Nhật Bản với việc tiếp thu văn minh Trung Quốc và tác động của nó đối với tiến trình lịch sử Nhật Bản

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
NHẬT BẢN VỚI VIỆC TIẾP THU VĂN MINH TRUNG QUỐC  
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ NHẬT BẢN  
Nguyễn Văn Tận  
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
Ngày nhận bài: 19/01/2021; ngày hoàn thành phản biện: 29/3/2021; ngày duyệt đăng: 15/4/2021  
TÓM TẮT  
Nhật Bản là nước duy nhất ở phương Đông mang trong mình những yếu tố có tính  
chất đặc trưng của cả phương Đông và phương Tây. Tính chất đặc trưng này được  
thể hiện qua thể chế chính trị kép vừa mang tính tập trung chuyên chế nhưng  
đồng thời vừa thể hiện tính phân quyền qua cấu trúc Bakuhan hay là Mạc Phủ -  
Công quốc thời phong kiến. Trên bình diện kinh tế Nhật Bản cũng tồn tại chế độ  
trang viên giống với Tây Âu thời trung đại. Sở dĩ Nhật Bản mang trong mình cả  
hai yếu tố trên là xuất phát từ việc Nhật Bản tiếp thu văn minh Trung Quốc thời  
nhà Đường. Nhật Bản muốn tạo ra một khuôn mẫu nhà nước quân chủ chuyên chế  
giống như Trung Quốc nhưng rốt cuộc Nhật Bản lại phát triển theo con đường  
riêng biệt. Làm rõ quá trình tiếp thu văn minh Trung Quốc trên ba bình diện chính  
trị, kinh tế và văn hóa để từ đó thấy được hệ quả từ việc tiếp thu trên đối với tiến  
trình phát triển lịch sử Nhật Bản là nội dung chính mà tác giả của bài báo muốn đề  
cập đến.  
Từ khóa: Nhật Bản, Trung Quốc, văn minh...  
Ngay từ thời cổ đại, người Nhật đã nhận thức được sự vĩ đại của nền văn minh  
Trung Quốc nên đã tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh đó nhằm tạo ra một bản  
sao thu nhỏ theo mô hình Trung Quốc. Điều làm cho chúng ta ngạc nhiên là việc vay  
mượn các khuôn mẫu chính trị từ những nước tiên tiến diễn ra hầu khắp trên thế giới  
nhưng riêng đối với người Nhật thì việc cấy ghép khuôn mẫu Trung Quốc được tiến  
hành một cách có hệ thống và bài bản. Ảnh hưởng lớn nhất trong việc tiếp thu văn  
minh Trung Quốc được thể hiện rõ nét trên lĩnh vực văn hóa. Năm 552 là năm chính  
thức đánh dấu đạo Phật được truyền bá vào Nhật Bản (triều đình Yamato) qua một  
vương quốc ở miền nam Triều Tiên [5, tr.28]. Từ đó trở đi, Phật giáo trở thành “cỗ xe”  
chuyển tải văn hóa Trung Quốc vào Nhật Bản. Trong khoảng thời gian từ thế kỷ VI  
đến thế kỷ VIII, có rất nhiều người Nhật sang Trung Quốc học đạo và khi trở về truyền  
79  
Nhật Bản với việc tiếp thu văn minh Trung Quốc và tác động của nó đối với tiến trình lịch sử Nhật Bản  
bá đạo Phật trên lãnh thổ Nhật Bản cùng với những gì tiếp thu được từ văn minh  
Trung Quốc. Việc du nhập đạo Phật vào Nhật Bản đã gây nên sự phân hóa trong nội  
bộ triều đình Yamoto giữa một bên ủng hộ Phật giáo và các tư tưởng mới với một bên  
phản đối mọi sự cải cách. Cùng với điều đó là sự bất đồng giữa hai dòng họ Soga và  
Mononobe về cách thức tổ chức nhà nước. Họ Mononobe chủ trương duy trì nhà nước  
liên hợp giữa các dòng họ với nhà vua. Còn họ Soga chủ trương tập trung toàn bộ  
quyền lực vào tay nhà vua và thiết lập chế độ trung ương tập quyền. Hệ quả của nó là  
đã dẫn đến cuộc nội chiến giữa hai dòng họ mạnh nhất lúc bấy giờ là Soga và  
Mononobe vào năm 587 với thắng lợi thuộc về dòng họ Soga. Những người đứng đầu  
dòng họ Soga lúc bấy giờ là Tể tướng Soga Umako là người ủng hộ Phật giáo và đã  
tiến hành những bước đổi mới hết sức quan trọng. Một trong những đổi mới trong giai  
đọan từ năm 600 đến năm 614 Nhật Bản đã cử 4 phái đoàn sang Trung Quốc, trong số  
họ có nhiều người đã ở lại Trung Quốc để học hỏi và sau này trở về Nhật Bản đã trở  
thành các nhà lãnh đạo đất nước. Có thể khẳng định rằng Nhật Bản là nước có chương  
trình gửi học sinh du học có tổ chức đầu tiên trên thế giới. Bên cạnh tiếp thu văn hóa  
Trung Quốc, Nhật Bản cũng chủ trương xây dựng bộ máy nhà nước theo mô hình của  
Trung Quốc. Theo đó, vào năm 603, Nhật Bản đã xây dựng hệ thống quan chế kiểu  
Trung Quốc, thay thế trật tự cấp bậc kiểu thị tộc bằng hệ thống phẩm hàm, lúc đầu là  
12 phẩm hàm, sau đó lên 26 và duy trì cho đến tận thời hiện đại. Đây là một trong  
nhưng biện pháp để củng cố chế độ trung ương tập quyền. Cùng với việc bãi bỏ chế độ  
tập tước, Nhật Bản cũng ban hành bản Hiến pháp 17 điều trong đó yêu cầu các lãnh  
chúa phải vâng lời triều đình và trung thành với nhà vua. Bản Hiến pháp nêu rõ “nước  
không có hai vua, dân không có hai chúa, khắp nơi triệu dân lấy vua làm chủ”. Cùng  
với Soga Umako là Shotoku Taishi – người được đánh giá là “một vĩ nhân đích thực  
trong lịch sử Nhật Bản”[6, tr.84]. Những chính sách mà Shotoku Taishi thực hiện là  
nhằm củng cố chế độ trung ương tập quyền với mục tiêu là “thiết lập một nhà nước  
mạnh được thống nhất dưới quyền phả hệ cha truyền con nối của các tu sĩ”[4, tr.39].  
Phỏng theo mô hình Trung Quốc với việc các hoàng đế Trung Quốc nhận là thiên tử  
(con trời), Shotoku Taishicũng tự đặt tên cho mình là (tenno) (hoàng đế nhà trời). Tự  
xưng là hiện thân của trời cho nên Shotoku Taishi đã xác lập những bước đi đầu tiên  
theo đường hướng riêng. Trong khi ở Trung Quốc, chế độ trung ương ương tập quyền  
được xác lập từ thời Tần Thủy Hoàng (221 TCN) và được củng cố qua thời gian với bệ  
đỡ của hệ tư tưởng Nho giáo thì ở Nhật Bản quyền lực thực tế lại nằm trong tay dòng  
họ Soga. Mặc dù, Soga Umako và Shotoku Taishi thực hiện cải cách theo khuôn mẫu  
của Trung Quốc nhưng do cản trở của dòng họ Soga nên không đem lại hiệu quả trên  
bình diện kinh tế và chính trị mà chỉ có ý nghĩa trên bình diện văn hóa.  
Do sự lũng đoạn của dòng họ Soga cho nên những tư tưởng của Soga Umako  
và Shotoku Taishi trong việc tập trung quyền lực vào tay Thiên Hoàng không thực  
hiện được. Để xóa bỏ sự cản trở đó, vào năm 645 hoàng tử Nakano Oe đã dựa vào họ  
80  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
Nakatomi Kamatari lật đổ sự thống trị của dòng họ Soga đưa Kotoku lên ngôi Thiên  
Hoàng, đặt niên hiệu là Taika (nghĩa là cải cách lớn).  
Tiếp bước cải cách đang còn dang dở của Soga Umako và Shotoku Taishi, Taika  
tiến hành cải cách trên bình diện kinh tế cũng theo mô hình của Trung Quốc đời Nhà  
Đường thông qua việc xóa bỏ chế độ bộ dân, thực hiện chính sách ban điền (chia  
ruộng) nhằm xác lập quan hệ sản xuất phong kiến ở Nhật Bản. Các bộ dân (chủ yếu  
làm ruộng) được giải phóng trở thành nông dân tự do. Họ được cấp ruộng cày cấy và  
trở thành đối tượng bóc lột của giai cấp phong kiến. Mặc dù Nhật Bản áp dụng hệ  
thống sở hữu ruộng đất theo mô hình Trung Quốc nhưng chỉ được được thực hiện ở  
những khu vực do triều đình Yamato cai trị trực tiếp.  
Để hoàn thiện bộ máy nhà nước trung ương tập quyền, Taika chú trọng xây  
dựng chính quyền tập trung giống như chính quyền nhà Đường ở Trung Quốc, nhưng  
có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn của Nhật Bản. Theo đó, quyền lực  
tập trung trong tay Thiên Hoàng, kế tiếp là tầng lớp quí tộc có công lao với nhà vua  
trong việc loại bỏ các thế lực đối lập được nhà vua phong cấp cho các tước vị, ruộng  
đất và nông dân. Tầng lớp này trở thành giai cấp quí tộc, quan lại mới gắn chặt quyền  
lợi với Thiên Hoàng và trở thành trụ cột của triều đình.  
Như vậy, những cải cách mà Soga Umako, Shotoku Taishi và Taika tiến hành  
đều dựa trên cở sở tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh Trung Quốc thời nhà  
Đường. Trong đó, Soga Umako là người đặt nền móng cho cuộc cải cách và cũng là  
người tiếp nhận văn minh Trung Quốc trên bình diện văn hóa tư tưởng. Shotoku  
Taishilà người củng cố và tiến hành cải cách trên bình diện chính trị, còn Taika là  
người tiếp tục hoàn thiện cải cách theo mô hình chính quyền trung ương tập quyền của  
Trung Quốc và thực hiện cải cách trên bình diện kinh tế. Rõ ràng là Soga Umako và  
Shotuku Taishi là những người những người đạo diễn khúc dạo đầu cho cuộc cải cách  
và Taika là người tạo ra “một làn sóng thứ hai của cuộc cải cách trên cơ sở mô hình  
chính quyền tập trung của Trung Quốc”[1, tr.339] . Tuy nhiên, trên thực tế những dấu  
ấn trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng để lại sâu đậm hơn so với thể chế chính trị và kinh  
tế. Nó “không những không suy yếu mà trái lại đã tiếp tục phát triển và tạo nên những  
khuôn mẫu văn hóa cơ bản cho thời sau” [5, tr.37].  
Với những gì mà Soga Umako, Shotoku Taishi và Taika thực hiện trong cuộc  
cải cách đã tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử Nhật Bản, cho phép Nhật Bản chuyển  
từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Để tạo điều kiện cho sự phát triển  
kinh tế, bắt đầu từ thế kỷ VII, nhà nước ban hành nhiều chính sách khai khẩn đất  
hoang và tuyên bố ruộng đất khai hoang thuộc quyền sở hữu của những người khai  
khẩn. Chính đây là kẽ hở để nhiều quý tộc phong kiến biến ruộng đất của nhà nước  
ban cấp thành ruộng đất tư. Hệ quả của nó là đã đưa đến sự ra đời hệ thống trang viên  
phong kiến trên lãnh thổ Nhật Bản. Các trang viên này không những được miễn thuế  
81  
Nhật Bản với việc tiếp thu văn minh Trung Quốc và tác động của nó đối với tiến trình lịch sử Nhật Bản  
mà còn có quyền bất khả xâm phạm. Chính quyền phong kiến không có quyền can  
thiệp vào các công việc nội bộ của các trang viên. Điều đó dẫn đến tình trạng nông dân  
tự canh và cả những chủ trang viên nhỏ đã tìm cách gửi ruộng đất của mình cho các  
lãnh chúa lớn để trốn tránh nghĩa vụ tô thuế, lao dịch đối với nhà nước. Ngoài ra, do  
chế độ binh dịch không đem lại hiệu quả cho nên một mặt nhà nước thực thi chính  
sách tuyển mộ binh lính nhưng đồng thời một mặt khác lại cho phép các địa phương tổ  
chức huấn luyện quân sự và thành lập quân đội riêng của mình.Với quy định đó, các  
lãnh chúa đã thành lập các lực lượng vũ trang để bảo vệ các trang viên cũng như gây  
thanh thế cho các trang viên của mình, trong đó hạt nhân là các võ sĩ (Samurai). Chính  
điều này đã đưa đến việc thiết lập một mối quan hệ mới trong các trang viên Nhật Bản  
thời phong kiến. Đó là mối quan hệ giữa các chủ mới trong các trang viên phong kiến  
và các võ sĩ. Và đấy là cơ sở đưa đến sự ra đời tầng lớp “võ sĩ đạo” với sự tận tâm, tận  
lực và lòng trung thành tuyệt đối cùng với ý thức trọng danh dự vì lợi ích của các lãnh  
chúa.  
Như vậy, trang viên ở Nhật Bản vừa là đơn vị kinh tế vừa là khu vực hành  
chính nhưng đồng thời là một căn cứ quân sự của các lãnh chúa. Sự hình thành các  
trang viên phong kiến ở Nhật Bản đã làm cho sự kiểm soát của chính quyền trung  
ương đối với các lãnh chúa địa phương ngày càng trở nên lỏng lẽo. Đến đầu thế kỷ XII,  
chế độ trang viên đã phát triển rộng khắp ra cả nước, có tỉnh có 7 quận thì 6 quận  
ruộng đất hầu hết thuộc về các trang viên. Bên cạnh sự ra đời hệ thống trang viên là sự  
hình thành trạng thái phân quyền cát cứ của các lãnh chúa địa phương tồn tại song  
song với hệ thống lưỡng quyền ở trung ương. Biểu hiện của vấn đề này là ở trung  
ương tồn tại bên cạnh Thiên Hoàng là thế lực quan lại, quý tộc mới thuộc dòng họ  
Fujiwara (do Nakatomi có công lao trong việc tiêu diệt thế lực của họ Soga nên được  
Thiên Hoàng đổi tên thành Fujiwara). Trong khi đó, ở địa phương hình thành nên các  
thế lực cát cứ của dòng họ Minamoto ở phía đông và phía bắc, dòng họ Taira ở phía  
tây nam. Đến giữa thế kỷ XII, dòng họ Taira đã trở thành dòng họ có thế lực với hơn  
600 trang viên và cạnh tranh với dòng họ Fujiwara. Từ năm 1167, Taira Kiyomori nắm  
giữ mọi quyền bính trong triều và đẩy họ Fujiwara xuống địa vị thứ yếu. Sự lũng đoạn  
của họ Taira đã làm cho mâu thuẫn giữa họ Taira và họ Minamoto nảy sinh. Kết quả là  
đến năm 1185 họ Taira hoàn toàn bị đánh bại. Mọi quyền hành trong triều lại rơi vào  
tay họ Minamoto. Sau khi lên nắm quyền, dòng họ Minamoto đã lập nên một chính  
quyền quân sự riêng tại Kamakura ở miền đông Nhật Bản đối lập với triều đình Kyoto  
(trước đây Taika tiếp thu từ khuôn mẫu chính trị của Trung Quốc là thành lập một  
kinh đô cố định ở Nara vào năm 710. Về sau dời về Heian cách Nara 30 dặm về phía  
bắc và đổi tên thành Kyoto). Năm 1192, Yorimoto người đứng đầu chính quyền ở  
Kamakura được Thiên Hoàng phong danh hiệu Tướng quân. Sự kiện này đánh dấu sự  
ra đời của chính quyền Mạc Phủ là chính quyền tồn tại song song với chính quyền của  
Thiên Hoàng cho đến khi chính quyền Mạc Phủ bị lật đổ vào năm 1868.  
82  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
Rõ ràng là những cải cách của Soga Umako, Shotoku Taishi và Taika dựa trên  
khuôn mẫu của Trung Quốc đời nhà Đường đã đem lại kết quả rất to lớn. Hệ quả của  
việc tiếp thu đó đã cho phép Nhật Bản phát triển theo một đường hướng riêng khác  
biệt so với các nước phương Đông cùng thời. Nó đã tạo ra một kiểu hình phát triển hết  
sức độc đáo trong xã hội Nhật Bản thời phong kiến đó là sự kết hợp giữa thể chế  
chuyên chế trung ương của Trung Quốc với thể chế phong kiến châu Âu. Tùy theo  
hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà thể chế chính trị của Nhật Bản khi thì mang tính chất  
trung ương tập quyền, khi thì lại phân quyền cát cứ và đặc biệt là trong một thời gian  
dài gàn 700 năm tồn tại hệ thống lưỡng quyền (từ Mạc Phủ Kamakura 1192 đến Mạc  
Phủ Tokugawa 1868). Trên cơ sở tiếp thu văn minh Trung Quốc thích ứng với hoàn  
cảnh lịch sử của Nhật Bản mà nó đã tạo ra một tiền lệ để rồi sau đó xã hội Nhật Bản  
phát triển dựa trên cái tiền lệ mà nó đã vạch định. Không phải ngẫu nhiên mà cứ mỗi  
lần tiếp thu văn minh của nhân loại (thế kỷ VI và VII tiếp thu văn minh Trung Quốc,  
thế kỷ XIX tiếp thu văn minh phương Tây) đã tạo ra một sự thay đổi có tính chất nhảy  
vọt trong lịch sử Nhật Bản. Thế kỷ VII Nhật Bản chuyển từ chế độ nô lệ sang chế độ  
phong kiến, còn thế kỷ XIX, Nhật Bản chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản  
chủ nghĩa. Và đặc biệt cuộc cải cách 1946 – 1951 đã tạo ra một sự phát triển thần kỳ đối  
với nền kinh tế Nhật Bản. Và đây chính là điều tạo nên sự khác biệt giữa Nhật Bản với  
các nước trong khu vực.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Johnk Fairbank, Edwin O. Reischaer, Abbert M. Craig (1973). “East Asia: Tradition and  
transformation”, Havard Boston.  
[2]. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (1995). Lịch sử Nhật Bản, Nxb Văn hóa thôngtin, Hà Nội.  
[3]. R.H.P Mason & J.G. Caiger( 2003). Lịch sử Nhật Bản, Nxb Lao động, Hà Nội.  
[4]. Michino Mohishima (1991). “Tại sao Nhật Bản thành công? Công nghệ phương Tây và tính cách  
Nhật Bản”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[5]. Edwin. Reischauer (1998). “Nhật Bản câu chuyện một quốc gia”, Nxb Thống kê, Hà Nội.  
[6]. George Samson (1994). “Lịch sử Nhật Bản”, tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[7]. George Samson (1995). Lịch sử Nhật Bản, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[8]. Vĩnh Sính (1991). Nhật Bản cận đại, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.  
83  
Nhật Bản với việc tiếp thu văn minh Trung Quốc và tác động của nó đối với tiến trình lịch sử Nhật Bản  
JAPAN’S ACQUISITION TO CHINESE CIVILIZATION  
AND ITS IMPACTS ON JAPAN’S HISTORY  
Nguyen Van Tan  
Faculty of History, University of Sciences, Hue University  
ABSTRACT  
Japan is the only country in the Orient bearing both oriental and western  
characteristics. These characteristics were indicated through the dual political  
regime that was autocratic centralization and demonstrated the decentralization  
through the structure of Bakuhan or Mac Phu - feudal duchy. The Japanese  
economy generally existed a manor similarly with that of Western Europe in the  
middle age. Japan carried these characteristics thanks to its acquisition of Chinese  
civilization under Duong’s Dynasty. Japan eventually developed its own way  
instead of becoming a model of autocratic monarchy like China. The author would  
like to clarify the process of acquisition of Chinese civilization through 3 factors  
including politics, economy and culture, as the result, the process of developing  
Japanese history was mentioned mainly in the article.  
Keywords: China, Civilization, Japan…  
Nguyễn Văn Tận sinh ngày 27/9/1954 tại Quảng Bình. Ông tốt nghiệp Cử  
nhân chuyên ngành lịch sử năm 1976 tại Trường Đại học Tổng hợp, Hà  
Nội; bảo vệ Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử thế giới năm 1988 tại Trường  
Đại học Tổng hợp Quốc gia Beelarutxia. Hiện nay, ông là giảng viên tại  
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Lịch sử thế giới cận hiện đại, Những vấn đề liên quan  
đến quan hệ quốc tế ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á, Quan hệ Việt Nam  
với các nước ASEAN, Lịch sử Nhật Bản.  
84  
pdf 6 trang Thùy Anh 17500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhật Bản với việc tiếp thu văn minh Trung Quốc và tác động của nó đối với tiến trình lịch sử Nhật Bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhat_ban_voi_viec_tiep_thu_van_minh_trung_quoc_va_tac_dong_c.pdf