Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng bền vững trong ngành thời trang ở các thành phố lớn của Việt Nam

Working Paper 2021.1.4.08  
- Vol 1, No 4  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HÀNH VI TIÊU DÙNG BỀN  
VỮNG TRONG NGÀNH THỜI TRANG Ở CÁC THÀNH PHỐ LỚN CỦA  
VIỆT NAM  
Trần Thị Tú Uyên1, Đặng Thái Thanh Thảo, Phan Thị Phương Thảo  
K57 Viện Phát triển Nguồn nhân lực Việt Nam – Nhật Bản (VJCC)  
Trường Đại học Ngoại thương, Việt Nam  
Nguyễn Thị Thùy Vinh2  
Bộ môn Nghiệp vụ  
Viện Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản (VJCC)  
Tóm tắt  
Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng bền vững các  
sản phẩm thời trang của người tiêu dùng ở các thành phố lớn tại Việt Nam. Dựa vào lý thuyết  
mô hình khối lập phương Hành vi tiêu dùng bền vững SCB (Sustainable Consumption  
Behaviour) và Thuyết hành vi có hoạch định (The theory of Planned Behaviour), nghiên cứu đã  
thu thập và xử lý 282 mẫu qua phần mềm SPSS với mô hình hồi quy đa biến. Kết quả nghiên  
cứu cho thấy nhận thức của người tiêu dùng về mức độ khó/dễ của hành vi có tác động lớn nhất  
tới hành vi tiêu dùng bền vững trong ngành thời trang. Bên cạnh đó, nếu người tiêu dùng nhận  
thức được tính năng vượt trội của các sản phẩm thời trang có yếu tố bền vững như thoải mái,  
bền lâu hoặc thân thiện với môi trường thì họ sẽ có nhiều khả năng mua sắm bền vững hơn dù  
phải trả một mức giá cao hơn. Từ kết quả đó, nghiên cứu đã đưa ra các đề xuất đối với doanh  
nghiệp, các cơ quan chức năng và các nhà hoạch định chính sách, nhằm tác động vào các yếu tố  
ảnh hưởng tới quyết định tiêu dùng bền vững của người tiêu dùng Việt Nam.  
Từ khóa: hành vi tiêu dùng bền vững, ngành thời trang, Việt Nam  
FACTORS INFLUENCING SUSTAINABLE CONSUMPTION  
BEHAVIOURS IN FASHION INDUSTRY OF VIETNAM URBAN AREAS  
Abstract  
The purpose of this paper is to determine influencing factors of sustainable consumption  
behaviour in fashion industry of big cities in Vietnam. Based on the theory of Sustainable  
Consumption Behavour Cube Model and The theory of Planned Behaviour, data was collected  
through survey questionnaires with a diverse set of 282 responses and the results was analyzed  
1 Tác giả liên hệ, Email: [email protected]  
2 Tác giả liên hệ, Email: [email protected]  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 115  
by the SPSS software with regression model. Findings reveal that the consumers’ perception  
whether it is easy or not to practice sustainable consumption has the strongest effect on  
consumers’ sustainable behaviours in fashion industry. Consumers have a high tendency to  
choose fashion items sustainably if they are aware of products’ outstanding functionality (eg.  
comfortability, durability and environmental – friendliness) despite the premium price. Hence,  
the paper affirms the significant impact of Perceived behaviour control and further discovers the  
influence of Price Insensitivity on Sustainable consumption behaviour in the context of Vietnam  
fashion industry.  
Keywords: sustainable consumption behaviour, fashion industry  
1. Giới thiệu chung  
Trong bối cảnh phát triển kinh tế và chuỗi giá trị toàn cầu, thói quen tiêu dùng dư thừa so  
với nhu cầu ngày càng trở nên phổ biến. Thực trạng này có phần bị thúc đẩy bởi nỗ lực sản xuất  
các sản phẩm tiêu dùng nhanh giá rẻ bằng cách ép giá lao động, gây ra sự mất cân bằng xã hội  
và cắt bỏ các khoản phí xử lý rác và chất thải, dẫn đến tăng lượng rác thải, khai thác tài nguyên  
quá độ và ô nhiễm môi trường (Schor, 2005). Những sản phẩm đến từ các doanh nghiệp như  
vậy thường có chất lượng thấp, do đó nhanh chóng bị đào thải, làm giảm mức độ hài lòng của  
người tiêu dùng và tạo ra vòng tuần hoàn mua sắm – thải bỏ liên tục. Điều này không chỉ rút  
ngắn vòng đời sản phẩm, gây sức ép lên môi trường và gây bất ổn xã hội mà còn làm giảm sự  
hài lòng với cuộc sống của người tiêu dùng (Dhandra, 2019). Bức tranh toàn cảnh đó đã dấy  
lên nhu cầu bức thiết về một lối sống bền vững, phát triển kinh tế mà không gây hại đến những  
khía cạnh lớn khác của đời sống con người.  
Riêng ngành thời trang - ngành tiêu dùng cá nhân lớn thứ hai chỉ sau thực phẩm đã tạo ra  
khoảng 20% lượng nước thải trên thế giới và thải ra nửa triệu tấn vi sợi tổng hợp hàng năm vào  
đại dương (Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc, 2019). Ngành công nghiệp này tiêu  
thụ lượng nước lớn thứ hai trên thế giới và thải ra lượng carbon nhiều hơn cả lượng khí thải từ  
các máy bay và tàu thủy cộng lại (Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc, 2019).  
Xu hướng thời trang thay đổi nhanh chóng đã dẫn đến tỷ lệ tiêu thụ quần áo cao, tuổi thọ  
của nhiều sản phẩm thời trang bị rút ngắn và lượng chất thải dệt may ngày càng tăng  
(Dissanayake và Sinha, 2015). Hiện nay, một người tiêu dùng trung bình mua nhiều hơn 60%  
lượng quần áo trong khi mỗi món đồ chỉ có vòng đời dài bằng một nửa so với 15 năm trước  
(Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc, 2019). Để đảm bảo được mức giá cạnh tranh  
của những sản phẩm thời trang nhanh này, những người lao động lương thấp, lao động bất hợp  
pháp phải hứng chịu điều kiện sống và lao động ngày càng tồi tệ (Cumming, 2002; Mark, 2005).  
Tại Việt Nam, các ngành công nghiệp nhẹ là chủ lực, trong đó, ngành dệt may xếp thứ hai  
trong tổng sản lượng xuất khẩu, ảnh hưởng lớn tới GDP toàn quốc, tạo thu nhập cho khoảng  
2,5 triệu người lao động (Kim, 2020). Trên phương diện tiêu dùng, thời trang xếp thứ tư trong  
cơ cấu chi tiêu hàng tháng của người Việt Nam (VNR, 2018) và trong Quý 2 năm 2020, mua  
sắm quần áo là mục đích thứ hai cho khoản tiền nhàn rỗi (Nielsen, 2020). Như vậy, thời trang  
là ngành công nghiệp có ảnh hưởng lớn tới kinh tế và đời sống.  
Vì vậy, để cải thiện một cách toàn diện chất lượng sống, giảm thiểu bất bình đẳng, nâng  
cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực xã hội, việc hướng hành vi tiêu dùng các sản phẩm thời  
trang tới sự bền vững là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tiêu dùng bền vững  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 116  
trên thế giới thường tập trung nghiên cứu ngành thực phẩm (Aertsens và cộng sự, 2011; Geiger  
và cộng sự, 2017; Fischer, 2017; Lazaroiu, 2019; Feil, 2020). Cũng đã có những nghiên cứu về  
hành vi tiêu dùng bền vững trong ngành thời trang, song, những bài viết này lại chủ yếu nghiên  
cứu hành vi tiêu dùng đối với các sản phẩm thời trang được sản xuất theo hướng bền vững hoặc  
được gắn nhãn xanh/hữu cơ/thân thiện với môi trường/bền vững (Connell, 2010; Cervellon và  
cộng sự, 2010; Gam, 2011; Kang và cộng sự, 2013; Lundblad và Davies, 2015; Koszewska,  
2015; Bly và cộng sự, 2015; Augustine và cộng sự, 2019). Trong khi đó, sự xuất hiện của các  
sản phẩm bền vững trên thị trường phụ thuộc nhiều vào nguồn cung, vào mức độ phát triển của  
các mô hình sản xuất hoặc kinh doanh bền vững trong phạm vi nghiên cứu (Koszewska, 2015).  
Vì vậy, so với nghiên cứu về hành vi tiêu dùng với các sản phẩm bền vững, việc nghiên cứu  
hành vi tiêu dùng một cách bền vững với mọi sản phẩm thời trang gắn kết với nhu cầu của  
người tiêu dùng và phù hợp hơn với tình hình thị trường thời trang của Việt Nam.  
Ở Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu đề cập tới hành vi tiêu dùng xanh, còn chưa có nhiều  
các nghiên cứu về tiêu dùng bền vững (Hoàng Thị Bảo Thoa, 2018; Hà Nam Khánh Giao và  
Đinh Thị Kiều Nhung, 2018; Hoàng Trọng Hùng và cộng sự, 2018; Hồ Huy Tựu và cộng sự,  
2018). Thêm vào đó, các nghiên cứu về tiêu dùng xanh, tiêu dùng bền vững nước ta thường chỉ  
giới hạn phạm vi trong một tỉnh hoặc một thành phố. Xét thấy thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội,  
Đà Nẵng và Hải Phòng là các thành phố trực thuộc trung ương, thu nhập bình quân đầu người  
năm gấp 1,75 lần so với trung bình cả nước và có quy mô dân số từ 1.500.000 người trở lên  
(Đoàn Loan, 2021). Tại các thành phố này, nhu cầu mua sắm, đặc biệt đối với các sản phẩm  
thời trang ở các thành phố này đặc biệt lớn, dẫn đến mức độ quan tâm đến lối sống bền vững  
cũng cao hơn so với các khu vực địa lý khác. Vì thế nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu  
dùng bền vững trong ngành thời trang là có ý nghĩa thực tiễn để hướng tới mục tiêu phát triển  
bền vững của Việt Nam nói riêng và xu thế của thế giới nói chung.  
Phần tiếp theo của bài nghiên cứu là Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu. Phần 3 trình  
bày về Phương pháp nghiên cứu và Kết quả nghiên cứu được phân tích trong Phần 4. Phần cuối  
cùng là Kết luận và một số kiến nghị.  
2. Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
Theo Mothersbaugh và Hawkins (2015), hành vi tiêu dùng là quy trình các cá nhân, tổ chức  
thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ của người sử dụng; còn hành vi tiêu dùng bền vững  
cần đảm bảo sự cân bằng giữa việc thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ của người sử dụng và cả trách  
nhiệm của mỗi cá nhân đối với xã hội, môi trường và thế hệ tương lai (Piligrimienė và cộng sự,  
2020; Tripathi và Singh, 2016). Để có được một cái nhìn toàn diện về hành vi tiêu dùng bền  
vững, nghiên cứu sử dụng định nghĩa của Geiger và cộng sự (2017) như sau: hành vi tiêu dùng  
bền vững là hành vi thỏa mãn các nhu cầu trong các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống của  
người tiêu dùng qua việc chọn mua, sử dụng và xử lý các sản phẩm, dịch vụ để đạt được các  
mục tiêu bền vững như không gây tổn hại cho hệ sinh thái và kinh tế xã hội của toàn nhân loại  
(trong hiện tại và tương lai), nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và hiệu quả sử dụng nguồn  
lực, giảm thiểu lãng phí và rủi ro sức khỏe con người, v.v. Định nghĩa này đã xây dựng nên các  
chiều của mô hình khối lập phương SCB diễn giải hành vi tiêu dùng bền vững: chiều tính bền  
vững, chiều các giai đoạn tiêu dùng, và chiều các lĩnh vực tiêu dùng.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 117  
Dựa vào mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng của Kotler, các yếu  
tố chính ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng được chia thành bốn nhóm chính là văn hóa, xã hội,  
cá nhân và tâm lý (Kotler và Armstrong, 2018). Trong đó, các yếu tố tâm lý - xã hội có ảnh  
hưởng trực tiếp nhất tới quyết định của người tiêu dùng.  
Trong Thuyết hành vi hợp lý (The theory of reasoned action) của Ajzen (1985), hai nhân  
tố tâm lý - xã hội chính tác động tới hành vi là Thái độ của mỗi cá nhân đối với việc thực hiện  
hành vi và Tiêu chuẩn chủ quan mà mỗi cá nhân nhận thức được từ xã hội. Tuy nhiên các nghiên  
cứu đi trước đã cho thấy, Tiêu chuẩn chủ quan có ý nghĩa giải thích lớn hơn khi được thu hẹp  
lại thành Tiêu chuẩn nhóm và nhân dạng nhóm (Terry và cộng sự, 1999). Dựa trên Thuyết hành  
vi có hoạch định (The theory of planned behaviour) của Fishbein và Ajzen (1975), nhân tố thứ  
ba thường được đưa vào các mô hình nghiên cứu tiêu dùng bền vững là Nhận thức kiểm soát  
hành vi (nhận thức của người tiêu dùng về mức độ khó dễ khi thực hiện hành vi) (Tripathi và  
Singh, 2016).  
Ngoài ra, do hành vi tiêu dùng bền vững yêu cầu mức độ nhận thức cao của người thực  
hiện hành vi, nhiều các yếu tố nhận thức khác cũng đã được đưa vào nghiên cứu mức độ ảnh  
hưởng như: Nhận thức về hiệu quả của người tiêu dùng, Nhận thức niềm tin của người tiêu  
dùng, Nhận thức về sự cần thiết của sản phẩm, Nhận thức về ảnh hưởng lên thị trường, v.v.  
Từ các nhân tố tâm lý - xã hội nói trên, dựa trên đặc điểm của ngành thời trang và đặc điểm  
tiêu dùng của người Việt, nghiên cứu đã lựa chọn bốn nhân tố Nhận thức về môi trường, Nhận  
thức kiểm soát hành vi, Nhận thức về sự liên quan tới cá nhân và Độ không nhạy cảm về giá để  
xây dựng mô hình nghiên cứu.  
2.2. Giả thuyết nghiên cứu  
Dựa trên cơ sở các học thuyết và các mô hình nghiên cứu trước đây, nghiên cứu đề xuất  
mô hình nghiên cứu như sau:  
H1  
Nhận thức về môi trường  
H2  
H3  
H4  
Nhận thức kiểm soát hành vi  
Hành vi tiêu dùng  
bền vững  
Nhận thức sự liên quan đến cá nhân  
Tính không nhạy cảm về giá  
Hꢀnh 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Nguồn: Nghiên cứu đề xuất  
2.2.1. Mối quan hệ giữa Nhận thức về môi trường và Hành vi tiêu dùng bền vững  
Nhận thức về môi trường (Environmental Awareness – EA) là sự hiểu biết về các mối đe  
dọa từ thiên nhiên, sự thay đổi của môi trường; thái độ với hậu quả môi trường do hành vi con  
người; và khuynh hướng phản ứng với các vấn đề môi trường (Takala, 1991; Ham và cộng sự,  
2016). Trên cơ sở Thuyết hành vi hợp lý của Ajzen (1985), thái độ của người tiêu dùng về các  
vấn đề môi trường của người tiêu dùng có tác động tới hành vi tiêu dùng bền vững. Tuy nhiên,  
để biến mối quan tâm thành hành động, ngoài thái độ tích cực, người tiêu dùng còn cần có một  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 118  
mức độ hiểu biết nhất định đối với các kiến thức môi trường, để từ đó nhận thức được trách  
nhiệm của mình đối với mỗi hành vi tiêu dùng và những ảnh hưởng của nó lên môi trường. Vì  
vậy, yếu tố này đã được nghiên cứu dựa trên ba khía cạnh: (1) Kiến thức về môi trường, (2)  
Trách nhiệm với môi trường, và (3) Mức độ quan tâm đến môi trường.  
Kiến thức về môi trường bao gồm các khái niệm liên quan tới môi trường, hiểu biết về các  
vấn đề môi trường và giải pháp (Wang và cộng sự, 2014). Người tiêu dùng có nhiều kiến thức  
sinh thái được chứng minh là có hành vi bền vững hơn xuyên suốt các giai đoạn tiêu dùng sản  
phẩm thời trang (Joshi và Rahman, 2017; Suk và Lee, 2013).  
Trách nhiệm với môi trường là mức độ nhận thức của người tiêu dùng về tác động của hành  
vi tiêu dùng lên môi trường (Hines và cộng sự, 1987). Trách nhiệm tiêu dùng bền vững để bảo  
vệ môi trường có tác động tích cực đến hành vi của người tiêu dùng (Luchs và cộng sự, 2015).  
Mức độ quan tâm đến môi trường biểu thị khuynh hướng nhạy cảm và thái độ chú tâm của  
một cá nhân đối với môi trường (Kim và Choi, 2005). Sự tham gia về mặt cảm xúc của người  
tiêu dùng với các vấn đề môi trường có mối tương quan tích cực với hành động có tính bền  
vững như việc sẵn sàng chi trả giá cao để sử dụng năng lượng tái tạo (Joshi và Rahman, 2017).  
Tất cả các khía cạnh của yếu tố Nhận thức về môi trường có ý nghĩa tích cực đến cả ý định thực  
hiện và hành vi thực tế của người tiêu dùng. Vì vậy, nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết:  
H1: Nhận thức về môi trường có ảnh hưởng tích cực đến hành vi tiêu dùng bền vững các  
sản phẩm thời trang của người tiêu dùng.  
2.2.2. Mối quan hệ giữa Nhận thức kiểm soát hành vi và Hành vi tiêu dùng bền vững  
Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioural Control – PBC) đề cập đến niềm tin  
của người tiêu dùng về mức độ dễ dàng thực hiện hành vi (Ajzen và Madden, 1986). Nhận thức  
kiểm soát hành vi đánh giá nhận thức của một người về mức độ người đó có thể kiểm soát các  
yếu tố tạo điều kiện hoặc hạn chế một hành vi cụ thể (Wang và cộng sự, 2014). Cụ thể trong  
nghiên cứu này, Nhận thức kiểm soát hành vi mô tả cảm nhận của người tiêu dùng về thời gian,  
nguồn lực tài chính và năng lực họ sở hữu, rằng chúng giúp người tiêu dùng dễ dàng thực hiện  
hành vi hay ngăn cản họ thực hiện hành vi tiêu dùng bền vững.  
Theo Thuyết hành vi có hoạch định, Nhận thức kiểm soát hành vi tác động tới Ý định thực  
hiện hành vi và đồng thời quyết định việc thực hiện Hành vi của người tiêu dùng (Ajzen và  
Madden, 1986). Một số nghiên cứu đã chứng minh được học thuyết này: ý định và hành vi của  
người tiêu dùng chịu ảnh hưởng tích cực bởi nhận thức rằng họ có khả năng kiểm soát và thực  
hiện hành vi (Taylor và Todd, 1995; Conner và Abraham, 2001; Cheng và cộng sự, 2006; Wang  
và cộng sự, 2014). Như vậy, Nhận thức kiểm soát hành vi có mối liên hệ tích cực với hành vi.  
Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:  
H2: Nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến hành vi tiêu dùng bền vững  
các sản phẩm thời trang của người tiêu dùng.  
2.2.3. Mối quan hệ giữa Nhận thức sự liên quan đến cá nhân và Hành vi tiêu dùng bền vững  
Nhận thức sự liên quan đến cá nhân (Perceived Personal Relevance – PPR) đề cập đến sự  
tin tưởng của một cá nhân rằng một đối tượng hoặc hành vi nhất định có liên quan đến lối sống,  
giá trị và hình ảnh cá nhân của họ (Celsi và cộng sự, 1992). Đặc điểm riêng của ngành thời  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 119  
trang là gắn kết với người tiêu dùng không chỉ về mặt vật chất, mà còn mang tính biểu tượng  
tinh thần, bộc lộ bản sắc cá nhân của người sử dụng qua nhãn hiệu, màu sắc, kiểu dáng hay là  
cách kết hợp các sản phẩm thời trang. Vì vậy, Nhận thức sự liên quan đến cá nhân được dự  
đoán là có ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng trong ngành thời trang.  
Các bài nghiên cứu trước đây đều cho thấy kết quả tương đồng về tầm ảnh hưởng của sự  
nhận thức về hình ảnh và giá trị bản thân với hành vi tiêu dùng bền vững: khi người tiêu dùng  
nhận thấy tiêu dùng bền vững có liên quan chặt chẽ với cá nhân họ (về lối sống, giá trị quan,  
hoặc/và bản sắc), họ có xu hướng bộc lộ thái độ và ý định tích cực với hành vi tiêu dùng đó  
(Zaichkowsky, 1985; McQuarrie, 1992; Kang và cộng sự, 2013). Như vậy, nhận thức của người  
tiêu dùng về mối liên hệ giữa bản sắc cá nhân và tiêu dùng bền vững có khả năng ảnh hưởng  
đến hành vi (Kang và cộng sự, 2013). Từ đó, nghiên cứu đưa ra giả thuyết:  
H3: Nhận thức sự liên quan đến cá nhân có ảnh hưởng tích cực đến hành vi tiêu dùng bền  
vững các sản phẩm thời trang của người tiêu dùng.  
2.2.4. Mối quan hệ giữa Tính không nhạy cảm về giá và Hành vi tiêu dùng bền vững  
Độ nhạy cảm về giá là mức độ quan tâm của người tiêu dùng tới giá cả của hàng hóa họ có  
ý định tiêu dùng (Augustine và cộng sự, 2019). Theo Khảo sát người tiêu dùng Việt Nam của  
Deloitt (2021), giá cả được coi là một trong số những nhân tố quan trọng quyết định hành vi  
mua sắm đối với mặt hàng thực phẩm và các dịch vụ Internet, vui chơi giải trí; tuy nhiên, độ  
nhạy cảm về giá trong ngành thời trang ở Việt Nam lại tương đối thấp khi yếu tố thương hiệu  
mới là mối quan tâm hàng đầu. Do đó, thay vì đo lường Độ nhạy cảm về giá, nghiên cứu muốn  
tìm hiểu mối liên hệ giữa Tính không nhạy cảm về giá (Price Insensitivity – PI) với hành vi tiêu  
dùng bền vững trong ngành thời trang của người tiêu dùng Việt.  
Trong trường hợp mua các sản phẩm thân thiện với môi trường, giá sản phẩm càng cao thì  
khoảng cách giữa Thái độ - Hành vi càng lớn (Connell, 2010). Mức độ nhạy cảm về giá càng  
cao thì người tiêu dùng càng ít có khả năng thực hiện các hành vi tiêu dùng bền vững (Augustine  
và cộng sự, 2019). Sở dĩ, nếu người tiêu dùng mặc định rằng các sản phẩm thân thiện với môi  
trường/sản phẩm xanh là mặt hàng xa xỉ, đồng thời, có xu hướng lựa chọn sản phẩm dựa trên  
giá thành thì họ sẽ không cân nhắc mua các sản phẩm xanh dù trên thực tế các sản phẩm có thể  
được bán với giá rẻ hơn thông thường (Augustine và cộng sự, 2019). Tức là, Tính không nhạy  
cảm về giá đối với các sản phẩm bền vững thúc đẩy hành vi tiêu dùng bền vững.  
Mặc dù các nghiên cứu yếu tố này mới chỉ dừng ở tiêu dùng xanh nhưng các tác giả đã  
chứng minh rằng độ nhạy cảm cao về giá trở thành rào cản thực hiện hành vi tiêu dùng bền  
vững (Eze và Ndubisi, 2013; Aertsens và cộng sự, 2011). Vì vậy, nghiên cứu đã xây dựng giả  
thuyết:  
H4: Tính không nhạy cảm về giá có ảnh hưởng tích cực đến hành vi tiêu dùng bền vững  
các sản phẩm thời trang của người tiêu dùng.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Thang đo và mẫu điều tra  
Các thang đo cho các nhân tố trong mô hình chủ yếu được xây dựng dựa trên các định  
nghĩa, giả thuyết về các biến số nêu trên và thay đổi một số từ ngữ để phù hợp với bối cảnh  
nghiên cứu. Nghiên cứu sử dụng thang đo Linkert 5 cấp độ từ điểm 1 thấp nhất (Hoàn toàn  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 120  
không đồng ý) đến điểm 5 (Hoàn toàn đồng ý), trong đó điểm 3 là Trung lập. Ngoài ra, một số  
thang đo mới được phát triển dựa trên mô hình SCB của tác giả Geiger và cộng sự (2017) và  
thực tế môi trường tiêu dùng Việt Nam để đảm bảo tính khát quát của hành vi tiêu dùng bền  
vững các sản phẩm thời trang.  
Nghiên cứu đã xây dựng 26 biến quan sát nhằm thể hiện các khía cạnh sau đây: (1) Nhận  
thức về môi trường bao gồm Mức độ quan tâm tới môi trường, Kiến thức về môi trường, Trách  
nhiệm với môi trường. (2) Nội dung quan sát Nhận thức kiểm soát hành vi đánh giá mức độ dễ  
dàng thực hiên hành dựa trên nguồn lực của người tiêu dùng: thời gian, năng lực và tài chính.  
(3) Nhận thức sự liên quan đến cá nhân bao gồm Hình tượng cá nhân qua nhìn nhận của người  
khác, Lối sống bản thân hướng đến và Mối liên hệ giữa việc sử dụng sản phẩm thời trang với  
cuộc sống của người tiêu dùng. (4) Nghiên cứu đã quan sát Tính không nhạy cảm về giá khi so  
sánh với các khía cạnh như Sức khỏe, Sự thỏa mãn của người tiêu dùng và Tính kinh tế hiệu  
quả về lâu dài.  
Bảng 2. Xây dựng thang đo  
Nhân tố  
ảnh hưởng hiệu  
Ký  
Tham  
khảo  
Thang đo chính thức  
Biến độc lập  
Tôi cảm thấy môi trường có tác động lớn tới đời sống của  
cá nhân tôi.  
EA1  
Kim và  
Choi  
EA2 Tôi thường xuyên tìm hiểu các thông tin về môi trường.  
EA3 Tôi quan tâm và theo dõi các thông tin về môi trường.  
(2005);  
Wang và  
cộng sự  
(2014);  
Hines và  
cộng sự  
(1987)  
Nhận thức  
về môi  
trường  
(EA)  
Tôi hiểu rõ khái niệm môi trường và các khái niệm liên  
quan.  
EA4  
Tôi nghĩ mình có trách nhiệm phải hành động vì môi  
trường.  
EA5  
Tôi có thời gian để tìm hiểu, cân nhắc mua các sản phẩm  
thời trang thân thiện với môi trường.  
PBC1  
Ajzen và  
Madden  
(1986);  
Tôi có thời gian để tìm hiểu, cân nhắc mua các sản phẩm  
PBC2 thời trang dễ ứng dụng (có thể sử dụng với nhiều mục  
đích, dễ phối với nhiều món đồ khác nhau).  
Nhận thức  
kiểm soát  
hành vi PBC3  
(PBC)  
Wang và  
Tôi có đủ thời gian giặt, ủi và bảo quản quần áo đúng cách cộng sự  
để sử dụng lâu dài.  
(2014);  
Geiger và  
cộng sự  
(2017);  
Tôi có đủ khả năng để tận dụng các sản phẩm thời trang  
cho nhiều mục đích khác nhau (ví dụ: phối đồ đa dạng).  
PBC4  
Tôi có đủ sự khéo léo để giặt, phơi, ủi và giữ gìn các sản  
phẩm thời trang đúng cách để dùng được bền lâu.  
PBC5  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 121  
Tôi có đủ khả năng để xử lý, tái chế hoặc quyên góp, cho  
tặng các sản phẩm thời trang sau khi hết nhu cầu sử dụng.  
Hùng và  
cộng sự  
(2018)  
PBC6  
PBC7  
PPR1  
PPR2  
PPR3  
Tôi có đủ nguồn lực tài chính để mua sắm các sản phẩm  
thời trang chất lượng cao, bền, sử dụng được lâu dài.  
Việc sử dụng các sản phẩm thời trang lâu bền thể hiện mối Celsi và  
quan tâm của tôi với môi trường.  
cộng sự  
(1992);  
Nhận thức  
sự liên  
Việc sử dụng và bảo quản các sản phẩm thời trang lâu bền  
là một phần trong lối sống mà tôi hướng đến.  
Geiger và  
cộng sự  
(2017);  
quan đến  
cá nhân  
(PPR)  
Việc quyên góp, cho tặng các sản phẩm thời trang cũ gắn  
kết chặt chẽ với các trải nghiệm trong cuộc sống của tôi.  
Kang và  
cộng sự  
(2013)  
Việc giữ gìn các sản phẩm thời trang cẩn thẩn sao cho sử  
dụng lâu bền giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của tôi.  
PPR4  
Tôi sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm thời trang cùng  
mẫu mã nhưng nguyên liệu thân thiện với môi trường.  
PI1  
PI2  
PI3  
Tôi sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm tôi cho là  
bền hơn để giảm tần suất mua hàng.  
Augustine  
và cộng sự  
(2019);  
Tính  
không  
Tôi sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm thời trang  
được làm từ các vật liệu an toàn với sức khỏe.  
nhạy cảm  
về giá (PI)  
Geiger và  
cộng sự  
(2017)  
Tôi sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm khiến tôi  
PI4 cảm thấy thỏa mãn hơn (tự tin hơn, thoải mái hơn, tăng giá  
trị bản thân).  
Tôi sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm khi sử dụng  
tôi thấy mình đẹp lên.  
PI5  
Biến phụ thuộc  
Tôi mua sắm các sản phẩm thời trang có tính ứng dụng  
SCB1 cao (dễ phối đồ, có thể mặc được nhiều dịp, với nhiều mục  
đích).  
Hành vi  
tiêu dùng  
bền vững  
các sản  
Bly và  
cộng sự  
(2015);  
Tôi mua sắm các sản phẩm thời trang chất lượng cao (chất  
SCB2  
liệu bền, đường may chắc chắn, công nghệ sản xuất cao).  
Geiger và  
cộng sự  
(2017)  
Tôi mua sắm các sản phẩm thời trang thân thiện với môi  
SCB3 trường (chất liệu dễ phân hủy - cotton, linen, sợi tre, cà  
phê, etc).  
phẩm thời  
trang  
(SCB)  
Tôi bảo quản (giặt, phơi, là ủi) các sản phẩm thời trang  
SCB4  
đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 122  
Tôi bán lại, tái chế hoặc tái sử dụng (cho tặng hoặc quyên  
SCB5 góp) các sản phẩm thời trang sau khi đã hết nhu cầu sử  
dụng.  
Nguồn: Tính toán trên SPSS, n = 282  
Kích thước mẫu tối thiểu được quy định dựa trên tổng số biến quan sát được đưa vào một  
lần chạy Kiểm định EFA. Tỉ lệ thường được sử dụng là 5:1 (Hair và cộng sự, 2010). Dựa trên  
tỉ lệ này, với số biến quan sát cho các biến độc lập là 21, khi kiểm định EFA, số mẫu sẽ phải  
≥ 105.  
Phân bố mẫu khảo sát sẽ tập trung vào người tiêu dùng thời trang nằm trong độ tuổi 18–65  
tại 04 thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh. Trong đó, nghiên cứu tập  
trung tiếp cận người tiêu dùng trong nhóm tuổi quan trọng nhất là từ 25 – 40 tuổi, đại diện cho  
độ tuổi lao động chính, có quy mô lớn nhất tại Việt Nam. Họ quyết định chi tiêu cho cả gia đình  
và có nguồn thu nhập cùng sức mua lớn nhất. Người dân thành thị có thu nhập và trình độ học  
vấn cao hơn, đã một phần nhận thức rõ ràng hơn về tiêu dùng bền vững và có nhu cầu rất lớn  
về làm đẹp và thời trang. Số mẫu người tiêu dùng thời trang nữ được thu thập nhiều hơn mẫu  
nam bởi họ thường quan tâm và kỹ tính hơn trong việc lựa chọn, sử dụng và bảo quản các sản  
phẩm thời trang.  
Để đạt được mục tiêu về tính đại diện cao của mẫu, nghiên cứu đã lựa chọn phân phối khảo  
sát Google Form trực tuyến qua Facebook, Zalo và Email trong khoảng thời gian từ tháng 04  
năm 2021 cho đến tháng 05 năm 2021 và đã thu thập được 338 câu trả lời, trong đó có 282 mẫu  
hợp lệ với tỷ lệ là 83,4%.  
3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu  
Sau khi làm sạch và mã hóa dữ liệu, nghiên cứu tiến hành phân tích các dữ liệu hợp lệ được  
phân tích trên phần mềm SPSS 22.0 bằng các kỹ thuật sau:  
- Phân tích Cronbach’s Alpha được dùng để đánh giá độ tin cậy của thang đo dựa trên tiêu  
chuẩn về hệ số Cronbach’s Alpha > 0,6 và hệ số tương quan biến tổng > 0,3.  
- Phân tích nhân tố khám phá EFA đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của tất cả các  
biến quan sát, hồi tụ các biến quan sát về một vài nhóm nhân tố lớn và phân biệt các nhóm nhân  
tố này. Phương pháp EFA yêu cầu các biến quan sát phải đạt năm tiêu chí về Hệ số KMO nằm  
trong khoảng 0,5 – 1; Kiểm định Bartlett có hệ số Sig. ≤ 0,05; Trị số Eigenvalue ≥ 1; Tổng  
phương sai trích ≥ 50% và Hệ số tải nhân tố ≥0,3.  
- Phân tích tương quan Pearson được áp dụng để đo lường mức tương quan tuyến tính  
giữa các nhân tố dựa trên hệ số sig và hệ số tương quan Pearson (r). Từ phương pháp này, nhóm  
xác định được liệu các biến độc lập có mối quan hệ tương quan với biến phụ thuộc để đưa vào  
mô hình hồi quy hay không.  
- Phân tích Hồi quy tuyến tính được sử dụng để xem xét mức độ tương quan tuyến tính  
giữa biến độc lập và biến phụ thuộc và xây dựng hàm hồi quy. Ý nghĩa giải thích của mô hình  
hồi quy được phản ánh qua R square và Adjusted R square.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 123  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Thống kê mô tả  
Bảng 3. Mô tả mẫu nghiên cứu theo các đặc điểm nhân khẩu học  
Đặc điểm  
Tần suất  
Đặc điểm  
Tần suất  
Giới tính  
Trình độ học vấn  
Nam  
38,6  
61,4  
Trung học phổ thông  
Đại học  
7,1  
77,3  
12,0  
3,6  
Nữ  
Nơi sống  
Thạc sĩ  
Hà Nội  
47,5  
10,3  
16,3  
25,9  
Tiến sĩ  
Hải Phòng  
Đà Nẵng  
Thu nhập trung bình hàng tháng  
Dưới 3.000.000 VNĐ  
3.000.000 – 4.499.000 VNĐ  
4.500.000 – 7.499.000 VNĐ  
7.500.000 – 14.999.000 VNĐ  
15.000.000 – 30.000.000 VNĐ  
Trên 30.000.000 VNĐ  
34,4  
11,3  
11,0  
19,1  
18,8  
5,4  
Hồ Chí Minh  
Độ tuổi  
Từ 18 đến 22 tuổi  
Từ 23 đến 35 tuổi  
Từ 36 đến 50 tuổi  
Từ 51 đến 65 tuổi  
39,4  
23,0  
29,4  
8,2  
Nguồn: Thống kê từ mẫu quan sát, n = 282  
Kết quả thống kê cho thấy cơ cấu tuổi quan trọng nhất 23–50 chiếm 52,4% tổng 282 mẫu  
khảo sát hợp lệ. Trong đó, số lượng nữ giới thực hiện bảng hỏi gấp khoảng 1,5 lần so với nam  
giới. Người tham gia khảo sát ở hai trung tâm đô thị Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với  
mức tiêu dùng hàng hóa dịch vụ lớn nhất cả nước cũng chiếm đa số 73,4%. Những người tham  
gia khảo sát đạt trình độ học vấn khá cao với 92,9% đạt trình độ Đại học và sau Đại học và mức  
nhu nhập trung hàng tháng với hai nhóm phổ biến nhất là 7–15 triệu đồng và 15–30 triệu đồng  
chiếm 19,1% và 18,8% tổng mẫu khảo sát. Như vậy, so với lượng mẫu tối thiểu yêu cầu là 150,  
thì số lượng mẫu thu về đã đáp ứng yêu cầu. Ngoài ra, tần suất các đặc điểm nhân khẩu học cho  
thấy kết quả đã đạt các tiêu chí về lựa chọn mẫu đã đề ra và mẫu có tính đại diện, phù hợp để  
sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu định lượng tiếp theo.  
4.2. Kết quả phân tích yếu tố  
Kết quả phân tích cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha của 05 nhóm biến đều > 0,7 và các hệ  
số tương quan biến tổng đều > 0,3 đảm bảo độ tin cậy tốt, 26 biến quаn sát đều đủ điều kiện để  
sử dụng trоng thаng đо.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 124  
Bảng 4. Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha  
Hệ số tương quan biến tổng  
Hệ số Cronbach’ Alpha  
SCB1  
SCB2  
SCB3  
SCB4  
SCB5  
EA1  
0,373  
0,562  
0,590  
0,524  
0,384  
0,319  
0,684  
0,667  
0,535  
0,358  
0,479  
0,504  
0,627  
0,589  
0,633  
0,532  
0,504  
0,623  
0,716  
0,516  
0,680  
0,447  
0,526  
0,587  
0,553  
0,494  
Hành vi tiêu  
dùng bền  
vững các sản  
phẩm thời  
trang  
0,719  
EA2  
Nhận thức về  
môi trường  
EA3  
0,745  
EA4  
EA5  
PBC1  
PBC2  
PBC3  
PBC4  
PBC5  
PBC6  
PBC7  
PPR1  
PPR2  
PPR3  
PPR4  
PI1  
Nhận thức  
kiểm soát  
hành vi  
0,814  
Nhận thức sự  
liên quan đến  
cá nhân  
0,812  
0,753  
PI2  
Tính không  
nhạy cảm về  
giá  
PI3  
PI4  
PI5  
Nguồn: Tính toán trên SPSS, n = 282  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 125  
Phân tích EFA cùng phép xoay Varimax cho kết quả các biến quan sát độc lập đã đạt năm  
tiêu chí sau: Hệ số KMO = 0,852, hệ số Sig. ≤ 0,05, Trị số Eigenvalue ≥ 1, Tổng phương sai  
trích đạt 60,282%. Trong đó, 17/21 biến quan sát đạt yêu cầy có hệ số tải ≥0,5, bốn biến EA5,  
EA1, PCB1 và PCB2 có hệ số tải ≤ 0,3 bị loại bỏ khỏi thang đo do không có tương quan với  
các nhóm biến khác. Tuy nhiên có xuất hiện hiện tượng biến quan sát PI1 “Tôi sẵn sàng trả giá  
cao hơn cho sản phẩm thời trang cùng mẫu mã nhưng nguyên liệu thân thiện với môi trường”  
được nhập vào nhóm EA “Nhận thức về môi trường” do quan sát đã thể hiện rõ hơn khuynh  
hướng, thái độ của người tiêu dùng về môi trường khi mua sắm các sản phẩm thời trang. Việc  
lựa chọn và ủng hộ các sản phẩm thân thiện với môi trường bất kể giá cả đã cho thấy mối quan  
tâm của họ với các vấn đề về môi trường. Vì vậy, nghiên cứu quyết định chuyển biến quan sát  
PI1 về cùng nhóm EA và giữ tên nhóm là “Nhận thức về môi trường”.  
Quа phân tích nhân tố khám phá ЕFА, nghiên cứu đã thay đổi một số biến quan sát thành  
phần và tìm được 04 nhóm nhân tố trong bảng dưới đây có tác động đến hành vi tiêu dùng bền  
vững các sản phẩm thời trang theo mô hình đã đề xuất.  
Bảng 5. Kết quả phân tích EFA  
Nhóm nhân tố  
Biến quan sát  
1
0,816  
0,752  
0,654  
0,582  
0,562  
2
3
4
PBC5  
PBC3  
PBC4  
PBC6  
PBC7  
PPR2  
PPR1  
PPR4  
PPR3  
EA2  
EA3  
EA4  
PI1  
0,818  
0,784  
0,760  
0,565  
0,825  
0,816  
0,663  
0,537  
PI4  
0,825  
0,808  
0,571  
0,537  
PI5  
PI3  
PI2  
KMO = 0,852 (Sig. = 0,000)  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 126  
Tổng phương sai trích = 60,282%  
Eigenvalues = 1,410  
Nguồn: Tính toán trên SPSS, n = 282  
Kết quả phân tích tương quan Pearson cho thấy các cặp biến độc lập – phụ thuộc có tương  
quan với nhau và có ý nghĩa thống kê. Trong đó, hệ số tương quan giữa nhóm nhân tố độc lập  
PBC và nhóm nhân tố phụ thuộc SCB là 0,641 cao nhất trong tất cả các hệ số tương quan nên  
nhóm nhân tố độc lập PBC có mối tương quan mạnh nhất đối với nhóm nhân tố phụ thuộc. Chỉ  
số Pearson > 0,4 giữa hầu hết các biến cho thấy có khả năng khi phân tích hồi quy đa biến sẽ  
xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.  
Bảng 6. Kết quả phân tích tương quan Pearson  
SCB  
1
EA  
0,505  
1
PBC  
0,641  
0,492  
1
PPR  
0,545  
0,404  
0,474  
1
PI  
0,572  
0,242  
0,337  
0,441  
1
SCB  
EA  
0,505  
0,641  
0,545  
0,572  
PBC  
PPR  
PI  
0,492  
0,404  
0,242  
0,474  
0,337  
0,441  
Nguồn: Tính toán trên SPSS, n = 282  
4.3. Kết quả phân tích hồi quy  
Sau khi đủ điều kiện, nghiên cứu thực hiện phân tích hồi quy đa biến, kết quả giá trị Sig. <  
0,05 chứng tỏ các biến độc lập tác động có ý nghĩa thống kê đến biến phụ thuộc. Dựa trên lý  
thuyết của Pallant (2011), tất cả hệ số VIF trong bài đều < 2 chứng tỏ không có hiện tượng đa  
cộng tuyến trong mô hình như đề cập trên. Hệ số R2 hiệu chỉnh 0,61 > 0,5 cho thấy mô hình  
tương đối tốt. Mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp với tập dữ liệu của mẫu ở mức ý nghĩa 5%.  
Như vậy, 61,0% sự biến thiên của biến phụ thuộc SCB được giải thích bởi 04 nhân tố độc lập  
EA, PBC, PPR, PI; 39,0% còn lại là do sai số và các biến khác vắng mặt trong mô hình. Giá trị  
Durbin-Watson = 1,93 nằm trong khoảng 1,5–2,5 thể hiện các phần sai số không có tương quan  
chuỗi bậc nhất với nhau, dữ liệu thu thập được tốt.  
Bảng 6. Kết quả phân tích hồi quy  
Hệ số hồi quy  
chưa chuẩn hóa  
Hệ số hồi quy  
chuẩn hóa  
Kiểm  
định T-  
student  
Biến  
Sig.  
VIF  
Hệ số B Độ lệch chuẩn  
Hệ số Beta  
Hệ số chặn  
PPR  
-0,011  
0,141  
0,319  
0,169  
0,199  
0,046  
0,040  
0,040  
-0,054  
3,052  
7,911  
4,185  
0,957  
0,002  
0,000  
0,000  
0,144  
0,374  
0,187  
1,553  
1,566  
1,406  
PCB  
EA  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 127  
Hệ số hồi quy  
chưa chuẩn hóa  
Hệ số hồi quy  
chuẩn hóa  
Kiểm  
định T-  
student  
Biến  
Sig.  
VIF  
Hệ số B Độ lệch chuẩn  
Hệ số Beta  
PI  
0,370  
0,047  
0,338  
7,875  
0,000  
1,290  
Nguồn: Tính toán trên SPSS, n = 282  
Bảng 7. Kết quả tóm tắt mô hình  
Sai số chuẩn của ước  
Durbin-  
Watson  
Mô hình  
R
R2  
R2 hiệu chỉnh  
tính  
0,784  
0,615  
0,610  
0,43657  
1,93  
Nguồn: Tính toán trên SPSS, n = 282  
Mô hình hồi quy chuẩn hóa được xây dựng như sau:  
SCB = (0,144)*PPR + (0,374)*PCB + (0,187)*EA + (0,338)*PI  
Quan sát hệ số β, nhóm ảnh hưởng ít nhất đến nhân tố phụ thuộc SCB với hệ số β=0,144  
thấp nhất trong mô hình là nhóm EA. Nhân tố độc lập PBC ảnh hưởng cao nhất đến nhân tố  
phụ thuộc SCB (β=0,374) phản ánh thực trạng thiếu tính bền vững của người tiêu dùng thời  
trang Việt Nam một phần là do họ cảm thấy khó thực hiện tiêu dùng bền vững và chưa xây  
dựng được hành vi này. Vì vậy cần được chú trọng khi xây dựng giải pháp liên quan. Tác động  
mạnh thứ hai là nhóm PI (β=0,338) cho thấy người tiêu dùng càng ít nhạy cảm về giá khi hiểu  
giá trị gia tăng từ việc tiêu dùng bền vững thì càng có nhiều khả năng tiêu dùng bền vững. Kết  
quả thang đo này dự báo một tín hiệu đáng mừng khi người tiêu dùng không dễ dàng bị mức  
giá thấp cuốn hút mà đã có sự cân nhắc nhất định đối với tính năng và mức độ thỏa mãn khi  
tiêu dùng của các sản phẩm thời trang giá cao cấp, kiểu dáng bền đẹp.  
5. Kết luận và một số kiến nghị  
Trong bối cảnh bất ổn về đời sống xã hội và ô nhiễm môi trường, nghiên cứu nhận thấy  
tính cấp thiết của việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng bền vững ngành  
thời trang trong nỗ lực xây dựng một xã hội văn minh đáng sống và thân thiện với môi trường.  
Bằng các phương pháp phân tích dữ liệu Cronbach’s Alpha, EFA, phân tích hồi quy tuyến tính,  
kết quả chỉ ra mô hình hành vi tiêu dùng bền vững áp dụng trong lĩnh vực thời trang với 04 yếu  
tố có ý nghĩa tương quan theo thứ tự là Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC), Tính không nhạy  
cảm về giá (PI), Nhận thức sự liên quan đến cá nhân (PPR) và Nhận thức về môi trường (EA).  
Các giả thiết nghiên cứu đặt ra cũng được ủng hộ bởi một số nghiên cứu trước đây như  
Augustine (2019), Joshi (2017), Wang và cộng sự (2014), Kang và cộng sự (2013). Kết quả  
trên là thông tin hữu ích phục vụ cho việc xây dựng giải pháp dưới đây nhằm thúc đẩy hơn nữa  
hành vi tiêu dùng bền vững của người Việt Nam.  
Dựa trên kết quả nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố quyết định tới hành  
vi tiêu dùng bền vững trong ngành thời trang, nghiên cứu đưa ra các kiến nghị tác động vào  
từng yếu tố ảnh hưởng để qua đó thúc đẩy thói quen tiêu dùng bền vững ở Việt Nam theo thứ  
tự như sau:  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 128  
Thứ nhất, từ doanh nghiệp tới các cơ quan chức năng cần tích cực tuyên truyền về tiêu  
dùng thời trang bền vững và các phương thức thực hiện (mua sắm các sản phẩm chất lượng cao,  
bền đẹp, thân thiện với môi trường; lựa chọn các món đồ dễ phối, đa năng; giặt là bảo quản thời  
trang đúng cách). Thông điệp về cách hiện thực hóa hành vi tiêu dùng bền vững một cách dễ  
dàng sẽ khiến người tiêu dùng có niềm tin hơn về việc họ có đủ nguồn lực và làm chủ được  
việc thực hiện tiêu dùng bền vững, từ đó nâng cao yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi của  
người tiêu dùng.  
Thứ hai, để làm giảm Độ nhạy cảm về giá, tăng Tính không nhạy cảm về giá của người tiêu  
dùng đối với các sản phẩm bền vững, các cơ quan chức năng có thể xây dựng kế hoạch hỗ trợ  
các doanh nghiệp sản xuất bền vững cắt giảm được phần nào chi phí sản xuất và phân phối,  
giúp người tiêu dùng có thêm nhiều cơ hội tiếp cận các sản phẩm bền vững và dần xây dựng  
hành vi tiêu dùng bền vững hơn với mức giá hấp dẫn hơn. Đồng thời việc đưa ra các chính sách  
khuyến khích để người tiêu dùng lựa chọn mua các sản phẩm bền vững để khách hàng có động  
lực thử mua các sản phẩm bền vững, từng bước xây dựng nhóm khách hàng trung thành.  
Thứ ba, giải pháp về lâu dài chính là giáo dục thế hệ tương lai về một lối sống bền vững  
bằng cách bổ sung thêm các nội dung, chương trình giáo dục từ bậc Tiểu học đến Đại học. Việc  
tái chế và thời trang bền vững cần được đưa vào chương trình giảng dạy của một số trường Đại  
học, giúp sinh viên nhận thức được giá trị của việc xây dựng mô hình kinh doanh thời trang  
phát triển bền vững, từ đó nâng cao Nhận thức về môi trường và Nhận thức sự liên quan cá  
nhân. Bằng cách này, thế hệ tương lai sẽ thấm nhuần cách sống tiết kiệm, bảo vệ môi trường,  
không lãng phí tài nguyên, biết đấu tranh vì công bằng xã hội và nghĩ xa hơn cho xã hội và các  
thế hệ tiếp nối sau này.  
Nghiên cứu lựa chọn ngành hàng thời trang làm đối tượng sản phẩm cụ thể để phân tích  
hành vi tiêu dùng bền vững. Một số giải pháp đưa ra có thể chưa bao quát hết ý nghĩa toàn diện  
của hành vi tiêu dùng bền vững. Do giới hạn về thời gian và kinh phí nên số lượng mẫu còn  
hạn chế, chưa giải thích hết được hành vi của toàn bộ người tiêu dùng Việt Nam, tính đại diện  
chưa đạt như kỳ vọng của nhóm. Vì vậy, cần bổ sung thêm các yếu tố ảnh hưởng khác với số  
lượng mẫu lớn hơn, mở rộng phạm vi, đa dạng hóa và tập trung phân tích sự khác biệt giữa từng  
nhóm đối tượng khảo sát để đưa ra từng nhóm biện pháp cụ thể hiệu quả hơn. Ngoài ra, khoảng  
cách giữa Nhận thức – Ý định – Hành vi tiêu dùng hay làm thế nào để chuyển đổi thói quen,  
phá vỡ các rào cản hướng đến lối sống phát triển bền vững cũng là vấn đề đang được các nhà  
nghiên cứu hàn lâm quan tâm.  
Tài liệu tham khảo  
Aertsens, J. et al. (2011), "The influence of subjective and objective knowledge on attitude,  
motivations and consumption of organic food". British Food Journal, Vol. 113 No.11, pp. 1353  
- 1378.  
Ajzen, I. (1985), From Intentions to Actions: a Theory of Planned Behavior. Open  
University Press, Milton Keynes.  
Ajzen, I. & Madden, T.J. (1986), "Prediction of goal-directed behavior: Attitudes,  
intentions, and perceived behavioral control", Journal of Experimental Social Psychology, Vol.  
22 No.5, pp. 453 - 474.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 129  
Augustine, A.A., Rindita, A.S. & Muniandy, S.L., (2019), "Factors Influencing the  
Purchase Behaviour of Sustainable Fashion among Millennial Consumers in Kuala Lumpur",  
Proceedings of the 2nd International Conference on Big Data Technologies - ICBDT2019, pp.  
330 - 334.  
Bly, S., Gwozdz, W. & Reisch, L.A. (2015), "Exit from the high street: an exploratory  
study of sustainable fashion consumption pioneers", International Journal of Consumer  
Studies, Vol. 39 No. 2, pp. 125 - 135.  
Celsi, R.L., Chow, S., Olson, J.C. & Walker, B.A., (1992), "The construct validity of  
intrinsic sources of personal relevance: An intra-individual source of felt involvement", Journal  
of Business Research, Vol. 25, No. 2, pp. 165-185.  
Cervellon, M., Hjerth, H. & Ricard, S. (2010), "Green in fashion? An exploratory study of  
national differences in consumers concern for eco-fashion", Venice.  
Cheng, S., Lam, T. & Hsu, C.H., (2006), "Negative Word-of-Mouth Communication  
Intention: An Application of the Theory of Planned Behavior", Journal of Hospitality &  
Tourism Research, Vol. 30 No.1, pp. 95 - 116.  
Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc. (2019), "UN Alliance For Sustainable  
Fashion addresses damage of ‘fast fashion’", https://www.unep.org/news-and-stories/press-  
release/un-alliance-sustainable-fashion-addresses-damage-fast-fashion, truy cập ngày  
13/04/2021.  
Connell, K.Y.H. (2010), "Internal and external barriers to eco-conscious apparel  
acquisition", International Journal of Consumer Studies, Vol. 34 No. 3, pp. 279 - 286.  
Conner, M. & Abraham, C. (2001), "Conscientiousness and the Theory of Planned  
Behavior: Toward a more Complete Model of the Antecedents of Intentions and Behavior",  
Personality and Social Psychology Bulletin, Vol. 27 No. 11, pp. 1547 - 1561.  
Cumming,  
edge/YOYUYZE4MA5L2ZBI6E34Y6PD4Y/, truy cập ngày 13/04/2021.  
G.  
(2002),  
"Skills  
crisis  
at  
fashion’s  
cutting  
edge",  
Deloitte. (2021), "Khảo sát người tiêu dùng Việt Nam: Kiên cường trước khó khăn",  
consumer-survey-2021-vn-version.pdf, truy cập ngày 16/04/2021.  
Dhandra, T.K. (2019), "Achieving triple dividend through mindfulness: More sustainable  
consumption, less unsustainable consumption and more life satisfaction", Ecological  
Economics, Vol. 161, pp. 83 – 90.  
Dissanayake, G. &. S.P. (2015), "An examination of the product development process for  
fashion remanufacturing", Resources, Conservation and Recycling, Vol. 104, pp. 94 – 102.  
Đoàn, L. (2021), "Tiêu chuẩn của thành phố trực thuộc trung ương",  
4249953-p3.html, truy cập ngày 16/04/2021.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 130  
Eze, U.C. & Ndubisi, N.O., (2013), "Green Buyer Behavior: Evidence from Asia  
Consumers", Journal of Asian and African Studies, Vol. 48, No. 4, pp. 413 - 426.  
Feil, A.A. et al. (2020), "Profiles of sustainable food consumption: Consumer behavior  
toward organic food in southern region of Brazil", Journal of Cleaner Production, Vol. 258.  
Fischer, D., Böhme, T. & Geiger, S.M. (2017), "Measuring young consumers’ sustainable  
consumption behavior: development and validation of the YCSCB scale". Young Consumers,  
Vol. 18 No. 3, pp. 312 - 326.  
Fishbein, M. & Ajzen, I. (1975), "Belief, Attitude, Intention and Behavior: An Introduction  
to Theory and Research", Addison-Wesley Pub. Co, Boston.  
Gam, H.J. (2011), "Are fashion-conscious consumers more likely to adopt eco-friendly  
clothing?", Journal of Fashion Marketing and Management, Vol. 15 No. 2, pp. 178 - 193.  
Geiger, S.M., Fischer, D. & Schrader, U. (2017), "Measuring What Matters in Sustainable  
Consumption: An Integrative Framework for the Selection of Relevant Behaviors", Sustainable  
Development, Vol. 26 No. 1, pp. 18 - 33.  
Hà, N.K.G. & Đinh, T.K.N. (2018), "Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh  
tại thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Số 30, tr. 46 - 55.  
Hair, J., Black, W.C., Babin, B.J. & Anderson, R.E. (2010), Multivariate data analysis : a  
global perspective, Pearson Education, Upper Saddle River.  
Ham, M., Mrčela, D. & Horvat, M., (2016), "Insights for measuring environmental  
awareness", Ekonomski vjesnik/Econviews - Review of Contemporary Business,  
Entrepreneurship and Economic Issues, Vol. 29 No. 1, pp. 159 – 176.  
Hines, J. M., Hungerford, H. R. & Tomera, A. N. (1987), "Analysis and Synthesis of  
Research on Responsible Environmental Behavior: A Meta-Analysis", The Journal of  
Environmental Education, Vol. 18 No. 2, pp. 1 - 8.  
Hồ, H.T., Nguyễn, V.N. & Đỗ, P.L. (2018), "Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng  
xanh của người dân Nha Trang", Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, Số 103.  
Hoàng, T.B.T. (2016), "Xu hướng tiêu dùng xanh trên thế giới và hàm ý đối với Việt Nam".  
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 32 Số 1, tr. 66 - 72.  
Hoàng, T.H., Huỳnh, T.T.Q. & Huỳnh, T.N., (2018), "Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi  
tiêu dùng xanh của người tiêu dùng tại thành phố Huế", Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh  
tế và Phát triển, Tập 127 Số 5A, tr. 199 – 212.  
Hustvedt, G. & Dickson, M.A. (2009), "Consumer likelihood of purchasing organic cotton  
apparel", Journal of Fashion Marketing and Management: An International Journal, Vol. 27  
No. 2, 13(1), pp. 49-65.  
Joshi, Y. & Rahman, Z. (2017), "Investigating the determinants of consumers’ sustainable  
purchase behaviour", Sustainable Production and Consumption, Vol. 10, pp. 110 - 120.  
Kang, J., Liu, C. & Kim, S.H. (2013). "Environmentally sustainable textile and apparel  
consumption: the role of consumer knowledge, perceived consumer effectiveness and perceived  
personal relevance", International Journal of Consumer Studies, Vol. 37 No. 4, pp. 442 - 452.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 131  
Kim, N. (2020), "Phát triển thời trang bền vững", https://thoitrangtre.thanhnien.vn/nghe-  
nghiep/phat-trien-thoi-trang-ben-vung-39843.html, truy cập ngày 16/04/2021.  
Kim, Y. & Choi, S.M. (2005), "Antecedents of green purchase behavior: An examination  
of collectivism, Environmental Concern, and PCE", Advances in Consumer Research, Vol. 32,  
pp. 592 - 599.  
Koszewska, M. (2015), "Understanding Consumer Behavior in the Sustainable Clothing  
Market: Model Development and Verification", Muthu S., Gardetti M., Environmental  
Footprints and Eco-Design of Products and Processes, Springer, Singapore, pp. 43–94.  
Kotler, P. & Armstrong, G. (2018), Principles of Marketing, Pearson Education Limited,  
Harlow.  
Lazaroiu, G., Andronie, M., Uţă, C. & Hurloiu, I. (2019), "Trust Management in Organic  
Agriculture: Sustainable Consumption Behavior, Environmentally Conscious Purchase  
Intention, and Healthy Food Choices", Frontiers in Public Health, Vol 7.  
Luchs, M.G., Phipps, M. & Hil, T. (2015), "Exploring consumer responsibility for",  
Journal of Marketing Management, Vol. 31 No. 13-14, pp. 1449 - 1471.  
Lundblad, L. & Davies, I. (2015), "The values and motivations behind sustainable fashion  
consumption", Journal of Consumer Behaviour, Vol. 15 No. 2, pp. 149 – 162.  
Marks, H. (2005), "A dollar  
a
day dress  
-
a
guide, Available at:  
McQuarrie, E. &. M.J. (1992), "A revised product involvement inventory: improved  
usability and validity", Advances in Consumer Research, Vol. 19, pp. 108 – 115.  
Mothersbaugh, D.L. & Hawkins, D. I., (2015), Consumer Behavior: Building Marketing  
Strategy, McGraw-Hill.  
Nielsen. (2020), "Báo cáo Khảo sát Niềm tin Người tiêu dùng",  
VI.pdf?cid=socSprinklr-Nielsen+Vietnam, truy cập ngày 16/04/2021.  
Pallant, J. (2011), SPSS Survival Manual: A step by step guide to data analysis using SPSS.  
Piligrimienė, Ž. et al. (2020), "Internal and External Determinants of Consumer  
Engagement in Sustainable Consumption", Sustainability, Vol. 12 No. 4, pp. 1349.  
Schor, J.B. (2005), "Prices and quantities: Unsustainable consumption and the global  
economy", Ecological Economics, Vol. 55 No. 3, pp. 309 – 320.  
Suk, H. & Lee, E.J. (2013), "The Value, Knowledge, and Sustainable Consumption  
Behavior of Fashion Consumers", Journal of the Korean Society of Clothing and Textiles, Vol.  
37 No. 3, pp. 424 - 438.  
Takala, M. (1991), "Environmental Awareness and Human Activity", International  
Journal of Psychology, Vol. 26 No.5, pp. 585 - 597.  
Taylor, S. & Todd, P. (1995), "Assessing IT Usage: The Role of Prior Experience", MIS  
Quarterly, Vol. 19 No. 4, p. 561.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 132  
Terry, D., Hogg, M. & White, K. (1999), "The theory of planned behaviour: self-identity,  
social identity and group norms", British Journal of Social Psychology, Vol. 38 No. 3, pp. 225  
– 244.  
Tripathi, A. & Singh, M.P. (2016), "Determinants of sustainable/green consumption: a  
review", International Journal Environmental Technology and Management, Vol. 19, pp. 316  
- 358.  
VNR. (2018), "Vietnam Report 2018", https://vietnamreport.net.vn/, truy cập ngày  
10/04/2021.  
Wang, P., Liu, Q. & Qi, Y. (2014), "Factors influencing sustainable consumption  
behaviors: a survey of the rural residents in China", Journal of Cleaner Production, Vol. 63,  
pp. 152 - 165.  
Zaichkowsky, J.L. (1985), "Measuring the Involvement Construct", Journal of Consumer  
Research, Vol. 12 No. 3, pp. 341.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 4 (07/2021) | 133  
pdf 19 trang Thùy Anh 17960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng bền vững trong ngành thời trang ở các thành phố lớn của Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_toi_hanh_vi_tieu_dung_ben_vung_trong_ng.pdf