Đề tài Phòng chống ô nhiễm trong hoạt động khai thác mỏ của Nhật Bản
Phòng chống ô nhiễm trong hoạt động khai thác mỏ của Nhật Bản
Takeshi Sakata
Tập đoàn Dầu khí và Kim loại Nhật Bản (JOGMEC)
Trong những năm 1955, Nhật Bản đã phải đối mặt với những "hệ lụy" về ô
nhiễm môi trường do chú trọng phát triển kinh tế. Đặc biệt, việc phát triển ngành
công nghiệp khai khoáng đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe người
dân, phá hoại các cánh đồng nông nghiệp và những khu rừng nguyên sinh. Theo
nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản, hàng loạt các bệnh nguy hiểm của
người dân sống gần vùng mỏ, nhất là mỏ kim loại nặng, có nguyên nhân do sử
dụng nguồn nước bị ô nhiễm. Ví dụ, bệnh Itai-itai ở tỉnh Toyama là do nhiễm độc
cadmi mãn tính từ nước thải của mỏ kẽm Kamioka, thải ra lưu vực sông Jinzu, làm
191 người bị rối loạn chức năng thận, nhuyễn xương...
Thiết lập khung pháp lý hoàn chỉnh
Trước những vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do hoạt động khai thác
mỏ, từ giữa thế kỷ 19, Nhật Bản đã ban hành các quy định khai thác mỏ, trong đó
có quy định về phòng chống ô nhiễm trong hoạt động khai thác mỏ. Đến năm
1905, Nhật Bản tiếp tục xây dựng hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường và
ban hành Luật cơ bản khai thác mỏ. Năm 1949, Luật đảm bảo an toàn khu mỏ đã
được Chính phủ thông qua, trong đó quy định về vấn đề an toàn lao động trong
hoạt động khai thác mỏ; các giải pháp kiểm soát ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó với
sự cố và đảm bảo phát triển hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản. Với Bộ Luật này,
các công ty khai thác mỏ phải lắp đặt các thiết bị chống ô nhiễm như máy hút bụi,
làm ống khói cao hơn để khuếch tán khí thải từ nhà máy luyện kim loại, xây dựng
nhà máy khử lưu huỳnh khí khói lò, bể lắng và nhà máy lọc để xử lý nước thải.
Đến năm 1973, nhằm thực hiện các biện pháp xử lý cần thiết để phòng chống
ô nhiễm trong hoạt động khai thác mỏ, đặc biệt là tại các mỏ kim loại, Nhật Bản
ban hành Luật quy định các biện pháp xử lý đặc biệt đối với ô nhiễm do khai thác
mỏ kim loại. Luật đã đưa ra "Kế hoạch hành động cơ bản" để triển khai công tác
phòng chống ô nhiễm tại các khu mỏ đã đóng cửa và bị bỏ hoang, bắt buộc các tổ
chức, cá nhân được cấp phép khai thác phải xây dựng kế hoạch phòng chống ô
nhiễm lâu dài. Đồng thời, phải ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường và thực hiện
trong cả quá trình khai thác cũng như sau khi ngừng khai thác dựa trên nguyên tắc
người gây ô nhiêm phải trả tiền. "Kế hành động cơ bản" bao gồm lịch trình thời
gian, nội dung, số lượng và ngân sách cho các nhiệm vụ. Kế hoạch được sửa đổi 10
năm một lần.
Ngoài ra, bộ Luật này còn quy định, Tập đoàn Dầu khí và Kim loại Nhật Bản
(JOGMEC) quản lý kinh phí ký quỹ của các doanh nghiệp khai thác mỏ và sau đó,
gửi vào ngân hàng nhà nước; Phòng Giám sát Đảm bảo An toàn Công nghiệp
(thuộc Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp) có trách nhiệm thẩm định kinh
phí ký quỹ của doanh nghiệp. Chủ mỏ phải nộp báo cáo cho Phòng Giám sát Đảm
Bảo An toàn Công nghiệp, với đầy đủ các nội dung như: Tên doanh nghiệp và địa
chỉ cơ sở khai thác mỏ; Diện tích, kết cấu, thời gian xây dựng, số lượng công trình
phòng ô nhiễm tại khu mỏ (bãi chứa, đường hâm); Tìnl nước thải mỏ; Biện pháp
phòng chống ô nhiễm do khai thác mỏ phải thực hiện sau khi đóng cửa mỏ; Chi phí
hoạt động phòng chống ô nhiễm; Số tiền ký quỹ tích lũy hàng năm; Lãi suất đối
với khoản tiền tích lũy... cơ quan phòng chống ô nhiễm trong khai thác mỏ (do
Chính phủ chỉ định), có trách nhiệm thực hiện hoạt động phòng ngừa giảm thiểu và
xử lý ô nhiễm do khai thác mỏ thay cho chủ mỏ bằng nguồn thu từ Quỹ hoạt động
phòng chống ô nhiễm (JOGMEC quản lý). Ngoài ra, bộ Luật này đưa ra các biện
pháp phòng chống ô nhiễm do khai thác mỏ như: Với nguồn phát sinh ô nhiễm; Xử
lý nước thải từ hầm mỏ; Cải thiện chất lượng nước; Lắp đặt thiết bị xử lý nước
thải; Xây kênh dẫn nước từ lòng núi; Trồng cây xanh; Phục hồi đất bị ô nhiễm;
Loại bỏ độc tính trong nước thải từ các mỏ kim loại nặng bằng phương pháp xử lý
trung hòa; Xây dựng công trình phòng chống xả thải từ bãi chứa... Các hoạt động
phòng chống ô nhiễm phải đảm bảo lựa chọn phương pháp xử lý ô nhiễm thích
hợp, cải tiến công nghệ, tiết kiệm chi phí xử lý ô nhiễm.
Trong thực tế, ngay cả khi chấm dứt hoạt động khai thác, không ít khu mỏ
vẫn gây ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn nhiều rủi ro, ảnh hưởng đến sức khỏe và
cuộc sống người dân trong khu vực khai thác. Với những quy định chặt chẽ trên,
các công ty khai thác khoáng sản của Nhật Bản bắt buộc phải nộp các khoản thuế,
phí môi trường và ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường đầy đủ theo đúng quy định
của pháp luật. Tuy nhiên, Nhà nước cũng có những khoản trợ cấp cho cộng đồng
địa phương hoặc các cá nhân có trách nhiệm thực hiện hoạt động phòng chống ô
nhiễm do khai thác mỏ. Đối với các khu mỏ không có kinh phí thực hiện hoặc
không thuê được đơn vị chịu trách nhiệm phòng chống ô nhiễm, Nhà nước sẽ hỗ
trợ 3/4 chi phí cần thiết cho hoạt động phòng chống ô nhiễm. Đối với các khu mỏ
thuê công ty xử lý ô nhiễm, Nhà nước cũng hỗ trợ 3/4 chi phí xử lý ô nhiễm trong
trường hợp nguyên nhân gây ra ô nhiễm không phải do hoạt động khai thác mỏ
(thiên tai, lũ lụt...). Với những mỏ kim loại đã xây dựng công trình phòng chống ô
nhiễm, nhưng sau khi đóng cửa mỏ, nước thải của khu mỏ có chứa chất độc vẫn
thoát ra môi trường trong một thời gian dài, chủ mỏ phải đóng một khoản phí nhất
định vào Quỹ dự phòng phòng chống ô nhiễm do khai thác mỏ, theo nguyên tắc
người gây ô nhiễm phải trả tiền. Cơ quan được thuê để thực hiện hoạt động phòng
chống ô nhiễm, được sử dụng khoản tiền này ổn định và lâu dài. Đặc biệt, Bộ Luật
trên còn đưa ra các quy định xử phạt đối với các doanh nghiệp khai thác không
tuần theo đúng các điểu khoản trên.
Vai trò của JOCMEC trong công tác phòng chống ô nhiễm mỏ tại Nhật Bản
Tập đoàn JOCMEC có trách nhiệm hỗ trợ Chính phủ hoạch định chính sách,
giúp đỡ cộng đồng và các doanh nghiệp khai thác mỏ tìm ra những biện pháp xử lý
ô nhiễm phù hợp và ổn định. Các cách thức mà Tập đoàn hỗ trợ như: Tài chính;
Điều tra, tư vấn kỹ thuật; Thúc đẩy phát triển công nghệ; Tuyên truyền, giáo dục,
đào tạo các phương pháp khai thác ít phát sinh chất thải, nước thải gây ô nhiễm;
Tìm kiếm các giải pháp tối ưu để xử lý ô nhiễm trong khai khoáng. Nếu các doanh
nghiệp gặp khó khăn trong vấn đề tài chính, JOGMEC sẽ tạo điều kiện hỗ trợ
doanh nghiệp với các khoản vay mềm. Bên cạnh việc vận dụng, quản lý tiền ký
quỹ một cách khoa học và hiệu quả, JOGMEC kêu gọi các doanh nghiệp (chủ mỏ
hoặc cơ quan được thuê đẻ thực hiện xử lý ô nhiễm), thực hiện biện pháp xử lý ô
nhiễm thường xuyên, thậm chí đối với các mỏ đã bị đình chỉ hoạt động. JOGMEC
yêu cầu các chủ đầu tư, các bên liên quan phải đảm bảo trách nhiệm của mình
trong hoạt động khai thác khoáng sản, nhằm tránh những rủi ro, sự cố môi trường
có thể xảy ra với người lao động và cộng đồng địa phương. Ngoài ra, JOGMEC tổ
chức cuộc họp trao đổi thông tin giữa các bên, đào tạo phát triển nguồn nhân lực
cho các doanh nghiệp, phát hành sách hướng dẫn và giải thích về phương pháp kỹ
thuật, công nghệ xử lý ô nhiễm trong khai thác mỏ, hợp tác quốc tế, trao đổi kinh
nghiệm về phòng chống ô nhiễm và phát triển du lịch sinh thái tại các mỏ đã hoàn
thổ...
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề an toàn, sức khỏe con
người và môi trường, JOGMEC luôn phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền từ
Trung ương đến địa phương giám sát các hoạt động phòng chống, xử lý ô nhiễm
môi trường của các chủ mỏ hoặc đơn vị được thuê thực hiện phòng chống ô nhiễm
tại các mỏ khai thác khoáng sản. JOGMEC hoạt động dưới sự bảo trợ của Chính
phủ Nhật Bản nhằm thực hiện các chính sách pháp luật của Chính phủ đối với vấn
đề ô nhiễm mỏ và nhiệm vụ của JOGMEC là hỗ trợ công tác phòng chống ô nhiễm
mỏ tại Nhật Bản, phát triển các công nghệ tiên tiến về phòng ngừa ô nhiễm do khai
thác mỏ, góp phần phát triển hợp lý tài nguyên khoáng sản đất nước.
Bài học thành công
Một trong những minh chứng thành công cho quyết sách đúng đắn của Nhật
Bản đó là việc làm sạch dòng sông Kitakami (thuộc quận Tôhôku -tỉnh Iwate), một
dòng sông từng bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi các hoạt động khai thác khoáng sản
của khu mỏ Matsuô. Đây là mỏ lưu huỳnh lộ thiên lớn nhất ở châu Á, khu mỏ được
cấp phép khai thác vào năm 1914. Tuy nhiên, do công tác quản lý ngày càng yếu
kém, khu mỏ đã ngừng hoạt động vào năm 1971 và bị đóng cửa vĩnh viễn sau đó
một năm. Khi đó, đã khai thác được khoảng 29 triệu tấn quặng lưu huỳnh và sắt
sunfua, sản xuất được 10 triệu tấn axít sunfuric và 2,1 triệu tấn lưu huỳnh tinh chế
trong 60 năm khai thác.
Sau khi khu mỏ Matsuô bị bỏ hoang, một lượng lớn nước thải chứa axít được
thải ra sông Kitakami, gây ô nhiễm môi trường, hủy diệt các loài động vật thủy
sinh, ảnh hưởng đến sinh kế của người dân sống dọc theo bờ sông. Trước tình hình
này, tháng 11 - 1971, chính quyền tỉnh Iwate đã đề xuất với Chính phủ thực hiện
các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm nước sông Kitakami và tiến hành xây dựng Nhà
máy trung hòa nước thải chứa axít tại khu mỏ Matsuô bỏ hoang vào tháng 8/1976,
với nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước khoảng 10 tỷ yên và 600 triệu yên mỗi
năm để duy trì và vận hành Nhà máy. Việc trung hòa nước thải được thực hiện
bằng một hệ thống kết hợp giữa ôxy hóa vi khuẩn và trung hòa canxi cácbonát để
cải thiện môi trường nước. Nước thải chảy qua các đường hầm thoát nước vĩnh
cửu, toàn bộ bề mặt mỏ quặng lộ thiên được phục hồi và được phủ đất, trồng cây.
Đường hầm làm bằng bê tông với một ống nhựa vinyl chloride cứng, tổng chiều
dài là 322 m. Nước thải chứa axít được dẫn thẳng đến các bể tiếp nhận nước thải
thông qua các ống nhựa, sau đó bơm vào bể phân phối. Ở phần trên của khu mỏ cũ,
các kênh dẫn nước được thiết lập dọc theo sườn núi để thoát nước bề mặt và chảy
vào công trường khai thác. Ở thượng nguồn của mỏ, các bờ kè của sông phủ bằng
lớp lót bê tông ngăn nước sông xâm nhập vào đất. Nhà máy trung hòa nước thải
được vận hành liên tục 24h/ngày, xử lý khoảng 9 triệu m3 chất thải chứa axít mỗi
năm.
Giờ đây, nước của dòng sông Kitakami đã trở nên trong xanh, đem lại sự sống
cho các loài thủy sinh trong lòng sông, cuộc sống của người dân địa phương được
cải thiện.
Chuyên đề khai thác khoáng sản gắn với BVMT
Bạn đang xem tài liệu "Đề tài Phòng chống ô nhiễm trong hoạt động khai thác mỏ của Nhật Bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
de_tai_phong_chong_o_nhiem_trong_hoat_dong_khai_thac_mo_cua.docx

