Vai trò của Nhà nước trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

ThS. Lê VăN ThAO  
231  
VAI TRÒ CỦA NHꢀ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG VĂN HꢁA  
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
ThS. Lê VăN ThAO  
Trưꢀng Đꢁi hꢂc Kiꢃn trúc Đꢄ Nꢅng  
TꢀM TꢁT  
Trong điꢂu kiꢃn xây dꢄng nꢂn kinh tꢅ thꢆ trưꢇng đꢆnh hưꢈng xꢉ hꢊi chꢋ nghꢌa ở nưꢈc  
ta hiꢃn nay, vai trꢍ cꢋa nhꢎ nưꢈc đꢏi vꢈi viꢃc xây dꢄng văn hꢐa kinh doanh ở cꢑc  
doanh nghiꢃp lꢎ mꢊt yêu cầu cần thiꢅt. Nꢐ đꢒm bꢒo sꢄ điꢂu tiꢅt cꢋa nhꢎ nưꢈc đꢏi  
vꢈi nꢂn kinh tꢅ, đồng thꢇi tạo nên nhꢓng giꢑ trꢆ chân, thiꢃn, mꢔ trong hoạt đꢊng sꢒn  
xuꢕt kinh doanh cꢋa cꢑc doanh nghiꢃp. Bꢎi viꢅt đꢂ cꢖp đꢅn văn hꢐa doanh nghiꢃp,  
vai trꢍ cꢋa nhꢎ nưꢈc đꢏi vꢈi xây dꢄng văn hꢐa doanh nghiꢃp, đồng thꢇi đưa ra nhꢓng  
giꢒi phꢑp để tăng cưꢇng vai trꢍ cꢋa nhꢎ nưꢈc đꢏi vꢈi viꢃc xây dꢄng văn hꢐa kinh  
doanh cꢋa doanh nghiꢃp trong bꢏi cꢒnh toꢎn cầu hꢐa hiꢃn nay.  
Tꢗ khꢐa: Văn hꢐa doanh nghiꢃp, kinh tꢅ thꢆ trưꢇng, thꢎnh tꢏ, cꢕu trꢘc, vai trꢍ.  
1. Đặt vấn đề  
rong bối cảnh các nền kinh tế, đã  
của doanh nghiệp, vì lợi nhuận, nhiều doanh  
nghiệp đã giẫm đạp lên những chuẩn mực văn  
hóa tối thiểu trong sản xuất kinh doanh, làm  
ảnh hưởng đến niềm tin của người tiêu dùng  
và sự tôn trọng của các đối tác trong và ngoài  
nước. Thực tế đó đòi hỏi, nhà nước với chức  
năng là công cụ của nhân nhân để quản lý  
xã hội, cần làm tốt hơn nữa chức năng định  
hướng, quản lý trong xây dựng văn hóa doanh  
nghiệp.  
và đang dịch chuyển sang nền kinh  
tế tri thức, cùng với việc mở rộng  
T
quy mô, thì xu hướng đi vào chiều sâu, nâng  
cao chất lượng các yếu tố đầu vào trong phát  
triển sản xuất kinh doanh trở thành tất yếu.  
Trong đó, văn hóa doanh nghiệp được xem là  
thành tố quan trọng góp phần giải phóng năng  
lực lao động, năng lực sản xuất, đảm bảo sự  
phát triển bền vững của doanh nghiệp. Nhận  
thức được vai trò to lớn của văn hóa doanh  
nghiệp, trong thời gian qua các chủ thể sản  
xuất kinh doanh nước ta đã đầu tư nhiều hơn  
cho phát triển văn hóa doanh nghiệp, xem đó  
vừa là động lực, vừa là mục tiêu cần hướng  
tới, nhờ đó đã đạt được những kết quả nhất  
định, khẳng định vị thế, uy tín của mình ở  
thị trường trong nước, khu vực và thế giới.  
Tuy nhiên, kinh tế thị trường với những mặt  
trái của nó, đã tác động tiêu cực đến văn hóa  
2. Văn hóa doanh nghiệp – thành tố  
quan trọng đảm bảo sự phát triển bền  
vững của doanh nghiệp  
2.1. Văn hóa doanh nghiệp (corporate  
culture), một dạng văn hoá tổ chức  
(organizational culture) được bắt đầu nghiên  
cứu và trở thành một khuynh hướng xây dựng,  
phát triển doanh nghiệp trên thế giới vào  
những năm 1980, xuất phát từ việc các doanh  
nghiệp phương Tây nhận ra yêu cầu phải thay  
đổi cách tiếp cận về các doanh nghiệp. Từ chỗ  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
232  
chỉ dựa vào các cơ cấu phức tạp, chi tiết và truyền thống , những những thái độ ứng xử và  
cơ chế kế hoạch cứng nhắc chuyển sang xây  
dựng, phát triển văn hóa doanh nghiệp như  
là một thành tố, sức mạnh mềm cho sự phát  
triển bền vững của doanh nghiệp. Tuy nhiên,  
cho đến nay các quan niệm về văn hóa doanh  
nghiệp vẫn còn có nhiều điểm khác biệt.  
lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với  
một tổ chức đã biết.  
Ở nước ta, quan niệm về văn hóa doanh  
nghiệp cũng khá đa dạng và phong phú. Tác  
giả Nguyễn Manh Quân, trong các chuyên  
đề bàn luận về văn hóa doanh nghiệp đã cho  
rằng, văn hóa doanh nghiệp là sự tổng hợp  
của mọi phương thức hoạt động cùng với biểu  
hiện của nó mà một tổ chức, doanh nghiệp đã  
Theo Georges De Saite Marie, chuyên gia  
người Pháp về các doanh nghiệp vừa và nhỏ:  
“Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá  
trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, sáng tạo ra nhằm thích ứng với những yêu  
cầu môi trường hoạt động và đòi hỏi của sự  
cạnh tranh. Còn theo tác giả Phan Thị Minh  
Châu, văn hóa doanh nghiệp được hiểu là  
toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng  
nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển  
của một doanh nghiệp; trở thành các giá trị,  
các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn  
sâu vào hoạt động của doanh nghiệp; chi phối  
tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi  
thành viên của doanh nghiệp trong việc theo  
đuổi và thực hiện các mục đích.  
các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo  
đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh  
nghiệp” [4, tr.259]. Còn Akihiko Urata (Nhật  
Bản), thì cho rằng, văn hóa doanh nghiệp có  
thể được hiểu như nét đặc trưng của giá trị  
văn hóa, hành vi ứng xử dựa trên một mục  
tiêu nào đó mà các thành viên cùng chia sẻ và  
giữ gìn. Nó có thể được coi như những tiêu  
chuẩn và cách ứng xử phổ biến của doanh  
nghiệp đó. Một trong những quan niệm được  
sử dụng khá phổ biến hiện nay là định nghĩa  
của nhà xã hội học người Mỹ E.N.Schein:  
“Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể những  
thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn đề thích  
ứng bên ngoài và thống nhất bên trong các  
nhân viên, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu  
trong quá khứ và vẫn cấp thiết trong hiện tại.  
Những quy tắc và những thủ pháp này là yếu  
Mặc dù, quan niệm về văn hóa doanh  
nghiệp còn có nhiều điểm khác biệt, song đều  
thống nhất cho rằng, văn hóa doanh nghiệp là  
kết quả của quá trình lao động và sáng tạo của  
doanh nghiệp, bao gồm các giá trị vật chất  
và tinh thần. Tuy nhiên, có một điểm cần lưu  
ý khi xác định văn hóa doanh nghiệp hay là  
tố khởi nguồn trong việc các nhân viên lựa phản giá trị văn hóa, đó là cần phải xem xét  
đến mục đích sử dụng của các giá trị được  
tạo ra, xem nó có hướng đến con người, cuộc  
sống tốt đẹp của con người hay chỉ vì lợi ích  
ích kỷ của bản thân chủ thể kinh tế.  
chọn phương thức hành động, phân tích và ra  
quyết định thích hợp. Các thành viên của tổ  
chức doanh nghiệp không đắn đo suy nghĩ về  
ý nghĩa của những quy tắc và thủ pháp ấy, mà  
coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu”[5]. Cùng  
chung quan điểm đó, theo N.Demetr (Pháp),  
văn hóa doanh nghiệp, là hệ thống những  
quan niệm, những biểu tượng, những giá trị,  
và những khuôn mẫu hành vi được tất cả các  
thành viên trong doanh nghiệp nhận thức và  
thực hiện theo.  
2.2. Về mặt cấu trúc, hiện nay có khá nhiều  
cách phân chia khác nhau về các yếu tố cấu  
thành văn hóa doanh nghiệp, nổi bật là quan  
điểm của Edgar H. Schein, ông cho rằng, cấu  
trúc văn hóa doanh nghiệp gồm ba lớp:  
Tổ chức lao động quốc tếthì định nghĩa,  
văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc  
biệt các giá trị, các tiêu chuẩn , thói quen và  
ThS. Lê VăN ThAO  
233  
- Cấp độ thực thể hữu hình là cấp độ dễ nghiệp, đảm bảo sự phát triển hài hòa và bền  
thấy nhất, bao gồm các yếu tố liên quan đến vững của doanh nghiệp. Điều này được thể  
cách kiến trúc trụ sở của doanh nghiệp, cách hiện trên các phương diện sau:  
tổ chức không gian làm việc, trang phục của  
thành viên trong doanh nghiệp, dòng chảy  
Một lꢄ, với nghĩa là các giá trị vật chất  
được sáng tạo trong quá trình lao động sản  
thông tin trong tổ chức đi như thế nào, ngôn  
xuất, văn hóa doanh nghiệp là sức mạnh nội  
ngữ sử dụng trong các thông điệp,... Cụ thể  
sinh của mỗi doanh nghiệp, khẳng định vị thế,  
như: Kiến trúc trụ sở của doanh nghiệp; Sản  
sự sống còn của doanh nghiệp trong điều kiện  
phẩm; Các nghi lễ; Giai thoại; Biểu tượng;  
cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường.  
Ngôn ngữ, khẩu hiệu.  
Hai lꢄ, với nghĩa là các giá trị tinh thần  
(vô hình), văn hóa doanh nghiệp là keo gắn  
kết các thành viên của doanh nghiệp. Nó giúp  
- Cấp độ các giá trị vꢄ nguyên tắc là những  
giá trị được thể hiện, bao gồm những nguyên  
tắc, quy tắc của hành vi ứng xử, thể chế lãnh  
các thành viên thống nhất về cách hiểu vấn  
đạo, những tiêu chuẩn của các hoạt động  
đề, đánh giá, lựa chọn và định hướng hành  
trong doanh nghiệp. Dựa trên những giá trị  
động. Khi phải đối mặt với xu hướng xung  
này các thành viên trong doanh nghiệp sẽ xác  
đột lẫn nhau thì văn hoá chính là yếu tố giúp  
định hành vi, thái độ cho phù hợp. Các giá  
mọi người hoà nhập và thống nhất; Góp phần  
trị này bao gồm: Tầm nhìn; Sứ mệnh; Triết  
điều phối và kiểm soát hành vi cá nhân bằng  
lý kinh doanh; Các quy trình, thủ tục, hướng  
các câu chuyện, truyền thuyết; các chuẩn  
dẫn, các biểu mẫu; Phong cách lãnh đạo; Giá  
mực, thủ tục, quy trình, quy tắc... Khi phải  
trị cốt lõi.  
ra một quyết định phức tạp, văn hoá doanh  
- Cấp độ các quan niệm/giả định cơ bản  
là các giá trị ngầm định bao gồm niềm tin,  
nhận thức, suy nghĩ, cảm xúc… những giá trị  
ăn sâu, hình thành một chuẩn mực trong tư  
tưởng, suy nghĩ của các thành viên trong tổ  
chức. Đây chính là tầng sâu nhất trong cấu  
trúc văn hóa doanh nghiệp. Những quan niệm  
chung là những niềm tin, nhận thức và tình  
cảm có tính vô thức, được mặc nhiên công  
nhận trong doanh nghiệp. Sự khác biệt giữa  
các giá trị và nguyên tắc với những quan  
niệm chung thể hiện ngay ở bản thân hai từ  
giá trị và quan niệm.  
nghiệp giúp ta thu hẹp phạm vi các lựa chọn  
phải xem xét; Tạo động lực làm việc, giúp  
nhân viên thấy rõ mục tiêu, định hướng và  
bản chất công việc mình làm, tạo ra các mối  
quan hệ tốt đẹp giữa các nhân viên và một  
môi trường làm việc thoải mái, lành mạnh, có  
cảm giác mình làm công việc có ý nghĩa hãnh  
diện vì là một thành viên của doanh nghiệp.  
Điều này càng có ý nghĩa khi tình trạng “chảy  
máu chất xám” đang phổ biến; Tổng hợp các  
yếu tố gắn kết, điều phối, kiểm soát, tạo động  
lực... làm tăng hiệu quả hoạt động và tạo sự  
khác biệt trên thị trường. Hiệu quả và sự khác  
biệt sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt trên  
thị trường.  
Theo TS Phan Quốc Việt và ThS. Nguyễn  
Huy Hoàng, cấu trúc văn hóa doanh nghiệp  
gồm: Triết lý quản lý và kinh doanh; Động  
lực của cá nhân và tổ chức; Quy trình qui  
định; Hệ thống trao đổi thông tin; Phong trào,  
nghi lễ, nghi thức.  
Như vậy, có thể thấy rằng, văn hóa doanh  
nghiệp là một trong những nhân tố quyết định  
sự trường tồn, thoái lui, hay phát triển của  
doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp trường  
tồn vượt xa cuộc đời của những người sáng  
lập.Văn hóa doanh nghiệp đã vượt ra là một  
tài sản của doanh nghiệp mà còn là một công  
cụ quyền năng cho các nhà quản trị.  
2.3. Trong điều kiện phát triển kinh tế  
tri thức, văn hóa doanh nghiệp là một trong  
những thành tố quan trọng, góp phần khai  
thác có hiệu quả các nguồn lực của doanh  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
234  
3.Nhà nước trong định hướng văn hóa  
doanh nghiệp  
hiệu quả thực hiện vai trò của nhà nước đang  
là một vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết.  
Văn hóa kinh doanh, một phần của văn  
hóa nói chung là sản phẩm của sự phản ánh  
tồn tại xã hội, thuộc về thành tố của kiến trúc  
thượng tầng, chịu sự quy định của những điều  
kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của các  
quan hệ sản xuất thống trị của xã hội đó. Bởi  
vậy, thực tiễn lịch sử chỉ ra rằng, trong xã  
hội có đối kháng giai cấp, giai cấp sở hữu tư  
liệu sản xuất không chỉ thống trị về mặt kinh  
tế mà còn thông qua công cụ bạo lực, tức là  
quyền lực nhà nước, đồng thời thống trị về  
mặt chính trị. Bên cạnh đó, để củng cố địa vị  
thống trị của mình, giai cấp thống trị còn thực  
hiện nô dịch về tư tưởng đối với các giai cấp  
và tầng lớp khác trong xã hội. Do đó, các giá  
trị văn hóa bao hàm văn hóa kinh doanh cũng  
chịu sự chi phối của giai cấp thống trị, biến  
nó thành công cụ, phương tiện để thực hiện  
lợi ích của mình, ru ngủ tinh thần phản kháng  
của các lực lượng đối lập. Còn trong xã hội  
xã hội chủ nghĩa, khi tư liệu sản xuất đã thuộc  
về đại đa số nhân dân lao động, thì việc xây  
dựng và thực hiện các nguyên tắc và chuẩn  
mực văn hóa của các doanh nghiệp không chỉ  
nhằm hướng đến lợi ích của chính bản thân  
doanh nghiệp, mà nhất là hướng đến sự tiến  
bộ chung của xã hội. Do đó, nhà nước với  
chức năng là công cụ của nhân dân để quản  
lý xã hội đóng vai trò cốt lõi trong việc định  
hướng việc xây dựng và phát triển văn hóa  
doanh nghiệp. Nhà nước thực hiện vai trò của  
mình thông qua việc xây dựng các nguyên tắc,  
chuẩn mực về văn hóa kinh doanh, thực hiện  
giáo dục để xây dựng ý thức cho các chủ thể  
kinh doanh, đảm bảo các điều kiện cần thiết  
cho việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp.  
4. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp  
trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay  
Để làm tốt vai trò của nhà nước trong việc  
xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam  
hiện nay, thiết nghĩ chung ta cần thực hiện  
đồng bộ và linh hoạt các giải pháp sau:  
4.1. Xây dựng và hoàn tiêu chí đánh giá  
văn hóa doanh nghiệp  
Thực tế hiện nay cho thấy, nhằm nâng cao  
uy tín và thương hiệu của mình các chủ thể  
kinh doanh đang tự xây dựng cho mình những  
quy tắc, chuẩn mực văn hóa riêng. Ở tầm  
quốc gia, năm 2007, Việt Nam cũng đã thành  
lập Mạng lưới Hiệp ước Toàn cầu Việt Nam  
(GCNV) hỗ trợ các nguyên tắc hoat động  
của Hiệp ước Toàn cầu của Liên hợp quốc  
qua đó nhằm cải thiện các điều kiện xã hội  
và môi trường cho người lao động Việt Nam,  
cộng đồng và hoạt động của các Công ty mà  
họ làm việc. GCNV được tài trợ bởi Chương  
trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP), do  
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam  
(VCCI) quản lý và thực hiện.  
Để đo lường, đánh giá văn hóa doanh  
nghiệp, đến nay đã có một số công cụ như:  
DISC, KMC-CHMA; DENISON,…  
DISC là mô hình nghiên cứu của Tiến sĩ  
William Moulton Marston để kiểm tra hành vi  
cá nhân của con người trong một tình huống,  
môi trường cụ thể. Theo mô hình, con người  
có bốn nhóm tính cách chính D-Dominance  
(Xông xáo), I-Influence (Nhiệt tình),  
S-Submission (Điềm đạm), C-Compliance  
(Chuẩn xác), qua đó chỉ ra sự khác biệt giữa  
các nhóm và cách thức phối hợp hiệu quả.  
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất  
định, song việc thực hiện vai trò định hướng,  
quản lý việc xây dựng và triển khai văn hóa  
doanh nghiệp hiện này nhiều bất cập, hạn  
chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của trình hội  
nhập kinh tế quốc tế. Do đó, việc nâng cao  
Phần mềm KMC-CHMA được KMCsoft  
viết trên cơ sở nghiên cứu 16 năm về Văn  
Hoá Doanh Nghiệp của Tiến sĩ Trịnh Quốc  
Trị để đo lường các yếu tố then chốt của văn  
hóa doanh nghiệp.  
ThS. Lê VăN ThAO  
235  
Bên cạnh đó, mô hình DENISON cũng kinh doanh cho phù hợp với điều kiện thực tế  
được sử dụng rộng rãi trên thế giới như một của doanh nghiệp mình.  
công cụ đánh giá văn hóa của các doanh  
Bên cạnh đó, nhà nước cần có những chính  
nghiệp, để từ đó doanh nghiệp nhận thức được  
sách nhằm động viên, khuyến khích, tôn vinh  
những điểm mạnh, điểm yếu. Với những tiêu  
những doanh nghiệp thành công trong xây  
chí đúng đắn doanh nghiệp sẽ đưa chúng trở  
dựng văn hóa trong kinh doanh, lấy văn hóa  
thành các quy tắc và duy trì qua thời gian để  
kinh doanh làm tiêu chí cho việc xếp loại các  
trở thành thành các giá trị ngầm định được  
doanh nghiệp,.. đồng thời cần lên án mạnh, xử  
chia sẻ rộng rãi trong doanh nghiệp.  
lý nghiêm các doanh nghiệp có những hành  
Mặc dù vậy, những tiêu chí này vẫn còn  
nhiều điểm bất cập, chưa thực sự phù hợp với  
bối cảnh văn hóa của nước ta. Thực tế đó, đòi  
hỏi cần phải xây dựng một Bộ tiêu chí văn  
hóa kinh doanh làm cơ sở để đánh giá văn hóa  
của các doanh nghiệp hiện nay.  
vi phản văn hóa, góp phần làm lành mạnh hóa  
môi trường kinh doanh của nước ta hiện nay.  
4.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh  
tế – tiêu chí văn hóa tối thiểu của các doanh  
nghiệp  
Xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc  
hậu, tâm lý tiểu nông trong các hoạt động  
sản xuất kinh doanh, nên sự tự giác trong xây  
dựng và triển khai văn hóa doanh nghiệp của  
các chủ thể sản xuất kinh doanh còn nhiều  
hạn chế. Vì vậy, cần phải xây dựng hệ chuẩn  
mực về văn hóa của doanh nghiệp trong hệ  
thống pháp luật. Các quy chuẩn về văn hóa  
của doanh nghiệp phải được cụ thể hóa trong  
các quy phạm pháp luật, nhất là trong hệ thống  
pháp luật về kinh tế nhằm bảo vệ những giá  
trị văn hóa kinh doanh, tạo ra một môi trường  
kinh doanh lành mạnh. Để làm được điều này,  
thiết nghĩ cần phải:  
4.2. Giáo dục nâng cao nhận thức của  
chủ thể doanh nghiệp về văn hóa doanh  
nghiệp  
Sự hình thành ý thức về việc xây dựng và  
triển khai văn hóa doanh nghiệp cho các chủ  
thể sản xản xuất kinh doanh là một quá trình  
lâu dài. Để cho quá trình này diễn ra nhanh  
hơn thì giáo dục được là yếu tố hết sức quan  
trọng. Việc giáo văn hóa doanh nghiệp có thể  
thức hiện bằng nhiều phương thức, hình thức,  
phương tiện khác nhau:  
- Thứ nhất, giáo dục văn hóa doanh nghiệp  
trong nhà trường, đặc biệt là các khối ngành  
kinh tế. Việc giáo dục phải gắn liền với thực  
tiễn kinh doanh, để qua đó người học thấy  
được vai trò của văn hóa doanh nghiệp, thấy  
được hậu quả của những hành vi vi phạm các  
nguyên tắc, chuẩn mực văn hóa trong kinh  
doanh của doanh nghiệp nhằm hình thành cho  
người học – những chủ thể kinh doanh của  
tương lai ý thức tự giác trong xây dựng và  
triển khai văn hóa doanh nghiệp khi tham gia  
vào hoạt động kinh doanh trên thực tế.  
Thứ nhất, hoꢄn thiện công tác xây dựng  
vꢄ ban hꢄnh pháp luật: Trong lĩnh vực kinh  
doanh, hiện nay còn nhiều lĩnh vực chưa có  
quy định, chế tài một cách minh bạch, rõ  
ràng; các bộ luật, đạo luật và kế cả những văn  
bản dưới luật chưa xác định một cách đầy đủ  
đối tượng điều chỉnh, phạm vi áp dụng. Điều  
đó dẫn đến nhiều hệ lụy cho việc xử lý các  
hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh.  
Tình hình đó, đòi hỏi chúng ta phải từng bước  
bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật,  
đồng thời phải loại ra ngoài hệ thống pháp  
luật những văn bản không còn thích hợp với  
thực tế trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh.  
- Thứ hai, phương tiện thông tin đại  
chúng sẽ là một công cụ hữu hiệu để cung cấp  
cho các chủ thể kinh doanh những tri thức về  
văn hóa kinh doanh, từ đó hình này nên cơ sở,  
động lực cho các chủ thể sản xuất kinh doanh Mặt khác, cần chủ trọng việc xây dựng và ban  
nghiên cứu xây dựng và triển khai văn hóa hành những bộ luật, đạo luật mới cho phù hợp  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
236  
với những biến đổi của nền kinh tế, đồng thời  
phải đảm bảo được tính nhân văn của pháp kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ cơ sở  
Văn hóa kinh doanh bắt nguồn từ điều  
kinh tế - xã hội. Bởi vậy, để định hướng các  
giá trị văn hóa kinh doanh, tất yếu nhà nước  
phải tác động vào cơ sở tồn tại của nó, đó là  
thể chế kinh tế.  
luật.  
Bên cạnh đó, việc xây dựng và hoàn thiện  
hệ thống pháp luật cần tiến hành đồng bộ với  
cải cách hành chính, cải cách tư pháp, coi  
trọng số lượng và chất lượng, có trọng tâm,  
trọng điểm; dự tính đầy đủ các điều kiện  
nhằm đảm bảo hiệu lực thực thi pháp luật.  
Thể chế kinh tế thị trường được hiểu là  
một tổng thể bao gồm các bộ quy tắc, luật  
lệ và hệ thống các thực thể, tổ chức kinh tế  
được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao  
dịch, trao đổi trên thị trường. Như vậy, việc  
hoàn thiện thể chế thị trường cũng chính là  
hoàn thiện các bộ phận cấu thành của nó. Để  
làm được điều này, cần triển khai đồng bộ các  
giải pháp:  
Thứ hai, nâng cao ý thức chấp hꢄnh pháp  
luật cho các chủ thể kinh doanh: Để pháp luật  
về kinh doanh thực sự đi vào cuộc sống, đòi  
hỏi các chủ thể kinh doanh phải được trang  
bị những tri thức đúng đắn về pháp luật, về  
vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ bản  
thân chủ thể kinh doanh, cũng như bảo vệ các  
giá trị văn hóa của các chủ thể khi tham gia  
vào các quan hệ sản xuất kinh doanh. Thực  
hiện nhiệm vụ này, trước hết phải đẩy mạnh  
công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật  
kinh doanh tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ  
trong tình cảm tôn trọng và ý thức chấp hành  
nghiêm chỉnh pháp luật, hình thành thói quen  
sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật  
của các chủ thể sản xuất, kinh doanh.  
- Một lꢄ, đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn  
thiện các quy tắc, chuẩn mực về hành vi kinh  
tế diễn ra trên thị trường làm cơ sở để điều  
chỉnh hành vi của các chủ thể kinh doanh.  
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế  
hiện nay, các nguyên tắc và chuẩn mực về  
văn hóa kinh doanh đang trở thành những tiêu  
chuẩn để xây dựng uy tín của doanh nghiệp  
trong cộng đồng kinh doanh quốc tế, chúng là  
nền tảng hình thành những ấn tượng đầu tiên  
và giúp duy trì mối quan hệ đang diễn ra. Do  
đó, bên cạnh việc xây dựng hệ thống pháp  
luật, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động  
kinh doanh thì việc xây dựng hệ thống các  
quy tắc chuẩn mực về hành vi kinh doanh là  
điều cần thiết.  
Thứ ba, tăng cưꢀng công tác kiểm tra,  
giám sát thực hiện pháp luật: Trong quá trình  
tác động, điều chỉnh pháp luật cần phải tiến  
hành công tác kiểm tra, giám sát, xử lý những  
hành vi bất hợp pháp ra khỏi hoạt động kinh  
doanh. Có thể hiểu, công tác kiểm tra, giám  
sát là một khâu nằm trong quá trình quản lý  
nhà nước, nếu thiếu nó thì hoạt động điều  
chỉnh các hành vi kinh doanh sẽ kém hiệu  
lực, hiệu quả. Mục đích của công tác kiểm  
tra, giám sát là phát hiện những sai sót trong  
quá trình thực hiện pháp luật để kịp thời có  
biện pháp xử lý. Cần phải coi trọng việc bảo  
đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đối  
với hành vi vi phạm pháp luật kinh doanh, kiên  
quyết xử lý những hành vi vi phạm pháp luật.  
- Hai lꢄ, nhà nước cần đảm bảo cho pháp  
luật, các quy tắc và chuẩn mực về hành vi  
kinh tế được thực thi một cách công bằng,  
bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh. Thực  
hiện nhiệm vụ này, đòi hỏi nhà nước phải loại  
bỏ sự phân biệt đối xử còn tồn tại trong thực tế  
giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần  
kinh tế; kiểm soát độc quyền tự nhiên; tăng  
cường năng lực của cơ quan bảo vệ tài sản trí  
tuệ và cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc  
xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh  
và lợi dụng vị thế thống lĩnh thị trường để hạn  
chế cạnh tranh… Đồng thời cũng phải thực  
hiện công khai, minh bạch và đề cao trách  
4.4. Hoàn thiện thể chế thị trường định  
hướng xã hội chủ nghĩa – cơ sở kinh tế của  
văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp  
TꢂS. Lê VăN TꢂAO  
237  
nhiệm giải trình về các chính sách quản lý, sức mạnh, thì yếu tố không thể thiếu đó là sự  
định hướng đóng vai trò hết sức quan trọng.  
Để làm tốt công tác định hướng dư luận đòi  
hỏi cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Đảng,  
Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội khác.  
Thông qua các công cụ, phương tiện đặc biệt  
là phương tiện thông tin đại chúng Đảng, Nhà  
nước và các tổ chức đoàn thể định hướng dư  
luận xã hội vào việc khuyến khích, tôn vinh  
những doanh nghiệp mẫu mực về văn hóa  
kinh doanh đồng thời hướng dư luận xã hội  
vào việc lên án các hành vi phản văn hóa của  
doanh nghiệp.  
các đề án phát triển cũng như trong hoạt động  
của các chủ thể kinh doanh, tạo điều kiện cho  
người dân giám sát các quyết định của các cơ  
quan quản lý.  
- Ba lꢄ, phát triển đồng bộ các yếu tố thị  
trường và các loại thị trường như: thị trường  
vốn, bất động sản, thị trường lao động, khoa  
học và công nghệ, v.v... Để làm tốt điều này,  
cần tạo môi trường và điều kiện cho tự do  
sản xuất, kinh doanh đa dạng hóa hình thức  
sở hữu và thành phần kinh tế. Bảo đảm tự do  
hành nghề theo quy định của luật pháp, tự do  
lưu thông hàng hóa, tự do tín dụng. Doanh  
nghiệp được tự quyết định và chủ động trong  
kinh doanh.  
5. Kết luận  
Văn hóa kinh doanh với vai trò là sức  
mạnh nội sinh, ảnh hưởng đến sự tồn tại và  
phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bởi  
vậy, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt của  
điều kiện kinh tế thị trường gắn với hội nhập  
quốc tế hiện nay việc xây dựng và triển khai  
văn hóa doanh nghiệp càng quan trọng hơn  
bao giờ hết. Thay vì để cho các doanh nghiệp  
“tự bơi”, tự mày mò tìm kiếm, nhà nước với  
cần làm tốt hơn vai trò định hướng và quản  
lý việc xây dựng và triển khai văn hóa doanh  
nghiệp, nhằm khai thác một cách có hiệu quả  
các nguồn lực, đảm bảo sự phát triển hài hòa  
bền vững của nền kinh tế. Để làm được điều  
đó cần vận dụng một cách đồng bộ và linh  
hoạt các giải pháp, trong đó việc xây dựng,  
hoàn thiện và thực thi nghiêm chỉnh hành  
lang pháp lý về văn hóa doanh nghiệp là nội  
4.5. Định hướng dư luận xã hội trong  
xây dựng văn hóa doanh nghiệp  
Việc xây dựng và triển khai văn hóa  
doanh nghiệp bị quy định bởi mục tiêu, động  
lực của chính bản thân doanh nghiệp, bởi  
truyền thống và tác động của dư luận xã hội.  
Trong đó, sức mạnh của dư luận được xem là  
yếu tố cốt lõi bên ngoài chủ thể để điều chỉnh  
các chủ thể kinh doanh tự nguyện tuân thủ các  
quy tắc, chuẩn mực văn hóa kinh doanh. Dư  
luận được hiểu là tập hợp các luồng ý kiến cá  
nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có  
tính thời sự, có liên quan đến lợi ích, các mối  
quan tâm của công chúng. Dư luận vừa có  
mặt tích cực, song cũng có mặt tiêu cực của  
nó. Do đó, để dư luận xã hội phát huy được dung cốt lõi.  
TꢀI LIꢁU TꢂAM KꢂꢃO  
1. Nguyễn Thị Ngọc Anh (2013), Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
2. Đỗ Minh Cương, Văn hóa vꢄ triꢃt lý kinh doanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001.  
3. Nguyễn Mạnh Quân (2011), Đꢁo đức kinh doanh vꢄ văn hoá công ty, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà nội.  
4. Dương Thị Liễu(2006), Bꢄi giảng văn hóa kinh doanh, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.  
5. Edgar H. Schein (2004),Organizational Culture and Leadership, Third edition, John Wiley and Sons.  
6. Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Nghị quyꢃt TW 9 (khóa XI) về xây dựng vꢄ phát triển văn  
hóa, con ngưꢀi Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Hà Nội.  
pdf 7 trang Thùy Anh 15800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của Nhà nước trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_nha_nuoc_trong_xay_dung_van_hoa_doanh_nghiep_o_v.pdf