Tín ngưỡng trong đời sống của cư dân ven biển Bình Định

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
JOURNAL OF SCIENCE  
Tập 18, Số 10 (2021): 1906-1917  
Vol. 18, No. 10 (2021): 1906-1917  
ISSN:  
2734-9918  
Bài báo nghiên cứu*  
TÍN NGƯỠNG TRONG ĐỜI SỐNG CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN BÌNH ĐỊNH  
Nguyễn Thị Vân  
Trường THPT Trí Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Vân – Email: [email protected]  
Ngày nhận bài: 25-5-2021; ngày nhận bài sửa: 27-9-2021; ngày duyệt đăng: 30-10-2021  
TÓM TẮT  
Bài viết nghiên cứu vai trò của tín ngưỡng trong đời sống của cư dân ven biển Bình Định.  
Các phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp tài liệu, quan sát tham dự được sử dụng trong  
bài viết này. Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố biển được thể hiện rõ nét trong mọi khía cạnh đời  
sống văn hóa của họ. Bình Định không chỉ có truyền thống đánh bắt và khai thác thủy sản mà còn  
có nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng. Một số hình thức tín ngưỡng như: thờ cúng cá  
Ông, thờ cúng Cô Bác, thờ Mẫu/ nữ thần biển… được xem như chỗ dựa tinh thần cho ngư dân  
trong đời sống sông nước đầy rủi ro. Trong bối cảnh kinh tế – xã hội hiện đại, các giá trị văn hóa  
truyền thống có nhiều biến đổi, trong đó, tín ngưỡng cũng không ngoại lệ. Tín ngưỡng của cư dân  
ven biển Bình Định ngày nay đã có sự thay đổi bởi một số nguyên nhân: sự quản lí của Nhà nước,  
sự phát triển về mặt kinh tế - xã hội. Do vậy, việc tìm hiểu tín ngưỡng của cư dân ven biển Bình  
Định từ góc nhìn địa – văn hóa giúp lí giải chức năng, sự đa dạng và những biến đổi của tín  
ngưỡng trong đời sống của cư dân nơi đây, đồng thời nhằm bảo lưu, giữ gìn những giá trị văn hóa  
truyền thống của dân tộc.  
Từ khóa: tỉnh Bình Định; tín ngưỡng; cư dân ven biển  
1.  
Đặt vấn đề  
Tín ngưỡng là một phương diện quan trọng trong đời sống tinh thần của con người,  
đồng thời còn là một hiện tượng văn hóa độc đáo, phản ánh niềm tin, ước vọng của con  
người từ xưa cho đến nay. Ngô Đức Thịnh (2012) cho rằng: “Tín ngưỡng với tư cách như  
một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người, của một cộng đồng  
người nào đó ở một trình độ phát triển xã hội cụ thể” (p.10). Việt Nam có vùng biển rộng  
lớn, cư dân trong quá trình thích nghi với biển dẫn đến hình thành các hình thức tín  
ngưỡng phong phú và đa dạng. Đã có một số công trình nghiên cứu về đời sống, kinh tế,  
văn hóa và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng cư dân ven biển nói chung và Bình Định  
nói riêng như: Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam của Nguyễn Duy Thiệu (2002), Văn hóa  
biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam Bộ của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam  
(2008), Văn nghệ dân gian Bình Định – Tác giả tác phẩm của Hội văn học nghệ thuật Bình  
Cite this article as: Nguyen Thi Van (2021). Belief in life of Binh Dinh coastal residents. Ho Chi Minh City  
University of Education Journal of Science, 18(10), 1906-1917.  
1906  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Vân  
Định (2010), Bãi Ngang xưa và nay của Võ Ngọc An (2012), Văn hóa biển và bảo tồn,  
phát huy giá trị văn hóa biển vùng duyên hải Nam Trung Bộ thời kì đẩy mạnh công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa của Hà Đình Thành (2016)… lí giải về tín ngưỡng như là một phương  
diện quan trọng trong đời sống tinh thần của cư dân ven biển; đồng thời còn là một hiện  
tượng văn hóa phản ánh niềm tin, ước vọng của con người trong quá trình mưu sinh trên  
biển. Vì điều kiện sống và lao động gắn liền với môi trường biển cả vừa giàu có và ưu ái  
cho con người, vừa thách thức, đe dọa tới tính mạng của họ, nên đối với cư dân ven biển  
Bình Định, tín ngưỡng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần, nó như thứ “bùa hộ  
mệnh” nhằm trấn an cho họ khi mưu sinh trước biển đầy rủi ro.  
2.  
Giải quyết vấn đề  
2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng trong đời sống của cư dân ven biển Bình Định  
với các hình thức: thờ cúng cá Ông, thờ cúng Cô Bác, thờ Mẫu, thờ nữ thần biển.  
Phương pháp nghiên cứu:  
- Phương pháp phân tích – tổng hợp tư liệu: Từ các nguồn tài liệu và tư liệu tham  
khảo, tư liệu điền dã, khảo sát thực địa được chúng tôi tổng hợp, phân tích, đối chiếu và  
nhận định kết quả thu được để giải quyết nội dung vấn đề nghiên cứu.  
- Phương pháp quan sát tham dự: Phương pháp này đòi hỏi người nghiên cứu phải  
tiếp cận cộng đồng, tham dự vào môi trường, không gian sinh sống của người dân ven biển  
Bình Định để thu thập thông tin về nhiều lĩnh vực khác nhau. Chúng tôi tham gia các hoạt  
động tín ngưỡng của cộng đồng cư dân ven biển Bình Định từ năm 2018 đến 2020 tại 5 địa  
phương ven biển của Bình Định với các lễ hội cầu ngư ở Nhơn Hải (thành phố Quy Nhơn),  
Hoài Hải (Hoài Nhơn), lễ cúng Cô Bác (Phù Mỹ), lễ hội chùa Bà (Tuy Phước)… để tìm  
hiểu đối tượng nghiên cứu.  
2.2. Kết quả nghiên cứu  
2.2.1. Các hình thức tín ngưỡng của cư dân ven biển Bình Định  
Tín ngưỡng thờ cúng cá Ông  
Về nguồn gốc, tục thờ cá voi vốn phổ biến đối với cư dân ven biển. Theo Thạch  
Phương và Lê Trung Vũ (2015) thì “Lễ cúng cá voi, hay lễ nghinh Ông là lễ hội nước lớn  
nhất và phổ biến nhất của ngư dân ven biển từ Thanh Hóa trở vào đến Kiên Giang”  
(p.228). Niềm tin về cá Ông cứu người, cứu ghe thuyền gặp nạn trên biển khá nhiều. Cũng  
theo quan niệm của cư dân ven biển, cá voi là loài cá thiêng ở biển, có thân hình đồ sộ  
nhưng không làm hại người, trái lại đã từng cứu người làm nghề trên biển bị tai nạn đắm  
thuyền. Khi gặp cá Ông “lụy” (chết), cư dân các làng ven biển thực hiện các nghi lễ thờ  
cúng. Dọc ven biển miền Trung vào đến Nam Bộ (các tỉnh giáp biển), tỉnh nào cũng có  
lăng, miếu, đình thờ cá Ông. Đây được xem là loại hình tín ngưỡng nghề nghiệp, trực tiếp  
liên quan đến cộng đồng cư dân ven biển nói chung và Bình Định nói riêng.  
1907  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 10 (2021): 1906-1917  
Ở Bình Định, tại các địa phương ven biển có rất nhiều lăng. Hiện nay có khoảng hơn  
30 lăng Ông, trong đó tập trung nhiều ở thị xã Hoài Nhơn (15 lăng), Phù Cát (8 lăng), Phù  
Mỹ (8 lăng), thành phố Quy Nhơn (7 lăng), Tuy Phước (1 lăng). Theo tục lệ của cư dân địa  
phương thì cá voi sau khi chôn cất ba năm sẽ được cải táng để đưa xương cốt vào trong  
lăng thờ cúng. Một số lăng còn lưu giữ nhiều bộ cốt cá Ông như lăng Ông thôn An Quang  
(Phù Cát), lăng Ông thôn Lộ Diêu (Hoài Nhơn), Tân Phụng, Vĩnh Hội (Phù Mỹ)… Lễ  
cúng Ông ở các địa phương ven biển Bình Định thường được tổ chức từ tháng giêng cho  
đến tháng 6 tại các lăng Ông và diễn ra trong khoảng 3-4 ngày. Đa số các lăng tổ chức  
cúng Ông vào các tháng đầu năm vì thời điểm này là vụ mùa cá Nam, mùa khởi đầu cho  
việc làm ăn trong một năm, cũng là mùa cá trong năm. Do vậy, việc tổ chức cúng Ông là  
mang tính chất cầu an, cầu mùa cho ghe thuyền làm nghề đánh bắt được thuận lợi, xóm  
làng no ấm.  
Lễ hội cầu ngư ở các làng vạn ven biển Bình Định tương đối thống nhất về lễ thức,  
diễn trình, thời gian và các phong tục. Lễ thức bao gồm: lễ vọng, lễ nghinh Ông (lễ rước  
Ông), lễ tế Âm linh/ Cô Bác, lễ chánh tế, lễ xây chầu bã (bả) trạo và hát bội. Phần lễ trong  
lễ hội cúng Ông gồm hai lễ chính: lễ nghinh thần nhập điện và đại lễ tế thần. Lễ nghinh  
thần nhập điện, nhằm mục đích nghinh Ông và thỉnh Cô Bác, các chư vị tiền hiền vãn ngự  
các nơi trong vạn chài cùng về lăng thụ hưởng. Lễ rước gồm kiệu, trong đặt bài vị, có cờ,  
lọng, tán, lễ vật cùng đoàn trạo hộ tống đi từ phía lăng ra phía mé bờ biển rồi quay về lăng.  
Tiếp đến là lễ “Tĩnh sinh”, lễ vật là con heo sống. Sau đó là lễ “Tế thần” với các lễ vật  
được bày xếp trên các ban thờ. Cuối buổi lễ là phần “Ẩm phước”, vị chủ tế đọc văn tế nói  
lên lòng biết ơn của dân làng đối với công đức của Ông, đồng thời cầu mong những vụ  
mùa đánh bắt bội thu, ghe thuyền thuận buồm xuôi gió và vị chủ tế thay mặt cho nhân dân  
đón nhận phước lộc từ các vị chư thần. Tiếp theo là phần “Khởi ca”, khi ông chánh tế đọc  
xong văn tế thì đoàn chèo bả trạo, đoàn hát bội sẽ hát hầu Ông ở sân chầu trước lăng. Đan  
xen vào phần lễ là các sinh hoạt văn hóa, thể thao, chủ yếu là các loại hình truyền thống  
như bơi thuyền, kéo co. Trong đó, hát bả trạo là một loại hình văn hóa nghệ thuật có sự gắn  
kết độc đáo giữa yếu tố lao động sản xuất và đời sống tâm linh của cư dân ven biển Bình  
Định. Có thể thấy, tín ngưỡng thờ cúng cá Ông là tín ngưỡng phổ biến của cư dân miền  
biển từ Trung Bộ vào đến Nam Bộ. Nó thể hiện thế ứng xử của ngư dân trước biển cả, nơi  
mang lại những nguồn lợi nhưng cũng đầy những hiểm nguy. Đồng thời, tục thờ cá voi (cá  
Ông) còn thể hiện sự ứng xử nhân văn góp phần bảo vệ loài động vật quý hiếm.  
1908  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Vân  
Hình 1. Lễ Nghinh rước Ông –  
Lăng Ông Nhơn Hải (TP Quy Nhơn)  
Ảnh: Tác giả, tháng 3/2019  
Hình 2. Lễ cúng Ông – Lăng Ông  
Nhơn Hải (TP Quy Nhơn)  
Ảnh: Tác giả, tháng 3/2019  
Tín ngưỡng thờ cúng Cô Bác  
Thờ cúng Cô Bác (Cô hồn) là hình thức tín ngưỡng lâu đời của người Việt. Theo  
Nguyễn Văn Huyên:  
Ở Việt Nam, dân gian quan niệm hồn và vía ở trong thân thể con người, đến khi chết hồn lìa  
khỏi xác… Bên cạnh hồn tổ tiên riêng của mỗi gia đình, người Việt còn quan niệm rằng còn  
vô số ma quỷ tác động đáng kể đến đời sống con người. Trong các ma này có hồn những kẻ  
bất hạnh, chết không có con cháu, hay chết đuối ở sông ngoài ao, hồ, biển… Những ma đó  
lang thang, khốn khổ vì không nơi cư trú (Nguyen, 2005, p.329-330).  
Ở vùng ven biển Nam Trung Bộ nói chung và Bình Định nói riêng, cô hồn không chỉ  
là những người chết bất đắc kì tử, không nơi nương tựa mà còn là những cư dân đã bỏ  
mình trên biển trong cuộc mưu sinh. Những người này được gọi chung là Cô Bác “có năng  
lực và quyền uy chi phối đáng kể đến cuộc sống của cộng đồng và nghề biển” (Nguyen,  
2009, p.130). Do vậy, ở các làng ven biển đều có những nơi thờ tự chung cho những cô  
hồn được gọi là lăng Cô Bác. Trong lăng thường có thờ chữ Thần giống như lăng Ông  
nhưng thần ở đây được hiểu là thờ Tiêu Diện Đại Sĩ (trong Phật giáo Bắc Tông, Tiêu Diện  
Đại Sĩ là hóa thân của Quan Âm Bồ Tát để thống lãnh cô hồn). Một số nơi không xây lăng  
thì Cô Bác được lập một bàn thờ (có hoặc không có bài vị) trong khuôn viên lăng Ông  
được gọi là miếu Cô Hồn. Lăng thờ gồm có chính điện là nơi thờ Cô Bác, phía trước chính  
điện là khoảng sân rộng, phía sau là nhà võ ca chứa nghi trượng và nhà bếp chuẩn bị các  
vật phẩm phục vụ tế lễ. Lễ cúng Cô Bác diễn ra hằng năm vào dịp đầu năm hoặc vào ngày  
Tết Thanh minh ở lăng Cô Bác hoặc ở lăng Ông (đối với những làng không có lăng Cô  
Bác). Tại lăng diễn ra lễ tế cầu cho các vong hồn được siêu thoát, cho làng vạn được bình  
an, ghe thuyền đi lại trên sông biển an toàn. Trong lễ cúng Cô Bác, một số địa phương còn  
có lễ tống ôn hay còn gọi là lễ “tống ôn đưa khách”. Theo cư dân ở các địa phương ven  
biển Bình Định, thực hiện lễ tống ôn là để tống tiễn những điều xui xẻo, đồng thời gửi gắm  
nguyện vọng của cộng đồng đến thần linh Cô Bác, các ngài khuất mặt phù hộ cho xóm  
1909  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 10 (2021): 1906-1917  
làng được bình an, hoạt động đánh bắt trên biển được thuận lợi, tránh được thiên tai,  
gió bão.  
Nhìn chung, tín ngưỡng thờ cúng Cô Bác của cư dân ven biển Bình Định không chỉ  
thể hiện lòng từ bi, bác ái đối với những vong hồn không nơi nương tựa mà đã trở thành  
chỗ dựa tinh thần, niềm tin được giúp đỡ trước những trở ngại trên con đường mưu sinh  
trên biển.  
Tín ngưỡng thờ Mẫu/ nữ thần biển  
Tín ngưỡng thờ Mẫu, nữ thần là loại hình tín ngưỡng phổ biến ở Việt Nam, có nguồn  
gốc từ nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, từ tâm thức ngưỡng vọng, sùng bái nhằm cầu  
mong sự che chở của các Mẫu trong cuộc sống hàng ngày. Ở vùng ven biển nước ta, cư  
dân ven biển tôn thờ các Mẫu, nữ thần biển với mục đích phù hộ ngư dân ra khơi đánh bắt  
được thuận buồm xuôi gió và xóm làng được bình yên. Theo Ngô Đức Thịnh (2009): “Mẫu  
đều là nữ thần nhưng không phải tất cả nữ thần đều là Mẫu thần, mà chỉ một số nữ thần  
được tôn vinh là Nữ thần” (p.29). Tuy nhiên, ở Bình Định cư dân ven biển gọi các Mẫu, nữ  
thần bằng một danh xưng tôn kính là “Bà” như bà Thủy, bà Quan Âm Nam Hải (Phật Bà),  
bà Thiên Y A Na, bà Ngũ Hành, bà Thiên Hậu…  
Trong các Bà mà cư dân ven biển Bình Định thờ cúng, có thể nói bà Thủy chiếm vị  
trí quan trọng trong tâm thức của người dân. Cư dân tôn sùng Bà vì Bà có ảnh hưởng và  
chi phối trực tiếp đến nghề nghiệp liên quan môi trường biển. Về tín ngưỡng thờ cúng bà  
Thủy, Ngô Đức Thịnh (2007) cho rằng:  
Vị thần này thể hiện tính lưỡng diện, một mặt, Bà là nơi ngư dân gửi gắm sự bảo trợ của  
mình trong mỗi chuyến đi biển đầy thách thức và may rủi, mặt khác, nếu làm gì “xúc phạm”  
tới Bà, như thả các vật dụng xuống “thủy cung”, cứu người đã bị bà dìm chết để trừng phạt,  
không làm các nghi lễ “vớt vong” hay “chuộc vong”… thì Bà trở thành vị ác thần đáng sợ  
(p.96).  
Với cư dân vùng biển Bình Định thì bà Thủy cũng thể hiện tính lưỡng diện vừa cứu  
giúp ngư dân trong quá trình đánh bắt trên biển vừa trừng phạt những ai “xúc phạm” Bà.  
Bà được cư dân gọi với danh xưng tôn kính là Thủy Long Cung nữ hay Thủy mẫu nữ  
nương tôn thần. Ở Bình Định, nơi thờ Bà là một ngôi miếu được lập ở gần biển hoặc được  
phối thờ trong lăng Ông. Ở một số địa phương có miếu thờ bà Thủy, ngày cúng Bà được  
cư dân chuẩn bị lễ vật chu đáo. Trong đó, con heo sống được làm sạch, cùng nhiều món  
mặn, trái cây, bánh, hoa làm lễ vật cúng Bà. Nơi thờ bà Thủy (Hải Minh) được gọi là dinh  
Bà với ba gian thờ bà Thủy (gian giữa), hai bên thờ thánh Mẫu và Cô Bác. Hằng năm, lễ  
cúng Bà diễn ra vào ngày 12 tháng 3 và kéo dài khoảng từ 2 đến 3 ngày. Trong ngày vía  
Bà cũng có lễ cúng rước Bà, Ông Nam Hải, Cô Bác, có cả đoàn hát bội phục vụ hát lễ và  
các trò chơi dân gian như lắc thúng, kéo co.  
Ở các địa phương khác, tuy không có miếu thờ bà Thủy nhưng không vì thế mà cư  
dân không ngưỡng vọng quyền uy của Bà. Trước khi thuyền rời bến, các chủ thuyền đều  
1910  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Vân  
sắm một mâm lễ vật để làm lễ cúng Bà và các vị chư thần Cô Bác cầu cho thuyền rời bến  
an toàn, gặp thuận lợi trong chuyến đánh bắt của mình. Trong quá trình đánh bắt ngoài  
khơi, hàng ngày, ngư dân và chủ thuyền đều thắp hương van vái Bà ban phước lành, nếu  
ngư dân nào sơ ý làm rơi những dụng cụ nấu ăn xuống biển, đặc biệt là dao, muỗng họ đều  
thắp hương cầu nguyện xin Bà lượng tình tha thứ. Vì họ tin rằng, những vật dụng đó rơi  
xuống biển sẽ làm “động” bà Thủy và nếu không thành tâm xin Bà tha thứ thì họ sẽ bị quở  
trách, ghe thuyền vì thế sẽ gặp rủi ro, tai họa trong lúc đánh bắt.  
Cùng với tín ngưỡng thờ bà Thủy, cư dân ven biển Bình Định còn thờ Quán Thế Âm  
Bồ Tát. Tư tưởng Phật giáo là cứu nạn, phổ độ chúng sinh, đặc biệt là tính từ bi của Bồ Tát  
Quán Thế Âm luôn ứng cứu kịp thời khi chúng sinh gặp nạn. Do đó, khi gặp nạn trên biển,  
ngư dân thường niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát để mong được cứu vớt. Hằng ngày  
và trong các ngày sóc vọng, cư dân và các chủ ghe thuyền đều thắp hương cúng vái cầu  
mong Bồ Tát phù hộ cho xóm làng và những ngư dân đánh bắt trên biển được bình an.  
Bên cạnh việc thờ cúng Bà Thủy, Phật Bà Quán Thế Âm, cư dân ven biển Bình Định  
còn thờ Thiên Y A Na, bà Ngũ Hành, bà Thiên Hậu. Tín ngưỡng thờ cúng Thiên Y A Na là  
sự tiếp thu văn hóa Chăm của người Việt trong quá trình cộng cư trên vùng đất mới. Bà  
được nhà Nguyễn phong tước Thượng đẳng thần với danh xưng là Thiên Y A Na Diễn  
Ngọc Phi. Về đẳng trật, Bà được phong cấp qua các triều vua là bậc Thượng đẳng với mĩ  
tự là “Hoằng Huệ Phổ tế Linh Cảm Diệu Thông Mặc Tướng Trang Huy”.  
Ngoài các vị thần trên, ở Bình Định còn thờ cúng bà Thiên Hậu. Đây là vị thần bảo  
trợ cho người Hoa trong quá trình di cư bằng đường biển tìm vùng đất mới và khi tìm được  
nơi định cư họ đều lập miếu thờ nhằm nhớ ơn sự cứu giúp của Bà. Ở Bình Định, nơi thờ  
Bà (Chùa Bà - Thiên Hậu Miếu) hiện tọa lạc tại thôn An Hòa, xã Phước Quang, huyện Tuy  
Phước. Ngày vía Bà Thiên Hậu hàng năm là ngày 23 tháng 3 âm lịch. Ngoài ra, tại chùa Bà  
hằng năm còn diễn ra lễ hội Đô thị Nước Mặn. Lễ hội được tổ chức vào những ngày cuối  
tháng giêng đến đầu tháng hai âm lịch (khoảng từ 30 tháng giêng cho đến mùng 2 tháng 2).  
Có thể thấy, tín ngưỡng thờ nữ thần của cư dân ven biển Bình Định với các lễ thức  
và sinh hoạt văn hóa đã cho thấy tục thờ này nằm trong dòng chảy của tín ngưỡng thờ  
Mẫu, nữ thần ở Việt Nam. Hơn nữa, sự đa dạng trong tín ngưỡng của cư dân ven biển nói  
chung và ở Bình Định gắn liền với môi trường sinh tồn đầy bất trắc, hiểm nguy của cư dân  
nơi đây. Do vậy, họ tạo nên một hệ thống tín ngưỡng liên quan đến nghiệp biển để cầu  
mong được thần linh phù hộ, che chở, tạo chỗ dựa tinh thần cho ngư dân trên bước đường  
mưu sinh trên biển.  
2.2.2. Chức năng và sự biến đổi của tín ngưỡng trong đời sống của cư dân ven biển  
Bình Định  
a) Chức năng của tín ngưỡng  
1911  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 10 (2021): 1906-1917  
Tín ngưỡng là nơi lưu giữ, trao truyền các giá trị văn hóa nghệ thuật  
Bên cạnh các hoạt động nghi lễ, tính cộng đồng còn thể hiện ở các hoạt động vui chơi  
giải trí như kéo co, bơi thuyền, lắc thúng… và cùng tham gia bữa ăn chung diễn ra ở lăng Ông  
và lăng Cô Bác trong các kì cúng lễ. Theo Hoàng Lương (2002), “bữa ăn đó không còn là bữa  
ăn vật chất đơn thuần mà đó là bữa ăn tinh thần, bữa ăn của tình đoàn kết, của sự thống nhất ý  
chí và bữa ăn của tình người” (p.196). Điều đó cho thấy, những hoạt động trong tín ngưỡng  
của cư dân ven biển Bình Định không chỉ thể hiện niềm tin đối với các đấng thần linh mà còn  
tìm thấy chỗ dựa của cộng đồng giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và khi đối  
diện với biển cả trong quá trình mưu sinh. Ngoài ra, tại các lăng Ông trên địa bàn tỉnh đều tổ  
chức hát bả trạo, hát bội vừa để hát cúng lễ cho thần linh vừa phục vụ nhu cầu giải trí cho cư  
dân địa phương.  
Có thể thấy, cư dân ven biển Bình Định thực hiện các hoạt động tín ngưỡng là nhằm thể  
hiện niềm tin vào thần linh, cầu mong cho hoạt động đánh bắt được thuận lợi, làng vạn được  
yên bình. Không gian tổ chức hoạt động tín ngưỡng thờ cúng cá Ông, Cô Bác… còn là môi  
trường để giáo dục mọi người, nhất là thế hệ trẻ, hướng đến những giá trị tốt đẹp “uống nước  
nhớ nguồn”, gìn giữ những phong tục, loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc, trong đó  
có hát bội, hát bả trạo ở Bình Định mà theo Ngô Đức Thịnh (2007), đây chính là “sự hóa  
thạch văn hóa trong môi trường tín ngưỡng tôn giáo” (p.457). Như vậy, lễ hội không chỉ là  
bức tranh phản chiếu ước vọng của cộng đồng, thể hiện đời sống kinh tế – xã hội của địa  
phương mà còn là dịp gặp gỡ, gắn kết tình làng nghĩa xóm, tôn vinh tinh thần lao động của  
các thế hệ cha ông, nối kết và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng,  
dân tộc.  
Tín ngưỡng là một nhu cầu tâm linh của cư dân ven biển Bình Định  
Hoạt động đánh bắt thủy sản ở Bình Định cũng như nhiều địa phương trên cả nước  
luôn phụ thuộc vào thời tiết, thường xuyên đối mặt với những bất trắc từ môi trường biển  
cả. Trong những năm qua, được sự đầu tư, hỗ trợ vốn từ Nhà nước, nhiều cư dân đã đóng  
mới tàu thuyền công suất lớn, đồng thời trang bị các phương tiện đánh bắt hiện đại như  
máy dò cá, bộ đàm để kết nối thông tin nhanh chóng… nhằm vươn khơi bám biển. Tuy  
nhiên, tình hình thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp với số lượng cơn bão, áp thấp ngày  
càng nhiều hơn, không chỉ gây khó khăn cho việc đánh bắt mà còn gia tăng nỗi lo lắng,  
boăn khoăn cho cư dân sống ven biển, nhất là những ngư dân đánh bắt trên biển. Vì vậy,  
mọi sự cầu nguyện của ngư dân đều không ngoài mong muốn đánh bắt được nhiều thủy  
sản sau những chuyến ra khơi, và bình an trở về đất liền. Việc thực hành nhiều nghi thức  
tín ngưỡng thờ cúng cá Ông, cúng Cô Bác hàng năm, hay van vái Bà, các vị chư thần Cô  
Bác để cầu bình an trong cuộc sống hàng ngày, cầu thuận lợi trong hoạt động đánh bắt thủy  
sản… cho thấy đời sống tâm linh của cư dân ven biển khá đa dạng và phong phú.  
1912  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Vân  
Tín ngưỡng thể hiện sự gắn kết cộng đồng  
Tính cộng đồng là một trong những đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam từ bao  
đời nay. Đó là “sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới  
những người khác” (Tran, 1997, p.213). Ở các địa phương ven biển Nam Trung Bộ, lăng Ông  
là một trung tâm tín ngưỡng của cư dân ven biển. Theo Nguyễn Duy Thiệu (2002), “Cộng  
đồng ngư dân tập hợp nhau lại để sinh hoạt tín ngưỡng cá Ông gọi là vạn – vạn lăng Ông”  
(p.340). Hằng năm, vào ngày cúng Ông, lăng là nơi tổ chức các nghi lễ cúng tế và là nơi tham  
gia sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng cư dân ven biển. Trong các ngày tế lễ, cư dân địa  
phương, nhất là ngư dân cùng chung tay sắp xếp tổ chức tham gia dựa trên quan hệ bình đẳng  
và tự nguyện. Tùy vào khả năng kinh tế của từng hộ gia đình mà các mức đóng góp có thể  
khác nhau. Ban quản lí lăng sẽ căn cứ vào sự đóng góp kinh phí và ý kiến của cư dân để tổ  
chức các hoạt động cúng lễ từ việc phân công người chuẩn bị các lễ vật cúng tế, tập bả trạo,  
mời đoàn hát bội, tổ chức các trò chơi, phân công người nấu nướng, người phục vụ trong các  
buổi lễ… Tại các địa phương ven biển Bình Định, khi đến ngày tế lễ của lăng, nhiều người  
đến tham gia và góp sức trên tinh thần tự giác. Qua những hoạt động này, người ta tìm thấy  
bản thân mình trong những hoạt động chung, tạo nên sự gắn kết giữa các thành viên trong  
cộng đồng, thể hiện sự đồng lòng của cư dân trong các hoạt động chung và cùng nhau đón  
nhận những phước lộc mà đức ngư Ông, các vị cô bác, các vị thần linh mang đến.  
b) Sự biến đổi của tín ngưỡng trong đời sống văn hóa của cư dân ven biển Bình Định  
Tín ngưỡng đã tồn tại lâu dài trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt nói  
chung và của cư dân ven biển Bình Định nói riêng, thể hiện niềm tin, sức mạnh tâm linh, là  
chỗ dựa tinh thần của cư dân ven biển. Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại, tín ngưỡng của  
cư dân ven biển Bình Định ngày nay đã có sự thay đổi do một số nguyên nhân sau: sự quản  
lí của Nhà nước, sự phát triển về mặt kinh tế – xã hội.  
Sau ngày giải phóng đất nước, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chính sách mới  
trong việc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội. Sự thay đổi trong cơ cấu quản lí nhà  
nước là điều kiện cho sự tích hợp và phát huy mọi tiềm năng văn hóa tinh thần vốn có của  
dân tộc, là tiền đề cho sự mở rộng mọi mối quan hệ tiếp xúc, giao lưu, hội nhập giữa các  
tộc người, vùng miền, trong nước và ngoài nước. Song song đó là việc xây dựng các chủ  
trương, đường lối, các định hướng quản lí sinh hoạt văn hóa tinh thần của xã hội, trong đó  
có tín ngưỡng. Các hoạt động tín ngưỡng được thực hiện trên tinh thần kế thừa, khai thác  
và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời hạn chế  
những mặt tiêu cực, không cần thiết để phù hợp với công cuộc xây dựng và phát triển đất  
nước trong thời đại mới.  
Hiện nay, được sự hỗ trợ của Nhà nước, cư dân đã mạnh dạn đóng tàu thuyền với tải  
trọng lớn, trang bị đầy đủ các thiết bị kĩ thuật để giúp ngư dân có thể đánh bắt dài ngày và  
vươn tới những ngư trường xa giàu tiềm năng thủy sản. Nhờ vậy, ngư dân chủ động trong  
sản xuất và ít phụ thuộc vào môi trường tự nhiên. Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa,  
1913  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 10 (2021): 1906-1917  
hiện đại hóa của các địa phương ven biển đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo  
hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp cũng  
ảnh hưởng đến sinh kế của cư dân ven biển. Mặt khác, nghề đi biển đòi hỏi ngư dân phải  
đóng tàu lớn, đánh bắt vùng biển khơi mới có thể khai thác những loại hải sản mang lại giá  
trị kinh tế cao. Dù trang thiết bị trên tàu cho đánh bắt ngày càng cải tiến nhưng nghề đi  
biển thường phải đối mặt với hiểm nguy, rủi ro trong khi thu nhập từ nghề này lại không  
ổn định, thậm chí còn thua lỗ… đã khiến cho một số ngư dân không còn mặn mà với nghề.  
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm đáp  
ứng nhu cầu nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Việc một số địa phương phát triển  
các ngành công nghiệp, chế biến thủy sản, dịch vụ du lịch, nhà hàng, khách sạn phát triển  
mạnh ở các địa phương: Nhơn Hải, Nhơn Lý, Quy Nhơn, Cát Tiến – Phù Cát… đã mở ra  
nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp cho cư dân vùng ven biển. Hiện nay, ngư dân chuyển từ  
nghề đánh bắt thủy sản ven bờ sang làm du lịch ở các địa phương cũng tăng nhanh. Chính  
sự chuyển dịch đó đã làm biến đổi sâu sắc về niềm tin của cư dân ven biển. Bên cạnh đó,  
nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân cũng được quan tâm nhiều hơn trước. Các  
phương tiện truyền thông, các loại hình giải trí mới đã làm thay đổi cách thức lựa chọn sản  
phẩm giải trí và thay đổi thị hiếu của người dân ven biển. Nếu như trước đây, khi đánh bắt  
còn mang tính thủ công, ngư dân chưa có phương tiện đánh bắt hiện đại, người dân có  
niềm tin vào cá Ông – được mệnh danh là phúc thần của các làng vạn ven biển, thì ngày  
nay, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, cư dân ven biển đã vận dụng để  
nhận thức đúng về môi trường biển, về khí hậu… dẫn đến năng suất đánh bắt cao. Thực tế  
này đã phần nào làm cho cách nghĩ của họ thay đổi theo hướng khoa học hơn. Do vậy,  
niềm tin vào cá Ông tuy không mất đi song cũng không tuyệt đối như trước.  
Ở Bình Định, hằng năm tổ chức cúng Ông ở các lăng, nhưng thời gian tổ chức, các lễ  
tiết đều được đơn giản hơn để phù hợp với cuộc sống hiện đại. Trước đây, mỗi năm các  
vạn tổ chức lễ hội một lần, nhưng hiện nay, ba đến bốn năm mới tổ chức lễ. Trong lễ cầu  
ngư, ban Tế tự các lăng đều chuẩn bị lễ vật, cùng đoàn rước gồm các bậc bô lão, các chủ  
ghe nghề đi tới các nghĩa địa để làm lễ dẫy mả cho những ngôi mộ vô chủ. Sau đó, ban Tế  
tự làm một lễ cúng để rước các vong hồn về lăng cùng dự lễ. Hiện nay, nghi lễ này chỉ còn  
ở một số lăng. Đối với làng có cả lăng Ông và lăng Cô Bác thì khi tới lễ cầu ngư, ban Tế tự  
chỉ cần chuẩn bị mâm lễ vật để cúng rước Cô Bác về lăng Ông tham dự. Một số lăng có đội  
chèo bả trạo thì đoàn bả trạo sẽ tham gia hát lễ để thỉnh Cô Bác.  
Hát bả trạo trong lễ cúng Ông hiện cũng chỉ duy trì ở một số lăng. Hiện nay, việc  
thành lập và duy trì đội bả trạo ở các làng vạn rất khó khăn. Trước đây đội bả trạo tại các  
làng vạn là những ngư dân địa phương. Sau một năm đánh bắt, họ nghỉ ngơi vào tháng  
cuối năm để đón Tết cùng gia đình nên sẵn sàng tham gia vào hoạt động chung của cộng  
đồng. Hiện nay, nhiều chủ ghe nghề không nghỉ đánh bắt vào dịp cuối năm mà đi biển qua  
dịp Tết, các thợ bạn cũng phải tham gia. Vì vậy, ở nhiều địa phương, để duy trì đội bả trạo,  
1914  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Vân  
họ phải chọn cả những học sinh cấp hai, cấp ba để tham gia diễn tập chuẩn bị cho kì lễ hội.  
Nhiều em sau khi học xong lại rời khỏi địa phương để đi làm, học nghề…, vì vậy, đội chèo  
bả trạo phải thay đổi người hàng năm. Quan trọng hơn, nhiều vạn không còn người lĩnh  
xướng để đứng ra tập luyện hoặc người lĩnh xướng đã lớn tuổi và không có đội ngũ kế cận.  
Bên cạnh các loại hình nghệ thuật truyền thống như hát bả trạo, hát tuồng, ở một số địa  
phương còn tổ chức biểu diễn văn nghệ với các bài hát hiện đại ca ngợi quê hương đất nước.  
Bên cạnh các trò chơi như lắc thúng, đua thuyền, kéo co…, hiện nay, các lăng còn tổ chức  
môn thể thao khác như bóng chuyền bãi biển. Các yếu tố đó góp phần làm cho lễ hội thêm  
sôi động, mang hơi thở của cuộc sống hiện đại, thu hút đông đảo người dân tham gia. Điều  
đó cho thấy những thay đổi trong tín ngưỡng của cư dân ven biển Bình Định cũng xuất phát  
từ nhu cầu cuộc sống xã hội, thể hiện khả năng thích ứng của cư dân với tình hình mới.  
3.  
Kết luận  
Trải qua quá trình cộng cư, người dân ven biển Bình Định đã dần hình thành và phát  
triển văn hóa truyền thống của địa phương có nhiều nét tương đồng với tín ngưỡng của  
nhiều vùng miền trong cả nước như tín ngưỡng thờ cá Ông, thờ Mẫu, nữ thần biển, thờ  
cúng Cô Bác. Tín ngưỡng, do vậy đã có chức năng nhất định trong đời sống xã hội, thỏa  
mãn nhu cầu tâm linh của con người. Việc tổ chức các lễ hội trong năm, nhất là lễ hội cầu  
ngư, không chỉ bảo tồn, lưu giữ các dạng thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, mà trong thời  
điểm hiện nay, tín ngưỡng thờ cá Ông còn có ý nghĩa tích cực cho việc bảo vệ môi trường  
sinh thái biển.  
Tuy nhiên, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, diện mạo tín ngưỡng của cư dân  
ven biển đã có nhiều thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của xã hội. Điều đó vừa giúp hình  
thành những đặc trưng mới vừa tạo nên sự hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại. Do  
vậy, vấn đề cần đặt ra là các giá trị văn hóa biển cần phải được đầu tư nghiên cứu một cách  
toàn diện và sâu sắc; đồng thời phải có những giải pháp thích hợp nhằm giữ gìn và tôn tạo.  
Đặc biệt, giáo dục cho thế hệ trẻ về những giá trị văn hóa biển mà các bậc tiền nhân trải qua  
quá trình lao động đã sáng tạo và xây dựng. Điều đó không những góp phần vào việc bảo tồn  
giá trị văn hóa biển đảo mà còn tăng cường ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh hải Việt Nam.  
Tuyên bố về quyền lợi: Tác giả xác nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Binh Dinh Literature and Art Association (2010). Van nghe dan gian Binh Dinh – Tac gia tac  
pham [Binh Dinh folk art. Author of the work]. Hanoi: Science and Social Publishing House.  
Dang, N. V. (2005). Li luan ton giao va tinh hinh ton giao o Viet Nam [Theory of religion and the  
religious situation in Vietnam]. Hanoi: National Political Publishing House.  
1915  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 10 (2021): 1906-1917  
Dinh, V. H. & Phan, A. (2004). Le hoi dan gian cua ngu dan Ba Ria – Vung Tau [Folk festival of  
Ba Ria – Vung Tau fishermen]. Ho Chi Minh City: Tre Publishing House.  
Ha, D. T. (2016). Van hoa bien va bao ton, phat huy gia tri van hoa bien vung duyen hai Nam  
Trung Bo thoi ki day manh cong nghiep hoa, hien dai hoa [Marine culture and preservation,  
promotion of marine cultural values in the South Central Coast in the period of accelerating  
industrialization and modernization]. Hanoi: Sosial Sciences Publishing House.  
Hoang. L. (2002). Le hoi truyen thong cua các dan toc Viet Nam khu vuc phia Bac [Traditional  
festivals of Vietnamese ethnic groups in the North]. Hanoi: Sosial Sciences  
Publishing House.  
Le, T. (2005). Dia li cac tinh va thanh pho duyen hai Nam Trung Bo va Tay Nguyen (tap 4)  
[Geography of coastal provinces and cities in the South Central and Highlands (episode 4)].  
Hanoi: Education Publishing House.  
Ngo, D. T. (2007). Ve tin nguong va le hoi co truyen [About traditional beliefs and festivals].  
Hanoi: Culture Information Publishing House.  
Ngo, D. T. (2009). Dao Mau (tap 1) [Mother Goddess Worship (episode 1)]. Hanoi: Sosial  
Sciences Publishing House.  
Ngo, D. T. (2012). Tin nguong va van hoa tin nguong o Viet Nam [Beliefs and cultural beliefs in  
Vietnam]. Hanoi: Sosial Sciences Publishing House.  
Nguyen. D. T. (2002). Cong dong ngu dan o Viet Nam [Fisherman community in Vietnam]. Hanoi:  
Sosial Sciences Publishing House.  
Nguyen, V. H. (2005). Van minh Viet Nam [Vietnamese Civilization]. Hanoi: Writers Publishing House.  
Nguyen, X. H. (2009). Tin nguong cu dan ven bien Quang Nam - Da Nang (hinh thai, dac trung va  
gia tri) [Beliefs of coastal residents in Quang Nam - Da Nang (forms, characteristics and  
values)]. Hanoi: Social Sciences Publishing House.  
Radcliffe-Brown. A. R. (1965). Structure and Function in Primitive Society. New York: Oxford  
University Press.  
Thach Phuong, & Le, T. V. (2015). 60 le hoi truyen thong Viet Nam [60 Vietnamese traditional  
festivals]. Ho Chi Minh City: General Publishing House.  
Thich Minh Canh (2014). Tu dien Phat hoc Hue Quang (tap 1) [Hue Quang Buddhist Dictionary  
(episode 1)]. Ho Chi Minh City: General Publishing House.  
Tran. N. T. (1997). Tim ve ban sac van hoa Viet Nam: Cai nhin he thong – loai hinh [Finding  
Vietnamese cultural identity: A systematic view – types]. Ho Chi Minh City: Ho Chi Minh  
City Publishing House.  
Vietnam Folk Arts Association (2008). Van hoa bien mien Trung va van hoa bien Tay Nam Bo  
Central coastal culture and Southwestern coastal culture]. Hanoi: Encyclopedic Dictionary  
Publishing House.  
Vietnam Association of Historical Sciences (2006). Nhung van de nhan hoc ton giao [Religious  
anthropological issues]. Past and Present Journal. Da Nang: Da Nang Publishing House.  
Vo, N. A. (2012). Bai Ngang xua va nay [Bai Ngang past and present]. Hanoi: National Culture  
Publishing House.  
1916  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Vân  
BELIEF IN LIFE OF BINH DINH COASTAL RESIDENTS  
Nguyen Thi Van  
Tri Duc High school, Ho Chi Minh City, Vietnam  
Corresponding author: Nguyen Thi Van - Email: [email protected]  
Received: May 25, 2021; Revised: September 27, 2021; Accepted: October 30, 2021  
ABSTRACT  
The article reports the results of a study on the role of beliefs in the life of coastal residents  
in Binh Dinh. The study used document analysis and participant observation methods as research  
methods. Research results show that the marine element is clearly expressed in all aspects of their  
cultural life. Binh Dinh not only has a tradition of fishing but also has many historical, cultural  
and belief values. Some forms of belief such as Whale worship, Co/Bac worship, Mother  
Goddess/Sea Goddess worship are considered as spiritual fulcrum for fishermen in the life at sea  
with lots of risk. In the modern socio-economic context, traditional cultural values have many  
changes, in which, beliefs are no exception. Beliefs of coastal residents of Binh Dinh have changed  
due to two reasons: state management and socio-economic development. Therefore, researching  
and understanding the beliefs of coastal residents of Binh Dinh from a geo-cultural perspective  
helps to explain the functions, diversity and changes of beliefs in the lives of residents there, and at  
the same time aims to preserve and maintain the traditional cultural values of the nation.  
Keywords: Binh Dinh province; belief; coastal resident  
1917  
pdf 12 trang Thùy Anh 15220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tín ngưỡng trong đời sống của cư dân ven biển Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftin_nguong_trong_doi_song_cua_cu_dan_ven_bien_binh_dinh.pdf