Dự báo nhu cầu thị trường lao động qua đào tạo việc làm sinh viên sau khi tốt nghiệp – liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
DỰ BÁO NHU CẦU THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG QUA ĐÀO TẠO  
VIỆC LÀM SINH VIÊN SAU KHI TỐT NGHIỆP – LIÊN KẾT GIỮA  
NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TẠI TP. HỒ CHÍ MINH  
Trần Anh Tuấn  
Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực  
và Thông tin thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
Giai đoạn 2013 - 2018, kinh tế Việt Nam và các tỉnh, thành phố duy trì tốc độ tăng  
trưởng kinh tế liên tục. Trong quá trình hội nhập kinh tế và tiến trình của cách mạng công  
nghiệp 4.0, thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh đang phát triển với yêu cầu tăng  
cường nhanh về số lượng lẫn chất lượng nguồn nhân lực, cơ cấu nguồn nhân lực đã và đang  
chuyển dịch phù hợp định hướng quá trình đô thị hóa. Cách mạng công nghiệp 4.0 có rất  
nhiều thách thức nhưng cũng không ít cơ hội để nguồn nhân lực Việt Nam nói chung và  
mỗi người lao động nói riêng tích cực nắm bắt cơ hội và phấn đấu. Vấn đề bắt buộc  
phải thay đổi là xây dựng kỹ năng mềm cho sinh viên như kỹ năng ứng dụng công nghệ  
thông tin, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, tinh thần, thái độ làm việc nghiêm  
túc, tư duy sáng tạo... đang là yêu cầu cấp thiết. Bằng phương pháp nghiên cứu, bài tham  
luận tập trung phân tích về "Dự báo nhu cầu thị trường lao động qua đào tạo. Việc làm  
sinh viên sau khi tốt nghiệp – Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp tại thành phố Hồ  
Chí Minh".  
I. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
1. Nguồn cung nhân lực  
1.1. Dân số trong độ tuổi lao động  
Theo số liệu Cục Thống kê Thành phố năm 2011, tổng số dân của TP. Hồ Chí Minh  
là 7.590.138 người, so với tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999, dân số tăng thêm 2,5 triệu  
người, tăng 51,8% và chiếm 26,25% số dân tăng thêm của cả nước trong vòng 10 năm.  
Năm 2017, dân số của thành phố là 8.643.044 người, trong đó nam chiếm tỉ trọng 52,85%  
và nữ chiếm tỉ trọng 47,15%.  
Dân số trong độ tuổi lao động năm 2017 có 5.451.378 người chiếm 63,07% so tổng  
dân số; trong đó lao động đang làm việc có 4.412.933 người chiếm 80,95% so với dân số  
trong độ tuổi lao động. Trong tổng số lao động đang làm việc có trình độ Đại học trở lên  
chiếm tỷ trọng 22,43%, Cao đẳng chiếm 4,27%, Trung cấp chiếm 3,62%, Sơ cấp nghề  
chiếm 6,37%, Đào tạo nghề dưới 03 tháng chiếm 17,24%, lao động có nghề không bằng  
9
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
chiếm 23,57%.  
1.2. Lao động qua đào tạo  
Năm 2017, tỷ lệ lao động qua đào tạo tại thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm có bằng  
và không bằng hoặc chỉ có chứng chỉ nghề ngắn hạn) chiếm tỷ trọng 77,50% so tổng số  
lực lượng lao động thành phố. Năm 2018, dự kiến đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo 80,00%.  
Tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật (có bằng cấp) tăng hằng  
năm, từ năm 2015 là 51,42% đến năm 2016 là 52,34% và năm 2017 là 53,93%. Cho thấy,  
trình độ chuyên môn của lực lượng lao động tại thành phố Hồ Chí Minh ngày càng tăng.  
2. Nguồn cầu nhân lực  
2.1. Lao động đang làm việc phân theo ngành kinh tế  
Cơ cấu lao động thành phố được dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại  
hóa, tăng dần khu vực Công nghiệp – Xây dựng và Dịch vụ, cho thấy thị trường lao động  
theo hướng phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của thành phố.  
Theo số liệu của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao  
động TP.HCM, xu hướng phát triển khu vực kinh tế Dịch vụ có tốc độ tăng lao động cao  
nhất, chiếm tỷ trọng 64,40% năm 2013 tăng lên 64,63% năm 2017 và nhu cầu lao động  
trong khu vực này cũng tăng lên hằng năm. Năm 2017, tỷ lệ lực lượng lao động làm việc  
trong 03 khu vực cụ thể như sau: Nông – Lâm – Thủy sản (2,36%), Công nghiệp – Xây  
dựng (33,01%), Dịch vụ (64,63%).  
2.2. Lao động đang làm việc phân theo loại hình doanh nghiệp  
Tổng số lao động đang làm việc trong doanh nghiệp giai đoạn 2013 – 2017 có sự gia  
tăng. Lao động đang làm việc trong khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng thấp  
nhất cụ thể: năm 2013 (8,64%), năm 2014 (7,96%), năm 2015 (7,30%), năm 2016 (7,35%)  
và năm 2017 (7,12%), nguyên nhân do tái cơ cấu doanh nghiệp và cổ phần hóa trong quá  
trình hội nhập kinh tế, chính sách tinh giản biên chế công chức nhà nước giai đoạn  
2016 - 2020.  
Doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là hai loại  
hình kinh tế năng động và năng lực cạnh tranh mạnh. Lao động đang làm việc trong hai  
loại hình này chiếm tỷ trọng cao.  
Doanh nghiệp ngoài nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ là khu vực tăng  
trưởng cao nhất, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và  
cũng là khu vực kinh tế có nhu cầu nhân lực nhiều nhất. Cụ thể: năm 2012 (68,49%), năm  
2013 (67,33%), năm 2014 (67,86%), năm 2015 (67,07%) và năm 2016 (66,50%).  
Việc hội nhập kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015 thúc đẩy nhiều doanh nghiệp nước  
ngoài đầu tư vào Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, các doanh nghiệp có vốn  
10  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
đầu tư nước ngoài có tốc độ ngày càng tăng về số lao động đang làm việc, có vai trò quan  
trọng trong việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tạo nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ  
tầng phù hợp với việc hội nhập. Cụ thể: tỷ trọng lao động khu vực này năm 2013 chiếm  
24,03%, năm 2014 chiếm 23,97%, năm 2015 chiếm 22,98%, năm 2016 chiếm 23,77% và  
lên 23,99% năm 2017.  
2.3. Nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp theo khảo sát của Trung tâm từ năm  
2013 – 2017  
Tình hình kinh tế - xã hội thành phố tăng trưởng ổn định, tác động trực tiếp đến thị  
trường lao động. Các ngành công nghiệp trọng yếu ngày càng chiếm tỷ trọng cao và có tốc  
độ tăng bình quân cao hơn tốc độ tăng chung cũng cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu trong  
nội bộ các ngành kinh tế tốt hơn, theo hướng chuyển dần sang các ngành có hàm lượng  
công nghệ và chất xám cao. Do vậy, thị trường lao động thành phố tiếp tục phát triển theo  
hướng tăng yêu cầu chất lượng, trình độ và hạn chế về số lượng.  
Thành phố tiếp tục có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận về  
vốn – công nghệ, các hoạt động khởi nghiệp được quan tâm và kêu gọi đầu tư, khuyến  
khích khả năng sáng tạo và tự tạo việc làm đối với người trẻ. Trong thời gian qua, các hoạt  
động khởi nghiệp trên địa bàn thành phố được chú trọng, cùng với sự phát triển năng động  
của kinh tế thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung, trong đó tập trung chủ  
yếu một số ngành, lĩnh vực kinh doanh nhiều tiềm năng như: buôn bán, bán lẻ, công nghiệp  
chế biến, chế tạo; xây dựng, bất động sản; khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế,  
quảng cáo; vận tải kho bãi; dịch vụ lưu trú và ăn uống.  
Giai đoạn 2013 – 2017, nhu cầu nhân lực trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cần  
280.000 chỗ làm việc trống (140.000 chỗ làm việc mới) bình quân mỗi năm.  
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường  
lao động thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: Nhu cầu nhân lực trình độ có xu hướng tăng  
qua các năm, cụ thể: Trình độ Trung cấp và Công nhân kỹ thuật lành nghề năm 2013 là  
25,70%, năm 2017 trung bình 32,02%. Trình độ Cao đẳng là 14,05% năm 2013, năm 2017  
chiếm trung bình 15,66%. Trình độ Đại học trở lên là 14,87% năm 2013, năm 2017 tỷ lệ  
trung bình 19,49%.  
Những nhóm ngành nghề thuộc nhóm ngành Kinh doanh - Dịch vụ luôn có xu hướng  
tuyển dụng cao trong những năm vừa qua. Trong đó, nhóm ngành Nhân viên kinh doanh -  
Bán hàng là nhóm ngành có nhu cầu tuyển dụng cao nhất (chiếm 25,55% tổng nhu cầu  
tuyển dụng, nhu cầu tuyển dụng năm 2013 là 23,88%, năm 2015 là 22,96% và năm 2016  
là 24,19%, năm 2017 chiếm 19,74%); nhóm ngành Dịch vụ - Phục vụ là nhóm ngành có  
nhu cầu tuyển dụng tăng cao nhất, ước tính nhu cầu tuyển dụng lao động nhóm ngành Dịch  
vụ - Phục vụ năm 2017 chiếm 15,90%. Kế đến là các nhóm ngành Công nghệ thông tin,  
Cơ khí - Điện - Điện tử, Tài chính, Du lịch - Nhà hàng - Khách sạn, Kinh tế, Kinh doanh,…  
11  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
3. Thực trạng đào tạo và nhu cầu học nghề tại thành phố Hồ Chí Minh  
3.1. Thực trạng đào tạo nhân lực  
Năm 2018, tại thành phố Hồ Chí Minh có 58 trường Đại học, 50 trường Cao đẳng,  
68 trường Trung cấp, 65 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp, 278 doanh nghiệp có đào tạo  
nghề và 59 cơ sở khác có dạy nghề.  
Hằng năm tại thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống đào tạo Đại học - Cao đẳng - Trung  
cấp tuyển sinh được 175.000 người. Trong đó, Cao đẳng 35.000 người, Trung cấp 25.000  
người.  
Cùng với hệ Đại học và Cao đẳng; 65 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và 337 cơ sở  
dạy nghề thường xuyên ngắn hạn hàng năm cho trên 400.000 lao động.  
3.2. Nhu cầu chọn nghề, học nghề  
Về nhu cầu chọn ngành nghề, theo số liệu khảo sát của Trung tâm Dự báo nhu cầu  
nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM hàng năm tại 120 trường THPT trên  
địa bàn thành phố năm 2016-2017-2018 cho thấy:  
Học sinh chọn những ngành nghề theo định hướng phát triển kinh tế thành phố và  
khu vực. Đa số các học sinh luôn có sự quan tâm tìm hiểu các khối ngành Kỹ thuật Công  
nghệ và Kinh tế - Tài chính. Năm 2018, nhu cầu học nghề của học sinh THPT đối với nhóm  
ngành Kỹ thuật công nghệ có tỷ lệ lựa chọn cao nhất, chiếm 24,84% (giảm 1,20% so với  
năm 2017) tập trung vào các ngành: Cơ khí - Tự động hóa; Điện tử - Cơ điện tử; Công  
nghệ thông tin; Công nghệ thực phẩm; Kiến trúc - Kỹ thuật công trình xây dựng. Và nhóm  
ngành Kinh tế - Tài chính có tỷ lệ học sinh lựa chọn là 14,90% (giảm 14,50% so các năm  
2017) chủ yếu các ngành: Marketing - Quan hệ công chúng, Tài chính - Tín dụng - Ngân  
hàng, Kế toán - Kiểm toán.  
Xu hướng các khối ngành nghề khác cũng thể hiện sự thay đổi tích cực như sau: Dịch  
vụ du lịch - Nhà hàng - Khách sạn chiếm 17,56%; Công nghệ thông tin (8,84%); Marketing  
- Quan hệ công chúng (6,82%); Quản lý điều hành (6,27%); Cơ khí - Tự động hóa (5,88%),  
Biên phiên dịch (3,44%), Tài chính - Tín dụng - Ngân hàng (2,89%).  
Riêng một số các ngành nghề ít được các học sinh THPT quan tâm nhiều như là: Hóa  
chất - Hóa dược - Mỹ phẩm (0,8%); Dầu khí - Địa chất (0,17%); Dệt may - Giày da  
(0,75%),…  
Nhu cầu học bậc Đại học vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất 87,00%, bậc Cao đẳng 7,00% và  
bậc Trung cấp chiếm 6,00%.  
II. NHU CẦU NHÂN LỰC CÁC NGÀNH TRỌNG ĐIỂM  
1. Trong Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến  
năm 2035 Chính phủ đã xác định 3 nhóm ngành công nghiệp lựa chọn ưu tiên phát triển,  
12  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
gồm: Công nghiệp chế biến chế tạo, Ngành Điện tử và viễn thông, Năng lượng mới và  
năng lượng tái tạo.  
Quy hoạch đề ra mục tiêu, định hướng đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Quy  
hoạch tập trung vào 10 ngành công nghiệp chủ yếu như: ngành cơ khí - luyện kim; ngành  
hóa chất; ngành điện tử, công nghệ thông tin; ngành dệt may - da giày; ngành chế biến  
nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống; ngành sản xuất vật liệu xây dựng; ngành khai  
thác và chế biến khoáng sản; ngành điện; ngành than; ngành dầu khí. Quy hoạch giai đoạn  
đến năm 2035 định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ tập trung vào 3 ngành gồm cơ khí  
- luyện kim; điện tử - tin học, dệt may - da giày.  
Quy hoạch phân bố theo không gian vùng lãnh thổ chia theo 5 vùng, trong đó xác  
định: Vùng Trung du miền núi phía Bắc tập trung phát triển các ngành khai thác và chế  
biến khoáng sản, chế biến nông, lâm sản, công nghiệp thủy điện, một số dự án luyện kim.  
Vùng đồng bằng sông Hồng phát triển công nghiệp cơ khí, luyện kim, hóa chất, nhiệt điện,  
công nghiệp công nghệ cao; Phát triển có chọn lọc công nghiệp hỗ trợ sản xuất linh kiện  
cơ khí, ô tô, xe máy, linh kiện điện tử. Vùng Duyên hải miền Trung (trong đó có vùng Kinh  
tế trọng điểm miền Trung) phát triển các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến hải  
sản, cơ khí đóng tàu, luyện kim và các ngành công nghiệp gắn với lợi thế vận tải biển.  
Vùng Tây Nguyên phát triển công nghiệp chế biến cây công nghiệp, khai thác và chế biến  
khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng. Vùng Đông Nam bộ (trong đó có vùng Kinh tế  
trọng điểm phía Nam), phát triển các ngành công nghiệp cơ khí, dầu khí và các chế phẩm  
hóa dầu, hóa chất, công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ cao; nghiên cứu phát triển  
công nghiệp phụ trợ. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (trong đó có vùng Kinh tế trọng  
điểm Đồng bằng sông Cửu Long), tập trung phát triển các ngành chế biến nông sản, thủy  
hải sản xuất khẩu, công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp, đóng và sửa chữa các loại  
phương tiện đánh bắt xa bờ.  
Vùng Ðông Nam bộ mà hạt nhân là thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm dịch vụ tầm  
cỡ khu vực Ðông Nam Á về tài chính, thương mại, du lịch, giao lưu quốc tế; là trung tâm  
giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời  
là trung tâm chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ hàng đầu của cả nước.  
2. Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam bao gồm 08 tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí  
Minh, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền  
Giang. Theo Quy hoạch vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam đến 2020, định hướng 2030  
được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt tại Quyết định số 252/QĐ-TT ngày 13.2.2014 đã xác  
định Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự  
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; là vùng duy nhất hiện nay hội tụ đủ các điều  
kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa; đặc biệt phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học,  
công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch  
13  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng.  
Theo Quy hoạch kinh tế - xã hội và Quy hoạch nhân lực của 08 tỉnh, thành phố vùng  
KTTĐPN giai đoạn 2016 – 2020, tổng số nhu cầu nhân lực là 640.000 chỗ làm việc/năm  
(trong đó chỗ làm việc mới chiếm tỷ trọng bình quân 50%).  
3. Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long còn gọi là Tây Nam Bộ có TP. Cần Thơ và 12  
tỉnh: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu  
Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Trong giai đoạn 2016-2020, khu  
vực đồng bằng sông Cửu Long định hướng phát triển nhân lực và đào tạo các ngành  
kinh tế kỹ thuật: công nghệ thông tin, công nghệ chế biến, công nghệ xây dựng, cầu đường,  
giao thông, cấp thoát nước, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học, công nghệ hóa, năng  
lượng, cơ khí chế tạo, quy hoạch và quản lý đô thị, tài chính, thương mại, ngân hàng, luật  
pháp, quản lý và hội nhập quốc tế để phần nào đáp ứng những nhu cầu cấp bách trong giai  
đoạn hiện nay. Dự báo nhu cầu nhân lực khu vực đồng bằng sông Cửu Long khoảng  
300.000 – 350.000 người/năm.  
Đồng bằng sông Cửu Long hiện là vựa lúa của cả nước; nông nghiệp, thủy sản là  
những ngành nghề chính, nhưng hiện nay tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng và học viên  
trung cấp, sơ cấp theo học những ngành nông, lâm, thủy sản... trong vùng lại quá thấp.  
III. DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI  
ĐOẠN 2018 – 2020, ĐẾN NĂM 2025  
Theo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh đến năm  
2020, tầm nhìn đến năm 2025”, mục tiêu tăng trưởng kinh tế trung bình mỗi năm của thành  
phố và 12%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả  
và sức cạnh tranh của nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực, sản phẩm và doanh nghiệp; chuyển  
đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều  
sâu, đảm bảo hiệu quả cao, bền vững.  
Căn cứ vào số liệu thống kê từ các nguồn và số liệu khảo sát và ứng dụng phương  
pháp hệ số co giãn việc làm kết hợp với phương pháp kinh tế lượng cùng phương pháp  
chuyên gia, Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM  
dự báo về nhu cầu nhân lực thành phố giai đoạn 2018 - 2025 như sau:  
1. Dự báo nhu cầu nhân lực phân theo loại hình doanh nghiệp trong giai đoạn 2018 - 2025  
* Doanh nghiệp nhà nước  
Nhu cầu nhân lực trong khu vực doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm do tái cơ  
cấu doanh nghiệp và cổ phần hóa. Dự báo nhu cầu nhân lực khu vực doanh nghiệp nhà  
nước khoảng 486 nghìn người vào năm 2018 (chiếm 11,18% tổng nhu cầu), khoảng 336  
nghìn người vào năm 2025 (chiếm 6,92%).  
14  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
* Doanh nghiệp ngoài nhà nước  
Doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ là khu vực tăng trưởng  
cao nhất, có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và là khu vực  
có nhu cầu nhân lực lớn nhất, doanh nghiệp khởi nghiệp được quan tâm và thúc đẩy tạo ra  
sự gia tăng nhu cầu tuyển dụng nhân lực. Dự báo nhu cầu nhân lực khu vực doanh nghiệp  
tư nhân khoảng 3.634 nghìn người vào năm 2018 (chiếm 83,51% tổng nhu cầu), khoảng  
4.399 nghìn người vào năm 2025 (chiếm 90,63%).  
* Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong việc thúc  
đẩy chuyển giao công nghệ, tạo nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Dự báo nhu cầu  
nhân lực khu vực có vốn đầu tư nước ngoài khoảng 231 nghìn người vào năm 2018 (chiếm  
5,31% tổng nhu cầu), khoảng 119 nghìn người vào năm 2025 (chiếm 2,45%).  
2. Xu hướng nhu cầu nhân lực giai đoạn 2018 – 2025  
Trong giai đoạn 2018 - 2025 đến năm 2030, nhu cầu nhân lực tại thành phố Hồ Chí  
Minh dự báo mỗi năm có khoảng 300.000 chỗ làm việc (150.000 chỗ làm việc tăng thêm).  
Nhu cầu nhân lực qua đào tạo chiếm bình quân 85%, trong đó nhu cầu nhân lực có sơ cấp  
nghề chiếm tỷ lệ 21%, trình độ trung cấp chiếm tỉ lệ 28%, trình độ cao đẳng chiếm 16%,  
trình độ đại học trở lên chiếm 18%.  
Trong tổng nhu cầu nhân lực, khu vực Dịch vụ chiếm tỷ trọng 70%, khu vực Công  
nghiệp - Xây dựng chiếm tỷ trọng 28%, khu vực Nông nghiệp chiếm tỷ trọng 2%.  
Trong tổng nhu cầu nhân lực, 04 nhóm ngành công nghiệp trọng yếu chiếm tỷ trọng  
21%, 09 nhóm ngành kinh tế dịch vụ chiếm tỷ trọng 42%, các ngành nghề khác chiếm tỷ  
trọng 37%.  
Trong tổng nhu cầu nhân lực qua đào tạo, nhóm ngành nghề Kỹ thuật công nghệ  
chiếm tỷ trọng 35%, nhóm ngành Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng - Pháp luật - Hành chính  
chiếm tỷ trọng 33%, nhóm ngành khoa học tự nhiên chiếm tỷ trọng 7%, các nhóm ngành  
khác chiếm tỷ trọng 3 - 5%.  
IV. NHU CẦU THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG HỘI NHẬP VÀ NHÂN LỰC THỜI ĐẠI  
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
1. Theo dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khi tham gia Cộng đồng Kinh  
tế ASEAN (AEC), số việc làm của Việt Nam sẽ tăng lên 14,5% vào năm 2025. Trong giai  
đoạn 2015 - 2025, nhu cầu đối với việc làm cần tay nghề trung bình nói chung sẽ tăng  
nhanh nhất, ở mức 28%, lao động có trình độ kỹ năng thấp là 23% và lao động có kỹ năng  
cao sẽ tăng 13% và sẽ có thêm nhiều cơ hội cải thiện cuộc sống của hàng triệu người.  
Có 08 ngành nghề mà lao động có kỹ năng tay nghề cao được phép di chuyển trong  
15  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
được 10 nước ASEAN thống nhất công nhận giá trị tương đương của chứng chỉ đào tạo  
của các nước thành viên là dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ điều dưỡng, kiến trúc, giám sát thi  
công, kế toán, bác sĩ, nha sĩ, du lịch.  
2. Dự báo những nhóm ngành nghề phát triển trong thời đại công nghiệp 4.0  
- Công nghệ thông tin (phân tích dữ liệu, kỹ thuật phần mềm, an ninh mạng,...) và  
công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh tài chính và nhiều lĩnh vực khác;  
- Công nghệ tự động hóa (Cơ điện tử, điện tử, điều khiển tự động, chế tạo ô tô, chế  
tạo vật liệu,…)  
- Các ngành kỹ thuật xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp, năng lượng,  
công nghệ in 3D.  
- Các ngành thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ chế biến, kỹ thuật y  
sinh (Tích hợp kỹ thuật số - vật lý - sinh học ),...  
- Nhóm ngành quản trị, dịch vụ quản trị tài chính - đầu tư, logictis, du lịch, dinh  
dưỡng,...  
- Nhóm ngành nghệ thuật, xã hội, nhân văn và sáng tạo (như kiến trúc, thiết kế, dịch  
thuật,...).  
3. Thực tế, thị trường lao động nước ta đang thiếu trầm trọng lao động có kỹ năng  
thực hành, nhân lực chất lượng cao. Năng suất lao động cũng không đạt hiệu quả cao cho  
dù được đánh giá là có óc sáng tạo, thông minh và cần cù. Trước thực tế như vậy, cùng với  
làn sóng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, mối lo tụt hậu trình độ lao động ngày càng  
hiện hữu, theo số liệu Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và  
Xã hội) cho biết, chất lượng lao động Việt Nam hiện nay còn thấp và tỷ lệ lao động qua  
đào tạo chỉ chiếm 22% (năm 2016). Cơ cấu lao động theo cấp trình độ còn nhiều bất cập.  
Tương quan giữa lao động có trình độ Đại học trở lên – Cao đẳng – Trung cấp – Sơ cấp là  
1 – 0,35 – 0,63 – 0,38 và hậu quả là sự thiếu hụt rõ ràng lao động có kỹ năng thực hành.  
Kết quả của một số cuộc khảo sát, nghiên cứu của các tổ chức trong và ngoài nước  
cũng cho chung kết quả: Hầu hết các doanh nghiệp được khảo sát đều không hài lòng với  
chất lượng giáo dục và kỹ năng của nhân viên, nhất là kỹ sư và kỹ thuật viên. Không chỉ  
thiếu về kiến thức chuyên môn, các lao động Việt Nam còn yếu về kỹ năng giải quyết vấn  
đề, lãnh đạo và giao tiếp. Nhân lực Việt Nam còn thiếu kỹ năng mềm như ngoại ngữ, công  
nghệ thông tin, kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp, tác phong công nghiệp và trách nhiệm,  
đạo đức nghề nghiệp.  
V. TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU KHI TỐT NGHIỆP  
1. Việc làm sau khi tốt nghiệp  
Theo số liệu thu thập, tổng hợp từ Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin  
16  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
thị trường lao động TP.HCM phân tích như sau:  
1.1. Số lao động đã qua đào tạo của thành phố ngày càng có chất lượng hơn. Năm  
2009, lao động qua đào tạo chiếm 58%, trong đó đại học trở lên 12,06%. Đến năm 2017,  
lao động qua đào tạo chiếm 77,50%, trong đó đại học trở lên 22.43%. Mặc dù tỷ lệ lao  
động qua đào tạo tăng qua các năm nhưng chất lượng lao động vẫn còn thấp so với yêu cầu  
phát triền. Tổng số đến tuổi lao động hàng năm bao gồm người ở tại thành phố và người ở  
từ các tỉnh, thành phố khác chuyển đến có nhu cầu đào tạo nghề và tìm việc làm có trên  
300.000 người, trong đó sinh viên các trường đại học có trên 70.000 người tốt nghiệp ra  
trường bao gồm các ngành nghề chuyên môn kỹ thuật chiếm 40%, các ngành nghề chuyên  
môn quản lý - nghiệp vụ chiếm 60% tổng số ngành nghề được đào tạo.  
1.2. Trong giai đoạn 2009 – 2017, bình quân mỗi năm thành phố bố trí việc làm cho  
280.000 người (145.000 chỗ làm việc mới), trong tổng số người có việc làm hằng năm, số  
sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường có việc làm chiếm tỷ lệ trên 80% số sinh viên tốt  
nghiệp hàng năm tại thành phố.  
Sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học tìm được việc làm do từ nhiều nguồn:  
- Các doanh nghiệp tuyển dụng trực tiếp tại các trường, kể cả doanh nghiệp chọn lọc,  
hỗ trợ học bổng sinh viên còn đi học để tuyển chọn sinh viên xuất sắc, giỏi, khá, có kỹ  
năng ngoại ngữ.  
- Thông qua các ngày hội nghề nghiệp - việc làm cho sinh viên, sàn giao dịch việc  
làm.  
- Các trung tâm dịch vụ việc làm, đặc biệt vai trò các trung tâm hỗ trợ sinh viên và  
quan hệ doanh nghiệp của các trường đại học đã giúp nhiều sinh viên tốt nghiệp nhanh  
chóng có việc làm tương đối phù hợp.  
- Các mạng thông tin việc làm, các trang tuyển dụng nhân lực trực tuyến.  
- Thông tin tuyển dụng của doanh nghiệp niêm yết, trên hệ thống website, Internet,  
Báo, Đài, cơ quan thông tin.  
- Gia đình, thân nhân những người quen giới thiệu.  
- Tự tìm việc qua những việc thời vụ, bán thời gian khi còn đi học.  
- Sinh viên tự tạo việc làm và khởi nghiệp bằng cách bỏ vốn từ tích lũy làm thêm,  
từ gia đình, các nguồn quỹ tín dụng việc làm, quỹ hỗ trợ khởi nghiệp để tự tạo việc làm.  
Khởi nghiệp bằng hình thức tổ chức doanh nghiệp hoặc kinh doanh dịch vụ cá nhân,  
tập thể.  
1.3. Các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh hàng năm cung cấp cho thị trường  
lao động thành phố hơn 70.000 lao động có trình độ đại học. Ngoài ra, các chương trình  
đào tạo đại học liên thông, liên kết quốc tế, du học, đào tạo vừa học vừa làm, liên kết đào  
17  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
tạo đại học với các tỉnh,… hàng năm đào tạo thêm hàng chục ngàn nhân lực ra trường.  
Năm 2014 – 2017, so sánh với giai đoạn trước năm 2010 thì số lượng nhân lực được  
đào tạo đại học, tăng trên 02 lần (70.000/30.000 hàng năm), trong khi nhu cầu nhân lực có  
trình độ đại học chỉ có khoảng 40.000 chỗ làm việc/năm. Ngoài ra, còn nguồn nhân lực tốt  
nghiệp đại học từ các chương trình liên kết trong nước, ngoài nước, liên thông đại học,  
hệ đại học vừa học vừa làm và nguồn sinh viên tốt nghiệp đại học từ các tỉnh, thành phố  
khác đến tìm việc làm,... cho thấy nguồn nhân lực tốt nghiệp đại học có nhu cầu việc làm  
tại thành phố Hồ Chí Minh mỗi năm có khoảng 100.000 - 110.000. Chính vì vậy, theo báo  
cáo thị trường tuyển dụng trong 06 tháng đầu năm 2017 do VietnamWorks công bố tại  
thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ "chọi" để có việc làm mới dẫn đầu cả nước, mức độ cạnh  
tranh việc làm đang ở mức cao. Mức độ cạnh tranh ở thị trường lao động thành phố dẫn  
đầu cả nước. Người tìm việc tại đây phải cạnh tranh với trung bình 01/48 người  
Mặt khác, cơ cấu ngành nghề đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn nhiều bất cập, cụ thể  
trong cơ cấu đào tạo đại học nhóm ngành Kỹ thuật – Công nghệ và Khoa học tự nhiên  
chiếm tỷ trọng khoảng 30%, các nhóm ngành Kinh tế – Tài chính – Khoa học xã hội – Y  
tế – Giáo dục chiếm tỷ trọng 70% trong khi nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp thì  
nhóm ngành Kỹ thuật công nghệ - Khoa học tự nhiên chiếm tỷ trọng 45%; vì vậy thị trường  
lao động đang thiếu nhiều nhân lực các ngành nghề như: Cơ khí, Công nghệ thông tin –  
Truyền thông, Công nghệ nông – lâm… Đồng thời, có nhiều ngành học thuộc nhóm Kinh  
tế – Tài chính – Khoa học – Xã hội – Y dược được các trường mở ra với số lượng tuyển  
sinh khá lớn trong những năm gần đầy theo thị hiếu xã hội nhưng chưa đầu tư đảm bảo  
đúng yêu cầu chất lượng chuyên ngành nên không được doanh nghiệp đánh giá cao khi  
tuyển dụng dù số lượng nhiều với nhu cầu nhân lực nhưng chất lượng thì không phù hợp.  
Do đó, tình trạng thị trường lao động luôn thể hiện “vừa thừa vừa thiếu”.  
1.4. Thực trạng chung là phần lớn sinh viên tốt nghiệp ra trường vẫn còn gặp nhiều  
khó khăn trong tìm kiếm việc làm phù hợp và ổn định, do chưa định hướng đúng mức về  
nghề nghiệp – việc làm, vì một số sinh viên chọn ngành học chưa phù hợp năng lực, sở  
trường và xu hướng phát triển thị trường lao động. Mặt khác, các doanh nghiệp rất quan  
tâm tuyển chọn đối với sinh viên tốt nghiệp về kiến thức ngoại ngữ, khả năng hợp tác, kỹ  
năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, những hiểu biết về môi trường văn hóa doanh nghiệp và  
tác phong làm việc công nghiệp. Sự hạn chế lớn của sinh viên khi ra trường, đa số chưa  
định hướng được cụ thể để chọn một ngành chuyên môn phù hợp với khả năng, đồng thời,  
do hệ thống thông tin thị trường lao động; hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm thành phố  
chưa cập nhật kịp thời để gắn kết sinh viên và doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Theo khảo  
sát của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động thành phố  
Hồ Chí Minh thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh về nhu  
cầu tìm việc làm của trên 200.000 sinh viên từ năm 2010 - 2016, có khoảng 80% sinh viên  
sau khi tốt nghiệp là tìm được việc làm, còn 20% tìm việc rất khó khăn hoặc không tìm  
được việc làm, phải chuyển đổi ngành học hoặc làm những công việc thấp hơn trình độ  
18  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
đào tạo. Trong tổng số sinh viên tìm được việc làm, chỉ có 50% là có việc làm phù hợp  
năng lực và phát triển tốt, 50% vẫn phải làm việc trái ngành nghề, thu nhập thấp; việc làm  
chưa thật sự ổn định và có thể phải chuyển việc làm khác.  
1.5. Nổi cộm nhất của thị trường lao động hiện nay và những năm tới đó là nguồn  
nhân lực có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn giỏi vẫn không đủ đáp ứng thị trường  
lao động. Điều này cũng đồng nghĩa, một bộ phận nhân lực phải thất nghiệp và khó tìm  
được việc làm ổn định nếu chưa đủ điều kiện nghề nghiệp, kỹ năng chuyên môn và khả  
năng thích nghi thực tế thị trường lao động.  
Một thực trạng dễ thấy, các doanh nghiệp rất cần đội ngũ nhân sự chất lượng cao,  
nhưng ngược lại nhiều sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng, đặc  
biệt phần kĩ năng. Nhìn nhận một cách thẳng thắn thì có đến 70% sinh viên tốt nghiệp chưa  
trang bị tốt về chuyên môn cũng như các kỹ năng mềm và trình độ ngoại ngữ. Ngoài vấn  
đề vừa nêu, một số ngành nghề cũng đang mất cân đối giữa các cấp đào tạo và nhu cầu  
tuyển dụng. Sự chênh lệch về thu nhập trong từng ngành nghề dẫn đến sự lựa chọn khác  
nhau trong nhu cầu tuyển dụng và tìm việc, cũng là một trong số nguyên nhân.  
2. Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp  
Có thể đánh giá thực trạng hiện nay sự liên kết giữa doanh nghiệp và các trường đào  
tạo nhân lực như sau:  
- Về phía doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp đã tạo điều kiện, chủ động hơn trong  
việc liên kết với đào tạo như hỗ trợ nhà trường trong vấn đề thực tập, thực hành cho học  
sinh, sinh viên. Tuy nhiên, việc đóng góp ý kiến phản hồi về xây dựng chương trình đào  
tạo để nhà trường có sự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu thực tế của doanh nghiệp vẫn  
chưa được sự chú trọng, quan tâm của doanh nghiệp.  
- Về phía nhà trường: Nhà trường đã chủ động trong việc liên kết đào tạo với doanh  
nghiệp. Tuy vậy, việc khảo sát nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp chưa thực sự chính xác,  
vì vậy, hiệu quả mang lại cho sự liên kết đào tạo theo yêu cầu chưa cao.  
Tuy vậy, sự liên kết hiện nay chưa có hiệu quả cao, đặc biệt là sự liên kết về công tác  
đào tạo như cùng nhau ký kết hợp đồng đào tạo và cung ứng lao động, cùng nhau trong  
việc tham gia giảng dạy để học sinh có thể vừa nắm rõ thực tiễn và lý thuyết…; việc cung  
cấp những thông tin đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động phối hợp chưa thực sự tốt,... Dẫn  
đến tình trạng việc đào tạo vẫn chưa thật sự bám sát vào nhu cầu thực tế của doanh nghiệp;  
chất lượng đào tạo lại chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp;  
đa số sinh viên, học viên chưa có điều kiện thực hành thực tế… Như vậy, sự liên kết sẽ đạt  
được hiệu quả cao và tính thiết thực khi doanh nghiệp và nhà trường có liên kết trong việc  
đặt hàng đào tạo của doanh nghiệp, cung ứng lao động có chất lượng cao và sự phối hợp  
trong công tác đào tạo của 2 phía.  
19  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
Nhu cầu thị trường lao động hiện tại và tương lai không còn là bằng cấp trên giấy tờ,  
mà là “giá trị sức lao động”, “giá trị hành nghề”, bằng cấp theo nghĩa mở rộng, trao đổi tri  
thức, sáng tạo, giá trị đóng góp cho xã hội.  
Để đạt điều mong muốn thành công về nghề nghiệp - việc làm phải là một quá trình.  
Mỗi người cần phải có một kiến thức nghề nghiệp, đặc biệt là năng lực tổ chức công việc  
thật hiệu quả. Tuy bằng cấp cao không phải là yếu tố quyết định sự thành công, nhưng  
ngành nghề nào muốn có thu nhập cũng đều phải có sự đầu tư về mặt lao động và kiến thức  
để tạo ra giá trị hành nghề và thành tựu cao trong sự nghiệp cuộc sống.  
VI. KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP  
Từ góc độ của chức năng, nhiệm vụ hoạt động, Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực  
và Thông tin thị trường lao động Thành phố đề xuất các vấn đề như sau:  
1. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực. Định  
hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đối với hoạt động của các trường đào tạo  
và nhận thức tự học tập, rèn luyện nghề của học sinh, người lao động phù hợp phát triển  
thị trường lao động;  
Cần có cách nhìn về thị trường lao động mở với 05 xu hướng việc làm:  
- Các cơ quan, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất - kinh doanh thuộc các thành phần kinh  
tế;  
- Khu vực kinh tế phi chính thức (lao động tự do các nhóm ngành dịch vụ, phục vụ  
và tiểu thủ công nghiệp);  
- Xuất khẩu lao động làm việc ở nước ngoài;  
- Di chuyển lao động theo nhu cầu thị trường lao động các tỉnh thành, khu vực kinh  
tế và quốc gia và hội nhập;  
- Khởi nghiệp và tự tạo việc làm.  
2. Hoàn thiện mô hình, nâng cao năng lực hoạt động phân tích và dự báo cung – cầu  
nhân lực. Dự báo những ngành nghề, lĩnh vực trọng điểm trung hạn (05 năm), dài hạn (10  
năm – 20 năm), góp phần tham mưu quy hoạch cơ cấu đào tạo phù hợp với chiến lược phát  
triển kinh tế xã hội thành phố, quốc gia và hội nhập. Tạo cơ sở khoa học cho việc định  
hướng đào tạo theo nhu cầu xã hội, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và các kỹ năng của nhân  
lực được đào tạo, hạn chế mất cân đối, thừa thiếu trong các doanh nghiệp thuộc các ngành  
kinh tế, thành phần kinh tế.  
3. Hoàn thiện phát triển hoạt động hướng nghiệp, đưa các chương trình giáo dục định  
hướng nghề nghiệp vào các trường trung học phổ thông và trung học cơ sở. Xây dựng cổng  
thông tin hướng nghiệp – việc làm thành phố kết nối các tỉnh, thành, khu vực và quốc gia.  
Điều tra, khảo sát việc làm của sinh viên và nhu cầu thị trường lao động về xu hướng việc  
20  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
làm và học nghề. Hướng dẫn hỗ trợ các doanh nghiệp hoạch định chiến lược tuyển dụng,  
sử dụng nhân lực trung hạn và dài hạn.  
Thực hiện hiệu quả chính sách phân luồng học sinh THCS và THPT góp phần không  
nhỏ trong việc đào tạo nguồn nhân lực.  
4. Tăng cường mở rộng đào tạo liên kết với các doanh nghiệp, cập nhật nội dung  
giảng dạy sát với thực tiễn chú trọng đào tạo kỹ năng, tác phong công nghiệp và ngoại ngữ  
giao tiếp để nâng cao năng lực đào tạo theo nhu cầu xã hội.  
5. Cần có các chính sách cụ thể tạo trách nhiệm liên đới giữa nhà nước, doanh nghiệp,  
nhà trường đối với công tác đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội. Khuyến khích các doanh  
nghiệp tham gia đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cho giáo viên, nâng cao kỹ năng hành nghề,  
tiếp cận công nghệ mới. Đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa để hình thành đội ngũ quản lý giáo  
dục nghề nghiệp chuyên nghiệp.  
6. Hoàn thiện hệ thống dịch vụ việc làm thành phố chú trọng phát triển hoạt động  
quan hệ doanh nghiệp và giới thiệu việc làm tại các trường đào tạo, tích cực hỗ trợ sinh  
viên, học sinh sau khi tốt nghiệp có việc làm phù hợp đạt hiệu quả cao.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Báo cáo Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh thuyết minh và tổng hợp  
“Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh đến năm  
2020, tầm nhìn đến năm 2025” (tháng 3/2013);  
2. Quy hoạch phát triển nhân lực thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2020 ban  
hành kèm theo Quyết định số 1335/QĐ-UBND ngày 15/3/2012 của Ủy ban nhân  
dân thành phố Hồ Chí Minh;  
3. Quyết định số 1216/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22 tháng 7 năm 2011  
về “Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020”;  
4. Quyết định 2631/QĐ-TTg ngày 31/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt  
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020,  
tầm nhìn đến năm 2025”;  
5. Báo cáo của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động  
TP.HCM ngày 14.11.2016 “Thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh năm 2012-  
2016. Dự báo nhu cầu nhân lực giai đoạn 2017-2020-2025”.  
21  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
PHỤ LỤC  
Biểu 1: Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp của TP.HCM giai đoạn 2013 – 2017  
Thực hiện  
2013  
2014 2015  
2016 2017  
Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp (%) 66,54 69,93 72,33 75,02 77,50  
Nguồn: Theo tính toán của Trung tâm Dự báo Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị  
trường lao động TP.HCM  
Biểu 2A: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc theo trình độ chuyên môn năm  
2015-2017 (Đơn vị tính: Người)  
Cơ cấu  
2015  
2016  
2017  
Tổng số lao động đang làm việc  
Trong đó  
4.177.259  
4.319.733  
4.412.933  
1. Có nghề CMKT  
Có nghề không bằng cấp  
Chứng chỉ nghề < 3 tháng  
Sơ cấp nghề  
3.021.411  
873.591  
634.819  
295.749  
264.002  
135.343  
817.907  
1.155.848  
3.240.663  
979.303  
758.723  
294.258  
164.675  
159.957  
883.747  
1.079.070  
3.420.013  
1.040.128  
760.935  
280.965  
159.690  
188.579  
989.716  
992.920  
Trung cấp  
Cao đẳng  
Đại học trở lên  
2. Không có nghề  
Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM tổng hợp  
theo khảo sát định kỳ hàng năm của Cục Thống kê TP. Số liệu CNKT Không bằng và chứng chỉ nghề dưới  
03 tháng theo khảo sát Cung lao động hàng năm của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP.HCM  
Biểu 2B: Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc theo trình độ chuyên môn  
năm 2015-2017  
Cơ cấu (%)  
Tổng số lao động đang làm việc  
Trong đó  
2015  
100,00  
2016  
2017  
100,00  
100,00  
1. Có nghề CMKT  
72,33  
20,91  
75,02  
22,67  
77,50  
23,57  
Có nghề không bằng cấp  
22  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
Chứng chỉ nghề < 3 tháng  
Sơ cấp nghề  
15,20  
7,08  
17,56  
17,24  
6,37  
6,81  
3,81  
Trung cấp  
6,32  
3,62  
Cao đẳng  
3,24  
3,70  
4,27  
Đại học trở lên  
2. Không có nghề  
19,58  
27,67  
20,46  
24,98  
22,43  
22,50  
Biểu 3: Xu hướng chọn ngành nghề của học sinh THPT  
STT  
Ngành nghề  
Kỹ thuật công nghệ  
Tỉ lệ %  
24,84  
22,82  
17,44  
7,05  
1
2
3
4
5
6
Kinh doanh – Dịch vụ  
Khoa học xã hội - Nhân văn  
Hành chính – Quản lý  
Kinh tế - Tài chính  
14,90  
12,95  
Ngành nghề khác  
Nguồn: Kết quả khảo sát và phân tích của Trung tâm DBNCLĐ & TTTTLĐ TP.HCM  
Biểu 4: Xu hướng chọn bậc học của học sinh THPT  
Bậc học 2017  
Đại học 87,36  
2018  
87,00  
7,00  
Cao đẳng  
Trung cấp  
8,71  
3,93  
6,00  
Nguồn: Kết quả khảo sát và phân tích của Trung tâm DBNCLĐ&TTTTLĐ TP.HCM  
Biểu 5: Cơ cấu lao động đang làm việc phân theo ngành kinh tế (%)  
Khu vực kinh tế  
2013  
100  
2014  
100  
2015  
100  
2016  
100  
2017  
100  
Tổng số  
+ Nông, lâm nghiệp và thủy sản  
+ Công nghiệp - xây dựng  
+ Dịch vụ  
2,6  
2,6  
2,6  
2,21  
2,36  
33,0  
64,4  
32,8  
64,6  
32,65  
64,8  
32,84  
64,95  
33,01  
64,63  
Nguồn: Tổng cục thống kê  
23  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
Biểu 6: Lao động đang làm việc phân theo loại hình doanh nghiệp giai đoạn 2013 - 2017  
Đơn vị  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
Tổng số  
Người 2.423.098 2.587.462 2.750.747 2.762.076 2.844.405  
Doanh nghiệp Nhà Người 209.252  
205.953  
7,96  
200.783  
7,30  
203.052  
7,35  
202.415  
7,12  
nước  
%
8,64  
Doanh nghiệp  
Người 1.631.477 1.761.192 1.917.974 1.902.522 1.961.954  
ngoài Nhà nước  
%
67,33  
Người 582.369  
24,03  
68,07  
620.317  
23,97  
69,73  
631.990  
22,98  
68,88  
656.502  
23,77  
68,98  
680.036  
23,91  
Doanh nghiệp có  
vốn đầu tư nước  
ngoài  
%
Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM  
Biểu 7: Dự báo lao động làm việc trong doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp  
Đơn vị  
Người  
Người  
%
2018  
2025  
Tổng số  
4.351.368 4.853.413  
Doanh nghiệp Nhà nước  
486.266  
11,18  
335.761  
6,92  
Doanh nghiệp ngoài Nhà nước  
Người  
%
3.633.970 4.398.766  
83,51  
231.132  
5,31  
90,63  
118.886  
2,45  
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  
Người  
%
Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM  
Biểu 8: Nhu cầu nhân lực phân theo ngành kinh tế tại TP.HCM giai đoạn 2018 – 2025  
Tỉ lệ ngành nghề  
Số chỗ làm việc  
STT  
Ngành kinh tế  
so với tổng số  
việc làm (%)  
(Người/ năm)  
1
2
3
Nông nghiệp  
2
6.000  
84.000  
210.000  
300.000  
Công nghiệp - Xây dựng  
28  
Dịch vụ  
70  
Tổng nhu cầu nhân lực bình quân hàng năm  
100  
Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM  
24  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
Biểu 9: Nhu cầu nhân lực phân theo loại hình kinh tế tại TP.HCM giai đoạn 2018 - 2025  
Tỉ lệ ngành  
nghề so với  
tổng số việc  
làm (%)  
Số chỗ làm việc  
(Người/năm)  
STT  
Loại hình  
1
2
3
Nhà nước  
5
15.000  
192.000  
93.000  
Ngoài nhà nước  
64  
Có vốn đầu tư nước ngoài  
Tổng nhu cầu nhân lực bình quân hàng năm  
31  
100  
300.000  
Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM  
Biểu 10: Nhu cầu nhân lực 04 nhóm ngành công nghiệp trọng yếu tại TP.HCM giai  
đoạn 2018 – 2025  
Tỉ lệ ngành nghề  
Số chỗ làm việc  
STT  
Ngành nghề  
so với tổng số việc  
(Người/ năm)  
làm (%)  
1
2
3
4
Cơ khí  
5
8
15.000  
24.000  
12.000  
12.000  
63.000  
Điện tử - Công nghệ thông tin  
Chế biến lương thực thực phẩm  
Hóa chất – Nhựa cao su  
4
4
Tổng nhu cầu nhân lực 04 ngành công nghiệp  
trọng yếu hàng năm  
21  
Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM  
Biểu 11: Nhu cầu nhân lực 09 nhóm ngành dịch vụ tại TP.HCM giai đoạn 2018 - 2025  
Tỉ lệ ngành  
Số chỗ làm  
nghề so với  
STT  
Ngành nghề  
việc  
tổng số việc  
(Người/ năm)  
làm (%)  
1
2
3
4
Tài chính – Tín dụng – Ngân hàng – Bảo hiểm  
5
6
9
5
15.000  
18.000  
27.000  
15.000  
Giáo dục – Đào tạo  
Du lịch  
Y tế  
25  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
Tỉ lệ ngành  
Số chỗ làm  
nghề so với  
STT  
Ngành nghề  
việc  
tổng số việc  
(Người/ năm)  
làm (%)  
5
6
Kinh doanh tài sản – Bất động sản  
4
3
12.000  
9.000  
Dịch vụ tư vấn, khoa học – công nghệ, nghiên  
cứu và triển khai  
7
8
9
Thương mại  
13  
5
39.000  
15.000  
15.000  
Dịch vụ vận tải – Kho bãi – Dịch vụ cảng  
Dịch vụ bưu chính, viễn thông & công nghệ  
5
thông tin  
Tổng nhu cầu nhân lực 09 nhóm ngành dịch vụ hàng  
năm  
55  
165.000  
Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM  
Biểu 12: Nhu cầu nhân lực ngành nghề khác thu hút nhiều lao động tại TP.HCM giai  
đoạn 2018 – 2025  
Tỉ lệ ngành Số chỗ làm  
nghề so với  
tổng số việc  
làm (%)  
việc  
(Người/  
năm)  
STT  
Ngành nghề  
1
2
3
4
5
6
7
8
Truyền thông - Quảng cáo - Marketing  
Dịch vụ phục vụ  
8
9
24.000  
27.000  
30.000  
12.000  
15.000  
12.000  
9.000  
Dệt may - Giày da - Thủ công mỹ nghệ  
Quản lý - Hành chính - Nhân sự  
Kiến trúc - Xây dựng - Môi trường  
Công nghệ - Nông lâm  
10  
4
5
4
Khoa học - Xã hội - Nhân văn  
Ngành nghề khác  
3
3
9.000  
Tổng nhu cầu nhân lực ngành nghề thu hút nhiều lao động  
46  
138.000  
Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM  
26  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
Biểu 13: Nhu cầu nhân lực qua đào tạo phân theo 08 nhóm ngành tại TP.HCM giai  
đoạn 2018 – 2025  
Tỉ lệ ngành  
nghề so với tổng  
Số chỗ làm  
việc  
STT  
Nhóm ngành  
Kỹ thuật công nghệ  
số việc làm (%) (Người/ năm)  
1
2
3
35  
7
89.250  
17.850  
84.150  
Khoa học tự nhiên  
Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng - Pháp luật  
33  
- Hành chính  
4
5
6
7
8
Khoa học xã hội - Nhân văn - Du lịch  
Sư phạm - Quản lý giáo dục  
Y - Dược  
8
5
20.400  
12.750  
12.750  
7.650  
5
Nông – Lâm – Thủy sản  
3
Nghệ thuật - Thể dục - Thể thao  
Tổng nhu cầu nhân lực bình quân  
4
10.200  
255.000  
100  
Ghi chú: Tổng số 255.000 chỗ làm việc tính trên nhu cầu nhân lực qua đào tạo có trình độ Sơ cấp  
nghề – Trung cấp – Cao đẳng – Đại học  
Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM  
Biểu 14: Nhu cầu nhân lực theo trình độ nghề tại TP.HCM giai đoạn 2018 – 2025  
2018 - 2025  
Tỉ lệ so với tổng  
số việc làm trống  
(%)  
Số chỗ làm  
việc  
(Người/năm)  
STT  
Trình độ nghề  
1
2
3
4
5
6
Trên đại học  
Đại học  
6.000  
45.000  
48.000  
81.000  
60.000  
60.000  
300.000  
2
18  
16  
28  
21  
15  
100  
Cao đẳng  
Trung cấp  
Sơ cấp nghề  
Lao động chưa qua đào tạo  
Tổng số nhu cầu về trình độ nghề bình quân hàng  
năm  
Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM  
27  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
Biểu 15: Cơ cấu tuyển sinh, tốt nghiệp và có việc làm  
Năm  
Tuyển sinh Tốt nghiệp  
Tỷ lệ tốt  
Có việc  
Tỷ lệ có việc  
(người)  
(người)  
nghiệp (%)  
làm  
làm (%)  
1
2
3
4 = 3/2*100  
85,68  
5
6= 5/3*100  
84,92  
2016-  
2017  
233.390  
199.982  
169.823  
Nguồn: Kết quả khảo sát và phân tích của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị  
trường lao động TP.HCM tổng hợp từ thông tin các trường Đại học - Cao đẳng - Trung cấp - Dạy nghề  
năm 2016-2017  
Biểu 16: Cơ cấu tuyển sinh, tốt nghiệp và có việc làm theo trình độ đào tạo  
Trình độ đào Tuyển sinh  
Tốt nghiệp  
(người)  
Tỷ lệ tốt  
nghiệp (%)  
Có việc Tỷ lệ có việc  
tạo  
(người)  
làm  
làm (%)  
6= 5/3*100  
82,76  
1
2
3
4 = 3/2*100  
91,88  
5
Đại học  
Cao đẳng  
Trung cấp  
Tổng  
110.169  
67.024  
56.197  
233.390  
101.223  
56.662  
42.097  
199.982  
83.772  
48.163  
37.888  
169.823  
84,54  
85,00  
74,91  
90,00  
85,68  
84,92  
Nguồn: Kết quả khảo sát và phân tích của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị  
trường lao động TP.HCM tổng hợp từ thông tin các trường Đại học - Cao đẳng - Trung cấp - Dạy nghề  
năm 2016-2017  
28  
pdf 20 trang Thùy Anh 20040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Dự báo nhu cầu thị trường lao động qua đào tạo việc làm sinh viên sau khi tốt nghiệp – liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdu_bao_nhu_cau_thi_truong_lao_dong_qua_dao_tao_viec_lam_sinh.pdf