Nội dung của giáo dục truyền thống gia đình dòng họ tại Việt Nam

Võ Văn Lộc  
Nội dung của giáo dục truyền thống gia đình dòng họ  
tại Việt Nam  
Võ Văn Lộc  
Viện Lịch sử dòng họ  
TÓM TẮT: Giáo dục truyền thống gia đình dòng họ là mảng nội dung hết sức  
quan trọng cần được nghiên cứu và quan tâm nhiều hơn. Từ những cơ sở lí  
luận và cơ sở pháp lí về vấn đề này, bài báo nêu một số nội dung cơ bản của  
giáo dục truyền thống gia đình dòng họ tại Việt Nam, giúp các nhà quản lí xã  
hội, quản lí giáo dục và các bậc cha mẹ tham khảo để có thể đưa ra những  
biện pháp giáo dục thích hợp trong tình hình hiện nay. Bài báo gợi mở một số  
vấn đề thiết thực giúp mọi người, mọi gia đình nâng cao nhận thức về tầm quan  
trọng của xây dựng gia đình văn hóa, cơ sở của xây dựng và phát triển nền  
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.  
275A Phạm Ngũ Lão, Quận 1,  
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
TỪ KHÓA: Truyền thống; nội dung giáo dục truyền thống gia đình dòng họ.  
Nhận bài 7/4/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 10/7/2020 Duyệt đăng 30/8/2020.  
1. Đặt vấn đề  
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nhằm giúp thế hệ  
Trong quá trình mở cửa hội nhập quốc tế, xã hội truyền trẻ biết gìn giữ và phát huy truyền thống của dòng họ,  
thống Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp xúc, giao lưu với gia đình mình.  
các nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Đây là những  
- GD truyền thống gia đình dòng họ: Là những tác  
thuận lợi để học tập, đổi mới và vươn lên nhưng cũng động có ý thức của người lớn và của xã hội những giá trị  
là những thách thức nằm trong thách thức chung giữa tích cực của gia đình dòng họ giúp thế hệ trẻ biết gìn giữ  
các nền văn hóa có truyền thống khác nhau buộc phải và phát huy truyền thống của dòng họ, gia đình. Muốn  
hòa hợp, đan xen để cùng tồn tại và phát triển.Trong quá GD truyền thống gia đình dòng họ, nhất định phải biết  
trình “hòa hợp mà không hòa tan”, chúng ta cần nhìn nội dung của truyền thống, cơ sở pháp lí chỉ đạo việc GD  
và phương pháp GD thích hợp hiện nay.  
nhận thấu đáo những giá trị truyền thống đang tồn tại và  
vận hành trong đời sống tinh thần của dân tộc, trong các  
dòng họ và gia đình, để từ đó khai thác, đẩy mạnh tuyên  
truyền, giáo dục (GD) những yếu tố tích cực, góp phần  
bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc,  
của các dòng họ và gia đình hiện nay.  
2.2. Cơ sở pháp lí liên quan đến nhận thức về nội dung của giáo  
dục truyền thống gia đình dòng họ hiện nay  
- Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16 tháng 7 năm 1998  
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt  
Nam “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam  
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, trong đó nhấn mạnh  
nhiệm vụ cấp bách là “xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối  
sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước  
hết là trong các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong các  
đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình”.  
- Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng  
Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 5 năm 2001 về Ngày  
Gia đình Việt Nam, mục tiêu “Xây dựng gia đình no ấm,  
bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, đẩy mạnh công tác bảo  
vệ, chăm sóc và GD trẻ em, góp phần vào sự nghiệp xây  
dựng và bảo vệ Tổ quốc”.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Khái niệm  
- Nội dung: Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Nội dung  
là: “Mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa  
đựng hoặc biểu hiện: Nội dung của tác phẩm (Từ điển  
Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB Hồng Đức, 2019).  
- Truyền thống là: “Thói quen hình thành đã lâu đời  
trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này  
sang thế hệ khác” (Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ  
học, NXB Hồng Đức, 2019). Nhiều nhà nghiên cứu đã  
thống nhất rằng, truyền thống được lưu truyền và GD  
phải là truyền thống có giá trị tích cực.  
- Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTD ngày 10 tháng 10  
- Truyền thống gia đình dòng họ là những giá trị tích năm 2011 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Quy định  
cực được lưu truyền trong các gia đình và dòng họ, như chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận  
lòng hiếu thảo, yêu thương đùm bọc nhau, đoàn kết, lao danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng  
động cần cù, …  
văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố  
- Nội dung của truyền thống gia đình dòng họ: Là văn hóa” và tương đương. Theo Điểm b, Khoản 2, Điều  
những giá trị tích cực của gia đình dòng họ được lưu 2 của Thông tư, một trong những tiêu chí để xét công  
Số 34 tháng 10/2020  
27  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
nhận gia đình văn hóa là “Gia đình nề nếp; ông bà, cha của các nước, có thời gian tiếp biến và thẩm định để các  
mẹ gương mẫu; con cháu thảo hiền; giữ gìn các giá trị giá trị văn hóa được lựa chọn hài hòa với những giá trị  
văn hóa gia đình truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các của văn hóa truyền thống dân tộc, làm cho đời sống văn  
giá trị văn hóa mới về gia đình”.  
- Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 281/ mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.  
QĐ-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2014 Phê duyệt Đề c. Nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của dòng họ, của gia  
hóa của dân tộc được phong phú, lành mạnh, đáp ứng  
án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình phải trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm quyền lợi của  
đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020”. Trích: “Đẩy cộng đồng, của xã hội.  
mạnh các hoạt động học tập thường xuyên, học tập suốt  
Nguyên tắc này nhằm ngăn ngừa những sự lạm dụng  
đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng thông qua việc danh nghĩa của dòng họ hoặc ẩn nấp dưới danh nghĩa  
xây dựng và triển khai các mô hình “Gia đình học tập”, của dòng họ mà mưu đồ lợi ích nhóm, gây chia rẽ địa  
“Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập” và “Đơn vị học phương.  
tập”, góp phần xây dựng xã hội học tập”. “Chỉ tiêu phấn  
d. Nguyên tắc bảo đảm tính cần thiết và khả thi của  
đấu đến năm 2020 là: 70% gia đình được công nhận danh hoạt động GD  
hiệu “Gia đình học tập”, 50% dòng họ được công nhận  
Là nguyên tắc hướng tới việc bảo đảm quá trình GD  
danh hiệu “Dòng họ học tập”, 60% cộng đồng (thôn, truyền thống phải dựa trên cơ sở lí luận, cơ sở mang tính  
làng, ấp, bản, tổ dân phố và tương đương) đạt danh hiệu pháp lí và nhu cầu thực tiễn mà GD, chú ý đến tính vừa  
“Cộng đồng học tập”.  
sức, tính phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, phù hợp với nhu  
- Nhằm thực hiện Nghị quyết 03 (1998) của Trung cầu và đặc điểm của địa phương, đáp ứng sự cần thiết,  
ương Đảng và Quyết định số 281 (2014) của Chính phủ, sự ứng dụng trong đời sống xã hội, tạo sự hưởng ứng cao  
Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết trong các tầng lớp xã hội.  
định số 5070/QĐ-UBND ngày 15 tháng 10 năm 2014  
2.4. Nội dung của giáo dục truyền thống gia đình dòng họ  
“phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt  
đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020”  
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”. Về giải pháp,  
Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng thí  
điểm Đề án nói trên tại năm đơn vị là Quận 6, Quận 10,  
Quận Bình Tân, Quận Gò Vấp và Huyện Bình Chánh.  
2.4.1. Giáo dục lòng yêu thương con người  
Ông bà ta từ xa xưa đã biết coi trọng, nâng niu, yêu quý  
và bảo vệ con cái do mình sinh ra. Họ luôn biết chăm sóc  
và dạy dỗ con cái của mình lớn lên thích ứng với gia đình  
với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Chăm sóc  
về sức khỏe thể chất đi liền với dạy bảo để con cháu được  
lớn khôn, có hiểu biết, có tư cách là hai vấn đề luôn được  
2.3. Nguyên tắc lựa chọn nội dung giáo dục truyền thống  
a. Nguyên tắc đảm bảo mọi hoạt động về GD truyền các ông bà quan tâm. Theo thời gian, lòng yêu thương trở  
thống gia đình dòng họ phải trên cơ sở tuân thủ chủ thành một phẩm chất, một giá trị cao cả trong bản chất và  
trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, của tư tưởng Hồ mối quan hệ của con người.  
Chí Minh, đường lối, chính sách của Chính phủ Nước  
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.  
Trong “Mấy lời giới thiệu” tác phẩm “Giá trị tinh thần  
truyền thống của dân tộc Việt Nam” các tác giả Trần Văn  
Mọi biện pháp GD về truyền thống trong cộng đồng Giàu, và Vũ Khiêu viết: “Có ai yêu con bằng những bà  
dân cư đều bảo đảm nguyên tắc này, để từ đó hướng tới mẹ Việt Nam, người đã suốt đời thức khuya, dậy sớm,  
mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân nhịn ăn, nhịn mặc để nuôi nấng, săn sóc và dạy dỗ con,  
chủ, văn minh. Nguyên tắc này cũng đòi hỏi sự nhất quán người đã gửi vào con tất cả ước mong và hạnh phúc”  
độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đây là [1, tr.55].  
một định hướng hết sức cần thiết và quan trọng trong  
Do vậy, yêu thương và GD lòng yêu thương là hai vấn  
GD truyền thống dân tộc, dòng họ và gia đình hiện nay. đề gắn bó mật thiết, không thể tách rời. GD lòng yêu  
Nguyên tắc này cũng định hướng cho việc GD con em thương bao gồm GD lòng yêu thương cha mẹ, ông bà,  
có nhận thức đúng về trách nhiệm công dân đối với Tổ anh chị em ruột, mở rộng ra là họ hàng thân tộc và bà con  
quốc. Trong thực tiễn xã hội hiện nay còn có một ít gia lối xóm, cộng đồng dân cư. Lòng yêu thương bắt nguồn  
đình buông lỏng việc GD truyền thống, dẫn đến việc con từ dòng sữa ngọt ngào của mẹ và công dạy dỗ chở che  
em họ nhận thức chính trị lệch lạc, có hành động vi phạm của cha. Ông Phan Kế Bính nói: “Xét cái tục của ta, sinh  
luật pháp Nhà nước.  
b. Nguyên tắc tính kế thừa truyền thống và văn hóa dân nấng, dạy dỗ cho con nên người, nâng như nâng trứng,  
tộc, văn hóa dòng họ và gia đình hứng như hứng hoa, thực là hết lòng hết dạ. Loài người  
con ra ai cũng biết thương, biết mến, biết chăm chỉ nuôi  
Nguyên tắc này chỉ ra rằng, trong giai đoạn mở cửa cũng nhờ tính ấy mà bảo tồn được chủng loại cho mỗi  
hội nhập với văn hóa đa quốc gia, hoạt động GD truyền ngày được sinh sôi nẩy nở thêm ra, thì lòng nhân từ ấy  
thống cần cân nhắc chọn lọc những giá trị văn hóa cốt lõi rất là hay lắm” [2, tr.12].  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
28  
Võ Văn Lộc  
Nhờ lòng yêu thương mà biết kính trên nhường dưới, cái đối với ông bà cha mẹ của mình. Không ai hiếu thảo  
biết giúp đỡ lẫn nhau, nhường cơm sẻ áo, lá lành đùm với người dưng hoặc với người không giúp ích gì mình.  
lá rách, miếng khi đói bằng một gói khi no. Lòng yêu Ngày nay, dù cho khoa học kĩ thuật có tiến bộ tới đâu đi  
thương được GD ngay từ nhỏ và xuyên suốt đời làm nữa, các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam vẫn phải được  
người, trở thành một phẩm chất hàng đầu của đạo làm  
người Việt Nam. Nhờ vậy, khi đi xa thì nhớ, mong muốn  
quay về; lớn lên thì chung thủy; không phũ phàng, không  
phản bội. Mở rộng ra là yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sẵn  
sàng hi sinh để bảo vệ người thân, bảo vệ Tổ quốc, đồng  
bào mình. Lòng yêu thương là một phép màu, cao quý  
nhưng rất dễ tìm, rất gần gũi. Đôi bạn nam nữ đến với  
nhau vì lòng yêu thương. Rồi vì yêu thương mà sinh ra  
con cháu. Mọi mâu thuẫn trên đời, với mọi người, mọi  
quốc gia, nếu yêu thương xuất hiện, đều được hóa giải.  
Ngày nay, yêu thương con người, sống có tình có nghĩa  
đã trở thành một phẩm chất đạo đức hàng đầu của người  
Việt Nam. GD lòng yêu thương, kính trọng cha mẹ, ông  
bà, những người lớn tuổi, bà con họ hàng mở rộng ra là  
đồng bào, đồng loại, chim muông, thú vật là những nội  
dung GD được đưa vào chương trình GD nước ta từ lâu,  
với những mức độ yêu cầu phù hợp lứa tuổi. Tóm lại,  
trong gia đình Việt Nam, từ xa xưa đến nay, các bậc cha  
mẹ ông bà đều quan tâm tới việc GD lòng yêu thương  
cho các con cháu.  
tiếp tục GD lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ. Ông Phan  
Kế Bính nói rằng: “Ta đọc sách thánh hiền, thấy sự hiếu  
với cha mẹ là mối luân thường rất lớn, làm đầu trăm nết  
hay của người” [2, tr.22]. Bác Hồ dạy: “Trung với nước,  
hiếu với dân”. Trong hiếu với dân là có hiếu với cha mẹ  
mình, là phẩm chất của người Việt trong thời đại mới.  
- Lòng hi sinh. Hi sinh vì lòng yêu gia đình, yêu Tổ  
quốc vì gia đình và Tổ quốc đã nuôi dưỡng mình. Lòng  
hi sinh là đỉnh cao của nhân cách và ý chí của con người.  
Chỉ trong khó khăn, gian khổ, cần hành động dũng cảm  
người ta mới hi sinh; Hi sinh vì đại nghĩa, vì bảo vệ Tổ  
quốc, bảo vệ đồng bào mình.  
- Lòng vị tha, độ lượng và sự tử tế với mọi người. Tha  
thứ khi người khác có lỗi với mình và giúp đỡ, muốn  
người khác có được những gì tốt đẹp hơn trong cuộc  
sống. Lòng vị tha, độ lượng có sức cảm hóa sâu sắc, giúp  
người ta, nhận ra lỗi lầm của mình, trở thành người tốt.  
Lòng vị tha, độ lượng đi liền với sự tử tế. Người có lòng  
tử tế là người có lòng tốt trong giao tiếp, đối xử lẫn nhau.  
Xã hội có được nhiều người có lòng vị tha, độ lượng và  
tử tế với nhau sẽ là một xã hội đáng sống, văn minh và  
hạnh phúc. “Luôn trau dồi để cứu người”, “Lòng tử tế  
đã cứu chúng tôi”, những cánh thư của người được chữa  
khỏi bệnh Covid-19 tại Việt Nam đầy cảm động, được  
báo Tuổi Trẻ ghi lại trong số báo ra ngày 27 tháng 02  
năm 2020.  
2.4.2. Giáo dục lòng biết ơn  
Lòng biết ơn là một phẩm chất của đạo đức, luôn được  
ông bà, cha mẹ dạy dỗ con cháu. Ai cho cái gì thì cúi  
đầu, nói “Cảm ơn”, ai nuôi dưỡng mình thì biết đền ơn,  
gọi là công ơn sinh thành dưỡng dục. Ra ngoài thì con  
sông ta uống, con đường ta đi, ta phải biết ơn người dẫn  
nước, người làm đường. Lòng biết ơn trở thành đạo lí  
uống nước nhớ nguồn. Trong nhà có bàn thờ tổ tiên ông  
bà, trước sân có bàn thờ Ông Thiên hay còn gọi là bàn  
Thiên, thờ Trời. Mở rộng GD lòng biết ơn là GD nghĩa  
vụ, trách nhiệm đối với mọi người, với Tổ quốc, xã hội.  
GD lòng biết ơn đi liền với GD nghĩa vụ, trách nhiệm  
đối với gia đình, với xã hội, từ đó mà ra sức học tập tốt,  
rèn luyện tốt, thực hành lao động nghề nghiệp để có cuộc  
sống ổn định, góp phần vào sự ổn định của gia đình, xã  
hội. Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng điều trước hết là:  
“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào” (trong Tổ quốc, đồng bào  
có cha mẹ mình, tổ tiên mình), kế đó mới là “Học tập tốt,  
rèn luyện tốt, giữ gìn vệ sinh thật tốt, khiêm tốn, thật thà  
dũng cảm”. Từ lòng yêu thương và lòng biết ơn mà sinh  
ra nhiều phẩm chất tốt đẹp khác, chẳng hạn:  
2.4.3. Giáo dục ý thức về bổn phận, trách nhiệm với công việc,  
với mọi người  
Bổn phận là phần việc phải lo liệu, phải làm theo đạo lí  
thông thường, thí dụ như bổn phận làm con, làm tròn bổn  
phận công dân (Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ  
học), còn trách nhiệm là phần việc được giao hoặc coi  
như được giao cho phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả  
không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả, thí dụ trách  
nhiệm làm cha mẹ (Từ điển Tiếng Việt). Trong gia đình  
Việt Nam, từ xưa đến nay, ông bà, cha mẹ thường nhắc  
nhở con cháu biết bổn phận và trách nhiệm của mình đối  
với mọi người và đối với công việc. Khi đã biết bổn phận  
và trách nhiệm của mình, các con cháu sẽ tự giác thực  
hiện và thực hiện thường xuyên. Nó là thước đo của sự  
trưởng thành và lòng hiếu thảo của con cháu.  
- Lòng hiếu thảo: Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn  
ngữ học (2019) cho rằng, hiếu thảo là có lòng kính yêu  
cha mẹ, như thế chưa đủ mà phải bổ sung cho đủ nghĩa  
và phù hợp với tâm lí của người Việt Nam, là kính yêu và  
2.4.4. Giáo dục sự học hành, lao động có ích và nghề nghiệp  
nuôi thân  
Hầu hết các gia đình truyền thống và hiện đại đều quan  
chăm sóc. Kính yêu chỉ để ở trong lòng, còn chăm sóc là tâm GD con cháu việc học hành, lao động có ích và lập  
có bộc lộ hành vi cụ thể, mới được gọi là hiếu thảo. Đây nghiệp. Học ở nhà và học ở trường nhưng lấy việc học ở  
là phẩm chất hàng đầu của đạo làm người, chỉ có ở con trường là căn bản. Ở những gia đình có kiến thức có thể  
Số 34 tháng 10/2020  
29  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
dạy kèm thêm ở nhà vào các buổi tối. Dạy con học hành thể nói nó làm nên phẩm cách của quốc gia, phẩm cách  
và nhắc nhở con đến trường hàng ngày được xem là một của dân tộc Việt Nam.  
nhiệm vụ thường xuyên của cha mẹ. Học hành đi đôi với  
3. Kết luận  
kính trọng thầy cô là một truyền thống tốt đẹp của Việt  
Nam. Ông bà ta hay nói: “Không thầy đố mày làm nên”.  
Ngoài lo việc học, trong mỗi nhà cũng chú ý giao việc  
làm vừa sức cho con, gọi là lao động có ích, chẳng hạn,  
cho con đi đồng ruộng, tát nước, bắt cá, chăn trâu, hoặc  
đi theo mẹ lên chợ tập tành buôn bán, … Các bậc cha  
mẹ ở nông thôn trước đây cũng chú ý việc cho con học  
nghề. Họ cho rằng: “Ruộng bề bề không bằng nghề trong  
tay”. Quá trình GD sự học hành, lao động có ích và nghề  
nghiệp nuôi thân gắn liền với GD đức tính cần cù, chăm  
chỉ, khiêm tốn, nhẫn nại. Ông bà ta hay căn dặn con cháu  
phải chăm làm lụng, có công ăn việc làm để nuôi sống  
bản thân.  
GD con cháu biết học hành, lao động có ích và có nghề  
nghiệp nuôi thân là một mảng GD cần thiết, có tác dụng  
giúp cho con cháu lớn lên có cuộc sống ổn định trong xã  
hội, không bị khinh miệt và không là gánh nặng cho mọi  
người. Ngày nay, dưới những tư tưởng tiến bộ, chúng ta  
thấy nội dung GD trên đây là rất phù hợp, hiện đại. Khi  
nghiên cứu về vấn đề này, Bác Hồ viết: “Xã hội có cơm  
ăn, áo mặc, nhà ở, là nhờ lao động. Xây nên giàu có,  
tự do, dân chủ cũng là nhờ lao động. Trí thức mở mang  
cũng là nhờ lao động (lao động trí thức). Vì vậy, lao  
động là sức chính của sự tiến bộ loài người. Cũng là sức  
mạnh của sự giải phóng dân tộc” [3, tr.514].  
GD truyền thống gia đình dòng họ giữ vị trí rất quan  
trọng trong GD hình thành nhân cách con người. Đặc  
điểm của GD truyền thống gia đình và GD của nhà trường  
là vai trò nêu gương của người lớn. Khi trẻ ở nhà thì có  
ông bà cha mẹ và các anh chị nêu gương; Khi trẻ vào  
trường thì có tấm gương của lãnh đạo trường, các thầy  
cô, những người phục vụ; Khi trẻ ra xã hội thì có tấm  
gương của các quan chức ở địa phương, những người lớn  
tuổi. Bác Hồ chỉ ra ảnh hưởng to lớn của GD đối với tuổi  
trẻ: “Óc những người tuổi trẻ trong sạch như một tấm  
lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh, nhuộm đỏ thì nó  
sẽ đỏ. Vì vậy, sự học tập ở trong trường có ảnh hưởng rất  
lớn cho tương lai của thanh niên và tương lai của thanh  
niên tức là tương lai của nước nhà” [4, tr.120].  
Nội dung của GD truyền thống gia đình dòng họ còn  
phải gắn với nội dung GD của xã hội, của đất nước. Nói  
cách khác, gia đình, dòng họ không thể dạy con cháu đi  
ngược với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và  
Nhà nước. Vì vậy, các bậc ông bà cha mẹ cũng nên chú  
ý khai thác những nội dung ý nghĩa của các kì lễ hội cấp  
quốc gia, lễ hội cấp khu vực và lễ hội ở địa phương để  
GD con cháu (Võ Văn Lộc, Một hướng khai thác về GD  
truyền thống dân tộc và gia đình dòng họ, Tạp chí Khoa  
học và GD Việt Nam, số 22, tháng 10 năm 2019).  
Quyết định số 281/QĐ-TTg ngày 20 tháng 02 năm  
2014 của Thủ tướng Chính phủ đề cập đến đơn vị “gia  
đình” và “dòng họ” có trách nhiệm trong xây dựng xã  
hội học tập, tuy nhiên, mối liên hệ giữa “gia đình” và  
“dòng họ” nên được xác lập rõ. Nói “truyền thống gia  
đình dòng họ” là nói đến truyền thống của từng dòng họ  
trong cộng đồng và khi nói “hoạt động GD truyền thống  
gia đình dòng họ” là phải hiểu lấy gia đình, từng gia đình  
làm cơ sở để GD truyền thống dòng họ. Ở đây, vai trò  
của cha mẹ trong từng gia đình là sâu sát và hiệu quả  
hơn tiếng nói của ông trưởng tộc (đại diện dòng họ). Nói  
dòng họ là nói chung, nói xây dựng văn hóa dân tộc, văn  
hóa địa phương hay văn hóa phường xã cũng là lấy đơn  
vị từng gia đình mà xây dựng. Nhiều gia đình cùng đồng  
lòng thực hiện thì mới có văn hóa dòng họ, văn hóa địa  
phương. Vì vậy, trong GD truyền thống gia đình dòng họ  
thì lấy GD của gia đình làm cơ sở.  
2.5. Giáo dục những hiểu biết ban đầu về cội nguồn dân tộc, tổ  
tiên, đồng bào, dòng họ và gia đình  
Những hiểu biết ban đầu này có tính chất căn bản, được  
củng cố và nâng dần qua ngày tháng trẻ lớn lên trong môi  
trường xã hội và GD của nhà trường. Gọi đây là những  
hiểu biết căn bản bởi vì một người cho dù có học giỏi đến  
đâu mà thiếu những hiểu biết đúng đắn về cội nguồn dân  
tộc, tổ tiên đồng bào, dòng họ và gia đình mình thì người  
ấy sớm hay muộn cũng sẽ bộc lộ những lệch lạc về quan  
điểm và hành vi, bị mất uy tín với cộng đồng và sẽ bị  
xem thường. Trong thời đại ngày nay, trước làn sóng hội  
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mỗi người Việt Nam  
vừa phải củng cố nhận thức đúng đắn về cội nguồn của  
mình, vừa phải làm sáng tỏ nó trước cộng đồng thế giới,  
là một trách nhiệm và là đạo lí làm người.  
Các phẩm chất trên đây xuyên thấm vào nhau, tác động  
qua lại, hun đúc cho sự hình thành các phẩm chất nổi trội  
mà tác giả Trần Văn Giàu đúc kết về những giá trị tinh  
thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, là: Yêu nước,  
Trong gia đình có 3 thế hệ (ông bà/cha mẹ/con cháu)  
thì lấy GD của cha mẹ đối với con cái là chủ yếu. Đến  
khi con cái của mình lập gia đình và có các cháu thì ông  
Cần cù, Anh hùng, Sáng tạo, Lạc quan, Thương người, bà phải tôn trọng vai trò làm cha mẹ của con mình trong  
Vì nghĩa. Vì nghĩa hay Đại nghĩa là một phẩm chất cốt việc GD các cháu. Ông bà nên góp ý với cha mẹ các  
lõi thể hiện trách nhiệm và mối quan hệ sâu sắc giữa con cháu, để cha mẹ các cháu trực tiếp dạy dỗ các cháu. Làm  
người với nhau, chẳng những tôn lên giá trị cá nhân mà như vậy vừa phát huy trách nhiệm của cha mẹ các cháu,  
còn tôn lên giá trị của quốc gia, của cộng đồng, hay có vừa tránh được sự mâu thuẫn hay xung đột thế hệ trong  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
30  
Võ Văn Lộc  
việc GD gia đình, nhất là ở các gia đình có các con/cháu với quan điểm và cách sống truyền thống Việt Nam, ông  
đi học nước ngoài về. Thanh niên đi học nước ngoài hay bà không nên vội phê phán mà nên tìm hiểu và giải quyết  
những gia đình sống ở nước ngoài về mang theo cái quan khéo để giữ được mối quan hệ thiêng liêng: các cháu vừa  
điểm và cách sống của nước ngoài, nhiều khi mâu thuẫn là con cha lại vừa là cháu ông.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Trần Văn Giàu, (2011), Giá trị tinh thần truyền thống của  
dân tộc Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[2] Phan Kế Bính, (2017), Việt Nam phong tục, NXB Kim  
Đồng.  
Quốc gia, Hà Nội, tr.120.  
[5] Võ Văn Lộc, (10/2019), Một hướng khai thác về giáo dục  
truyền thống dân tộc và gia đình dòng họ, Tạp chí Khoa  
học và Giáo dục Việt Nam, số 22.  
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, (2011), tập 5, NXB Chính trị  
Quốc gia, tr.514.  
[6] Viện Ngôn ngữ học, (2019), Từ điển Tiếng Việt, NXB  
Hồng Đức.  
[4] Hồ Chí Minh Toàn tập, (2011), tập 5, NXB Chính trị  
THE CONTENT OF VIETNAMESE TRADITIONAL FAMILY  
AND CLAN EDUCATION  
Vo Van Loc  
Institute of Family History  
275A Pham Ngu Lao, District 1,  
Ho Chi Minh City, Vietnam  
ABSTRACT: Traditional family and clan education is the most important content  
that needs more research and attention. Based on the theoretical and the legal  
foundation on this issue, the article examines the basic contents of traditional  
family and clan education, aiming at helping social managers, education  
managers and parents to refer to appropriate administrative measures in  
the current situation. The article also suggests some particle issues to raise  
awareness about the importance of building a cultural family, the foundation  
of building and developing an advanced Vietnamese culture imbued with  
national identity.  
KEYWORDS: Tradition; content of traditional family and clan education.  
Số 34 tháng 10/2020  
31  
pdf 5 trang Thùy Anh 10021 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nội dung của giáo dục truyền thống gia đình dòng họ tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnoi_dung_cua_giao_duc_truyen_thong_gia_dinh_dong_ho_tai_viet.pdf