nó vào trong  
đời sống đương đại được xã hội thừa nhận. Những hạn chế nhỏ chủ yếu là do một số đồng  
tân mới ra làm thầy chưa hiểu hết được “luật thánh”, “luật đồng” và họ cho rằng, thực hành  
tín ngưỡng cũng là một nghề mưu sinh vừa duy trì cuộc sống vừa phụng sự Phật Thánh nên  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - SỐ 43/2020  
23  
có phần lạm dụng về kinh tế dẫn đến hiện tượng trục lợi, buôn thần bán thánh làm vấn đục  
đến đạo Mẫu.  
Việc bài trừ cái xấu và hướng đến cái tốt đẹp cũng là nguyện vọng của những người tâm  
huyết với tín ngưỡng này. Tâm huyết ấy vẫn được toả sáng trong thực hành nghi lễ hầu đồng  
tại các di tích thờ Mẫu. Tuy nhiên, những nổ lực này phải đền từ Nhà nước và cộng đồng.  
Dù theo hình thức nào thì yếu tố cộng đồng, dựa vào cộng đồng, mang lại lợi ích cho cộng  
đồng cũng phải đặt lên hàng đầu trong công tác quản lý di sản văn hóa thực hành tín ngưỡng  
thờ Mẫu. Một khi vẫn còn những cá nhân lợi dụng di sản để trục lợi thì tín ngưỡng thờ Mẫu  
vẫn bị đặt giữa hai làn danh giới là di sản văn hóa và “mê tín”. Về đề này, tiến sĩ Lê Thị  
Minh Lý cũng đã cảnh báo tình trạng loạn hầu đồng, dị đồng sau vinh danh. Quan trọng  
trước hết là phải làm rõ đừng có lẫn lộn giữa cái đang thực hành tín ngưỡng với lại cái trình  
diễn. Mọi cái trình diễn phải giới thiệu hết sức là rõ ràng. Đặc biệt là đưa các ông đồng, bà  
đồng lên sân khấu phải hết sức thận trọng, bởi vì họ chính là những người đang thực hành di  
sản, làm cho họ trở thành một diễn viên, điều đó có nghĩa là đang làm sai lệch di sản.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Thị Hiền (2016), Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ từ góc độ xuyên quốc gia  
(Nghiên cứu trường hợp ở Thung lũng Silicon, California, Hoa Kỳ), trong Nghiên cứu thực hành  
tín ngưỡng trong xã hội đương đại (trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu), Kỷ yếu hội thảo khoa học  
quốc tế, Nxb Thế giới, tr. 94-119.  
2. Bùi Quang Hùng (2016), Vai trò và giá trị của các bản thần tích về Mẫu Liễu Hạnh trong tín  
ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ, trong Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại (trường  
hợp tín ngưỡng thờ Mẫu), Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế, Nxb Thế giới, tr. 374-383.  
3. Phạm Thị Mai (2017), Tín ngưỡng ở Hà Nội hiện nay- Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, tạp  
chí Giáo dục (số đặc biệt), tháng 5/2017, tr. 246-249.  
4. Trần Hữu Sơn (2019), Di sản thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong cuộc sống đương đại, báo cáo  
hội thảo khoa học,“Phát huy di sản thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong cuộc sống đương đại”,  
Viện nghiên cứu văn hoá dân gian ứng dụng tổ chức (lần 1-2019).  
5. Hồ Đức Thọ (2016), Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ của người Việt, trong: Nghiên cứu thực hành  
tín ngưỡng trong xã hội đương đại (trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu), Kỷ yếu hội thảo khoa hoch  
quốc tế, Nxb. Thế giới.  
6. Phúc Thanh (2018), “Đạo Phật và đạo Mẫu dưới góc nhìn của một cư sĩ Phật gia”, Hội thảo khoa  
học Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam, Học Viện Phật giáo Việt Nam, tháng 12/2018.  
7. Ngô Đức Thịnh (2004), Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người Việt và châu Á,  
Nxb. Khoa học xã hội.  
8. Vũ Hồng Thuật- Vũ Thị Diệu (2018), “Phát huy giá trị di sản tín ngưỡng thờ Mẫu trong đời sống  
văn hoá đương đại”, trong: Phát huy di sản thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong cuộc sống đương  
đại, Báo cáo hội thảo khoa học, Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian ứng dụng, lần 1 năm 2019,  
tr.133-141.  
9. Vũ Hồng Thuật (2016), “Làm lính có công làm đồng có phép”: Câu chuyện tạo lập quyền lực về  
phép thuật trong tín ngưỡng thờ Mẫu của các đồng thầy ở Việt Nam”, trong Nghiên cứu thực hành  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
24  
tín ngưỡng trong xã hội đương đại (trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu), Kỷ yếu hội thảo khoa học  
quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr. 232-248.  
CURRENT SITUATION OF MOTHER GODDESSES WORSHIP  
IN NAM DINH PROVINCE  
Abstract: This paper is based on the author’s 2019-2020 anthropological work about some  
problems related to the actual situation of practicing Mother Goddesses of Three Realms  
worship in Nam Dinh province in the contemporary social context. The Mother Goddess  
Worship has become more prevalent, especially after being recognised as an Intangible  
Cultural Heritage of Humanity by UNESCO. Many private shrines have been established;  
temples have been renovated, and other rituals such as “hau dong” (Vietnamese shaman  
dance) have become popular,… A part from these positive factors, there are still many  
issues such as miscellaneous culture, profit-seeking business, and modernisation in “hau  
dong” rituals. Therefore, Nam Dinh province is looking for a solution to adapt the practice  
of Mother Goddesses of Three Realms worship in modern context without losing the core  
values of this traditional belief.  
Keywords: Vietnamese, Nam Dinh province, practicing Mother Goddesses worship.  
pdf 11 trang Thùy Anh 19760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_tin_nguong_tho_mau_o_nam_dinh_hien_nay.pdf