Bài thảo luận Hóa vô cơ - Đá vôi và ứng dụng

Lớp L04 – nhóm 2  
Đề tài Hóa vô cơ:  
Đá vôi và ứng dụng  
1. Đặt vấn đề  
Việt Nam có một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú trong đó có đá vôi. Đá vôi có ứng  
dụng quan trọng trong nhiều ngành đặc biệt là xây dựng và vật liệu.  
2. Đặc điểm chung  
a. Khái niệm, tính chất  
-
Đá vôi là loại một loại đá trầm tích, về thành phần hóa học chủ yếu là khoáng chất  
canxit (tức cacbonat canxi CaCO3). Đá vôi ít khi ở dạng tinh khiết, mà thường bị lẫn  
các tạp chất như đá phiến silic, silica và đá mácma cũng như đất sét, bùn và cát,  
bitum...  
-
-
Màu sắc: trắng, màu tro, xanh nhạt, vàng…  
Độ cứng 3, khối lượng thể tích 2600 ÷ 2800 kg/m3, cường độ chịu nén 1700 ÷  
2600kg/cm2, độ hút nước 0,2 ÷ 0,5%.  
-
Tính chất  
•
Khi bị nung nóng, giải phóng điôxít cacbon (trên 825 °C trong trường hợp của  
CaCO3), để tạo ôxít canxi, thường được gọi là vôi sống:  
CaCO3 → CaO + CO2  
•
Cacbonat canxi sẽ phản ứng với nước có hòa tan điôxít cacbon để tạo thành  
bicacbonat canxi tan trong nước: CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2  
b. Phân bố và trữ lượng  
Do là trầm tích của vỏ các loại động vật biển khi chết tích tụ dưới biển, ngoài ra còn từ  
các rạn san hô chứa rất nhiều canxi nên các nơi khai thác đá vôi chủ yếu gần biển hoặc  
từng là biển. Đá vôi Việt nam phân bố tập trung ở các tỉnh phía Bắc và cực Nam. Đá vôi ở  
Bắc Sơn và Đồng Giao phân bố rộng và có tiềm năng lớn hơn cả.  
Tại nước ta, 125 tụ khoáng đá vôi đã được tìm kiếm và thăm dò, trữ lượng ước đạt 13 tỷ  
tấn, tài nguyên dự báo khoảng 120 tỷ tấn.  
c. Tình hình khai thác  
Ở Miền Bắc Việt nam hiện có tới 340 mỏ và các điểm khai thác đá vôi đang hoạt động.  
Quy mô, công suất khai thác khác nhau khá nhiều.  
Trên các mỏ đá lớn ở Miền Bắc Việt nam, người ta áp dụng công nghệ khai thác lớp bằng.  
3. Ứng dụng  
• Đá vôi là nguyên liệu chủ yếu được sử dụng để sản xuất ximăng phục  
vụ ngành xây dựng. Ngành công nghiệp sản xuất ximăng đã và đang trở thành ngành kinh tế  
quan trọng của đất nước.  
➢ Quy trình sản xuất xi măng  
Nguyên liệu chính: đá vôi và đất sét, ngoài ra người ta còn dùng quặng sắt và  
Bôxít để làm nguyên liệu điều chỉnh.  
Vật liệu từ mỏ được làm giảm kích thước bằng những máy đập khác nhau.Các  
khối đá được làm giảm kich thước từ 120cm đến khoảng từ 1.2 - 8cm. Vật liệu  
thô cũng có thể cần được sấy để việc pha trộn và đập hiệu quả hơn.  
Sau khi đập nhỏ, vật liệu được vận chuyển bằng hệ thống băng tải cao su  
hoặc những biện pháp hậu cần thích hợp khác đưa về kho. Đá vôi đã nghiền và  
đất sét được đồng nhất bằng cách chất thành đống và cào thanh từng lớp trong  
kho dự trữ. Những vật liệu này được sẵn sàng cho việc nghiền và sấy trong lò  
nung.  
Đá vôi, Sét, và phụ gia điều chỉnh được đưa vào các két chứa trung gian. Từ  
đó, qua hệ thống cân băng định lượng, nguyên liệu được cấp vào máy nghiền  
qua băng tải chung.  
Các vật liệu thô được nghiền và sấy trong máy nghiền con lăn cho đến khi  
chúng đủ mịn để chuyển đến silo đồng nhất bằng không khí.  
Bột liệu thô sau đó sẽ được những cy-lon gia nhiệt nâng nhiệt độ lên cao  
trước khi vào lò nung. Điều này làm gia tăng hiệu quả sử dụng nhiệt của lò  
nung vì bột liệu đã được vôi hóa 20 - 40% khi bắt đầu vào lò.  
Trong tháp gia nhiệt, vật liệu thô được nung nhanh chóng đến nhiệt độ  
khoảng 1000oC, ở nhiệt độ này đá vôi chuyển sang dạng nóng chảy. Trong lò  
quay, nhiệt độ lên đến khoảng 2000oC. Tại nhiệt độ này, các khoáng nóng chảy  
kết hợp để hình thành các tinh thể silicat canxi - clinker xi măng.  
Clinker sau khi ra khỏi lò được đưa vào giàn làm nguội. Clinker từ các Silô,  
thạch cao và phụ gia từ kho chứa tổng hợp được vận chuyển lên két máy  
nghiền.  
Xi măng thành phẩm được vận chuyển tới 4 silô chứa xi măng bột bằng hệ  
thống máng khí động và gầu nâng. Từ đáy các Silô chứa, qua hệ thống cửa  
tháo liệu xi măng được vận chuyển tới các két chứa của máy đóng bao hoặc các  
bộ phận xuất xi măng rời.  
• Đồng thời đá vôi cũng là một nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất bột nhẹ và  
nguyên liệu hóa chất cơ bản là sôđa.  
➢ Bột nhẹ được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp như công nghiệp giấy, cao  
su, nhựa, xốp, thuốc đánh răng, mỹ phẩm, sơn, dược phẩm v.v... Bột nhẹ là một  
chất độn có nhiều tính ưu việt, nó làm giảm độ co ngót và tạo độ bóng cho bề mặt  
sản phẩm. Trong công nghiệp cao su và giấy, bột nhẹ vượt trội hơn cao lanh về độ  
bền và độ trắng. Trong công nghiệp sản xuất keo gắn bột nhẹ được sử dụng làm  
chất độn do có độ bám dính tốt  
➢ Sôđa cũng là một trong những hóa chất cơ bản thiết yếu của nền kinh tế quốc dân.  
Sôđa được sử dụng trong rất nhiều ngành công nghiệp như : làm nguyên liệu sản  
xuất bột giặt, sản xuất thuỷ tinh lỏng, sản xuất kim loại màu, làm sạch các sản  
phẩm dầu mỏ, dùng trong công nghiệp dệt, sản xuất bông tơ nhân tạo v.v... Vì vậy  
sản lượng sôđa đang ngày càng tăng mạnh.  
• Các keo dán ngói bằng gốm thường chứa khoảng 70-80% đá vôi.  
• Đá vôi thường được dùng làm cốt liệu cho bê tông, dùng rải mặt đường ô tô, đường xe  
lửa, và dùng trong các công trình thuỷ lợi nói chung, cũng như để chế tạo tấm ốp, tấm  
lát và các cấu kiện kiến trúc khác.  
• Đá vôi là nguyên liệu để sản xuất vôi sống.  
• Các hang động đá vôi cũng là một nguồn lợi du lịch lớn.  
• Đá vôi thường được dùng làm cốt liệu cho bê tông, dùng rải mặt đường ô tô, đường xe  
lửa, và dùng trong các công trình thuỷ lợi nói chung, cũng như để chế tạo tấm ốp, tấm  
lát và các cấu kiện kiến trúc khác.  
The end  
docx 2 trang Thùy Anh 15820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài thảo luận Hóa vô cơ - Đá vôi và ứng dụng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxbai_thao_luan_hoa_vo_co_da_voi_va_ung_dung.docx