Ảnh hưởng của nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến hiệu quả công việc và vai trò điều tiết của thu nhập cá nhân
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
103
Ảnh hưởng của nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
đến hiệu quả công việc và vai trò điều tiết của thu nhập cá nhân
The impact of corporate social responsibility perception on job
performance and the moderating role of personal income
Bùi Nhất Vương1*
1Học viện Hàng không Việt Nam, Việt Nam
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:10.46223/HCMCOUJS.
econ.
Nghiên cứu này nhằm để xem xét tác động của nhận thức về
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSRP) đối với hiệu quả công
việc thông qua vai trò trung gian của thái độ công việc (sự gắn kết
của nhân viên và sự hài lòng trong công việc) và vai trò điều tiết
của Thu nhập. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 220 nhân viên
đang làm việc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành Phố Hồ
Chí Minh. Kết quả từ mô hình phương trình cấu trúc bình phương
nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) bằng cách sử dụng chương trình
SmartPLS 3.0 chỉ ra rằng nhận thức CSR của nhân viên có ảnh
hưởng tích cực đến hiệu quả công việc. Bên cạnh đó, sự gắn kết
của nhân viên và sự hài lòng trong công việc đã làm trung gian một
phần cho mối quan hệ này. Hơn nữa, phân tích ảnh hưởng điều tiết
cũng chỉ ra rằng mối quan hệ tích cực giữa CSRP và thái độ công
việc có thể tăng lên đáng kể ở nhân viên có thu nhập cao hơn ở
nhân viên có thu nhập thấp. Phát hiện này cũng ngụ ý rằng các nhà
quản trị nên xây dựng CSR thích hợp để cải thiện thái độ công việc
và hành vi tích cực của nhân viên.
Ngày nhận: 29/03/2021
Ngày nhận lại: 17/05/2021
Duyệt đăng: 25/05/2021
Từ khóa:
hiệu quả công việc; sự gắn kết
của nhân viên; sự hài lòng trong
công việc; thu nhập; trách
ABSTRACT
nhiệm xã hội của doanh nghiệp
The objective of this study is to examine the impact of
Corporate Social Responsibility Perception (CSRP) on job
performance through the mediating role of work attitudes (job
satisfaction and employee commitment), and the moderating roles
of Income level. Survey data were collected from 220 employees
who are working in small and medium enterprises in HCM City.
Results from the Partial Least Squares Structural Equation
Modeling (PLS-SEM) using the SmartPLS 3.0 program showed
that employee’s CSR perception is positively related to job
performance. Also, this relationship was partially mediated by job
satisfaction and employee commitment. Furthermore, the
interaction effect analysis also confirmed that the positive
relationship between CSR perception and work attitude will
increase significantly in higher-income employees than low-
income employees. This finding implied that managers should
develop appropriate CSR to enhance employees’ positive work
attitudes and behaviors.
Keywords:
job performance; employee
commitment; job satisfaction;
income; corporate social
responsibility
104
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
1. Giới thiệu
Ngày nay, ý tưởng về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đang thể hiện một ảnh
hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh và quản lý (Fenwick & Bierema, 2008). Các hoạt động CSR
do tổ chức thực hiện không chỉ tạo ra hình ảnh tốt trong nhận thức của công chúng, mà còn có thể
dẫn đến kết quả tích cực trong thái độ của nhân viên (Lee, Park, & Lee, 2013). Trong khi vai trò
của CSR đã được tiến hành trong nghiên cứu trước (Westin & Parmler, 2020), nhưng một số
khoảng trống trong nghiên cứu vẫn chưa được giải quyết. Nghiên cứu trước chỉ được coi là mối
liên hệ trực tiếp giữa nhận thức CSR và thái độ của nhân viên mà không xem xét kinh tế xã hội
của họ; và được tiến hành ở các nền kinh tế phát triển, nơi thu nhập bình quân của người dân cao
hơn bình quân thế giới (Glavas & Kelley, 2014). Tuy nhiên, không rõ liệu những nhân viên đang
làm việc tại các doanh nghiệp ở các nền kinh tế đang phát triển với thu nhập dưới mức trung bình
có thể phát triển thái độ làm việc tích cực khi những nhân viên này hiểu về CSR của tổ chức của
họ. Do đó, nghiên cứu này tập trung vào nhân viên các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, vì
đây là một quốc gia có thu nhập trung bình, nơi thu nhập bình quân của người dân vẫn thấp hơn
đáng kể so với người dân ở các nước phát triển (The World Bank, 2020). Mục tiêu chính của
nghiên cứu này là để xem xét liệu có mối quan hệ giữa cảm nhận về CSR và hiệu quả công việc
của nhân viên thông qua vai trò trung gian của sự gắn kết với tổ chức và sự hài lòng công việc.
Bên cạnh đó, vai trò điều tiết bởi mức thu nhập của người lao động cũng đã được xem xét. Trong
bài báo này, lý thuyết nhận dạng xã hội (Tajfel & Turner, 2004), lý thuyết trao đổi xã hội (Blau,
1964) đã được sử dụng để giải thích tại sao nhân viên nhận thức được rằng khi công ty của họ tích
cực hỗ trợ CSR, thì có xu hướng phát triển tích cực thái độ làm việc. Đồng thời, lý thuyết nhu cầu
thứ bậc của Maslow (1943) cũng đã được sử dụng để giải thích tác động điều tiết của thu nhập.
2. Cơ sở lý thuyết và phát triển giả thuyết nghiên cứu
2.1. Lý thuyết nền
Theo lý thuyết nhận dạng xã hội, khi mọi người cảm nhận rằng họ là thành viên và có sự
kết nối với các tổ chức cụ thể, thì sự tự nhận diện tích cực sẽ được phát triển (Van Dick, Crawshaw,
Karpf, Schuh, & Zhang, 2020). Lý thuyết này tập trung vào những cá nhân có xu hướng tìm kiếm
để giữ gìn sự tự nhận diện tích cực bằng cách phân loại các cá nhân vào các nhóm xã hội nơi họ
muốn thuộc về. Những nhóm này sẽ cung cấp cho họ các đặc tính khác biệt so với các nhóm khác
(Tajfel & Turner, 2004). Nó cũng góp phần đáp ứng nhu cầu tự nâng cao giá trị, tự hài hòa và mức
độ thích nghi cao. Shahzadi, Qadeer, John, và Jia (2019) đã nhấn mạnh “ý nghĩa của lý thuyết nhận
dạng xã hội trong các tổ chức và kết luận rằng mọi người sẽ xem xét nó một cách tích cực khi họ
thấy rằng tổ chức của họ đang được người khác coi là có giá trị hoặc ngưỡng mộ bởi công chúng”.
Lý thuyết trao đổi xã hội (Blau, 1964) đã đề xuất hai hình thức trao đổi trong các tổ chức:
kinh tế và xã hội. Trao đổi kinh tế giữa nhân viên và tổ chức thường là rõ ràng và theo hợp đồng
dựa trên các điều khoản xác định và khen thưởng tiền tệ. Ngược lại, trao đổi xã hội quan tâm đến
các khía cạnh phi tiền tệ như là những hành động tùy ý và các hành vi vai trò vượt qua những yêu
cầu được mô tả trong bảng mô tả công việc. Lý thuyết trao đổi xã hội làm sáng tỏ cách thức mà
cảm nhận về CSR của công ty và sự tin tưởng tổ chức ảnh hưởng lẫn nhau. Đây là một lý thuyết
nổi trội nhất để hiểu mối quan hệ toàn diện giữa cả hai bên. Nguyên tắc trao đổi là nền tảng chính
của lý thuyết. Chẳng hạn, nếu một người đang cung cấp một lợi ích, người nhận phải đáp lại bằng
cách cung cấp một số lợi ích tương tự với lòng tốt đã nhận như một nghĩa vụ (Farooq, Farooq, &
Cheffi, 2019).
Lý thuyết nhu cầu thứ bậc của Maslow (1943) đề xuất rằng những nhu cầu con người được
phân loại thành hệ thống thứ bậc. Mọi con người có một hệ thống phân cấp năm nhu cầu gồm:
“nhu cầu thiết yếu, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tự trọng, và nhu cầu tự hiện thực
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
105
hóa.” Cụ thể, dự đoán chính của lý thuyết này đó là mức độ thấp của những nhu cầu phải được
thỏa mãn trước, trước khi những cá nhân có thể di chuyển đến các nhu cầu ở mức độ cao hơn.
2.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
CSRP có thể được định nghĩa là sự đảm bảo cho doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển
bền vững bằng cách làm việc với nhân viên và cộng đồng địa phương để phát triển chất lượng của
cuộc sống, theo những cách tốt cho cả doanh nghiệp cũng như cho sự phát triển của xã hội (Westin
& Parmler, 2020). Golob và Podnar (2021) cho rằng những tổ chức có trách nhiệm với xã hội tạo
ra lợi nhuận bởi tuân thủ các quy tắc và quy định, quan tâm đến các chuẩn mực đạo đức và đóng
góp tích cực cho xã hội. Carroll (1979) đã sử dụng mô hình kim tự tháp bao gồm bốn khía cạnh
của CSRP: “kinh tế, pháp lý, đạo đức và thiện nguyện.” CSR kinh tế phản ánh nhu cầu của một
công ty để duy trì sức khỏe tài chính, để đảm bảo tồn tại và tăng trưởng của nó. CSR pháp lý đề
cập đến một công ty hoạt động tuân thủ pháp luật hiện hành. CSR đạo đức phản ảnh hành vi phù
hợp với kỳ vọng của xã hội. Cuối cùng, CSR thiện nguyện đề cập đến một doanh nghiệp tự nguyện
đưa ra các giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội. Nghiên cứu này là dựa trên khái niệm về
CSRP được phát triển bởi Carroll (1979) do bởi cách tiếp cận về khái niệm CSRP này đang được
chấp nhận rộng rãi trong lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm hiện nay (Barakat, Isabella,
Boaventura, & Mazzon, 2016; Mascarenhas, Mendes, Marques, & Galvão, 2020).
2.3. Hiệu quả công việc
Hiệu Quả công việc (HQ) là trách nhiệm cơ bản mà nhân viên được thuê để làm để đổi lấy
thù lao của họ. Nó đề cập đến hành vi hướng tới các nhiệm vụ, công việc và trách nhiệm chính
thức được viết trong mô tả công việc của họ (Story & Castanheira, 2019). Ha, Bui, và Tushar
(2020) cho rằng hiệu quả công việc là khả năng của một nhân viên để làm tốt công việc của họ.
Do đó, định nghĩa về hiệu quả công việc có thể được bắt nguồn từ khả năng của một nhân viên đạt
được mục tiêu của họ trong giới hạn thời gian trong bối cảnh của một công việc hoặc tổ chức.
Hiện này, có rất ít nghiên cứu đã được thực hiện để kiểm định mối quan hệ giữa CSRP và
HQ của nhân viên. Story và Castanheira (2019) đã tìm thấy CSRP có thể dự đoán HQ của nhân
viên. Lý thuyết nhận dạng xã hội (Tajfel & Turner, 2004) giải thích rằng các cá nhân gắn bó chặt
chẽ với một thực thể xã hội mà họ cảm thấy tương đồng với giá trị của họ. Khi các nhân viên nhận
thấy rằng tổ chức này đang đầu tư vào các dự án mà họ thấy thông minh và đồng nhất với các giá
trị, niềm tin và đạo đức của họ của họ, họ đã đáp lại hành vi này thông qua hiệu quả công việc. Lý
thuyết trao đổi xã hội (Blau, 1964), mặt khác, giúp giải thích cách CSRP có thể tác động đến HQ
khi nó nhấn mạnh khía cạnh đối ứng của các tương tác xã hội. Đó là, nếu nhân viên nhận thấy rằng
tổ chức này đang đầu tư vào họ bởi các hoạt động của CSR, thì các hoạt động này nên được khen
thưởng (hiệu quả công việc cao hơn) khi chúng được đánh giá một cách tích cực. Do đó, giả thuyết
đã được đề xuất như sau:
H1: Nhận thức về CSR của nhân viên tác động tích cực đến hiệu quả công việc
2.4. Thái độ công việc
Trong nghiên cứu này, nhân viên nhận thức về các hoạt động CSR của tổ chức gắn liền với
thái độ công việc tích cực (Mascarenhas et al., 2020). Robbins và Judge (2018) đã chia thái độ
công việc thành hai cấu trúc chính: sự gắn kết của nhân viên (SGK) và sự hài lòng trong công việc
(SHL). SGK được mô tả là mức độ mà một nhân viên đánh giá cao một tổ chức và nhìn thấy tương
lai của họ với tổ chức đó (Ha & Bui, 2016). Tương tự, sự hài lòng có thể được mô tả như một tập
hợp các cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực, liên quan đến cách một nhân viên đánh giá công việc (Ha,
Bui, & Tushar, 2020). Lý thuyết nhận dạng xã hội (Tajfel & Turner, 2004) đã được sử dụng để
giải thích tại sao nhân viên nhận thấy tổ chức của họ tích cực tham gia trong các hoạt động CSR
106
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
có xu hướng phát triển thái độ làm việc tích cực. Lý thuyết này cho rằng nhân viên có xu hướng
có được cảm giác tự hào bằng cách gắn chặt bản thân với các tổ chức mà có hình ảnh tích cực
(Tajfel & Turner, 2004). Vì, CSR có thể đại diện cho một hình ảnh tốt về tổ chức, nên nhân viên
có khả năng đồng nhất mạnh mẽ và cảm thấy tự hào khi làm việc trong tổ chức có giá trị xã hội sự
tích cực như vậy. Các nghiên cứu cũng hỗ trợ mối liên hệ giữa CSRP và thái độ làm việc tích cực
(De Silva Lokuwaduge & De Silva, 2019; Story & Castanheira, 2019). Dựa vào lý thuyết và các
nghiên cứu trước, các giả thuyết sau được đề xuất:
H2: Nhận thức về CSR của nhân viên tác động tích cực đến sự gắn kết của nhân viên
H3: Nhận thức về CSR của nhân viên ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng trong công việc
Theo Bui và Suntrayuth (2020), mối quan hệ giữa nhân viên và tổ chức là có đi có lại. Do
đó, sự hài lòng của công việc có thể được tạo ra bởi sự trao đổi giữa các yêu cầu và sự mong đợi
của nhân viên, và sự mong đợi của một tổ chức. Tổ chức cung cấp phương tiện cho nhân viên, đáp
ứng một loạt nhu cầu và nhận ra nguyện vọng cá nhân của họ. Nhân viên cung cấp cho tổ chức các
tài nguyên để đạt được mục tiêu của tổ chức. Mustapha (2013) lập luận rằng điều quan trọng là
nghiên cứu SHL vì nó thường được coi là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và
khả năng cạnh tranh của các tổ chức. Các tổ chức mà nhân viên có SHL cao sẽ tăng HQ ở mức độ
cá nhân và hiệu suất tổng thể của tổ chức. Vì vậy, một nhân viên có mức độ hài lòng công việc
cao hơn dẫn đến mức cao hơn của hiệu quả công việc (Ha, Bui, & Tushar, 2020). Do đó, giả thuyết
H4 đã được đề xuất:
H4: Sự hài lòng của công việc tác động cùng chiều đến hiệu quả công việc của nhân viên
Nhân viên gắn kết với tổ chức đóng góp lớn cho các tổ chức vì họ thực hiện và cư xử trong
việc đạt được mục tiêu của các tổ chức. Hơn nữa, những nhân viên gắn kết với tổ chức rất vui khi
được thành viên của nó, tin tưởng và cảm thấy tốt về tổ chức và những gì nó đại diện, và có ý định
làm những gì tốt cho tổ chức (hiệu quả công việc cao) (Story & Castanheira, 2019). Bên cạnh đó,
Bui, Dao, Nguyen, Nguyen, và Tushar (2020) đã tìm thấy mối quan hệ giữa SGK và HQ. Do đó,
giả thuyết H5 đã được đề xuất như sau:
H5: Sự gắn kết của nhân viên ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả công việc
2.5. Vai trò trung gian của thái độ công việc
Trên thực tế, nhân viên cảm thấy hài lòng hơn với công việc của họ trong những công ty
mà cam kết các hoạt động có trách nhiệm xã hội, trong khi những người làm việc cho các công ty
không đầu tư vào CSR cảm thấy ít hài lòng với nhiều khía cạnh của công việc (Story &
Castanheira, 2019). Thêm vào đó, khi những nhân viên cảm thấy hài lòng trong công việc, thì họ
có xu hướng trở nên làm việc hiệu quả hơn (Ha, Bui, & Tushar, 2020). Vì vậy, rất có khả năng
rằng, SHL đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa CSRP và hiệu quả công việc. Do đó,
giả thuyết H6 đã được đề xuất:
H6: Mối quan hệ tích cực giữa Nhận thức về CSR của nhân viên và hiệu quả công việc
được trung gian bởi sự hài lòng công việc
Mascarenhas và cộng sự (2020) cho rằng CSRP là một trong những tiền đề quan trọng của
SGK. Khi nhân viên làm việc cho một tổ chức có danh tiếng và có trách nhiệm với xã hội, thì họ
có thể cảm thấy tự hào cũng như gia tăng lòng tự trọng của họ và do đó, dẫn đến mức độ cao trong
sự gắn kết. Điều này có nghĩa là nhân viên cảm thấy một sự ràng buộc với tổ chức thường có xu
hướng nâng cao hiệu quả công việc (Story & Castanheira, 2019). Do đó, giả thuyết H7 đã được đề
xuất:
H7: Mối quan hệ tích cực giữa Nhận thức về CSR của nhân viên và hiệu quả công việc
được trung gian bởi sự gắn kết của nhân viên
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
2.6. Vai trò điều tiết của Thu nhập
107
Thu nhập
Sự hài lòng
công việc
H8
H4
H2
H1
Trách nhiệm xã
hội của doanh
nghiệp
Hiệu quả công
việc
H3
H5
H9
Sự gắn kết của
nhân viên
Hình 1. Mô hình nghiên cứu
Lý thuyết nhu cầu thứ bậc của Maslow (1943) đã được sử dụng để giải thích vai trò điều
tiết thu nhập cá nhân có thể ảnh hưởng đến mức độ mà nhận thức về CSR của nhân viên có thể
liên kết với thái độ làm việc tích cực. Ý chính của lý thuyết này là được phân loại thành năm mức
độ nhu cầu bao gồm: thiết yếu, an toàn, xã hội, lòng tự trọng và tự hiện thực hóa. Trước khi các cá
nhân nhằm đạt được mức nhu cầu cao hơn, thì mức độ nhu cầu phải được thỏa mãn trước tiên. Nói
cách khác, các cá nhân tìm cách đáp ứng nhu cầu thứ bậc thấp hơn (nhu cầu thiết yếu và an toàn)
trước khi có nhu cầu theo thứ bậc cao hơn (xã hội, lòng tự trọng và nhu cầu tự hiện thực hóa).
Alderfer (1989) cho rằng nhu cầu tồn tại (thiết yếu và an toàn) là nhu cầu chi phối mạnh nhất mà
các cá nhân mong muốn thỏa mãn trước khi di chuyển lên nhu cầu mối quan hệ (xã hội và tự trọng)
hoặc tăng trưởng (tự hiện thực hóa). Theo Ibrahim (2017), nhu cầu tồn tại có thể được thỏa mãn
thông qua sự sung túc, được đại diện bởi thu nhập của cá nhân. Trong khi đó, khi một cá nhân làm
việc cho một tổ chức có trách nhiệm xã hội, thì tổ chức này có thể đáp ứng các nhu cầu xã hội của
cá nhân, đó là nhu cầu bậc cao hơn (nhu cầu mối quan hệ). Vì vậy, những nhân viên với thu nhập
cao, thì họ có thể đảm bảo cuộc sống cá nhân, và kết nối đến nhu cầu ở bậc cao hơn. Nhân viên sẽ
cảm thấy hạnh phúc khi được liên kết với một tổ chức hoạt động vì phúc lợi xã hội. Lúc này, họ
sẽ thể hiện thái độ làm việc tích cực hơn. Theo quan điểm lý thuyết này, các giả thuyết sau được
trình bày (Hình 1):
H8: Mối quan hệ giữa CSRP và SGK được điều tiết một cách tích cực bởi mức thu nhập.
Nói cách khác, mối quan hệ tích cực này có thể trở nên mạnh hơn với những nhân viên có thu
nhập cao
H9: Mối quan hệ giữa CSRP và SHL được điều tiết một cách tích cực bởi mức thu nhập. Nói
cách khác, mối quan hệ tích cực này có thể trở nên yếu đi với những nhân viên có thu nhập thấp
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Quy trình thu thập dữ liệu
Sau khi thực hiện lược khảo tài liệu nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu và thang đo sơ
bộ. Thang đo được hình thành bởi các biến quan sát từ các nghiên cứu trước nước ngoài. Vì vậy,
“thang đo được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt và sau đó được dịch ngược để đảm bảo độ chính
108
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
xác của thang đo” (Ha & Bui, 2019). Quá trình dịch ngược được một sinh viên năm cuối, chuyên
ngành Ngôn ngữ Anh, dịch ngược lại từ bảng tiếng Việt sang tiếng Anh một lần nữa. Sau đó so
sánh bảng tiếng Anh gốc của các nghiên cứu nước ngoài trước đây với bảng tiếng Anh của sinh
viên chuyên ngành Ngôn ngữ Anh đã dịch, kết quả của quá trình dịch ngược là cả hai bảng tiếng
Anh đều giống nhau. Do đó, thang đo được dịch về bảng tiếng Việt có thể được đưa vào sử dụng.
Trước khi thực hiện khảo sát chính thức, nghiên cứu sơ bộ bằng phương pháp thảo luận nhóm với
10 nhân viên đang làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), nhằm đảm bảo sự phù hợp
của của thang đo so với thực tế và điều chỉnh sao cho mọi người đều có thể hiểu rõ.
Bảng câu hỏi chính thức được thiết kế trên googledocs và được sử dụng như một kỹ thuật
thu thập dữ liệu. Các bảng câu hỏi đã được gửi đến các nhân viên đang làm việc trong các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại TP. HCM, Việt Nam bằng phương pháp lấy phi xác suất-thuận tiện từ tháng
09/2020 đến tháng 11/2020. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã sử dụng câu hỏi gạn lọc để kiểm tra liệu
rằng mỗi danh nghiệp mà nhân viên tham gia trả lời khảo sát đã và đang tiến hành các hoạt động
CSR. Ví dụ: “Công ty của anh/chị đã và đang thực hiện các hoạt động có trách nhiệm với xã hội.”
Nếu những nhân viên trả lời “Có” thì tiếp tục trả lời các câu hỏi tiếp theo. Những người trả lời đã
được thông báo rằng đó là một hoạt động tự nguyện và sự tham gia ẩn danh. Tổng số 300 bảng
câu hỏi đã được gửi đi và 220 bảng câu hỏi có thể sử dụng được gửi lại, với tỷ lệ phản hồi 73.33%.
Thông tin đặc điểm cá nhân của người trả lời được trình bày trong Bảng 1.
Bảng 1
Thống kê đặc điểm nhân khẩu học
N = 220
Nữ
Tần số
107
Phần trăm
48.6
51.4
28.2
52.3
13.6
5.9
Giới tính
Nam
Từ 18 - 25
Từ 26 - 35
Từ 36 - 45
Trên 45
113
62
115
30
Nhóm tuổi
13
Từ Trung cấp trở xuống
Cao đẳng
Đại học
Sau đại học
< 05 triệu
05 - < 10 triệu
10 - < 15 triệu
> - 15 triệu
Nhân viên
Quản lý
31
70
100
19
33
128
30
29
189
31
58
14.1
31.8
45.5
8.6
Trình độ học vấn
15.0
58.2
13.6
13.2
85.9
14.1
26.4
29.1
17.3
27.3
Thu nhập
Vị trí công tác
< 2 năm
03 - 05 năm
06 - 10 năm
> 10 năm
64
38
60
Thời gian làm việc
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu
3.2. Thang đo cho các cấu trúc
Nhận thức về CSR của nhân viên được đo lường bằng tám câu hỏi được phát triển bởi
Maignan (2001). Cấu trúc CSR gồm bốn khía cạnh: CSR kinh tế (hai câu hỏi), CSR pháp lý (hai câu
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
109
hỏi), CSR đạo đức (hai câu hỏi), và CSR thiện nguyện (hai câu hỏi). Cấu trúc SGK sử dụng thang
đo của Mowday, Steers, và Porter (1979) với 04 câu hỏi. Biến SHL được đo bằng 04 câu hỏi được
phát triển bởi Paoline, Lambert, và Hogan (2015). Cuối cùng, thang đo cho cấu trúc hiệu quả công
việc sử dụng 04 câu hỏi của Bouckenooghe, Raja, và Butt (2013). Tất cả các câu hỏi được đo bằng
Thang đo Likert năm điểm từ 1 (Hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (Hoàn toàn đồng ý).
3.3. Phân tích dữ liệu
Nghiên cứu này sử dụng mô hình PLS-SEM để kiểm tra giả thuyết. Ha và Bui (2019) cho
rằng rằng PLS có thể đóng góp nhiều tiện ích cho phân tích hành vi trong nghiên cứu hành vi.
Ngoài ra, PLS cũng là một công nghệ đa biến mạnh mẽ xem xét kỹ lưỡng các vấn đề nghiên cứu
phức tạp bao gồm các biến không được quan sát và sự tương tác đa dạng của các biến khác nhau.
PLS khả năng tính toán các giá trị P thông qua một kỹ thuật bootstrapping nếu các mẫu độc lập và
nếu dữ liệu không phân phối chuẩn. Nó cũng được công nhận về khả năng hoạt động tốt với các
kích thước mẫu nhỏ (100 - 200) (Ha & Bui, 2019). Bằng cách xem xét tất cả các điểm mạnh ở
trên, phần mềm SmartPLS 3.0 đã được sử dụng để để phân tích dữ liệu trong nghiên cứu này.
4. Kết quả nghiên cứu
Hình 2. Mô hình đo lường
Trước khi thực hiện ước lượng PLS-SEM để kiểm tra các giả thuyết, cần đánh giá tính giá
trị và độ tin cậy của các thang đo (Ha, Bui, Dao, Tushar, & Tran, 2020). Giá trị hội tụ là mức độ
tương quan cao giữa các câu hỏi trong một nhân tố và được tính toán bằng cách sử dụng hệ số tải
ngoài (outer loading). Henseler, Hubona, và Ray (2016) đã đề xuất rằng những cấu trúc đạt được giá
trị hội tụ cao khi có hệ số tải ngoài lớn hơn 0.7. Trong khi đó, hệ số tải ngoài có giá trị lớn hơn
ngưỡng 0.5 được coi là chấp nhận được, các biến có giá trị tải ngoài dưới 0.5 nên bị loại bỏ ra khỏi
mô hình (Ha & Bui, 2019; Vinzi, Chin, Henseler, & Wang, 2010). Trong Hình 2, kết quả thống kê
cho thấy tất cả các tải nhân tố đều cao hơn ngưỡng 0.5. Ví dụ: hệ số tải nhân tố tối thiểu cho CSR
kinh tế = 0.910, CSR đạo đức = 0.886, CSR pháp lý = 0.907, CSR thiện nguyện = 0.881, CSR =
0.665, Sự hài lòng trong công việc = 0.870, Sự gắn kết của nhân viên = 0.813, và Hiệu quả công việc
= 0.580. Bên cạnh đó, giá trị hội tụ được xác nhận khi phương sai trích trung bình (AVE) cho mỗi
biến tiềm ẩn lớn hơn 0.5 (Ha & Bui, 2019). Như thể hiện trong Bảng 3 dưới đây, các giá trị AVE
110
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
được báo cáo cho mỗi biến trong khoảng từ 0.505 đến 0.841 (tương ứng với biến Trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp và CSR pháp lý). Do đó, tất cả các cấu trúc cho thấy giá trị hội tụ tốt.
Ngoài ra, Ha và Bui (2019) đã khuyến nghị rằng “giá trị phân biệt của thang đo có thể được
xác định thông qua ma trận tương quan.” Căn bậc hai của giá trị AVE của một cấu trúc phải lớn
hơn mối tương quan với bất kỳ cấu trúc nào khác. Bảng 3 chỉ ra ma trận tương quan của các cấu
trúc với các giá trị đường chéo. Căn bậc hai của AVE của các cấu trúc tiềm ẩn được hiển thị trong
dấu ngoặc đơn cao hơn hệ số tương quan với bất kỳ biến khác. Ví dụ: giá trị AVE của Hiệu quả
công việc là 0.628 và căn bậc hai của AVE của nó là 0.722. Giá trị này đều cao hơn các giá trị
tương quan trong cột của nó (0.292, 0.323, 0.353, và 0.513) và hàng của nó (0.599, 0.508, 0.308,
và 0.473). Bên cạnh đó, theo Garson (2016), giá trị phân biệt giữa hai cấu trúc chỉ được chứng
minh khi chỉ số Heterotrait-Monotrait Ratio (HTMT) dưới 1.0. Như được hiển thị trong Bảng 4,
chỉ số HTMT giữa mỗi cặp cấu trúc thấp hơn 0.90. Do đó, giá trị phân biệt của cấu trúc đã được
thiết lập cho HTMT90. Do đó, giá trị phân biệt đã được đảm bảo.
Bảng 2
Heterotrait-Monotrait Ratio (HTMT)
CSR_KT CSR_PL CSR_TN CSR_DD HQ
SGK
SHL
TN CSR
CSR_KT
CSR_PL
CSR_TN
CSR_DD
HQ
0.575
0.574
0.582
0.346
0.396
0.383
0.523
0.804
0.749
0.689
0.371
0.408
0.395
0.690
0.881
0.689
0.434
0.522
0.306
0.676
0.703
0.649
0.599
0.616
0.594
0.792
0.705
0.601
0.319
0.536
SGK
0.534
0.376
0.574
SHL
0.274
TN
0.508 0.746
CSR
Ghi chú: CSR = Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; CSR_KT = CSR kinh tế; CSR_PL = CSR pháp lý;
CSR_TN = CSR thiện nguyện; CSR_DD = CSR đạo đức; HQ = Hiệu quả công việc; SGK = Sự gắn kết của nhân
viên; SHL = Sự hài lòng trong công việc; TN = Thu nhập
Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu
Tiếp theo, các giá trị độ tin cậy Cronbach’s alpha và độ tin cậy cổng hợp (CR) được sử
dụng để đánh giá độ tin cậy của cấu trúc. Theo Ha và Bui (2019), giá trị độ tin cậy Cronbach’s
alpha và CR nên lớn hơn hoặc bằng 0.7 để được coi là đáng tin cậy trong một mô hình. Như trong
Bảng 3 dưới đây, Cronbach’s alpha và CR lớn hơn 0.7. Giá trị tổng hợp và giá trị Cronbach’s alpha
tối thiểu lần lượt là 0.868 và 0.728. Hơn nữa, Bui, Vo, và Ngo (2020) cũng đề xuất hệ số rho_A
để đo độ tin cậy cho PLS và giá trị này phải lớn hơn 0.7. Theo Bảng 3, các giá trị rho_A thay đổi
từ 0.828 đến 0.904. Do đó, tất cả các cấu trúc đạt được độ tin cậy tốt.
Cuối cùng, hiện tượng đa cộng tuyến đã được đánh giá cho tất cả các cấu trúc. Giá trị VIF
được đề xuất để đo lường các vấn đề đa cộng tuyến. Giá trị VIF phải nhỏ hơn 5.00 (Wong, 2013).
Như thể hiện trong Bảng 4, giá trị VIF bên trong tối đa của các cấu trúc là 1.921. Do đó, hiện
tượng đa cộng tuyến của các biến tiềm ẩn không phải là mối quan tâm.
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
111
Bảng 3
Heterotrait-Monotrait Ratio (HTMT)
CA
rho_A
0.793
0.819
0.745
CR
AVE
0.828
0.841
0.794
CSR_KT CSR_PL
CSR_TN
0.441
CSR_DD
0.442
HQ
SGK
0.334
0.348
0.422
SHL
0.325
0.340
0.254
TN
CSR
0.731
0.825
0.802
CSR_K
T
CSR_PL
CSR_T
N
0.793
0.811
0.741
0.906
0.914
0.885
(0.910)
0.463
0.292
0.323
0.353
0.466
0.622
0.583
(0.917)
0.583
0.533
(0.891)
0.509
CSR_D
D
0.728
0.728
0.880
0.786
(0.887)
0.515
0.480
0.500
0.507
0.794
0.795
0.882
0.902
-
0.831
0.883
0.904
-
0.868
0.919
0.932
-
0.628
0.739
0.773
-
(0.792)
0.599
0.508
0.478
0.308
0.352
0.473
0.504
0.453
0.692
HQ
(0.860)
SGK
SHL
TN
(0.879)
0.261
(1.000)
0.859
0.862
0.891
0.505
(0.711)
CSR
Ghi chú:
CSR = Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; CSR_KT = CSR kinh tế; CSR_PL = CSR pháp lý; CSR_TN = CSR thiện nguyện; CSR_DD = CSR đạo đức; HQ = Hiệu quả công
việc; SGK = Sự gắn kết của nhân viên; SHL = Sự hài lòng trong công việc; TN = Thu nhập.
CA = Hệ số Cronbach’s Alpha; CR = Hệ số tin cậy tổng hợp; AVE = Phương sai trích trung bình
Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu
Bảng 4
Thống kê đa cộng tuyến
CSR_KT
CSR_PL
CSR_TN
CSR_DD
HQ
SGK
SHL
1.498
1.406
SGK
SHL
1.921
1.921
1.921
1.921
TN
CSR
1.000
1.000
1.000
1.000
1.453
Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu
112
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
Kết quả từ phân tích PLS-SEM được thể hiện trong Hình 3 và Bảng 5. Hệ số đường dẫn
chuẩn hóa và giá trị p được báo cáo. Các kiểm định giả thuyết được trình bày như sau:
Hình 3. Mô hình PLS-SEM
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng CSRP đã tác động tích cực đến sự hài lòng công việc,
sự gắn kết của nhân viên, và hiệu quả công việc (β1,2,3 > 0.000; p < 0.001). Do đó, H1, H2, và H3
đã được chấp nhận.
Bảng 5
Kết quả mối quan hệ của các cấu trúc trong mô hình
Hệ số hồi
quy chuẩn
hóa
Giả
thuyết
Độ lệch Thống
Mối quan hệ
→ CSR_KT
Giá trị P Kết luận
chuẩn
kê T
CSR
CSR
CSR
CSR
0.731
0.794
0.825
0.802
0.044
0.030
0.024
0.023
16.558
26.664
34.048
34.182
0.000
0.000
0.000
0.000
→ CSR_DD
→ CSR_PL
→ CSR_TN
Chấp
0.015
H1
H2
H3
CSR
CSR
CSR
→ HQ
→ SHL
→ SGK
0.161
0.542
0.524
0.071
0.077
0.074
2.269
6.997
7.105
nhận
Chấp
0.000
nhận
Chấp
0.000
nhận
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
113
Hệ số hồi
quy chuẩn
hóa
Giả
thuyết
Độ lệch Thống
Mối quan hệ
Giá trị P Kết luận
chuẩn
0.077
0.064
0.054
0.058
kê T
3.165
6.327
2.180
2.586
Chấp
nhận
H4
H5
H8
H9
SHL
SGK
→ HQ
→ HQ
0.243
0.402
0.117
0.150
0.001
0.000
0.030
0.006
Chấp
nhận
Biến điều
tiết 1
Chấp
nhận
→ SHL
→ SGK
Biến điều
tiết 2
Chấp
nhận
Ghi chú: Biến điều tiết 1, 2 = TN*CSR
Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu
Giả thuyết H4: Kết quả nghiên cứu cho thấy SHL đã tác động tích cực đến hiệu quả công
việc (β = 0.243; p < 0.05). Do đó, H4 đã được chấp nhận.
Giả thuyết H5: Kết quả nghiên cứu cho thấy SGK đã tác động tích cực đến hiệu quả công
việc (β = 0.402; p < 0.001). Do đó, H5 đã được chấp nhận.
Bảng 6
Kết quả của tác động trung gian của thái độ công việc
Loại
Giả
thuyết
Ảnh hưởng Ảnh hưởng Tổng ảnh
Mối quan hệ
Kết luận
trực tiếp
gián tiếp
hưởng
trung gian
H7
H8
CSR→SHL→HQ
CSR→SGK→HQ
0.131**
Chấp nhận
Chấp nhận
Trung gian
một phần
0.161**
0.503***
0.211***
Ghi chú: ***=p < 0.001; **=p <0.05
Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu
Giả thuyết H6: Theo Bảng 6, SHL làm trung gian mối quan hệ giữa CSRP và HQ bởi
những lý do sau: thứ nhất, kết quả trong Bảng 5 cho thấy giá trị p cho đường dẫn trực tiếp
CSR→HQ là 0.024; CSR→SHL là 0.000; SGK→HQ là 0.000, có ý nghĩa thống kê (p < 0.05).
Thứ hai, giá trị p của ảnh hưởng gián tiếp (CSR→SHL→HQ) là 0.000 (Bảng 6) cũng có ý nghĩa
thống kê. Do đó, vai trò trung gian của SHL tồn tại (Bui & Ha, 2020). Vì vậy, Giả thuyết H6 đã
được chấp nhận và sự trung gian này là một phần.
Giả thuyết H7: Theo Bảng 6, SGK làm trung gian mối quan hệ giữa CSRP và HQ bởi
những lý do sau: thứ nhất, kết quả trong Bảng 5 cho thấy giá trị p cho đường dẫn trực tiếp
CSR→HQ là 0.024; CSR→SGK là 0.000; SGK→HQ là 0.002, có ý nghĩa thống kê (p <0.05).
Thứ hai, giá trị p của ảnh hưởng gián tiếp (CSR→SGK→HQ) là 0.004 (Bảng 6) cũng có ý nghĩa
thống kê. Do đó, vai trò trung gian của SGK tồn tại (Bui & Ha, 2020). Vì vậy, Giả thuyết H7 đã
được chấp nhận và sự trung gian này là một phần.
Giả thuyết H8 dự đoán rằng Thu nhập điều tiết mối quan hệ giữa CSRP và SHL. Kết quả
nghiên cứu cho thấy Biến điều tiết 1 của tương tác giữa thu nhập và CSRP với SHL là tích cực và
có ý nghĩa thống kê (p-value = 0.030 và hệ số beta = 0.117) (Bảng 5). Phát hiện này cho thấy Thu
nhập đã điều tiết tích cực mối quan hệ CSRP và SHL. Nói cách khác, mối quan hệ tích cực giữa
CSRP và SHL trở nên mạnh hơn đối với những nhân viên kiếm được mức thu nhập cao (Hình 4).
Do đó, giả thuyết H8 được chấp nhận.
114
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
5
4,5
4
Biến điều tiết
3,5
3
Thu nhập
thấp
2,5
2
Thu nhập cao
1,5
1
CSR cao
CSR thấp
Hình 4. TN làm mạnh lên mối quan hệ tích cực giữa CSR và SHL
Giả thuyết H9 dự đoán rằng Thu nhập điều tiết mối quan hệ giữa CSRP và SGK. Kết quả
nghiên cứu cho thấy Biến điều tiết 2 của tương tác giữa thu nhập và CSRP với SGK là tích cực và
có ý nghĩa thống kê (p-value = 0.010 và hệ số beta = 0.150) (Bảng 5). Phát hiện này cho thấy Thu
nhập đã điều tiết tích cực mối quan hệ giữa CSRP và SGK. Nói cách khác, mối quan hệ tích cực
giữa CSRP và SGK trở nên mạnh hơn đối với những nhân viên kiếm được mức thu nhập cao (Hình
5). Do đó, giả thuyết H9 được chấp nhận.
5
4,5
4
3,5
Biến điều tiết
3
2,5
Thu nhập thấp
2
1,5
Thu nhập cao
1
CSR thấp
CSR cao
Hình 5. TN làm mạnh lên mối quan hệ tích cực giữa CSR và SGK
5. Độ phù hợp của mô hình
Hệ số xác định (R2) là thước đo sức mạnh dự đoán của mô hình. R2 là lượng phương sai
của các biến phụ thuộc trong mô hình cấu trúc được giải thích bởi các biến độc lập được kết nối
với nó. Giá trị R2 nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Hệ số R2 càng cao, cấu trúc được giải thích càng
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
115
tốt bởi các cấu trúc tiềm ẩn trong mô hình cấu trúc. Hệ số R2 cao cũng cho thấy giá trị của các biến
có thể được dự đoán tốt bởi mô hình đường dẫn PLS (Ha & Bui, 2019). Giá trị R2 của HQ là 0.440
cho thấy rằng 44.0% tổng số biến thiên của HQ có thể được giải thích bởi cấu trúc ngoại sinh như
CSR, SHK và SGK. Thêm vào đó, 21% biến thiên của sự hài lòng trong công việc, và 25.4% biến
thiên của sự gắn kết của nhân viên đã được giải thích bởi tránh nhiệm xã hội của doanh nghiệp
(Hình 2). Hơn nữa, trong khoa học hành vi, giá trị R2 là 0.26 (ảnh hưởng lớn), 0.13 (ảnh hưởng
trung bình) và 0.02 (ảnh hưởng yếu) (Wetzels, Odekerken-Schröder, & Van-Oppen, 2009). Bởi
vì, giá trị R2 cho hiệu quả công việc lớn hơn 0.13, do đó, mô hình của nghiên cứu này đã chứng
minh sự phù hợp của mô hình-dữ liệu.
6. Thảo luận và kết luận
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng CSRP đã tác động tích cực đến HQ thông qua vai trò
trung gian của SHL và SGK. Những phát hiện này hỗ trợ lý thuyết nhận dạng xã hội cho rằng nhân
viên có xu hướng phát triển nhận dạng mạnh mẽ đối với các tổ chức có hình ảnh xã hội tích cực
(Tajfel & Turner, 2004). Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng mở rộng nghiên cứu trước bằng cách xem
xét vai trò của biến thu nhập cá nhân, được tìm thấy như một yếu tố điều tiết mối quan hệ giữa
CSRP và SHL; CSRP và SGK. Mặc dù, những nhân viên nhận thấy tổ chức của họ đã hỗ trợ tích
cực CSR, thì có xu hướng thể hiện sự hài lòng công việc và sự gắn kết cao, nhưng mối liên kết
tích cực này dường như có ý nghĩa hơn đối với những nhân viên đã kiếm được Thu nhập cao hơn.
Đặc biệt, phát hiện về tác dụng điều tiết của mức thu nhập phù hợp với hệ thống phân cấp
của Maslow (1943) về lý thuyết nhu cầu cho thấy rằng các cá nhân không thể hoàn toàn nhắm mục
tiêu để đáp ứng nhu cầu ở mức cao hơn khi nhu cầu cơ bản của họ không hài lòng. Cho rằng thu
nhập có xu hướng là một yếu tố quyết định nhu cầu cơ bản của nhân viên, có thể một số nhân viên
có mức lương thấp, họ có thể không có khả năng xác định rõ ràng với tổ chức bởi vì họ đang lo
lắng về điều kiện tài chính. Mặt khác, những nhân viên đã kiếm được thu nhập cao hơn có thể
được đáp ứng với các nhu cầu cơ bản của họ và cảm thấy ít quan tâm đến điều kiện tài chính của
họ; do đó, có thể di chuyển để đáp ứng nhu cầu cấp cao hơn, chẳng hạn như tự hào là một phần
của tổ chức hoạt động vì sự tốt đẹp của xã hội. Đây là phù hợp với nghiên cứu trước đây cho thấy
thu nhập có thể là một yếu tố trong việc giải thích sự sẵn sàng của các cá nhân đối với ủng hộ các
hành vi vì xã hội.
Các kết quả hỗ trợ ảnh hưởng của thu nhập điều tiết mối quan hệ tích cực giữa CSRP và
SHL; Nhận thức về CSR và sự gắn kết của nhân viên, cũng cung cấp đóng góp cho các nghiên cứu
trước đây. Nghiên cứu này cho thấy rằng các nghiên cứu trong tương lai nên xem xét các yếu tố
kinh tế xã hội khác, tổ chức và các yếu tố nơi làm việc và các đặc điểm khác của nhân viên có thể
điều tiết CSRP sẽ dẫn đến thái độ làm việc và hành vi tích cực.
7. Hàm ý quản trị
Nghiên cứu này đã đóng góp vào lý thuyết theo một số cách. Đầu tiên, nó xem xét quan
điểm của nhân viên từ các hoạt động CSR của doanh nghiệp. Nghiên cứu này đã sử dụng hai lý
thuyết để giải thích cho các mối quan hệ này: lý thuyết nhận dạng xã hội và lý thuyết trao đổi xã
hội. Kết quả của nghiên cứu này xác nhận CSR là một biến số tiền đề quan trọng đối với nâng cao
HQ thông qua vai trò trung gian của SHL và SGK. Nghiên cứu này cung cấp hỗ trợ rằng thực tiễn
CSR không chỉ mang lại lợi ích cho xã hội mà còn cho tổ chức; nó cung cấp giá trị được chia sẻ.
Mô hình được phân tích có thể dùng như một lộ trình để nghiên cứu cách thức các tổ chức làm tốt
CSR, có thể thúc đẩy nhân viên của họ tham gia vào các hành vi tích cực (hiệu quả công việc).
Về mặt thực tiễn, các nhà quản lý nên hiểu các thực tiễn CSR trọng như thế nào đối với
nhân viên. Không chỉ nhân viên gắn kết với tổ chức của họ, mà họ hài lòng hơn và đạt hiệu quả
công việc tốt hơn. Do đó, các nhà quản lý nên truyền đạt các thực tiễn CSR cho nhân viên và tốt
116
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
hơn nữa là đưa nhân viên tham gia vào các thực tiễn này. Tuy nhiên, các nhà quản lý cũng nên cực
kỳ cẩn thận về việc truyền đạt CSR vì nhân viên rất biết về những gì đang diễn ra trong tổ chức
của họ và sẽ có thể biết liệu tổ chức đang thực hiện hành vi quảng cáo hoặc tiếp thị. Nếu nhân viên
nhận thấy rằng tổ chức chỉ hành động để nâng cao danh tiếng của họ, thì những cách làm này có
thể phản tác dụng.
Mặc dù nó đã rõ ràng từ nghiên cứu này và nghiên cứu trước đó rằng nhân viên nhận thấy
rằng tổ chức của họ tích cực hỗ trợ CSR có xu hướng để thể hiện thái độ làm việc và hành vi tích
cực, điều quan trọng là tổ chức để nhận ra rằng những kết quả tích cực này liên quan với nhận thức
về CSR có thể áp dụng nhiều hơn cho nhân viên có mức thu nhập cao hơn. Điều này là bởi vì, khi
nhân viên đã hài lòng với thu nhập của họ, thì họ không cần phải lo lắng nhiều về tài chính của họ.
Như một kết quả là các nhân viên sẽ có động lực hơn để có quan tâm bổ sung đến phúc lợi của xã
hội, có thể khiến họ đánh giá cao các hoạt động CSR của tổ chức và sẵn sàng cam kết hỗ trợ tổ
chức của họ.
8. Hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Mặc dù những phát hiện của nghiên cứu này là độc đáo và mạnh mẽ, nhưng cũng có một
số hạn chế. Hạn chế đầu tiên của nghiên cứu này là tính khái quát của nó. Bài báo đã kiểm định
giả thuyết bởi thu thập dữ liệu từ các nhân viên đang làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại TP.HCM với phương pháp chọn mẫu thuận tiên. Các nghiên cứu trong tương lai nên xem xét
tác động của CSR đối với hoạt động của từng cá nhân trong các ngành, các tỉnh thành và quốc gia
khác nhau bằng phương pháp chọn mẫu xác suất để có thể gia tăng tính khái quát của nghiên cứu.
Trong nghiên cứu này, biến thu nhập đại diện cho đặc điểm cá nhân để xem xét vai trò điều tiết
của nó. Do đó, còn một biến số khác của đặc điểm cá nhân chưa được xem xét đến. Vì vậy, các
nghiên cứu trong tương lai có thể bao gồm các biến điều tiết khác như: chức vụ, trình độ, …
Tài liệu tham khảo
Alderfer, C. P. (1989). Theories reflecting my personal experience and life development. Journal
of Applied Behavioral Science, 25(4), 351-365.
Barakat, S. R., Isabella, G., Boaventura, J. M. G., & Mazzon, J. A. (2016). The influence of
corporate social responsibility on employee satisfaction. Management Decision, 54(9),
2325-2339. doi:10.1108/MD-05-2016-0308
Blau, P. M. (1964). Exchange and power in social life. New York, NY: Wiley.
Bouckenooghe, D., Raja, U., & Butt, A. N. (2013). Combined effects of positive and negative
affectivity and job satisfaction on job performance and turnover intentions. The Journal of
Psychology, 147(2), 105-123.
Bui, V. N., & Ha, G. N. K. (2020). The impact of perceived brand globalness on consumers’
purchase intention and the moderating role of consumer ethnocentrism: An evidence from
Vietnam. Journal of International Consumer Marketing, 32(1), 47-68.
doi:10.1080/08961530.2019.1619115
Bui, V. N., & Suntrayuth, S. (2020). The impact of human resource management practices on
employee engagement and moderating role of gender and marital status: An evidence from
the Vietnamese banking industry. Management Science Letters, 10(7), 1633-1648.
doi:10.5267/j.msl.2019.12.003
Bui, V. N., Dao, T. D., Nguyen, H. D., Nguyen, C. T. N., & Tushar, H. (2020). An empirical
assessment of organizational commitment and job performance: Vietnam small and
medium-sized enterprises. The Journal of Asian Finance, Economics and Business, 7(6),
277-286. doi:10.13106/jafeb.2020.vol7.no6.277
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
117
Bui, V. N., Vo, H. T., & Ngo, T. T. T. (2020). An empirical analysis of mobile banking adoption
in Vietnam. Gestão e Sociedade, 14(37), 3365-3393. doi:10.21171/ges.v14i37.3078
Carroll, A. B. (1979). A three-dimensional conceptual model of corporate performance. The
Academy of Management Review, 4(4), 497-505. doi:10.2307/257850
De Silva Lokuwaduge, C. S., & De Silva, K. M. (2019). Impact of corporate social responsibility
practices on employee commitment. Social Responsibility Journal, 17(1), 1-14.
doi:10.1108/SRJ-01-2019-0027
Farooq, M., Farooq, O., & Cheffi, W. (2019). How do employees respond to the CSR initiatives
of their organizations: Empirical evidence from developing countries. Sustainability, 11(9),
Article 2646.
Fenwick, T., & Bierema, L. (2008). Corporate social responsibility: Issues for human resource
development professionals. International Journal of Training and Development, 12(1), 24-
35. doi:10.1111/j.1468-2419.2007.00293.x
Garson, D. (2016). Partial least squares regression and structural equation models. Asheboro,
NC: Statistical Associates Publishers.
Glavas, A., & Kelley, K. (2014). The effects of perceived corporate social responsibility on
employee attitudes. Business Ethics Quarterly, 24(2), 165-202. doi:10.5840/beq20143206
Golob, U., & Podnar, K. (2021). Corporate marketing and the role of internal CSR in employees’
life satisfaction: Exploring the relationship between work and non-work domains. Journal
of Business Research, 131(1), 664-672. doi:10.1016/j.jbusres.2021.01.048
Ha, G. N. K., & Bui, V. N. (2016). Ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa doanh nghiệp đến sự gắn
bó của nhân viên với tổ chức tại Công ty CP CMC Telecom Thành Phố Hồ Chí Minh [The
affects of corporation culture on the staff’s commitment in CMC Telecom HCMC]. Tạp chí
Kinh tế - Kỹ thuật, 13(3), 87-101.
Ha, G. N. K., & Bui, V. N. (2019). Giáo trình cao học phương pháp nghiên cứu khoa học trong
kinh doanh cập nhật SmartPLS [Textbook for Master Degree Research Methods in Business-
Updated with SmartPLS]. Ho Chi Minh, Vietnam: Nhà Xuất Bản Tài Chính.
Ha, G. N. K., Bui, V. N., & Tushar, H. (2020). The impact of social support on job-related
behaviors through the mediating role of job stress and the moderating role of locus of
control: Empirical evidence from the Vietnamese banking industry. Cogent Business &
Management, 7(1), 1-24. doi:10.1080/23311975.2020.1841359
Ha, G. N. K., Bui, V. N., Dao, H. D., Tushar, H., & Tran, Q. N. (2020). The effect of emotional
intelligence on turnover intention and the moderating role of perceived organizational
support: Evidence from the banking industry of Vietnam. Sustainability, 12(5), 1-25.
doi:10.3390/su12051857
Henseler, J., Hubona, G., & Ray, P. A. (2016). Using PLS path modeling in new technology
research: Updated guidelines. International Marketing Review, 116(1), 2-29.
Ibrahim, N. A. F. (2017). The relationship between corporate social responsibility and employer
attractiveness in Egypt: The moderating effect of the individual’s income. Contemporary
Management Research, 13(2), 81-106.
Lee, E. M., Park, S.-Y., & Lee, H. J. (2013). Employee perception of CSR activities: Its
antecedents and consequences. Journal of Business Research, 66(10), 1716-1724.
doi:10.1016/j.jbusres.2012.11.008
Maignan, I. (2001). Consumers’ perceptions of corporate social responsibilities: A cross-cultural
comparison. Journal of Business Ethics, 30(1), 57-72. doi:10.1023/A:1006433928640
118
Bùi Nhất Vương. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 103-118
Mascarenhas, C., Mendes, L., Marques, C., & Galvão, A. (2020). Exploring CSR’s influence on
employees’ attitudes and behaviours in higher education. Sustainability Accounting,
Management and Policy Journal, 11(4), 653-678. doi:10.1108/SAMPJ-04-2018-0101
Maslow, A. H. (1943). A theory of human motivation. Psychological Review, 50(4), 370-396.
doi:10.1037/h0054346
Mowday, R. T., Steers, R. M., & Porter, L. W. (1979). The measurement of organizational
commitment. Journal of Vocational Behavior, 14(2), 224-247.
Mustapha, N. (2013). The influence of financial reward on job satisfaction among academic staffs
at public universities in Kelantan, Malaysia. International Journal of Business and Social
Science, 4(3), 244-248.
Paoline, E. A., Lambert, E. G., & Hogan, N. L. (2015). Job stress and job satisfaction among jail
staff: Exploring gendered effects. Women & Criminal Justice, 25(5), 339-359.
Robbins, S. P., & Judge, T. A. (2018). Essentials of organizational behavior. Harlow, UK: Pearson
Education Limited.
Shahzadi, G., Qadeer, F., John, A., & Jia, F. (2019). CSR and identification: The contingencies of
employees’ personal traits and desire. Social Responsibility Journal, 16(8), 1239-1251.
doi:10.1108/SRJ-04-2018-0090
Story, J. S. P., & Castanheira, F. (2019). Corporate social responsibility and employee
performance: Mediation role of job satisfaction and affective commitment. Corporate Social
Responsibility and Environmental Management, 26(6), 1361-1370. doi:10.1002/csr.1752
Tajfel, H., & Turner, J. C. (2004). The social identity theory of intergroup behavior. New York,
NY: Psychology Press.
The World Bank. (2020). Tổng Quan về Việt Nam [Overview of Vietnam]. Retrieved February 21,
Van Dick, R., Crawshaw, J. R., Karpf, S., Schuh, S. C., & Zhang, X.-a. (2020). Identity,
importance, and their roles in how corporate social responsibility affects workplace attitudes
and behavior. Journal of Business and Psychology, 35(2), 159-169. doi:10.1007/s10869-
019-09619-w
Vinzi, V. E., Chin, W. W., Henseler, J., & Wang, H. (2010). Handbook of Partial Least Squares:
Concepts, methods and applications in marketing and related fields. German: Springer.
Westin, L., & Parmler, J. (2020). Inclusion of CSR in the extended performance satisfaction index
- new development. Total Quality Management & Business Excellence, 31(11), 1-12.
doi:10.1080/14783363.2020.1856651
Wetzels, M., Odekerken-Schröder, G., & Van-Oppen, C. (2009). Using PLS path modeling for
assessing hierarchical construct models: Guidelines and empirical illustration. MIS
Quarterly, 33(1), 177-195.
Wong, K. K.-K. (2013). Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM)
techniques using SmartPLS. Marketing Bulletin, 24(1), 1-32.
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến hiệu quả công việc và vai trò điều tiết của thu nhập cá nhân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
anh_huong_cua_nhan_thuc_ve_trach_nhiem_xa_hoi_cua_doanh_nghi.pdf

