Chiến lược xuất khẩu thân thiện môi trường của doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ và bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp nông sản Việt Nam trong xuất khẩu rau quả vào thị trường EU

CHIẾN  ƢỢC XUẤT KHẨU THÂN THIỆN M I TRƢỜNG  
CỦA DOANH NGHIỆP THỔ NHĨ KỲ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM  
CHO DOANH NGHIỆP NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG XUẤT KHẨU  
RAU QUẢ VÀO THỊ TRƢỜNG EU  
ThS. Phùng Mạnh Hùng  
TS. Đỗ Thị Bình  
Trường Đại học Thương mại  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này đề cập tới một số lý thuyết có liên quan tới kinh doanh thân thiện môi trường,  
sử dụng phương pháp nghiên cứu dữ liệu định tính và thứ cấp, cụ thể là các báo cáo kinh doanh của  
doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ với quy mô mẫu là 22 doanh nghiệp. Từ các báo cáo này, tác giả phân  
tích các hành động thân thiện môi trường tại doanh nghiệp và nhóm chúng vào các chiến lược chức  
năng thân thiện môi trường gồm: chiến lược marketing xuất khẩu thân thiện môi trường, chiến lược  
nghiên cứu và phát triển sản phẩm xuất khẩu thân thiện môi trường, chiến lược sản xuất xuất khẩu  
thân thiện môi trường, chiến lược thu mua xuất khẩu thân thiện môi trường, chiến lược nguồn nhân  
lực thân thiện môi trường, chiến lược tài chính thân thiện môi trường. Từng hành động sẽ được đo  
lường tần suất xuất hiện tại các doanh nghiệp. Trên cơ sở các hành động chiến lược thân thiện môi  
trường tại một số doanh nghiệp Thỗ Nhĩ Kỳ, tác giả đề xuất giải pháp gồm một số hành động thân  
thiện môi trường đối với doanh nghiệp nông sản Việt Nam chuyên xuất khẩu rau quả vào thị trường  
EU- một thị trường xem trọng bảo vệ môi trường.  
Từ khóa: kinh doanh thân thiện môi trường, xuất khẩu, chiến lược, doanh nghiệp nông sản,  
rau quả, thị trường EU  
ABSTRACT  
The research mentions theories related to eco-friendly business practices and using qualitative  
research method with secondary data which includes business reports of 22 Turkey coporations.  
Environmental practices will be analyzed and grouped into environmentally friendly functional  
strategies such as: eco-friendly export marketing strategy, eco-friendly export research and  
development strategy,eco-friendly export production strategy, eco-friendly export purchasing  
strategy, eco-friendly human resource strategy, and eco-friendly financial strategy. Each strategic  
action will be measured the frequency of occurrence in Turkey businesses. On the basis of eco-  
friendly strategies in some Turkish businesses proposing solutions for Vietnamese agro enterprises  
specializing in exporting vegetables and fruits into EU market which attaches great importance to  
environmental protection.  
Keywords:eco-friendly business, export, strategy, agro coporation, vegetables, fruit, EU market  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Các mối lo ngại về môi trường và sinh thái đang trở thành chủ đề thảo luận quan trọng tại các  
hội nghị quốc tế trong những thập kỷ gần đây xuất phát từ thực trạng tăng cường các hoạt động  
công nghiệp hóa ở nhiều quốc gia, từ đó gây ra những tác động nghiêm trọng tới môi trường và đe  
89  
dọa cuộc sống của con người, những tác động đó là: ô nhiễm không khí và nguồn nước, tình trạng  
nóng lên toàn cầu, lũ lụt và xói mòn đất, thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu… (Leonidou và  
Leonidou, 2011). Những ảnh hưởng này đã gây ra sức ép rất lớn lên các doanh nghiệp, buộc họ phải  
chịu sự giám sát chặt chẽ từ phía: chính phủ các quốc gia, hiệp hội, người lao động, khách hàng…  
(Baker và Sinkula, 2005; Gadenne, Kennedy, và McKeiver, 2009). Môi trường đang ngày càng  
đóng vai trò quyết định và buộc doanh nghiệp cần phải để ý tới nó khi cân nhắc các hoạt động sản  
xuất/ kinh doanh.  
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, ngày càng xuất hiện nhiều doanh nghiệp  
kinh doanh quốc tế với phương thức xâm nhập phổ biến là xuất khẩu. Đây là phương thức phổ biến  
bởi những lợi ích như: giảm thiểu rủi ro, các yêu cầu về nguồn lực không nhiều, tính linh hoạt chiến  
lược cao (Hultman, Robson, và Katsikeas, 2009). Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất khẩu cũng gặp phải  
nhiều rào cản môi trường từ phía thị trường quốc tế, đặc biệt là ở những thị trường các nước phát  
triển với trình độ dân trí và thu nhập cao, yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chí không gây  
tổn hại môi trường trong quá trình sản xuất, đảm bảo thương mại công bằng và phát triển bền  
vững… Về phía các doanh nghiệp xuất khẩu cũng đang chuyển mình với những điều chỉnh trong  
chiến lược kinh doanh nhằm hướng tới mục tiêu khai thác cơ hội từ nhu cầu bảo vệ môi trường của  
khách hàng (Aragon-Correa và Sharma, 2003; Banerjee, 2001; Buysse và Verbeke, 2003).  
Chủ đề nghiên cứu về chiến lược kinh doanh thân thiện môi trường đang trở thành một chủ đề  
hấp dẫn, thu hút nhiều học giả thực hiện và công bố các kết quả nghiên cứu của mình trên nhiều tạp  
chí uy tín, tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu này có cách tiếp cận về chiến lược kinh doanh thân  
thiện môi trường trên thị trường nội địa mà chưa có nhiều nghiên cứu về chiến lược kinh doanh thân  
thiện môi trường với định hướng thị trường quốc tế. Không chỉ có chính quyền và khách hàng trong  
nước mới quan tâm và đòi hỏi doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường mà chính quyền  
nước ngoài cũng đang ngày càng gia tăng các quy định pháp luật hướng tới bảo vệ môi trường tự  
nhiên (Rugman và Verbeke, 1998), khách hàng nước ngoài cũng đang ngày càng ý thức được các  
vấn đề sinh thái và nhạy cảm với môi trường (Miles và Covin, 2000), xem đó như là những giá trị  
trong chiến lược khác biệt hóa mà doanh nghiệp nên theo đuổi trong bối cảnh môi trường kinh  
doanh có tính cạnh tranh và năng động cao (Bellesi, Lehrer, và Tal, 2005).  
Các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu nông sản của Việt Nam không nằm ngoài xu hướng  
này. Với điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng thuận lợi đã hỗ trợ cho người nông dân và các doanh  
nghiệp chế biến nông sản Việt Nam sản xuất và xuất khẩu nông sản đi nhiều nước trên thế giới,  
Việt Nam được đánh giá là có lợi thế cạnh tranh xuất khẩu nông sản và còn nhiều dư địa tăng  
trưởng, kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 2019 đạt khoảng 17 tỷ USD. Trong số các mặt hàng  
nông sản xuất khẩu hàng đầu thì rau quả hiện tại có giá trị xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch xuất  
khẩu đạt 3,75 tỷ USD và được xem là mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong thời gian tới. Bốn quốc gia  
và vùng lãnh thổ mà Việt Nam xuất khẩu rau quả nhiều nhất xếp theo thứ tự giảm dần là: Trung  
Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Liên minh châu  u (EU). Trong đó đáng chú ý là thị trường EU được  
dự báo sẽ có tốc độ tăng trưởng cao và vượt qua các thị trường còn lại về kim ngạch xuất khẩu. Tuy  
nhiên, điểm đáng chú ý của thị trường EU chính là các rào cản kỹ thuật thương mại (TBT), rào cản  
kiểm dịch động/thực vật (PSP), đặc biệt là rào cản về trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững.  
Trong đó, các yêu cầu về thực hiện hoạt động kinh doanh một cách có trách nhiệm, tuân thủ luật lao  
động, bảo vệ môi trường tự nhiên của một bộ phận khách hàng tại khu vực Tây và Bắc  u đang nổi  
lên và không ngừng tăng trưởng chính là một rào cản quan trọng buộc các doanh nghiệp xuất khẩu  
90  
rau quả Việt Nam cần xem xét lại chiến lược kinh doanh theo hướng thân thiện với môi trường để  
đáp ứng yêu cầu của thị trường này. Xuất phát từ những luận cứ trên, tác giả nghiên cứu chiến lược  
kinh doanh xuất khẩu định hướng thân thiện môi trường của các doanh nghiệp xuất khẩu Thổ Nhĩ  
Kỳ, tổng kết thành bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp đối với các doanh nghiệp xuất khẩu  
rau quả Việt Nam nhằm tăng cường khả năng xuất khẩu vào thị trường các quốc gia thuộc Liên  
minh châu Âu (EU).  
2. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
Các nghiên cứu có liên quan cho rằng, kinh doanh thân thiện môi trường là một lĩnh vực  
nghiên cứu vượt ra ngoài các nguyên tắc thông thường, bởi vì nó là một quá trình thống nhất hoàn  
toàn với kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp, trong đó bao gồm các hoạt động: giảm chất thải,  
ngăn chặn ô nhiễm, quản lý sản phẩm và thực thi trách nhiệm xã hội để đạt được lợi thế cạnh tranh  
trong nỗ lực học hỏi và phát triển không ngừng (Hart, 2005). Có nhiều quan điểm khác nhau từ phía  
các học giả khi định nghĩa về kinh doanh thân thiện môi trường, nhưng tựu chung lại đó là các  
chính sách, các thủ tục và các hành động vì môi trường có thể được triển khai thông qua phát triển  
các chiến lược quản trị môi trường nhằm nắm bắt các cơ hội kinh doanh như: giảm chi phí (chi phí  
năng lượng, nguyên liệu, lao động), tăng doanh thu và lợi nhuận (thông qua khác biệt hóa sản  
phẩm) và cải thiện mối quan hệ với các bên liên quan (Ambec và Lanoie, 2008; Banerjee, 2001;  
Menon, Menon, Chowdhury, và Jankovich, 1999; Lee và Ball, 2003).  
Trách nhiệm xã hội (CSR) và kinh doanh thân thiện môi trường đều có mối quan tâm chung là  
các vấn đề môi trường. Do vậy, các nghiên cứu thực hiện trong hai lĩnh vực này bắt đầu có điểm  
chung (Montiel, 2008). Một số học giả cho rằng kinh doanh thân thiện môi trường là một phần quan  
trọng của trách nhiệm xã hội (CSR) vì mục tiêu cuối cùng hướng đến là mang lại lợi ích cho cộng  
đồng (Babiak và Trendafilova, 2011). Ủy ban châu  u định nghĩa CSR là một khái niệm kết hợp  
giữa các mối quan tâm về xã hội với các mối quan tâm về môi trường trong các chức năng chiến  
lược và tự nguyện tương tác với các bên liên quan (Ủy ban châu Âu, 2002).  
Thêm vào đó, vấn đề kinh doanh thân thiện môi trường đã trở nên sáng tỏ ở nhiều khía cạnh  
vào những năm 1990 và các nghiên cứu bắt đầu nở rộ từ những năm 2000. Những nghiên cứu đầu  
tiên về kinh doanh thân thiện môi trường bắt nguồn từ những năm 1960 với sự ra đời của khái niệm  
marketing xã hội (Kotler và Levy, 1969). Khi chủ đề nghiên cứu này bắt đầu gây được chú ý và thu  
hút sự quan tâm của nhiều học giả, những khám phá mới trong nghiên cứu bắt đầu xuất hiện như:  
marketing vì mục đích cao đẹp (Varadarajan và Menon, 1988), marketing môi trường (Drumwright,  
1994), trách nhiệm xã hội (Brown và Dacin, 1997), chủ nghĩa môi trường bên trong doanh nghiệp  
(Banerjee, Iyer, và Kashyap, 2003), sự bền vững dựa trên định hướng thị trường (Crittenden,  
Crittenden, Ferrell, và Pinney, 2011).  
Sự gia tăng các nghiên cứu về chủ đề này cũng xuất phát từ chính sự cải thiện trong mối quan  
hệ giữa doanh nghiệp với các nhà hoạch định chính sách, các nhóm liên quan và khách hàng  
(Banerjee, 2002; Menon & Menon, 1997). Sự gia tăng sức ép từ các bên liên quan như qua thể chế  
luật pháp và sự lo ngại của cộng đồng là động cơ nhen nhóm cho sự nổi lên của những nét mới  
trong nghiên cứu, tập trung vào những ảnh hưởng tới môi trường bắt nguồn từ hoạt động của doanh  
nghiệp (Passarini, Pereira, de Brito Farias, Calarge và Satana, 2014). Những dẫn chứng có thể được  
tìm thấy trong cách mạng công nghiệp bắt đầu từ những năm 1700 và chính nó đóng vai trò chính  
cho sự gia tăng hàng hóa, rác thải và ô nhiễm môi trường, sự chuyển đổi sang nền kinh tế chủ nghĩa  
91  
tư bản (Hobsbawm, 1975), phong trào bảo tồn và tăng cường nhận thức sinh thái những năm 1850  
(Buchholz, 1991), phong trào chủ nghĩa tiêu dùng những năm 1970 (Peattie, 1995), những quy định  
chặt hơn của các chính phủ đối với vấn đề môi trường những năm 1980 (Menon và Menon, 1997).  
Kinh doanh thân thiện môi trường cũng nhận được nhiều chú ý từ các học giả nghiên cứu  
marketing và quản trị, sự phát triển của lĩnh vực nghiên cứu phân mảnh này là sự kết hợp của nhiều  
học thuyết khác nhau (quan điểm dựa trên nguồn lực, lý thuyết năng lực động, thuyết các bên liên  
quan, thuyết thể chế). Eric G. Olson (2008) cho rằng chiến lược thân thiện môi trường hay chiến  
lược xanh là một chiến lược bổ sung vào trong các chiến lược kinh doanh và chiến lược chức năng,  
chiến lược thân thiện môi trường là nền tảng để doanh nghiệp đưa ra các quyết dịnh ảnh hưởng tích  
cực tới môi trường. Quan điểm dựa trên nguồn lực kết nối tới đánh giá chiến lược kinh doanh thân  
thiện môi trường bằng cách tập trung vào các đánh giá bên trong doanh nghiệp (Shrivastava, 1995).  
Theo quan điểm dựa trên nguồn lực cổ điển, các nguồn lực độc đáo là có giá trị và khó bắt chước có  
thể giúp doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong dài hạn (Conner, 1991). Penrose (1959)  
xem doanh nghiệp là một tập hợp các nguồn lực và chú trọng tới vai trò của nguồn lực trong việc  
đạt hiệu suất vượt trội. Tuy nhiên, Hart (1995) đã mở rộng thuyết này bằng việc xem xét ảnh hưởng  
đến từ môi trường tự nhiên và biện luận rằng doanh nghiệp cần thích ứng với sự thay đổi của điều  
kiện môi trường thông qua xây dựng và sử dụng những nguồn lực mới, doanh nghiệp cần phát triển  
các nguồn lực độc đáo để đáp ứng nhu cầu xã hội về môi trường tự nhiên thông qua cải thiện tính  
hợp pháp xã hội, tích hợp vai trò của các bên liên quan như là một phần trong quá trình phát triển  
bền vững trong doanh nghiệp. Thuyết năng lực động là sự kết hợp giữa bản chất thay đổi của nguồn  
lực và năng lực, nổi lên như là một học thuyết mở rộng của RBV (Eisenhardt và Martin, 2000).  
Thuyết này cho rằng năng lực động là khả năng tích hợp, xây dựng và tái định hình lại các năng lực  
bên trong và bên ngoài để thích ứng với sự thay đổi của môi trường (Teece et al., 1997). Teece và  
cộng sự cũng cho rằng một chiến lược thân thiện môi trường chủ động bao gồm kết hợp những  
năng lực không lặp lại và có thể so sánh, vì vậy chiến lược này là sự kết hợp giữa kinh doanh và  
môi trường tự nhiên, có đặc điểm đặc trưng của năng lực động và cho phép doanh nghiệp thích ứng  
với sự thay đổi của môi trường và dẫn tới những ảnh hưởng tích cực lên lợi thế cạnh tranh (Aragon-  
Correa và Sharma, 2003). Freeman (1984) cho rằng bên liên quan là bất kỳ tổ chức hay cá nhân có  
ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi các hành động của doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần phải đáp  
ứng kỳ vọng của bên liên quan bởi vì mọi quyết định quản trị đều bị chi phối bởi bên liên quan. Đó  
là lý do doanh nghiệp kết hợp các chiến lược kinh doanh thân thiện môi trường vào trong các chức  
năng kinh doanh chung chính là để kết nối và đáp ứng với mối lo ngại về sinh thái của bên liên  
quan. Scott và Christensen (1995) khi bàn về thuyết thể chế thì cho rằng đó là cấu trúc các quy định  
mang tính quy phạm và được nhận thức rõ ràng từ đó tạo nên sự ổn định trong hành vi xã hội.  
Thuyết thể chế nhấn mạnh sự hợp tác của doanh nghiệp với môi trường, các áp lực về xã hội và văn  
hóa lên doanh nghiệp, từ đó buộc doanh nghiệp thay đổi. Jennings và Zandbergen (1995) chỉ ra lợi  
ích của thuyết thể chế là lý giải các yếu tố cưỡng chế bao gồm các quy định chung và các yêu cầu  
luật pháp chính là động cơ thúc đẩy doanh nghiệp chấp nhận và triển khai các chiến lược kinh  
doanh thân thiện môi trường.  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu này là báo cáo kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu  
Thổ Nhĩ Kỳ chuyên xuất khẩu vào thị trường EU ở các ngành nghề khác nhau. Các doanh nghiệp  
được chọn đều là những doanh nghiệp đang triển khai chiến lược kinh doanh thân thiện môi trường  
92  
xuất phát từ đòi hỏi của một bộ phận người tiêu dùng châu Âu. Số lượng doanh nghiệp được chọn  
là 22 doanh nghiệp ở các ngành nghề: nông sản, thủy sản, may mặc, chế biến gỗ, đồ uống giải khát,  
đều là những ngành hàng có nguy cơ gây tổn hại cao đối với môi trường. Dữ liệu sẽ được bóc tách  
thành các chủ đề (cấp 1) và khái niệm (cấp 2), trong đó chủ đề là các chiến lược kinh doanh thân  
thiện môi trường đang triển khai: chiến lược marketing, chiến lược R&D, chiến lược sản xuất, chiến  
lược nguồn nhân lực, chiến lược thu mua, chiến lược tài chính. Các khái niệm là các phương hướng  
và hành động mà các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ đang triển khai tại từng lĩnh vực chức năng, giải  
thích cho từng chiến lược kinh doanh thân thiện môi trường. Từng khái niệm này sẽ được đo lường  
tần suất xuất hiện trong phạm vi 22 doanh nghiệp là mẫu nghiên cứu.  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
4.1. Chi n l ợc marketing xuất khẩu thân thiện môi tr ờng  
Bảng 1. Các hành động triển khai chi n l ợc marketing xuất khẩu  
thân thiện môi tr ờng tại các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ  
Chủ  ề  
Các hꢀnh  ộng triển khai  
G n nh n v  đ ng g i th n thiꢀn môi trưꢁng  
Phát tri n các sản ph m sinh thái  
Tần su t xu t hiện  
9
8
4
4
1
1
H p tác vꢂi các thành viên kênh phân phꢃi  
Chi n  ư c marketing  
thân thiꢀn môi trưꢁng  
S  d ng d ch v  logistics thân thiꢀn môi trưꢁng  
N  l c truyền thông đ nh hưꢂng bảo vꢀ môi trưꢁng  
Chi t khấu đ c biꢀt khuy n khích hành vi mua thân thiꢀn môi trưꢁng  
Kết quả xử lý dữ liệu thể hiện 6 hành động để triển khai chiến lược marketing thân thiện môi  
trường mà doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ áp dụng, đó là: gắn nhãn và đóng gói sản phẩm thân thiện môi  
trường, phát triển các sản phẩm sinh thái, hợp tác với các thành viên kênh phân phối, sử dụng  
logistics thân thiện môi trường, nỗ lực truyền thông định hướng bảo vệ môi trường, chiết khấu đặc  
biệt để khuyến khích hành vi mua thân thiện môi trường. Trong đó, phần lớn doanh nghiệp háo hức  
với thiết kế sản phẩm thân thiện môi trường để đáp ứng kỳ vọng xanh của khách hàng để tiếp tục  
vận hành ở thị trường quốc tế. Một trong số các doanh nghiệp dẫn chứng các thùng hàng của họ  
được đóng từ nguyên liệu gỗ lấy từ những cánh rừng công nghiệp tái tạo có kiểm soát, lấy gỗ từ đây  
họ được cấp chứng nhận FSC là chứng nhận của hội đồng quản lý rừng (Forest Stewardship  
Council), đây là yêu cầu bắt buộc của khách hàng quốc tế. Một doanh nghiệp khác thì quan tâm tới  
làm cho 90% trong số các mặt hàng xuất khẩu trở nên nhẹ hơn thông qua đổi mới sản phẩm, đó là  
một nỗ lực 4 năm và sử dụng hệ thống logistics thu hồi, kết quả là làm giảm lượng phát thải khí  
CO2 do mức tiêu thụ năng lượng ít hơn và doanh nghiệp này cũng sử dụng ít xe tải hơn khi vận  
chuyển hàng hóa.  
4.2. Chi n l ợc nghiên cứu và phát triển sản phẩm thân thiện môi tr ờng  
Chiến lược nghiên cứu và phát triển sản phẩm tập trung vào phát triển các sản phẩm và công  
nghệ mới, sạch hơn để ít gây tổn hại tới môi trường (Shrivastava, 1995). Kết quả nghiên cứu chỉ ra  
các hành động mà doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ đang triển khai trong khuôn khổ chiến lược R&D là:  
hợp tác với các tổ chức bên ngoài để triển khai hoạt động kinh doanh thân thiện môi trường, phát  
triển sản phẩm và công nghệ nhằm tối thiểu hóa ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, có đội ngũ  
93  
chuyên gia nghiên cứu tập trung vào phát triển sản phẩm thân thiện môi trường. Đáng chú ý là hoạt  
động hợp tác với các tổ chức bên ngoài hỗ trợ doanh nghiệp triển khai hoạt động kinh doanh thân  
thiện môi trường được xem là hoạt động phổ biến nhất. Một trong những doanh nghiệp triển khai  
hành động này chia sẻ họ đang trong quá trình phát triển một loại bình chữa cháy bằng điện, không  
gây hại cho môi trường và hoạt động hoàn toàn tự động mà không cần con người can thiệp, do vậy  
nó có tiềm năng rất lớn tại các thị trường xuất khẩu, dự án này được hỗ trợ bởi Hội đồng nghiên cứu  
công nghệ và khoa học Thổ Nhĩ Kỳ - TUBITAK (The Scientific and Technological Research  
Council of Turkey).  
Bảng 2. Các hành động triển khai chi n l ợc R&D xuất khẩu thân thiện  
môi tr ờng tại các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ  
Tần su t  
xu t hiện  
Chủ  ề  
Các hꢀnh  ộng triển khai  
H p tác vꢂi các t  chứcꢅ  ênꢅ ngo iꢅ đ  tri n khai ho tꢅ đ ng kinh doanh thân  
thiꢀnꢅmôiꢅtrưꢁng  
10  
Chi nꢅ ư c R&D thân Phát tri n sản ph m và công nghꢀ nh m tꢃi thi u hóa ảnhꢅhưꢄng tiêu c c tꢂi  
6
2
thiꢀnꢅmôiꢅtrưꢁng  
môi trưꢁng  
C ꢅđ iꢅngũꢅchuyênꢅgiaꢅnghiênꢅcứu tập trung vào phát tri n sản ph m thân thiꢀn  
môiꢅtrưꢁng  
4.3. Chi n l ợc sản xuất thân thiện môi tr ờng  
Các vấn đề liên quan đến vận hành sản xuất thân thiện môi trường là giảm rác thải và sản xuất  
tinh gọn (King và Lenox, 2001). Theo kết quả nghiên cứu, các doanh nghiệp đều nhấn mạnh tầm  
quan trọng của việc tích hợp các vấn đề môi trường vào trong quá trình sản xuất bằng nhiều hành  
động: trang bị hệ thống quản trị môi trường, giảm tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình  
sản xuất và triển khai cách tiếp cận sản xuất thân thiện môi trường. Phần lớn các doanh nghiệp là  
mẫu nghiên cứu đã thiết lập hệ thống quản lý môi trường trong các nhà máy nhằm mục tiêu bảo vệ  
môi trường. Một doanh nghiệp khẳng định họ đã bắt đầu trang bị các hệ thống quản trị môi trường  
ISO 9001, ISO14001 và ISO 18001 từ 6 năm trước và hiện nay sản phẩm của họ được người tiêu  
dùng tại Tây và Bắc  u đón nhận rất nhiệt tình.  
Bảng 3. Các hành động triển khai chi n l ợc sản xuất xuất khẩu  
thân thiện môi tr ờng tại các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ  
Chủ  ề  
Các hꢀnh  ộng triển khai  
Tần su t  
xu t hiện  
Trang b  hꢀ thꢃng quảnꢅ  ꢅmôiꢅtrưꢁng  
14  
6
Chi nꢅ ư c sản xuất  
thân thiꢀnꢅmôiꢅtrưꢁng  
Giảmꢅtꢆcꢅđ ng tiêu c cꢅđ nꢅmôiꢅtrưꢁng trong quá trình sản xuất  
Tri n khai cách ti p cận sản xuất thân thiꢀnꢅmôiꢅtrưꢁng  
5
4.4. Chi n l ợc nguồn nhân lực thân thiện môi tr ờng  
Nguồn nhân lực với vai trò là một trong những thành phần cấu thành nên chiến lược chung  
của doanh nghiêp, cần được tuyển dụng, đào tạo và tham gia giám sát các vấn đề về môi trường  
(Ramus, 2001). Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số doanh nghiệp đã bắt đầu triển khai kết hợp vấn  
đề môi trường vào trong chức năng nguồn nhân lực thông qua: đào tạo cho nhân sự và ủy quyền cho  
nhân sự về các vấn đề môi trường. Nhiều doanh nghiệp đánh giá ý thức về môi trường và bảo vệ  
94  
môi trường trong đội ngũ nhân sự ngày càng cao thông qua việc tổ chức nhiều hội thảo, các buổi  
đào tạo và thảo luận chuyên sâu. Một doanh nghiệp trong mẫu khẳng định họ đã tổ chức các chương  
trình giáo dục và đào tạo về môi trường như là một yêu cầu thường xuyên có tính định kỳ. Tiếp  
theo, họ trình chiếu slide gồm âm thanh và hình ảnh về ô nhiễm môi trường trên bốn màn hình lớn  
đặt tại các quầy cà phê bên trong nhà máy nhằm tăng cường nhận thức của người lao động về bảo  
vệ môi trường.  
Bảng 4. Các hành động triển khai chi n l ợc nguồn nhân lực thân thiện  
môi tr ờng tại các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ  
Tần su t  
xu t hiện  
Chủ  ề  
Các hꢀnh  ộng triển khai  
Chi nꢅ  ư c nguꢇn nhân Đ oꢅt o nhân s  về các vấnꢅđề môiꢅtrưꢁng  
5
2
l c thân thiꢀnꢅmôiꢅtrưꢁng  
Ủy quyền cho nhân s  về các vấnꢅđề môiꢅtrưꢁng  
4.5. Chi n l ợc thu mua thân thiện môi tr ờng  
Với chiến lược thu mua thân thiện môi trường, có một nguyên tắc là cần tuân thủ các yêu cầu  
môi trường từ các thành viên phía dưới trong chuỗi cung ứng để phát triển một chiến lược thu mua  
thân thiện môi trường và tích hợp (Aragon-Correa, Hurtado-Torres, Sharma, và Garcia-Morales,  
2008; Darnall, Henriques, và Sadorsky, 2008). Các doanh nghiệp thích làm việc với các đối tác  
cung ứng có cam kết tuân thủ nghiêm túc ít nhất là ở mức tối thiểu các tiêu chuẩn về môi trường  
(Simpson, Taylor, và Barker, 2014). Các hành động nổi bật mà doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ triển khai  
liên quan tới chiến lược thu mua thân thiện môi trường gồm: hợp tác với nhà cung ứng nhằm tuân  
thủ quy định môi trường, ưu tiên mua nguyên liệu thân thiện môi trường, giao dịch với nhà cung  
ứng nhạy cảm môi trường, yêu cầu nhà cung ứng tuân thủ tiêu chuẩn môi trường. Phần lớn doanh  
nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ đã thể hiện nỗ lực và sự cố gắng, thể hiện qua cách mà họ tích hợp các mối lo  
ngại môi trường vào trong chức năng thu mua của doanh nghiệp.  
Bảng 5. Các hành động triển khai chi n l ợc thu mua thân thiện  
môi tr ờng tại các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ  
Chủ  ề  
Các hꢀnh  ộng triển khai  
Tần su t xu t hiện  
CL thu mua thân H p tác vꢂi các nhà cung ứng nh m tuân thꢈ quyꢅđ nhꢅmôiꢅtrưꢁng  
13  
11  
10  
4
thiꢀnꢅmôiꢅtrưꢁng  
Ưuꢅtiênꢅmuaꢅnguyênꢅ iꢀuꢅđ u vào thân thiꢀn vꢂiꢅmôiꢅtrưꢁng  
L a ch n h p tác vꢂi nhà cung ứng nh y cảmꢅmôiꢅtrưꢁng  
Yêu c u nhà cung ứng tuân thꢈ các tiêu chu n về môiꢅtrưꢁng  
Một doanh nghiệp chia sẻ họ triển khai các hành động môi trường cách đây 1 năm liên quan tới  
móc treo quần áo. Trước đây họ thường ném các móc quần áo hỏng ra môi trường nhưng giờ họ gửi  
chúng ngược trở lại nhà cung ứng để tìm cách sửa chữa. Bằng một bài học nhỏ này họ đang tìm cách  
hợp tác nhiều hơn với nhà cung ứng để giảm rác thải đổ ra môi trường trong hoạt động kinh doanh quốc  
tế. Một doanh nghiệp khác cũng đang tìm giải pháp với vấn đề xả khói ra môi trường của những xe tải  
chở nguyên liệu từ nhà cung ứng vì các khách hàng quốc tế của họ rất quan tâm tới vấn đề này.  
4.6. Chi n l ợc tài chính xuất khẩu thân thiện môi tr ờng  
Một chiến lược chức năng bền vững khác quan trọng với môi trường đó là tài chính với sự  
quan tâm chủ yếu đặt vào hiệu suất môi trường doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng thế nào tới hiệu quả tài  
95  
chính (Curcio và Wolf, 1996). Kết quả nghiên cứu các hành động về tài chính thân thiện môi trường  
doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ đang triển khai là: Đóng góp tài chính vào các hoạt động bảo vệ môi  
trường, chú ý tới vấn đề tiết kiệm chi phí và bảo vệ môi trường, chú ý tới vấn đề chi phí môi trường.  
Phần lớn các doanh nghiệp đều nhấn mạnh tới sự cần thiết của các khoản đầu tư lớn vào giải quyết  
ô nhiễm môi trường và mục đích khoản đầu tư này là để có một ảnh hưởng tích cực lên hiệu quả tài  
chính doanh nghiệp trong tương lai dài hạn. Một doanh nghiệp chia sẻ học đã cố gắng chuyển đổi  
toàn bộ hơi nước dư thừa trong quá trình sản xuất thành nước, mục đích của việc này là để giảm  
lượng nước tiêu thụ trong nhà máy và giảm lượng khí thải Cacbon. Trong 10 năm doanh nghiệp đã  
giảm 32% lượng nước tiêu thụ và 52% lượng khí Co2 xả ra môi trường. Kết quả bền vững này đòi  
hỏi nguồn đầu tư lớn, tư duy dài hạn đối với thị trường quốc tế.  
Bảng 6: Các hành động triển khai chi n l ợc tài chính xuất khẩu  
thân thiện môi tr ờng tại các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ  
Chủ  ề  
Các hꢀnh  ộng triển khai  
Đ ngꢅg pꢅt iꢅch nhꢅv oꢅcꢆcꢅho tꢅđ ng bảo vꢀ môiꢅtrưꢁng  
Chú ý tꢂi vấnꢅđề ti t kiꢀm chi phí và bảo vꢀ môiꢅtrưꢁng  
Chú ý tꢂi vấnꢅđề chiꢅph ꢅmôiꢅtrưꢁng  
Tần su t xu t hiện  
13  
11  
2
Chi nꢅ ư c tài chính  
thân thiꢀnꢅmôiꢅtrưꢁng  
5. BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU RAU QUẢ VIỆT  
NAM VÀO THỊ TRƯỜNG CÁC QUỐC GIA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)  
Chiến lược xuất khẩu thân thiện môi trường của các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ thể hiện  
thông qua các hành động chiến lược tại các lĩnh vực chức năng khác nhau, là những bài học  
kinh nghiệm quý giá mà doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp nông sản Việt Nam  
nói riêng trong xuất khẩu mặt hàng rau quả vào thị trường EU cần phải học tập để nâng cao khả  
năng cạnh tranh của rau quả Việt Nam tại thị trường này. Trong bối cảnh hiệp định tự do  
thương mại Việt Nam - EU đã bắt đầu có hiệu lực triển khai từ tháng 8/2020 hứa hẹn sẽ tạo ra  
nhiều động lực để doanh nghiệp nông sản Việt Nam có thể bứt phá vì thuế đối với rau quả nhiệt  
đới từ Việt Nam về 0% từ thời điểm hiệp định có hiệu lực sẽ giúp rau quả Việt Nam cạnh tranh  
tốt hơn, tuy nhiên đó không phải là tất cả vì người tiêu dùng EU sẵn sàng chi trả cao hơn cho  
rau quả tốt cho sức khỏe và sản phẩm đó đảm bảo chuỗi cung ứng bền vững, bảo vệ môi trường.  
Vấn đề này các doanh nghiệp nông sản Việt Nam thực hiện chưa tốt, thể hiện ở một số khía  
cạnh: Sản phẩm xuất khẩu vào thị trường EU chủ yếu là dạng tươi và sản phẩm chế biến chiếm  
tỷ trọng thấp, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chưa đa dạng (chủ yếu: dứa, thanh long, cơm dừa,  
chôm chôm, xoài), số lượng doanh nghiệp được cấp chứng nhận Gobal Gap còn ít vì không đủ  
năng lực, sự kết nối giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng còn lỏng lẻo, thị phần rau quả tại EU  
chỉ chiếm chưa đến 1% trong khi khu vực này tiêu thụ 45% lượng rau toàn cầu, chưa quan tâm  
nhiều tới vấn đề môi trường trong chuỗi cung ứng. Để cải thiện năng lực cạnh tranh của rau quả  
Việt Nam tại thị trường châu Âu, tác giả đề xuất một số giải pháp đối với các doanh nghiệp  
nông sản Việt Nam, cơ quan ban ngành của Việt Nam:  
Một là, doanh nghiệp cần phối hợp và yêu cầu sự hỗ trợ từ phía cơ quan ban ngành để đạt  
được chứng nhận Global Gap. Rau quả cần có chứng nhận ở dạng này hay dạng khác, cho dù đó  
là GlobalGAP, chứng nhận hữu cơ, thương mại bình đẳng,… Mặc dù nhằm chuẩn hóa theo  
GlobalG P nhưng hiện nay tiêu chuẩn VietGAP vẫn chưa tương ứng với GlobalG P và do đó  
96  
không đáp ứng được các yêu cầu của nhiều khách hàng châu Âu. Vấn đề này cần được giải  
quyết trong ngắn hạn. Đáp ứng được chi phí chứng nhận đã là một rào cản nhưng xây dựng bí  
quyết kỹ thuật để vượt qua các tiêu chuẩn nhằm đạt được chứng nhận lại là một rào cản lớn hơn  
nhiều. Doanh nghiệp nông sản cần phối hợp với các cơ quan ban ngành để đầu tư nhiều hơn  
trong việc cải thiện các tiêu chuẩn và quy trình sản xuất. Nhà nước có thể tài trợ kinh phí ban  
đầu cho chứng nhận cũng là điều cần thiết nhưng trong trung và dài hạn, các nhà sản xuất cần  
phải tự chủ tài chính để trở thành ngành công nghiệp bền vững. Các chứng nhận đặc biệt quan  
trọng đối với các sản phẩm tươi, nhưng cũng không nên đánh giá thấp tầm quan trọng của nó  
đối với các sản phẩm chế biến.  
Hai là, xây dựng chuỗi cung ứng bền vững. Người tiêu dùng EU đang ngày càng quan tâm  
hơn đến tính minh bạch trong quá trình sản xuất rau quả mà họ sử dụng. Trách nhiệm xã hội của  
doanh nghiệp (CSR) đang ngày càng được chú ý trên thị trường EU và cần được phát triển ở  
mức độ ngành hàng cũng như cần được xem là một kế hoạch chi tiết để các doanh nghiệp làm  
theo. Đây cũng có thể là đối tượng được cấp chứng nhận, không chỉ là quy định một cách lỏng  
lẻo. Nghĩa là tất cả các công ty trong chuỗi cung ứng sẽ phải thực hiện nỗ lực bảo vệ môi  
trường và các hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội. Các tổ chức, đơn vị (như Cục Xúc tiến  
thương mại) cùng với các hiệp hội ngành hàng cũng cần xây dựng chiến lược liên quan đến  
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với ngành hàng rau quả và ngành chế biến. Ngoài ra,  
cần nhiều nỗ lực hơn nữa để phát triển các phương thức canh tác hữu cơ nhằm chống lại dịch  
bệnh và diệt trừ sâu bọ.  
Ba là, xây dựng tuyến đường vận chuyển bền vững. EU hiện cũng đang tiến tới giảm thiểu  
nhập khẩu khí thải carbon. Điều này có tác động đặc biệt đối với vận tải hàng không; mặc dù một  
đề xuất hấp dẫn trong trung hạn dường như không có khả năng duy trì bền vững trong dài hạn. Thứ  
nhất, đề xuất của EU về việc dán nhãn liên quan đến dấu carbon; thứ hai, nhận thức của người tiêu  
dùng ở châu Âu sẽ tạo ra sự chuyển hướng sang hình thức vận tải đường biển (hình thức vận tải tạo  
ra dấu carbon thấp hơn). Mặc dù chi phí và độ tin cậy của mạng lưới vận tải ở Việt Nam là thách  
thức khá lớn. Đối với sản phẩm tươi sống, đó sẽ là một thách thức đáng kể bởi các  
dây chuyền đông lạnh của vận tải đường biển sẽ cần phải giúp kéo dài thời gian bảo quản hơn so  
với đường hàng không. Điều cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, sự phát triển kỹ thuật  
cũng hết sức cần thiết để cho phép vận chuyển các loại rau quả ngoại lai từ Việt Nam sang châu Âu  
bằng đường biển với dây chuyền làm lạnh đảm bảo. Điều này đòi hỏi sự hỗ trợ tài chính từ Chính  
phủ Việt Nam, cũng như thu hút đầu tư từ các nguồn khác như vốn FDI. Trọng tâm chính của các  
hoạt động phát triển ngành hàng cần hướng tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) tại Việt Nam.  
Hơn nữa, kiến thức từ các nhà sản xuất và xuất khẩu rau quả nước ngoài sẽ có giá trị giúp thúc đẩy  
các liên doanh.  
Bốn là, cải thiện vấn đề đóng gói và thiết kế bao bì xuất khẩu. Việc đóng gói và thiết kế bao  
bì cho các sản phẩm thực phẩm hiện nay chưa thực sự tốt và phù hợp với thị trường châu Âu. Mặc  
dù các sản phẩm Việt Nam có thể được tìm thấy trong các siêu thị dành cho người châu Á nhưng  
tiêu chuẩn về bao bì và thiết kế cho thị trường ngách này tương đối thấp và không thể so sánh được  
với yêu cầu của các nhà bán lẻ thực phẩm phổ biến ở châu Âu.  
97  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ambec, S., & Lanoie, P. (2008), Does it pay to be green? A systematic overview, Academy of  
Management Perspectives, pp.45-62.  
2. Aragon-Correa, J. A., & Sharma, S. (2003), A contingent resource-based view of proactive  
corporate environmental strategy, Academy of Management Review, pp.1-88.  
3. Aragón-Correa, J. A., Hurtado-Torres, N., Sharma, S., & García-Morales, V. J. (2008),  
Environmental strategy and performance in small firms: A resource-based perspective, Journal  
of Environmental Management, pp.88-103.  
4. Babiak, K., & Trendafilova, S. (2011), CSR and environmental responsibility: Motives and  
pressures to adopt green management practices, Corporate Social Responsibility and  
Environmental Management, pp.11-24.  
5. Baker, W. E., & Sinkula, J. M. (2005), Environmental marketing strategy and firm  
performance: Effects on new product performance and market share, Journal of the Academy of  
Marketing Science, pp.461-475.  
6. Banerjee, S. B. (2001), Managerial perceptions of corporate environmentalism: Interpretations  
from industry and strategic implications for organizations. Journal of Management Studies,  
pp.489-513.  
7. Banerjee, S. B. (2002), Corporate environmentalism: The construct and its measurement,  
Journal of Business Research, pp.177-191.  
8. Banerjee, S. B., Iyer, E. S., & Kashyap, R. K. (2003), Corporate environmentalism: Antecedents  
and influence of industry type, Journal of Marketing, pp.106-122.  
9. Bellesi, F., Lehrer, D., & Tal, A. (2005), Comparative advantage: The impact of ISO 14001  
environmental certification on exports, Environmental Science Technology, pp.1943-1953.  
10. Brown, T. J., & Dacin, P. A. (1997), The company and the product: Corporate associations and  
consumer product responses, The Journal of Marketing, pp.68-84.  
11. Buchholz, R. A. (1991), Corporate responsibility and the good society: From economics to  
ecology: factors which influence corporate policy decisions, Business Horizons, pp.1-19.  
12. Buysse, K., & Verbeke, A. (2003), Proactive environmental strategies: A stakeholder  
management perspective, Strategic Management Journal, pp.453-470.  
13. Commission, E. (2002), Corporate social responsibility: A business contribution to sustainable  
development, Luxembourg: Office for Official Publications of the European Communities.  
14. Conner, K. R. (1991), A historical comparison of resource based theory and five schools of  
thought within industrial organization economics: Do we have a new the ory of the firm?  
Journal of Management, pp.121-154.  
15. Crittenden, V. L., Crittenden, W. F., Ferrell, L. K., Ferrell, O. C., & Pinney, C. C. (2011),  
Market-oriented sustainability: A conceptual framework and propositions, Journal of the  
Academy of Marketing Science, pp.71-85.  
98  
16. Curcio, R. J., & Wolf, F. M. (1996), Corporate environmental strategy: Impact upon firm value,  
Journal of Financial and Strategy, pp.21-31.  
17. Darnall, N., Henriques, I., & Sadorsky, P. (2008), Do environmental management systems  
improve business performance in an international setting?, Journal of International  
Management, pp.364-376.  
18. Drumwright, M. E. (1994), Socially responsible organizational buying: Environmental concern  
as a noneconomic buying criterion, The Journal of Marketing, pp.1-19.  
19. Eisenhardt, K. M., & Martin, J. A. (2000), Dynamic capabilities: What are they?,Strategic  
Management Journal, pp.1105-1121.  
20. Freeman, R. E. (1984), Strategic management: A stakeholders approach, Boston:  
Pitman/Ballinger.  
21. Gadenne, D. L., Kennedy, J., & McKeiver, C. (2009), An empirical study of environmental  
awareness and practices in SMEs, Journal of Business Ethics, pp.45-63.  
22. Hart, S. L. (1995), A natural-resource-based view of the firm, Academy of Management Review,  
pp.986-1014.  
23. Hart, S. L. (2005), Innovation, creative destruction and sustainability, Research-Technology  
Management, pp.21-27.  
24. Hobsbawm, E. (1975), The age of capitalism, New York: Scribner.  
25. Hultman, M., Robson, M. J., & Katsikeas, C. S. (2009), Export product strategy fit and  
performance: An empirical investigation, Journal of International Marketing, pp.1-23.  
26. Jennings, P. D., & Zandbergen, P. A. (1995), Ecologically sustainable organizations: An  
institutional approach, Academy of Management Review, pp.1015-1052.  
27. King, A. A., & Lenox, M. J. (2001), Lean and green? An empirical examination of the  
relationship between lean production and environmental performance, Production and  
Operation Management, pp.244-256.  
28. Kotler, P., & Levy, S. J. (1969), Broadening the concept of marketing, The Journal of  
Marketing, pp.10-15.  
29. Lee, K. H., & Ball, R. (2003), Achieving sustainable corporate competitiveness,Greener  
Management International, pp.89-104.  
30. Leonidou, C. N., & Leonidou, L. C. (2011), Resrearch into environmental marketing/  
management: A bibliographic analysis, European Journal of Marketing, pp.68-103.  
31. Menon, A., & Menon, A. (1997), Enviropreneurial marketing strategy: The emergence of  
corporate environmentalism as market strategy, The Journal of Marketing, pp.51-67.  
32. Menon, A., Menon, A., Chowdhury, J., & Jankovich, J. (1999), Evolving paradigm for  
environmental sensitivity in marketing programs: A synthesis of theory and practice, Journal of  
Marketing Theory and Practice, pp.1-15.  
33. Miles, M. P., & Covin, J. G. (2000), Environmental marketing: A source of reputational,  
competitive, and financial advantage, Journal of Business Ethics, pp.299-311.  
99  
34. Montiel, I. (2008), Corporate social responsibility and corporate sustainability: Separate pasts,  
common futures, Organization & Environment, pp.245-269.  
35. Passarini, K. C., Pereira, M. A., de Brito Farias, T. M., Calarge, F. A., & Santana, C. C. (2014),  
Assessment of the viability and sustainability of an integrated waste management system for the  
city of Campinas (Brazil), by means of ecological cost accounting, Journal of Cleaner  
Production, pp.479-488.  
36. Peattie, K. (1995), Environmental marketing management, London, England: Pitman Publishing.  
37. Penrose, E. (1959), The theory of the firm, New York: John Wiley & Sons.  
38. Ramus, C. A. (2001), Organizational support for employees: Encouraging creative ideas for  
environmental sustainability, California Management Review, pp.85-105.  
39. Rugman, A. M., & Verbeke, A. (1998), Corporate strategies and environmental regulations: An  
organizing framework, Strategic Management Journal, pp.363-375.  
40. Scott, W. R., & Christensen, S. (1995), The institutional construction of organizations:  
International and longitudinal studies, Thousand Oaks: Sage Publications Inc.  
41. Shrivastava, P. (1995), The role of corporations in achieving ecological sustainability, Academy  
of Management Review, pp.936-960.  
42. Simpson, M., Taylor, N., & Barker, K. (2004), Environmenta responsibility in SMEs: Does it  
deliver competitive advantage, Business Strategy and the Environment, pp.156-171.  
43. Teece, D. J., Pisano, G., & Shuen, A. (1997), Dynamic capabilities and strategic management,  
Strategic Management Journal, pp.509-533.  
44. Varadarajan, P. R., & Menon, A. (1988), Cause-related marketing: A coalignment of marketing  
strategy and corporate philanthropy, The Journal of Marketing, pp.58-74.  
100  
pdf 12 trang Thùy Anh 19560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chiến lược xuất khẩu thân thiện môi trường của doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ và bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp nông sản Việt Nam trong xuất khẩu rau quả vào thị trường EU", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchien_luoc_xuat_khau_than_thien_moi_truong_cua_doanh_nghiep.pdf