Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp: Khái niệm và các phương diện

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
Review Article  
Corporate Social Responsibility: Concept and Dimensions  
Vuong Thi Bich Nga  
Foreign Trade University, Campus 2, Street D5, Binh Thanh, Ho Chi Minh City, Vietnam  
Received 31 March 2021  
Revised 05 April 2021; Accepted 12 May 2021  
Abstract: Corporate social responsibility (CSR) is no longer a new concept in Vietnam. However,  
as the concept has been developing over hundreds of years, it is strongly necessary for it to be  
reconceptualized together with a synthesis of its aspects. Using qualitative analysis method, this  
paper reviewed selected studies on the concept of corporate social responsibility and therefrom  
redefined the aspects of this concept.  
Keywords: social responsibility, corporate social responsibility  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
9
V.T.B. Nga / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
10  
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp:  
Khái niệm và các phương diện  
Vương Thị Bích Ngà1,  
Cơ sở 2 Trường Đại học Ngoại thương, Đường D5, Quận Bình Thạnh,  
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Nhận ngày 31 tháng 3 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 05 tháng 4 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 12 tháng 5 năm 2021  
Tóm tắt: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là chủ đề không còn xa lạ tại Việt Nam. Tuy vậy, với  
lịch sử ra đời và phát triển hàng trăm năm, việc hệ thống hóa lại khái niệm và các phương diện của  
thuật ngữ này là vô cùng cần thiết. Bằng phương pháp phân tích định tính, người viết tổng hợp các  
công trình nghiên cứu về chủ đề trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đồng thời xác định các phương  
diện của khái niệm này.  
Từ khóa: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội, CSR.  
1. Mở đầu  
Mặc dù hiện nay trách nhiệm xã hội doanh  
Nghiên cứu được tiến hành nhằm giải quyết  
2 vấn đề chính:  
(i) Phân tích lại một cách có hệ thống lịch sử  
ra đời, hình thành và phát triển của khái niệm  
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.  
nghiệp (corporate social responsibilities – CSR)  
là một vấn đề được đề cập tương đối phổ biến  
[1]. Song, trên thực tế, còn có nhiều cách tiếp cận  
khác nhau về nội dung và phạm vi của trách  
nhiệm xã hội doanh nghiệp [2]. Trách nhiệm xã  
hội doanh nghiệp không còn là vấn đề mới đối  
với các nước phát triển trên thế giới. Không chỉ  
ở Việt Nam, trách nhiệm xã hội của doanh  
nghiệp là vấn đề đã được các nước quan tâm phát  
triển và thực hiện từ thế kỷ 20. Tuy nhiên, qua  
quá trình nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, người  
viết nhận thấy tại Việt Nam, số lượng các đề tài  
nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh  
nghiệp còn rất hạn chế. Đó là lý do người viết  
quyết định lựa chọn đề tài “Trách nhiệm xã hội  
doanh nghiệp: Khái niệm và các phương diện”.  
(ii) Căn cứ việc tổng hợp các nghiên cứu  
định tính và định lượng đi trước, người viết  
đề xuất mô hình các phương diện của khái niệm  
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Từ đó tạo  
tiền đề thực hiện các nghiên cứu định lượng  
chuyên sâu.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu được tiến hành bằng phương  
pháp định tính dựa trên quá trình tổng hợp và  
phân tích một cách có hệ thống các tài liệu tham  
khảo từ các nghiên cứu định tính và định lượng  
giai đoạn 1950-2020 (Bảng 1).  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]n  
V.T.B. Nga / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
11  
Bảng 1. Danh mục tạp chí được sử dụng làm cơ sở nghiên cứu trong đề tài  
Coopey Bansal and Cohen Montiel  
Montiel &  
Các tạp chí  
(2003) Gao (2006) (2006) (2008) Javier (2014) được sử dụng  
X
X
Academy of Management Journal  
X
X
X
X
X
Academy  
Review  
of  
Management  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Administrative Science Quarterly  
Strategic Management Journal  
MIT Sloan Management Review  
Organization Science  
X
X
X
X
X
Academy  
of  
Management  
Perspective (Executive)  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Management Science  
X
X
Harvard Business Review  
California Management Review  
Organization Studies  
X
X
X
X
X
X
Journal of Industrial Ecology  
Journal of Management Studies  
Journal of Applied Behavioral  
Science  
X
X
Business Strategy and the  
Environment  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Business and the Environment  
Journal of Business Ethics  
X
X
X
X
Business Ethics Quarterly  
The Journal of Business and  
Society  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Journal of Management Inquiry  
Organization and Environment  
Business and Society Review  
X
X
X
X
British Journal of Management  
Journal of International Business  
Studies  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Journal of Management  
Business & Society  
Organization & Environment  
Journal of Applied Psychology  
Personnel Psychology  
Organizational Behavior and  
Human Decision Processes  
X
X
X
X
Journal  
of  
Organizational  
X
Behavior  
Nguồn: Người viết tổng hợp  
V.T.B. Nga / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
12  
3. Cơ sở lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu  
và phân tích mô hình cấu trúc SEM. Kết quả cho  
thấy, trách nhiệm pháp lý có tác động cùng chiều  
lên mức độ tin cậy của doanh nghiệp. Trong khi  
đó, trách nhiệm kinh tế và trách nhiệm nhân đạo  
có tác động ngược chiều lên mức độ tin cậy của  
doanh nghiệp.  
Với lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu  
đời, kết hợp với đó là rất nhiều các cách tiếp cận  
phong phú về định nghĩa, quy mô và đối tượng  
nghiên cứu cả trong phạm vi nghiên cứu học  
thuật và ứng dụng thực tiễn trong triển khai và  
thực hiện tại doanh nghiệp, với hàng loạt sự  
trùng lắp, tương đồng và dị biệt về ngữ nghĩa  
giữa các mô hình nghiên cứu, CSR đã trở thành  
một chủ đề tranh luận sôi nổi trong giới học  
thuật, nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn  
doanh nghiệp [3]. Những năm gần đây, các nỗ  
lực nhằm đi đến một khái niệm thống nhất về  
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nhận được sự  
quan tâm vô cùng lớn nhưng vẫn là bài toán khó  
giữa các học giả trên thế giới do mức độ đồ sộ  
của các nghiên cứu tiền nhiệm và tính phổ quát  
của khái niệm này. Nhiều học giả cho rằng khái  
niệm CSR không được trình bày một cách rõ  
ràng và đầy đủ, xuất phát từ việc thiếu nền tảng  
vững chắc [4], và do đó dẫn đến tình trạng thiếu  
cơ sở cho hành động cụ thể tại các doanh nghiệp  
[5]. Chính vì những lý do đó, hiện nay vẫn chưa  
có một khái niệm thống nhất cho CSR [6-7]  
Kim và cộng sự trong bài nghiên cứu  
“Effects of corporate social responsibility and  
internal  
marketing  
on  
organizational  
commitment and turnover intentions” đã tiến  
hành đánh giá mối liên hệ giữa hai khái niệm  
trách nhiệm xã hội và chiến lược tiếp thị nội bộ  
(internal marketing) lần lượt lên mức độ gắn bó  
với tổ chức (organizational commitment) và ý  
định nghỉ việc (turnover intention) [9]. Dữ liệu  
nghiên cứu được thu thập bằng bảng khảo sát và  
thang đo Likert 7 điểm với địa điểm là các sòng  
bạc ở Hàn Quốc các ngày trong tuần, xuyên suốt  
tháng 10 năm 2012. Bộ dữ liệu gồm 310 mẫu  
quan sát hợp lệ được thu thập và xử lý trước khi  
đưa vào phân tích nhân tố khẳng định CFA. Kết  
quả phân tích nhân tố bậc hai chấp nhận giả  
thuyết trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bao gồm  
bốn phương diện, cụ thể: trách nhiệm kinh tế,  
trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và  
trách nhiệm nhân đạo. Kết quả nghiên cứu cho  
thấy trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có tác  
động trực tiếp đáng kể lên mức độ gắn bó với tổ  
chức và tác động ngược chiều lên ý định nghỉ  
việc của người lao động.  
Lee và cộng sự trong bài nghiên cứu “The  
impact of CSR on casino employees’  
organizational trust, job satisfaction and  
customer orientation: An empirical examination  
of responsible gambling” đã tiến hành đánh giá  
tác động của các phương diện trách nhiệm xã hội  
doanh nghiệp lần lượt lên mức độ tin cậy của  
doanh nghiệp (organizational trust), sự hài lòng  
trong công việc (job sastisfaction) và mức độ  
hướng về khách hàng (customer orientation) [8].  
Các phương diện của trách nhiệm xã hội doanh  
nghiệp được đề cập trong bài nghiên cứu bao  
gồm: trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý và  
trách nhiệm nhân đạo. Nghiên cứu được tiến  
hành tại khách sạn duy nhất hợp pháp hóa cờ bạc  
tại Hàn Quốc, Kangwon Land Casino trong thời  
gian tháng 11 năm 2011. Tác giả sử dụng phương  
pháp thu thập dữ liệu thông qua bảng hỏi giấy và  
thang đo Likert 5 điểm. Kết quả, thu về được 398  
trên tổng số 450 bảng khảo sát hợp lệ. Dữ liệu  
sau đó được đưa vào phân tích bằng phần mềm  
SPSS và EQS, phân tích nhân tố khẳng định CFA  
Montazeri và cộng sự trong bài nghiên cứu  
“Measuring Corporate Social Responsibility in  
Sport Industry: Development and Validation of  
Measurement Scale” đã nỗ lực đưa ra một thang  
đo mới đáng tin cậy và có giá trị trong việc đo  
lường mức độ thực hiện trách nhiệm xã hội của  
các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp thể  
thao [10]. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ  
700 người hâm mộ thể thao tại giải bóng đá  
ngoại hạng Iran năm 2016. Kết quả, có tất cả 640  
bảng khảo sát hợp lệ từ các đáp viên trong thời  
gian từ ngày 29 tháng 01 năm 2016 đến ngày 02  
tháng 02 năm 2016. Trong bài nghiên cứu này,  
tác giả đã tiến hành phân tích và kiểm định  
phương sai và độ phân biệt của các thang đo  
thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA và  
phân tích nhân tố khẳng định CFA. Kết quả  
V.T.B. Nga / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
13  
nghiên cứu cho thấy, trách nhiệm xã hội là một  
khái niệm bậc hai có thể đo lường thông qua năm  
phương diện là trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm  
nhân đạo, trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm pháp  
lý và trách nhiệm liên quan đến các vấn đề môi  
trường. Các phương diện này giải thích được  
50,827% ý nghĩa của khái niệm trách nhiệm xã  
hội doanh nghiệp. Kiểm định KMO được sử  
dụng và nhận giá trị 0,927. Hệ số Cronbach’s  
Alpha của từng thang đo đạt giá trị từ 0,848 đến  
0,967.  
Giả thuyết H2: Trách nhiệm pháp lý là một  
phương diện của trách nhiệm xã hội doanh  
nghiệp.  
Giả thuyết H3: Trách nhiệm đạo đức là một  
phương diện của trách nhiệm xã hội doanh  
nghiệp.  
Giả thuyết H4: Trách nhiệm nhân đạo là  
một phương diện của trách nhiệm xã hội doanh  
nghiệp.  
Giả thuyết H5: Trách nhiệm môi trường là  
một phương diện của trách nhiệm xã hội doanh  
nghiệp.  
Cruz và cộng sự trong bài nghiên cứu  
“Analysis of the Dimensions of Corporate Social  
Responsibility: Study Applied to Co-  
operativism in Ecuador” đã tiến hành phân tích  
các phương diện của khái niệm trách nhiệm xã  
hội doanh nghiệp [11]. Đối tượng tham gia khảo  
sát là các bên liên quan nội bộ và bên ngoài của  
các tập thể doanh nghiệp. Khảo sát được trình  
bày dưới dạng bảng câu hỏi và trả lời bằng thang  
đo Likert 5 điểm. Dữ liệu được thu thập tại  
Ecuador trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng  
02 năm 2018 đến ngày 15 tháng 03 năm 2018 với  
đáp viên là các nhân sự và quản lý tại các doanh  
nghiệp. Kết quả có tất cả 2042 trên tổng số 2137  
bảng khảo sát hợp lệ. Tác giả sử dụng phần mềm  
SPSS phiên bản 23 và Amos Graphic phiên bản  
23 để xử lý dữ liệu. Nghiên cứu được tiến hành  
thông qua hai giai đoạn là phân tích nhân tố  
khám phá EFA và phân tích nhân tố khẳng định  
CFA. Kết quả cho thấy mô hình biến bậc hai  
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp được giải thích  
thông qua bốn phương diện: trách nhiệm kinh tế,  
trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và  
trách nhiệm nhân đạo với tổng phương sai trích  
64,78%. Trong đó tất cả các phương diện đều có  
quan hệ cùng chiều với khái niệm trách nhiệm xã  
hội doanh nghiệp và lần lượt có tổng phương sai  
21,56%, 18,58%, 13,98% và 10,66%. Trong đó,  
bốn phương diện đều có hệ số Cronbach’s Alpha  
lớn hơn 0,8.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Quá trình ra đời, hình thành và phát triển  
của khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp  
Nửa cuối thế kỉ 18, trong cuộc Cách mạng  
Công nghiệp, các doanh nghiệp đã bắt đầu dành  
sự quan tâm đến người lao động và tìm cách nâng  
cao năng suất lao động. Cuối thế kỉ 18, những ý  
tưởng về chiến lược từ thiện của doanh nghiệp  
(corporate philanthropy), tiền thân của khái niệm  
CSR, dần được định hình [12]. Tuy nhiên, cách  
tiếp cận này coi doanh nghiệp như các tổ chức  
chính phủ phải thực hiện các trách nhiệm xã hội  
[13] vì thế được cho là gây ảnh hưởng tiêu cực  
đến doanh nghiệp. Các cổ đông cho rằng lợi  
nhuận kinh doanh chỉ nên được sử dụng cho mục  
đích tái sản xuất. Tuy nhiên, nhiều doanh nhân  
vẫn tiếp tục hỗ trợ cộng đồng bằng thu nhập cá  
nhân [14].  
Đến những năm 1920, khái niệm CSR được  
bổ sung thêm nhiều khía cạnh khác ngoài chiến  
lược từ thiện, chẳng hạn như việc hoàn trả xã hội,  
nguyên tắc đạo đức và dịch vụ cộng đồng [15].  
Do cuộc Đại Khủng hoảng những năm 1930 và  
Chiến tranh Thế giới Thứ nhất những năm 1940,  
CSR đã không nhận được nhiều sự quan tâm mãi  
đến những năm 1950 [16]. Năm 1953, Howard  
Bowen đánh dấu kỉ nguyên hiện đại của CSR  
thông qua việc xuất bản “Social Responsibilities  
of the Businessman”, trong đó CSR là những  
ràng buộc các doanh nghiệp thực hiện các chính  
sách, ra các quyết định và thực hiện các hành  
Từ các nghiên cứu trên, người viết đề ra 5  
giả thuyết:  
Giả thuyết H1: Trách nhiệm kinh tế là một  
phương diện của trách nhiệm xã hội doanh  
nghiệp.  
V.T.B. Nga / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
14  
động được kì vọng mang lại mục đích và giá trị  
cho cộng đồng. Cuối những năm 1950, nhiều học  
giả chỉ ra những tổn thất khi doanh nghiệp cố  
gắng thực hiện CSR, cho rằng mục đích duy nhất  
của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận [17]  
trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của xã  
hội.  
tín, nổi bật nhất có thể kể đến nghiên cứu của  
Carroll, tác giả đồng thời cũng đưa ra khái niệm  
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bao gồm bốn  
phương diện kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân  
đạo mà xã hội đặt lên doanh nghiệp tại một thời  
điểm xác định.  
Từ đầu thập niên 80 đến cuối những năm 90  
của thế kỉ trước, giới nghiên cứu chứng kiến  
nhiều sự thay đổi rõ rệt trong định hướng nghiên  
cứu về CSR, có thể kể đến hai xu hướng chính:  
từ định hướng mang tính lý luận đạo đức (ethics)  
sang định hướng thực hành (performance), từ  
góc độ vĩ mô (macro) hướng sang vi mô (micro).  
Đầu những năm 1980, các khái niệm CSR được  
trình bày trong các nghiên cứu ít có sự thay đổi,  
tuy nhiên số lượng các nghiên cứu và các chủ đề  
được giới thiệu rất đa dạng. Chủ nghĩa tình  
nguyện (voluntarism) và các ràng buộc cổ đông  
vượt lên trên trách nhiệm truyền thống là các đề  
tài được quan tâm hơn cả [28-29]. Trong giai  
đoạn này, Stand đã xây dựng mô hình đánh giá  
các khái niệm được đề xuất của Sethi (1975)  
thông qua mô hình tổ chức – môi trường. Giữa  
những năm 1980, vai trò của các cổ đông một lần  
nữa được nhấn mạnh trong việc thực hiện CSR  
của doanh nghiệp [30].  
Những năm 1960 đánh dấu sự quan tâm ngày  
một lớn của giới học thuật đối với khái niệm  
CSR và những nỗ lực định nghĩa chính xác hơn  
khái niệm này. Nhiều học giả cho rằng, các  
doanh nghiệp ngoài mục tiêu lợi nhuận cần tập  
trung vào các trách nhiệm với hệ thống xã hội  
vượt qua những ràng buộc về kinh tế và pháp lý  
[18]. Năm 1960, Frederick định nghĩa trách  
nhiệm xã hội của các doanh nghiệp là vận hành  
hệ thống kinh tế đáp ứng được kì vọng của xã hội  
[…] sản phẩm và phân phối phải nâng cao tổng  
phúc lợi kinh tế - xã hội [15].  
Đầu những năm 1970, các nghiên cứu hình  
thành khái niệm và xây dựng định nghĩa CSR rất  
phong phú [19-21]. Nhiều nghiên cứu chỉ ra mối  
liên hệ tích cực giữa CSR và lợi ích của các cổ  
đông trong dài hạn, cũng như cách thức tối đa  
hóa CSR mà không phương hại đến lợi ích các  
cổ đông [22]. Một doanh nghiệp sẽ không thể  
thực hiện CSR nếu chỉ đơn thuần thực hiện các  
nghĩa vụ pháp lý tối thiểu [20] mà cần phải xem  
CSR như một ý niệm gắn liền với lợi ích của  
doanh nghiệp trong dài hạn [23]. Năm 1973,  
Keith Davis, một trong những học giả có uy tín  
nhất trong giai đoạn này cho rằng CSR là sự ràng  
buộc các doanh nghiệp trong quá trình đưa ra  
quyết định phải đánh giá các hệ quả của các  
quyết định đó lên hệ thống xã hội bên ngoài, sao  
cho vừa đóng góp các lợi ích xã hội đồng thời  
với các mục tiêu kinh tế mà doanh nghiệp đang  
tìm kiếm [20]. Một khái niệm có nhiều nét tương  
đồng với CSR là CSP (Corporate Social  
Performance) cũng được ra đời trong giai đoạn  
này [24]. Nửa sau những năm 1970, nhiều  
nghiên cứu về CSR cũng được ra đời [25-27].  
Các nghiên cứu chỉ ra ba giai đoạn của CSR là  
ràng buộc xã hội (social obligation), trách nhiệm  
xã hội (social responsibility) và thỏa mãn xã hội  
(social responsiveness). Kết quả nghiên cứu này  
nhận được sự đồng thuận từ nhiều học giả có uy  
Đầu những năm 1990, cùng với sự ra đời và  
phát triển của các lý thuyết mới có thể kể đến  
như lý thuyết các bên liên quan (stakeholder  
theory), lý thuyết dựa trên nguồn lực (resourced-  
based theory) và lý thuyết thể chế (institutional  
theory), việc phân tích hoạt động CSR tại các  
doanh nghiệp tiếp tục có nhiều thay đổi. Lý  
thuyết các bên liên quan được phát triển bởi  
Donaldson và Preston tái khẳng định lại vai trò  
của các cổ đông trong việc giảm thiểu các rủi ro  
khi doanh nghiệp thực hiện CSR, đồng thời phân  
loại lý thuyết thành ba nhóm nghiên cứu chính:  
miêu tả (descriptive), chuẩn tắc (normative) và  
phương tiện (instrumental) [31]. Các nghiên cứu  
tập trung vào việc phát triển mối quan hệ giữa  
doanh nghiệp với các bên liên quan kết luận rằng  
thông qua việc thực hiện CSR doanh nghiệp sẽ  
đáp ứng nhu cầu và kì vọng của khách hàng tốt  
hơn, qua đó tạo ra nhiều giá trị hơn [32-33]. CSR  
được hiểu là các trách nhiệm của doanh nghiệp  
nhằm tạo ra giá trị cho cả các cổ đông và các  
V.T.B. Nga / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
15  
bên liên quan, chẳng hạn như chính phủ, khách  
hàng, nhân công, và các cộng đồng địa phương  
[34]. Những nguyên lý nền tảng của lý thuyết  
dựa trên nguồn lực được xây dựng từ khá sớm  
nhưng mãi đến những năm 1990 lý thuyết này  
mới thực sự được quan tâm [35]. Peteref đưa ra  
giả định nguồn lực của các doanh nghiệp là  
không đồng nhất, và có thể sử dụng các nguồn  
lực để xác định các tài sản, năng lực sản xuất,  
quy trình vận hành và chiến thuật nhằm tăng hiệu  
suất và hiệu quả dẫn tới lợi thế cạnh tranh [36].  
Các nghiên cứu sử dụng lý thuyết dựa trên nguồn  
lực tập trung lý giải nguyên nhân các doanh  
nghiệp thực hiện CSR [37] qua đó hình thành lợi  
thế cạnh tranh [38]. Nghiên cứu chỉ ra rằng CSR  
tạo ra các giá trị hữu hình như cải thiện danh  
tiếng, nâng cao mối quan hệ giữa doanh nghiệp  
với các bên liên quan, nâng cao mức độ giữ chân  
và độ hấp dẫn của doanh nghiệp lên nguồn lao  
động tiềm năng, tăng cường động lực trong năng  
suất, độ gắn kết và lòng trung thành của người  
lao động. Lý thuyết thể chế được hình thành bởi  
Selznick [39] và phát triển bởi Meyer và Rowen  
[40]. Lý thuyết này cho rằng các hoạt động CSR  
tập trung đến việc nâng cao uy tín, tính bền vững,  
tính pháp lý, hỗ trợ xã hội, sự cam kết bên trong  
và bên ngoài, thu hút nhân sự và sự công nhận  
[41]. Các hoạt động CSR có nhiều dị biệt tại các  
khu vực địa lý khác nhau [42] và do đó nhiều mô  
hình đã được xây dựng nhằm phân loại theo các  
góc nhìn [43] và giai đoạn [44] khác nhau. Cuối  
những năm 1990, hai phương diện kinh tế và xã  
hội của CSR được quan tâm khai thác nhiều hơn  
cả, nhiều học giả chỉ ra mối quan hệ cùng chiều  
của CSP và CFP (Corporate Financial  
Performance) [45]. Phương diện môi trường  
trong khái niệm CSR cũng ngày một nhận được  
nhiều sự quan tâm [46]. Uỷ ban châu Âu định  
nghĩa CSR là nghĩa vụ mà qua đó các công ty có  
trách nhiệm thực hiện những hành động vượt lên  
trên nghĩa vụ pháp lý và các mục tiêu kinh doanh  
hoặc kinh tế [47].  
(cooperate social perfomance). Nhiều khái niệm  
mới liên quan đến CSR như đạo đức kinh doanh  
(business ethics) và tư cách công dân của doanh  
nghiệp (corporate citizenship) lần đầu tiên được  
giới thiệu [48] và nhanh chóng nhận được quan  
tâm ngày một lớn từ giới nghiên cứu và cộng  
đồng doanh nghiệp [49]. Các nghiên cứu gần đây  
chỉ ra rằng hơn 40% tổng số các nghiên cứu về  
CSR được xuất bản sau năm 2005 [50].  
4.2. Các phương diện của khái niệm trách nhiệm  
xã hội doanh nghiệp  
Trách nhiệm kinh tế là thành tố cơ bản của  
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, nếu không vận  
hành kinh doanh, doanh nghiệp không thể cống  
hiến cho xã hội [5]. Phương diện kinh tế trong  
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chỉ đến các  
hoạt động mà qua đó tạo ra các tài sản và dịch vụ  
có giá trị, các sản phẩm của quá trình vận hành  
trong cộng đồng [3]. Mặc dù các bên có liên quan  
trong quá trình kinh doanh của công ty không chỉ  
đơn thuần nhắm đến mục tiêu lợi nhuận, họ  
hướng đến mục tiêu thị trường và kết quả kinh  
doanh, qua đó đảm bảo sự bền vững về mặt kinh  
tế và tài chính cho bản thân [21]. Chính vì thế,  
mặc dù là các thành phần không vì lợi nhuận, các  
bên liên quan theo đuổi lợi nhuận một cách gián  
tiếp, qua đó giúp họ đạt được các lợi thế đứng  
trên phương diện xã hội và kinh tế [45].  
Doanh nghiệp cần nỗ lực thực hiện mục tiêu  
“win-win” (đôi bên cùng có lợi) trong bối cạnh  
nỗ lực thực hiện trách nhiệm xã hội [4]. Bên cạnh  
đó, doanh nghiệp cần đảm bảo cân bằng lợi ích  
trong xã hội khi vận hành [17]. Doanh nghiệp  
tham gia trên thị trường đồng nghĩa với việc các  
bên đều sẽ thu được lợi ích [16], ở mức độ kinh  
tế vĩ mô [31] và ở mức độ hệ thống [14, 20]. Do  
đó, doanh nghiệp cần thực hiện tốt trách nhiệm  
kinh tế nhằm tối đa hóa các lợi ích, đảm bảo khả  
năng tồn tại trong ngắn hạn và tiến đến đảm bảo  
thực hiện các trách nhiệm cần thiết cho xã hội  
[28, 46].  
Trong thế kỉ 21, các nghiên cứu về CSR tập  
trung theo ba nhánh lớn và nhận được nhiều sự  
quan tâm là đạo đức doanh nghiệp (corporate  
ethics), lý thuyết các bên liên quan (stakeholder  
theory) và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp  
Giả thuyết H1 được chứng minh.  
Trách nhiệm pháp lý đề cập đến việc tuân thủ  
các quy định và pháp luật của doanh nghiệp  
trong vận hành [19], qua đó các chuẩn mực đạo  
V.T.B. Nga / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
16  
đức hiến định hoặc được pháp luật quy định có  
thể được áp dụng lên tất cả các thành phần của  
nền kinh tế [6, 22]. Các chính phủ cần cẩn trọng  
trong việc ban hành và đảm bảo thực thi những  
quy định, qua đó đảm bảo các doanh nghiệp có  
thái độ phù hợp trong các vấn đề về xã hội và  
môi trường [51].  
nguyên tắc quyền con người. Qua đó, các bên  
liên quan sẽ tăng thêm lòng tin, mức độ gắn bó  
với doanh nghiệp [29].  
Giả thuyết H3 được chứng minh.  
Phương diện nhân đạo trong trách nhiệm xã  
hội của doanh nghiệp được định nghĩa là việc  
ủng hộ và củng cố các nỗ lực của người lao động  
thực hiện các dịch vụ và hoạt động cộng đồng  
trong thời gian làm việc [25]. Dưới góc nhìn  
trách nhiệm nhân đạo, doanh nghiệp là một thành  
phần cơ bản của xã hội, do đó có trách nhiệm  
cống hiến các nguồn lực đến cộng đồng và cải  
thiện chất lượng cuộc sống [46]. Doanh nghiệp  
cần thực hiện tốt trách nhiệm nhân đạo thông qua  
các hoạt động tình nguyện và thiện nguyện trong  
cộng đồng địa phương [34]. Trách nhiệm nhân  
đạo có thể được thực hiện qua quyên góp hiện  
kim, quyên góp hiện vật, tặng quà cứu trợ và  
trách nhiệm quản lý trong xã hội [26].  
Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng việc  
ban hành và xây dựng một hệ thống kinh doanh  
phù hợp với các quy định của pháp luật thường  
sẽ dẫn đến sự tăng trưởng tích cực các chỉ tiêu  
kinh tế như “sự giàu có của quốc gia” [4, 18] và  
“lợi ích cho xã hội” [42]. Những lợi ích này có  
thể đạt được thông qua hệ thống tiêu chí và các  
hướng dẫn giữa các bên trên thị trường đảm bảo  
các quy định của pháp luật [21]. Vì thế, các  
doanh nghiệp cần áp dụng các quy chuẩn pháp  
lý, qua đó đảm bảo vận hành một cách hợp pháp,  
đồng thời đảm bảo tính ổn định về mặt pháp lý  
[12].  
Phương diện nhân đạo trong trách nhiệm xã  
hội của doanh nghiệp xem xét các hoạt động tình  
nguyện của các doanh nghiệp và tạo cơ hội cho  
khu vực doanh nghiệp giúp đỡ cho sự phát triển  
của các thành phần và bộ phận khác trong xã hội  
một cách nhân đạo [19]. Thực hiện tốt trách  
nhiệm nhân đạo giúp doanh nghiệp tham gia  
củng cố tính phổ quát và thống nhất của nền kinh  
tế thông qua kêu gọi sự tham gia của các bên liên  
quan trong đời sống dân dụng hằng ngày [6].  
Trách nhiệm nhân đạo giúp cải thiện đáng kể các  
mối liên hệ giữa cộng đồng doanh nghiệp và  
người lao động [12].  
Giả thuyết H2 được chứng minh.  
Trách nhiệm đạo đức bao hàm việc tôn trọng,  
bảo vệ và tuân thủ các quy chuẩn đạo đức, hướng  
đến các hành động đúng đắn và hợp lý, nhằm  
mục tiêu ngăn chặn các tổn hại phát sinh trong  
quá trình kinh doanh và bảo vệ quyền con người  
[3]. Trách nhiệm đạo đức thể hiện những kì vọng  
chưa được luật hóa của xã hội [21], do đó doanh  
nghiệp cần nhận thức đầy đủ về các phương diện  
trong trách nhiệm đạo đức với các bên liên quan  
[51]. Trách nhiệm đạo đức có thể được thực hiện  
thông qua các biện pháp như cung cấp sản phẩm  
và dịch vụ thân thiện với môi trường [37], fair  
trade [19], sản phẩm hữu cơ [43], sản phẩm thân  
thiện với động vật [48].  
Giả thuyết H4 được chứng minh.  
Trách nhiệm môi trường trong trách nhiệm  
xã hội của doanh nghiệp tập trung vào các phát  
kiến, hiệu suất gắn với sinh thái (eco-efficiency),  
ngăn ngừa ô nhiễm và quản trị môi trường [38].  
Nhằm mục tiêu tối thiểu hóa ảnh hưởng của  
doanh nghiệp lên môi trường sinh thái xuyên  
suốt dòng đời sản phẩm [16], phương diện môi  
trường trong trách nhiệm xã hội được thực hiện  
thông qua việc tuân thủ các hệ thống quản lý theo  
các quy chuẩn quốc tế nhằm đảm bảo rằng những  
ảnh hưởng từ hoạt động của doanh nghiệp được  
kiểm soát và quản lý một cách có hệ thống [27].  
Qua đó nâng cao mức độ tin cậy của các bên liên  
Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh các  
công ty thực hiện tốt trách nhiệm đạo đức trong  
kinh doanh sẽ thu được lợi nhuận [23]. Các  
nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng các doanh  
nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm đạo đức sẽ thu  
được nhiều lợi ích dưới góc nhìn kinh tế hơn so  
với các doanh nghiệp lãng tránh thực hiện trách  
nhiệm này [45]. Nói cách khác, đối với các bên  
liên quan, phương diện đạo đức của trách nhiệm  
xã hội doanh nghiệp liên quan đến mức độ minh  
bạch trong quản lý và hành vi đảm bảo các  
V.T.B. Nga / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
17  
quan và đảm bảo việc thực thi các nguyên tắc  
môi trường giữa các bên liên quan [13].  
Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng doanh nghiệp  
chủ động thực hiện trách nhiệm môi trường sẽ  
thu được những lợi ích trong dài hạn [33]. Vì thế,  
việc bổ sung trách nhiệm môi trường vào trách  
nhiệm xã hội doanh nghiệp là cần thiết và phù  
hợp trong bối cảnh khái niệm trách nhiệm xã hội  
có nhiều thay đổi [24].  
Thực hiện tốt trách nhiệm môi trường sẽ cải  
thiện đáng kể chuỗi giá trị của các doanh nghiệp  
[15]. Những doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm  
môi trường một cách đáng tin cậy sẽ xây dựng  
được mối quan hệ bền vững và dài lâu với các  
bên liên quan như các trụ sở cộng đồng, trung  
tâm nghiên cứu và các cơ quan chính phủ [35].  
Giả thuyết H5 được chứng minh.  
Bảng 2. Các phương diện của khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong một số nghiên cứu đi trước  
Trách nhiệm  
kinh tế  
Trách nhiệm  
Trách nhiệm  
đạo đức  
Trách nhiệm  
nhân đạo  
Trách nhiệm  
môi trường  
pháp lý  
Phương  
diện Phương  
diện Phương diện đạo Phương  
diện  
kinh tế liên quan pháp lý liên đức liên quan đến nhân đạo chỉ ra  
đến những sự quan đến mức các hoạt động các hoạt động  
ràng buộc của độ thực thi các được công ty thực tình nguyện của  
doanh nghiệp ràng buộc về hiện với tư cách công ty nhằm  
với các bên liên mặt pháp lý của là một thành viên nâng cao phúc  
Lee và cộng  
sự, 2012  
quan (chẳng hạn doanh nghiệp.  
như trách nhiệm  
của xã hội, không lợi sống của con  
bao gồm các hoạt người (ví dụ như  
động bị ràng buộc đóng góp hoặc  
bởi trách nhiệm hoạt động tình  
phát sinh lợi  
nhuận).  
pháp lý.  
nguyện).  
Công ty cần Công ty cần Công ty cần phải Công ty cần phái  
phải tạo ra các phải tuân thủ đáp ứng kì vọng đáp ứng các kì  
sản phẩm và luật pháp và các của các bên liên vọng của các bên  
dịch vụ đáp ứng quy định được quan và bảo vệ họ liên quan thông  
nhu cầu khách ban hành bởi bằng các biện qua nỗ lực tăng  
hàng với mục nhà nước trong pháp (kể cả cường phúc lợi,  
Kim và cộng  
sự, 2016  
tiêu thu về lợi vận hành.  
nhuận kì vọng.  
không bị ràng chất lượng sống  
buộc bởi luật của con người.  
pháp).  
Các tổ chức Trách  
nhiệm Trách nhiệm đạo Trách  
nhiệm Các  
doanh  
doanh nghiệp là pháp lý liên đức bao gồm các nhân đạo liên nghiệp cần đáp  
các thành phần quan đến quá trách nhiệm hoặc quan đến các ứng nhu cầu  
kinh tế căn bản trình vận hành các nghĩa vụ về hoạt động tình của các nhóm  
trong xã hội, do của công ty đảm mặt đạo đức mà nguyện  
đó cần tìm kiếm bảo tuân thủ các doanh nghiệp tiến hành theo nhau trong môi  
Montazeri và lợi nhuận thông quy định pháp phải tiến hành nguyên tắc “trả trường của tổ  
cộng sự, 2020 qua cung cấp luật và nằm nhằm vận hành lại”, thường chức, nhất là  
được lợi ích khác  
việc làm và các dưới sự kiểm một cách có thể hướng đến các các đối tượng  
sản phẩm với soát của quy được xã hội chấp mục tiêu nhân có ảnh hưởng  
mức giá phải định từ chính nhận.  
chăng đến quyền.  
đạo và nhân văn. lên kết quả của  
công ty.  
khách hàng và  
cộng đồng.  
Alcívar và  
Phương  
diện Phương  
diện Phương diện đạo Phương  
diện  
cộng sự, 2020 này nhắm đến pháp lý là sự đức bao gồm việc nhân đạo bao  
V.T.B. Nga / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
18  
các hoạt động tuân thủ các áp dụng các hành gồm các hoạt  
tạo ra giá trị vật chuẩn mực pháp vi đạo đức đúng động  
tình  
chất, dịch vụ và lý và quy định.  
kết quả là sản  
phẩm của quá  
đắn và phù hợp, nguyện  
của  
nhằm mục tiêu doanh nghiệp và  
ngăn chặn các tổn tạo cơ hội để hỗ  
hại phát sinh từ trợ cho sự phát  
trình vận hành  
doanh nghiệp  
doanh nghiệp.  
triển của các  
thành phần xã  
hội khác một  
cách nhân văn.  
trong  
cộng  
đồng.  
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp  
Bảng 3. Các dấu mốc phát triển của khái niệm CSR giai đoạn từ nửa sau thế kỉ 18 đến nửa đầu thế kỉ 21  
Khái niệm  
liên quan  
Giai đoạn  
Nét chính  
Nghiên cứu  
Nửa sau thế kỉ CSR gây ảnh hưởng tiêu cực Chiến lược từ thiện của Eberstadt, 1973; Muirhead,  
18  
đến doanh nghiệp  
doanh nghiệp  
1999  
Hoàn trả xã hội, nguyên  
tắc đạo đức, dịch vụ cộng  
đồng  
Những năm  
Doanh nghiệp nên tập trung tối  
đa hóa lợi nhuận thay vì CSR  
Bowen, 1953; Levitt, 1958;  
Frederick, 1960  
1920  
Doanh nghiệp ngoài mục tiêu  
lợi nhuận cần tập trung vào các  
trách nhiệm với xã hội  
Davis, 1960; McGuire,  
1963; Davis, 1967; Walton,  
1967  
Những năm  
1960  
Herald, 1970; Johnson,  
1970; Steiner, 1971; Manne  
và Wallich, 1972; Davis,  
1973  
Mối liên hệ tích cực giữa CSR  
và lợi ích của các bên liên quan  
trong dài hạn  
Những năm  
CSP (Corporate Social  
Performance)  
1970  
Chuyển dịch từ lý luận đạo đức  
sang định hướng thực hành, từ  
góc độ vĩ mô sang vi mô  
Những năm  
Jones, 1980; Dalton, 1982  
1980  
Lý thuyết các bên liên Clarkson, 1995; Campbell,  
Những năm  
Ứng dụng các lý thuyết mới vào  
phân tích CSR  
quan, lý thuyết thể chế, lý  
thuyết dựa trên nguồn lực  
2007; Matten và Moon,  
2008  
1990  
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp  
5. Kết luận  
Tài liệu tham khảo  
[1] N. P. Mai, Implementing Corporate Social  
Responsibility Towards Sustainable Development:  
A Case Study of SMEs in Thanh Hoa Province,  
VNU J. Econ. Bus., Vol. 29, No. 5E, pp. 67–80,  
2013.  
[2] T. T. M. Hoa, N. T. H. Ngoc, Social Responsibility  
in Hotel Business in Vietnam Case Study of Sofitel  
Legend Metropole Hanoi and Sofitel Plaza Hanoi,  
VNU Journal of Social Sciences and Humanities,  
Vol. 4, pp. 1–11, 2014.  
Kết quả phân tích định tính chỉ ra rằng, trách  
nhiệm xã hội doanh nghiệp được giải thích thông  
qua năm phương diện là trách nhiệm kinh tế,  
trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, trách  
nhiệm nhân đạo và trách nhiệm môi trường. Kết  
quả phân tích khái niệm trong đề tài này củng cố  
kết quả nghiên cứu của Montazeri và cộng sự  
[10]. Bên cạnh đó, đề tài cũng bổ sung thêm  
phương diện trách nhiệm môi trường chưa được  
giới thiệu trong các nghiên cứu trước đây như  
Lee và cộng sự [8], Kim và cộng sự [9], Cruz và  
cộng sự [11].  
[3] L. N. Lucato, Corporate Sustainability  
Distinctions, Transitions and Perceptions: A Look  
to Canada’s Big Five Banks by Corporate  
Sustainability Distinctions, Transitions and  
V.T.B. Nga / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
19  
Perceptions: A Look to Canada’s Big Five Banks,  
University of Toronto, 2019.  
[14] N. N. Eberstadt, What History Tells Us About  
Corporate Responsibilities, Bus. Soc. Rev., Vol. 7,  
pp. 76–81, 1973.  
[15] W. C. Frederick, The Growing Concern Over  
Business Responsibility, Calif. Manage. Rev., pp.  
[4] S. B. Banerjee, Managerial Perceptions of  
Corporate Environmentalism: Interpretations from  
Industry and Strategic Implications for  
Organizations, J. Manag. Stud., Vol. 38, No. 4, pp.  
489–513, 2001, doi: 10.1111/1467-6486.00246.  
[5] D. Henderson, False Notions of Corporate Social  
Responsibility, Institute of Economic Affairs,  
London 2001.  
[6] D. Matten and J. Moon, ‘Implicit’ and ‘explicit’  
CSR: A Conceptual Framework for a Comparative  
Understanding of Corporate Social Responsibility,  
Acad. Manag. Rev., Vol. 33, No. 2, pp. 404–424,  
2008, doi: 10.5465/AMR.2008.31193458.  
54–61,  
1960,  
[Online].  
Available:  
ngConcern.pdf.  
[16] A. B. Carroll and K. M. Shabana, The Business  
Case for Corporate Social Responsibility: A  
Review of Concepts, Research and Practice, Int. J.  
Manag. Rev., Vol. 12, No. 1, pp. 85–105, 2010,  
doi: 10.1111/j.1468-2370.2009.00275.x.  
[17] M. Friedman, The Social Responsibility of  
Business Is to Increase Its Profits, Corp. Soc.  
Responsib., Vol. 13, No. 7, pp. 31–35, 2017.  
[18] K. Davis, Understanding the Social Responsibility  
Puzzle, Bus. Horiz., Vol. 10, No. 4, pp. 45–50,  
1967, doi: 10.1016/0007-6813(67)90007-9.  
[19] H. G. Manne and H. C. Wallich, The Modern  
Corporation and Social Responsibility, Am.  
Enterp. Inst. Public Policy Res., p. 106, 1972.  
[20] K. Davis, The Case for and Against Business  
Assumption of Social Responsibilities, Acad.  
Manag. J., Vol. 16, No. 2, pp. 312–322, 1973, doi:  
10.5465/255331.  
[21] H. Eilbirt and I. R. Parket, The Current Status of  
Corporate Social Responsibility, Bus. Horiz., Vol.  
16, No. 4, p. 5, 1973, doi: 10.1016/0007-  
6813(78)90071-X.  
[22] M. D. P. Lee, A Review of the Theories of  
Corporate Social Responsibility: Its Evolutionary  
Path and the Road Ahead, Int. J. Manag. Rev., Vol.  
10, No. 1, pp. 53–73, 2008, doi: 10.1111/j.1468-  
2370.2007.00226.x.  
[7] M. Ashrafi, G. M. Magnan, M. Adams, and T. R.  
Walker,  
Understanding  
the  
Conceptual  
Evolutionary Path and Theoretical Underpinnings  
of Corporate Social Responsibility and Corporate  
Sustainability, Sustain., Vol. 12, No. 3, 2020, doi:  
10.3390/su12030760.  
[8] C. K. Lee, H. J. Song, H. M. Lee, S. Lee, and B. J.  
Bernhard, The Impact of CSR on Casino  
Employees’ Organizational Trust, Job Satisfaction,  
and Customer Orientation: An Empirical  
Examination of Responsible Gambling Strategies,  
Int. J. Hosp. Manag., Vol. 33, No. 1, pp. 406–415,  
2013, doi: 10.1016/j.ijhm.2012.10.011.  
[9] J. Kim, H. J. Song, and C. K. Lee, Effects of  
Corporate Social Responsibility and Internal  
Marketing on Organizational Commitment and  
Turnover Intentions, Int. J. Hosp. Manag., Vol. 55,  
pp. 25–32, 2016, doi: 10.1016/j.ijhm.2016.02.007.  
[10] A. Montazeri, M. Talebpour, R. Andam, and A.  
Kazemnejad, Measuring Corporate Social  
Responsibility in Sport Industry: Development and  
Validation of Measurement Scale, Ann. Appl.  
Sport Sci., Vol. 5, No. 2, pp. 97–114, 2016, doi:  
10.18869/acadpub.aassjournal.5.2.97.  
[23] G. Li, H. Fan, P. K. C. Lee, and T. C. E. Cheng,  
Joint Supply Chain Risk Management: An Agency  
and Collaboration Perspective, Int. J. Prod. Econ.,  
Vol. 164, pp. 83–94, 2015.  
[11] F. González Santa Cruz, I. Loor Alcívar, N.  
Moreira Mero, and A. Hidalgo-Fernández,  
Analysis of the Dimensions of Corporate Social  
Responsibility: Study Applied to Co-operativism  
in Ecuador, Soc. Indic. Res., Vol. 148, No. 2, pp.  
517–534, 2020, doi: 10.1007/s11205-019-02213-  
w.  
[24] W. C. Frederick, From CSR1 to CSR2 The  
Maturing of Business-and-Society Thought, Bus.  
Soc., Vol. 33, No. 2, pp. 150–164, 1994, doi:  
10.1109/ICAdLT.2014.6866320.  
[25] S. L. Holmes, Executive Perceptions of Corporate  
Social Responsibility, Bus. Horiz., Vol. 19, No. 3,  
pp.  
34–40,  
1976,  
doi:  
10.1016/0007-  
[12] A. B. Carroll, A History of Corporate Social  
Responsibility: Concepts and Practices, Oxford  
Handb. Corp. Soc. Responsib., No. May, pp. 1–20,  
6813(76)90049-5.  
[26] H. G. Fitch, Achieving Corporate Social  
Responsibility., Acad. Manag. Rev., Vol. 1, No. 1,  
pp. 38–46, 1976, doi: 10.5465/amr.1976.4408754.  
[27] W. F. Abbott and R. J. Monsen, On the  
Measurement of Corporate Social Responsibility:  
2009,  
doi:  
10.1093/oxfordhb/9780199211593.003.0002.  
[13] R. Hay and E. Gray, Social of Responsibilities  
Managers, Acad. Manag. J., Vol. 17, No. 1, pp.  
135–143, 1974.  
Self-Reported Disclosures as  
Measuring Corporate Social Involvement., Acad.  
a Method of  
V.T.B. Nga / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 9-20  
20  
Manag. J., Vol. 22, No. 3, pp. 501–515, 1979, doi:  
10.2307/255740.  
Ceremony, Am. J. Sociol., Vol. 83, No. 2, pp. 340–  
363, 1977, doi: 10.1086/226550.  
[28] S. L. Berman, A. C. Wicks, S. Kotha, and T. M. J.  
Reviewed, Does Stakeholder Orientation Matter?  
[41] C. Oliver, Strategic Responses to Institutional  
Processes, Acad. Manag. Rev., Vol. 16, No. 1, pp.  
145–179, 1991, doi: 10.5465/amr.1991.4279002.  
[42] B. Beliveau, M. Cottrill, and H. M. O’Neill,  
Predicting Corporate Social Responsiveness: A  
Model Drawn from Three Perspectives, J. Bus.  
Ethics, Vol. 13, No. 9, pp. 731–738, 1994, doi:  
10.1007/BF00881333.  
The  
Relationship  
between  
Stakeholder  
Management Models and Firm Financial  
Performance, Acad. Manag. J., Vol. 42, No. 5, pp.  
488–506, 1972.  
[29] D. R. Dalton and R. A. Cosier, The Four Faces of  
Social Responsibility, Bus. Horiz., Vol. 25, No. 3,  
pp.  
19–27,  
1982,  
doi:  
10.1016/0007-  
[43] P. J. DiMaggio and W. W. Powell, The Iron Cage  
6813(82)90124-0.  
Revisited:  
Institutional  
Isomorphism  
in  
[30] S. P. Sethi, Dimensions of Corporate Social  
Performance: An Analytical Framework, Calif.  
Manage. Rev., Vol. 17, No. 3, pp. 58–64, 1975,  
doi: 10.2307/41162149.  
[31] T. Donaldson and L. E. Preston, The Stakeholder  
Theory of the Corporation: Concepts, Evidence,  
and Implications, Acad. Manag. Rev., Vol. 20, No.  
1, pp. 65–91, 1995.  
Organizational Fields, Am. Sociol. Rev., Vol. 48,  
No. 2, pp. 147–160, 1983, [Online]. Available:  
[44] K. M. Shabana, A. K. Buchholtz, and A. B. Carroll,  
The Institutionalization of Corporate Social  
Responsibility Reporting, Bus. Soc., Vol. 56, No.  
8,  
pp.  
1107–1135,  
2017,  
doi:  
10.1177/0007650316628177.  
[32] M. E. Clarkson, A Stakeholder Framework for  
Analyzing and Evaluating Corporate Social  
Performance., Acad. Manag. Rev., Vol. 20, No. 1,  
[45] J. J. Griffin and J. F. Mahon, The Corporate Social  
Performance and Corporate Financial Performance  
Debate: Twenty-Five Years of Incomparable  
Research, Bus. Soc., Vol. 36, No. 1, pp. 5–31,  
1997, doi: 10.1177/000765039703600102.  
pp.  
92–117,  
1995,  
doi:  
10.5465/amr.1995.9503271994.  
[33] J. Snider, R. P. Hill, and D. Martin, Corporate  
Social Responsibility in the 21st Century: A View  
from the World’s Most Successful Firms, J. Bus.  
Ethics, Vol. 48, No. 2, pp. 175–187, 2003, doi:  
10.1023/B:BUSI.0000004606.29523.db.  
[34] M. L. Barnett, Stakeholder Influence Capacity and  
the Variability of Financial Returns to Corporate  
Social Responsibility, Acad. Manag. Rev., Vol. 32,  
No. 3, pp. 794–816, 2007.  
[46] J. D. Margolis and J. P. Walsh, Misery Loves  
Companies: Rethinking Social Initiatives by  
Business, Adm. Sci. Q., Vol. 48, No. 2, 2003, doi:  
10.2307/3556659.  
[47] M. Orlitzky, F. L. Schmidt, and S. L. Rynes,  
Corporate Social and Financial Performance: A  
Meta-analysis, Organ. Stud., Vol. 24, No. 3, pp.  
403–441, 2003.  
[48] M. S. Schwartz and A. B. Carroll, Integrating and  
Unifying Competing and Complementary  
Frameworks: The Search for a Common Core in  
the Business and Society Field, Bus. Soc., Vol. 47,  
[35] J. Barney, Firm Resources and Sustained  
Competitive Advantege, Journal of Management,  
Vol. 17, No. 1. pp. 99–120, 1991.  
[36] M. A. Peteraf, The Cornerstones of Competitive  
Advantage: A Resource-Based View, Strateg.  
Manag. J., Vol. 14, pp. 179–191, 1993.  
No.  
2,  
pp.  
148–186,  
2008,  
doi:  
10.1177/0007650306297942.  
[49] N. E. Landrum, Stages of Corporate Sustainability:  
Integrating the Strong Sustainability Worldview,  
Organ. Environ., Vol. 31, No. 4, pp. 287–313,  
2018, doi: 10.1177/1086026617717456.  
[50] R. Steurer, M. E. Langer, A. Konrad, and A.  
Martinuzzi, Corporations, Stakeholders and  
[37] M. C. Branco and L. L. Rodrigues, Corporate  
Social Responsibility And Resource-Based  
Perspectives, J. Bus. Ethics, Vol. 69, No. 2, pp.  
111–132, 2006, doi: 10.1007/s10551-006-9071-z.  
[38] R. A. Litz, A Resource-Based-View of the Socially  
Responsible Firm: Stakeholder Interdependence,  
Ethical Awareness, and Issue Responsiveness as  
Strategic Assets, J. Bus. Ethics, Vol. 15, No. 12,  
pp. 1355–1363, 1996, doi: 10.1007/BF00411820.  
[39] P. Selznick, Foundations of the Theory of  
Organization, Am. Sociol. Rev., Vol. 13, No. 1, pp.  
25–35, 1948, doi: 10.1126/science.135.3503.554.  
[40] J. W. Meyer and B. Rowan, Institutionalized  
Organizations: Formal Structure as Myth and  
Sustainable Development I:  
A
Theoretical  
Exploration of Business-Society Relations, J. Bus.  
Ethics, Vol. 61, No. 3, pp. 263–281, 2005, doi:  
10.1007/s10551-005-7054-0.  
[51] J. L. Campbell, Why Would Corporations Behave  
in Socially Responsible Ways? An Institutional  
Theory of Corporate Social Responsibility, Acad.  
Manag. Rev., Vol. 32, No. 3, pp. 946–967, 2007,  
doi: 10.5465/AMR.2007.25275684.  
pdf 12 trang Thùy Anh 20500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp: Khái niệm và các phương diện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_xa_hoi_doanh_nghiep_khai_niem_va_cac_phuong_dien.pdf