Tín ngưỡng quan đế và miếu thờ quan đế ở Tân Châu, An Giang

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Trần Phú Huệ Quang  
TÍN NGƯỠNG QUAN ĐẾ VÀ  
MIẾU THỜ QUAN ĐẾ Ở TÂN CHÂU, AN GIANG  
THE CULT OF GUANDI AND  
THE GUANDI TEMPLE IN TAN CHAU TOWN, AN GIANG PROVINCE  
TRẦN PHÚ HUỆ QUANG  
TÓM TẮT: Tín ngưỡng Quan Đế là hiện tượng phổ biến nhiều nơi trên thế giới. Theo lộ trình di  
dân, những nơi người Hoa đặt chân đến đều có dấu tích của tín ngưỡng này. Thị xã Tân Châu,  
thuộc tỉnh An Giang, nơi cộng đồng người Hoa với số lượng chỉ khoảng gần 500 người, cũng  
không ngoại lệ, ngôi Quan Đế miếu nằm cạnh dòng sông Tiền luôn khói hương nghi ngút. Bài viết  
này tìm hiểu tín ngưỡng Quan Công, khảo sát trường hợp ngôi Quan Đế miếu ở Tân Châu về kiến  
trúc, thờ tự, nhằm góp phần vào hệ thống nghiên cứu tín ngưỡng Quan Công vùng Tây Nam Bộ nói  
riêng và Nam Bộ nói chung. Bổ sung tài liệu thực địa qua phương pháp tham dự quan sát phỏng  
vấn sâu, củng cố thêm nghiên cứu lý thuyết về tín ngưỡng Quan Công.  
Từ khóa: tín ngưỡng Quan Công; đặc điểm Quan Đế miếu; Quan Đế miếu Tân Châu.  
ABSTRACT: The cult of Guandi is a popular belief in the world. Following the Chinese  
immigration route, Guandi temples were built in various places. Tân Châu, a town in An Giang  
Province, is home to about 500 Chinese people. There is no doubt that this Guandi Temple on the  
banks of the Mekong River is always full of incense. This study takes the Guandi Temple in Tân  
Châu as an example, discusses the worship of Guandi from the perspective of architecture and  
worship, which directly contributes to the research on the worship of Guandi in the Mekong Delta  
area in academia. The research is conducted on the basis of combining field data through in-depth  
observation, interviews and theoretical analysis.  
Key words: the Guandi cult; the characteristics of Guandi temples; the Tân Châu Guandi temple.  
Trong đó số người theo Phật giáo có 49.972 người,  
theo Công giáo có 1.191, theo Tin Lành có 183,  
theo đạo Cao Đài có 7.419, theo đạo Hòa Hảo có  
45.344, theo Hồi giáo có 3.559, theo đạo Tứ Ân  
Hiếu Nghĩa có 643, theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương  
có 1.029, theo đạo khác hoặc không đạo là 31.780  
người [2]. Người Hoa ở Tân Châu phần lớn theo  
Phật giáo, tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên.  
Nhìn chung, đặc trưng tín ngưỡng đa thần, tin  
tưởng thờ cúng nhiều vị thần, Phật, Bồ Tát. Người  
Hoa trên địa bàn Tân Châu tập trung ở hai  
phường Long Thạnh (210 người) và Long Hưng  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tân Châu tọa lạc ở phía bắc tỉnh An Giang,  
xung quanh được bao bọc bởi sông Tiền và sông  
Hậu, trong đó sông Tiền giữ vai trò chính, hình  
thành nên cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân  
văn. Theo số liệu của Chi cục Thống kê năm 2019,  
Tân Châu có tổng số dân là 141.120 người.  
Thành phần tộc người chủ yếu gồm Kinh, Hoa,  
Khmer, Chăm. Trong đó, số lượng người Kinh  
là 137.097, người Hoa là 452, người Khmer là  
73, người Chăm là 3.489 và các dân tộc khác là 9.  
Tôn giáo tín ngưỡng ở Tân Châu khá đa dạng.  
 TS. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,  
[email protected], Mã số: TCKH27-16-2021  
107  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 27, Tháng 5 - 2021  
(156 người), số lượng còn lại phân bố rải rác [2].  
Chợ Tân Châu nằm trên địa bàn hai phường này.  
Người Hoa phân bố theo chợ, chủ yếu làm các  
nghề thương mại, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.  
Người Hoa ở Tân Châu gồm những nhóm  
ngôn ngữ Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến,  
Hẹ (người Triều Châu chiếm đa số). Phần lớn  
người Hoa ở đây là lớp người di dân muộn (từ  
Trung Quốc, một số từ Campuchia), khoảng từ  
thế kỷ XIX về sau, định cư ở Tân Châu đến nay  
khoảng 3-4 đời. Người Hoa gọi Tân Châu là  
Tân Quan (新關 xīn guān), một cách giải thích  
là “xưa kia, cửa khẩu hải quan đóng ở tại Tân  
Châu nên người Hoa gọi vậy”. Quả thật, Tân  
Châu có đường biên giới dài giáp với  
Campuchia, ngay từ sau khi lập “đạo Tân  
Châu” đã có cửa khẩu hải quan và giao thương  
qua lại tấp nập. Lý do người Hoa đến nay vẫn  
gọi địa danh này là Tân Quan còn cần phải  
kiểm chứng thêm, hứa hẹn nhiều điều thú vị có  
giá trị văn hóa lịch sử. “Các nhóm cộng đồng  
người Hoa không thể tồn tại và phát triển tách  
biệt với xã hội sở tại, vì ở họ vừa có yếu tố  
“Hoa”, lại vừa có yếu tố “sở tại” [1, tr.4]. Bằng  
phương pháp khảo sát thực địa, tham dự, quan  
sát, phỏng vấn sâu người thực hành tín ngưỡng,  
bài viết bước đầu ghi nhận tỉ mỉ, toàn diện về  
ngôi Quan Đế miếu Tân Châu; đồng thời, so  
sánh với tư liệu về tín ngưỡng Quan Công, so  
sánh với một số miếu ở vùng lân cận, tìm ra đặc  
trưng của tín ngưỡng, ghi nhận yếu tố “Hoa” và  
yếu tố “sở tại” hòa quyện như thế nào.  
Nguyên, Minh, đạt đến đỉnh cao vào đời Thanh.  
Ngày nay, tín ngưỡng Quan Công phổ biến  
nhiều nơi trên thế giới theo bước di dân của  
người Hoa. Tín ngưỡng này xuất phát từ sự  
sùng bái danh tướng Quan Vũ nhà Thục Hán.  
Theo Đinh Hiếu Minh [3], phân tích nhân tố  
của sự hình thành tín ngưỡng Quan Công gồm  
nhân tố bên trong là tố chất “trung, nghĩa, nhân,  
dũng” của con người Ông. Trong đó, phẩm chất  
“nghĩa” bao hàm tất cả trong nó: Trung nghĩa,  
chính nghĩa, hiệp nghĩa, tín nghĩa, nhân nghĩa,  
lễ nghĩa, nghĩa khí, nghĩa dũng, trượng nghĩa...  
Nhân tố bên ngoài là niềm tin vào thần linh, lấy  
đạo thần thánh giáo hóa con người. Cuối cùng,  
tư tưởng Tam giáo Nho - Phật - Đạo là chất xúc  
tác, thúc đẩy tín ngưỡng truyền bá rộng rãi.  
Ngoài ra, tín ngưỡng này còn hiện hữu nhiều  
yếu tố khác như thời đại, đặc trưng bản địa,  
phong tục địa phương... Tất cả góp phần làm cho  
tín ngưỡng Quan Công phổ biến như ngày nay.  
Qua các thời đại, Quan Vũ được phong  
nhiều danh hiệu: hầu, công, vương, đế, thánh,  
thần. Đời Tống được phong làm “Trung huệ công”  
忠惠公, “Sùng ninh chân quân” 崇宁真君,  
“Nghĩa dũng võ an vương” 义勇武安王. Đời  
Nguyên được phong là “Hiển linh nghĩa dũng võ  
an anh tế vương” 显灵义勇武安英济王. Thời  
Minh lần lượt được phong “Hiệp thiên đại đế”  
协天大帝, “Tam giới phục ma đại đế thần uy  
viễn chấn thiên tôn quan thánh đế quân” 三界  
伏魔 大帝神威 远震天尊关 圣帝君 , “chân  
nguyên hiển ứng chiêu minh dực hán thiên tôn”  
真元显应昭明翊汉天尊. Đời Thanh, tiếp tục  
được phong “Trung nghĩa thần võ linh hộ nhân  
dũng quan thánh đế quân” 忠义神武灵佑仁勇关  
2. NỘI DUNG  
2.1. Tín ngưỡng Quan Công và tín ngưỡng  
Quan Công ở Nam Bộ  
Tín ngưỡng Quan Công trong văn hóa truyền  
thống, là hiện tượng tín ngưỡng đáng chú ý  
trong cuộc sống người Hoa đương đại. Đây là  
kết quả của ý thức văn hóa truyền thống và nhu  
cầu tín ngưỡng của dân chúng đương đại. Tín  
ngưỡng Quan Công xuất hiện ở Trung Quốc từ  
thời Tùy, Đường, phát triển vào thời Tống,  
圣帝君, “uy hiển” 威显, “hộ quốc” 护国, “bảo dân”  
保民, “tinh thành” 精诚, “tuy tĩnh” 绥靖, “dực tán”  
翊赞. Lần sau cùng, gom lại tất cả danh phong  
108  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Trần Phú Huệ Quang  
tổng cộng đến 26 chữ “Trung nghĩa thần võ  
linh hộ nhân dũng hiển uy hộ quốc bảo dân tinh  
thành tuy tĩnh dực tán tuyên đức quan thánh đế  
Công làm gương “hơn mười năm thân không  
rời áo giáp, đao Thanh Long, rướm máu chẳng  
lau chùi...”. Chương năm Tiết huấn dạy “bậc  
trung lương hết lòng ra phò vua giúp nước,  
lòng hiếu thuận không thay đổi, tính thanh liêm  
không loạn tâm điền, tiết nghĩa trong lúc lâm  
nguy vẫn không bại”, về lễ quân thần “Quân  
vương lấy lễ sai khiến bầy tôi, bầy tôi lấy chữ  
trung thờ vua”. Dấu ấn của Phật gia thể hiện  
nội dung Đào Viên Minh Thánh kinh nhiều lần  
nhắc đến chuyện luân hồi của các anh hùng;  
lòng từ bi “nhất thiết cầm thú đều có sinh mệnh,  
chớ nên vô cớ, chỉ vì ngon miệng mà giết hại  
sinh linh. Các loài hóa sinh cũng cần sống, sao  
lại giương cung giăng lưới tìm. Nếu sinh lòng  
thương tiếc vạn vật, tự nhiên phúc đến họa  
tránh xa”; nhắc đến làm việc thiện “Chớ cho  
rằng việc ác nhỏ mà lại hành theo; nghe lời Đế  
Quân làm việc thiện, ác có mây lành dưới chân  
bay”; nhắc đến nhân quả báo ứng “báo ứng  
chậm nhanh thời chưa đến, họa phúc sớm muộn  
cũng giáng lâm”. Dấu ấn của Đạo gia rõ nét với  
quân” 忠义神武灵佑仁勇显威护国保民精诚  
绥靖翊赞宣德关圣帝君 [3].  
Tín ngưỡng Quan Công dung hợp cả Nho -  
Phật - Đạo. Nho giáo tôn sùng Ông thuộc sao  
“văn xương” (chòm sao Văn Xương Đế Quân,  
vị thần coi về văn chương chữ nghĩa), tôn làm  
Quan phu tử, Võ thánh nhân, Văn hoành đế  
quân, Quan thánh đế quân; Đạo giáo tôn sùng  
Ông là Tam giới phục ma đại đế, Sùng ninh  
chân quân, Hiệp thiên đại đế, Dực Hán thiên  
tôn; Trong Phật giáo, Ông là thần hộ pháp, tôn  
xưng là Già lam bồ tát, Hộ quốc minh vương.  
Nói về Ông, có câu: “Nho xưng Thánh, Thích  
xưng Phật, Đạo xưng Thiên Tôn”. Nho gia gọi  
là Thánh nhân, Phật giáo xem là thần hộ pháp,  
Đạo giáo tôn làm Đế Quân. Tam giáo đều cùng  
thượng tôn “trung nghĩa thành tín nhân dũng  
liêm trực”.  
Quyển kinh Đào Viên Minh Thánh Kinh [8] sự xuất hiện rất nhiều vị thần của Đạo giáo.  
dùng để tụng niệm, theo nghĩa lý trong kinh mà  
thực hành. Khảo sát quyển kinh này, thấy rõ sự  
dung hợp Nho - Phật - Đạo. Đầu tiên là yếu tố  
chùa Phật: “Đức Quan Thánh Đế Quân thác  
mộng cho vị tăng của chùa Ngọc Tuyền và vị sư  
này chép lại”; Yếu tố Nho và Đạo: “đời Thanh,  
đức Chu Hy phụng sắc chỉ của Thượng đế, căn  
cứ vào chân bản của chùa Ngọc Tuyền, và  
khảo chứng bản văn trong quyển Tam thiên trứ  
kinh lục mà san định lại kinh văn. Trong ngày  
hội của một chùa ở Quý Châu, Ngài giáng cơ  
sao lại quyển kinh”. Về nội dung, Kinh có sáu  
chương, mang dấu ấn của Nho gia về dạy đạo  
làm người, dạy các đức hiếu đễ trung tín lễ  
nghĩa liêm sĩ, tinh thần ra làm quan dấn thân  
giúp đời giúp nước. Chương hai Nguyên thủy  
viết “Hiếu đễ trung tín là căn bản, lễ nghĩa liêm  
sĩ là cội nguồn”. Chương ba Lực học khuyên  
“làm người phải lấy trung hiếu làm đầu, tu thân  
làm gốc”, lấy hình ảnh phụng sự đời của Quan  
Do tố chất trung nghĩa nhân dũng thành tín  
của Quan Công, hàng loạt các đối tượng, các  
ngành nghề khác nhau tôn sùng theo nhiều cách,  
phụ thuộc vào nhu cầu thực tiễn. Thống kê từ  
Đinh Hiếu Minh [3] về các thành phần tín  
ngưỡng Quan Công hầu như bao trùm cả xã hội.  
Nhà thống trị tôn Ông là “trung nghĩa chi thần”,  
“chiến thần”, “thống nhất chi thần”, dựa vào tín  
ngưỡng thu phục hào kiệt trong dân chúng,  
hoặc lợi dụng để thu phục các địa phương. Do  
dũng mãnh đứng đầu ba quân, giữ chữ nghĩa  
không phụ lòng người; Giới quân nhân tôn Ông  
là “Võ Thánh nhân” 武圣人, đồng thời tin Ông  
có thể độ mạng trên chiến trường. Bởi đặc tính  
hành hiệp trượng nghĩa, lấy nghĩa kết bằng hữu,  
giới bang hội, bang phái giang hồ tôn Ông là “thần  
kết nghĩa”, “thần võ dũng”, gọi Ông là “Quan Nhị  
Ca” 关二哥, “Quan Lão Gia” 关老爷, nhằm xây  
dựng, theo đuổi đạo nghĩa giang hồ, anh hùng  
109  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 27, Tháng 5 - 2021  
khí phách, không sợ cái chết, họa phúc cùng  
hưởng, sống chết có nhau. Ông không chỉ được  
biết đến là hình ảnh một quan võ (Quan Công  
là Võ thánh, Khổng Tử là Văn thánh), mà sau  
đó còn mang cả hình ảnh quan văn, đọc sách  
thánh hiền, tu thân lập chí, trong Minh Thánh  
kinh [8] nói “Đế Quân vốn thích duyệt lãm  
Xuân Thu, thời nhỏ đọc sách Khổng Mạnh”  
(chương ba Lực học). Hình ảnh Ông cầm quyển  
Xuân Thu và tính cách lo chuyện đại nghĩa, nên  
giới nhân văn sĩ tử trí thức tôn Ông là “Quan  
phu tử”, phụng thờ làm Văn giáo thần, mượn  
tín ngưỡng để hoằng dương, trong mưu cầu tiến  
thân, cũng không quên cầu xin công danh sự  
nghiệp, lợi lộc. Với đức tính trọng nghĩa khinh  
tài, giữ chữ tín, giới thương nhân buôn bán,  
giới làm nghề thủ công nghiệp tôn Ông là thần  
nghề nghiệp, thần tài, thần bảo hộ. Tinh thần  
“trung nghĩa” ngày càng được giới kinh doanh  
xem trọng, “trung” thì có trách nhiệm và thành  
tín, “nghĩa” thì liêm tiết, nghĩa khí, công bằng,  
công chính, công đạo, tín nghĩa, tin dùng. Đồng  
thời, giới kinh doanh buôn bán dân gian đã từ  
lâu xem Quan Công là thần tài, cầu xin làm ăn  
phát đạt, cầu xin tiền tài. Nông dân thì tôn Ông  
làm “thần thiện”, “thần chính nghĩa”, cầu xin  
tai qua nạn khỏi, cầu mưa, hàng yêu phục ma,  
chủ trì công đạo.  
được phong bên trên, thấy rằng từ đời Nguyên  
về trước, ý nghĩa trung nghĩa, võ dũng nổi bật,  
đến đời Minh, Thanh ý nghĩa bảo hộ và mang  
lại tài lộc nổi bật hơn.  
Người Hoa bắt đầu di dân đến vùng đất  
Nam Bộ từ thế kỷ XVII, lúc đó ở Trung Quốc  
là thời Thanh (1636 - 1912), các đợt di dân kéo  
dài tới giữa thế kỷ XX. Nhiều tài liệu ghi chép  
các cuộc di dân lớn, như cuộc di dân của đoàn  
người Mạc Cửu vào năm 1671 đến vùng đất  
nay là Hà Tiên; đoàn người theo tướng Trần  
Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch vào năm  
1679, đầu tiên đến Đà Nẵng, sau đó tách làm  
hai nhánh định cư ở Biên Hòa (Đồng Nai) và  
Mỹ Tho (Tiền Giang); Sau đó, nhiều nơi khác  
có người Hoa sinh sống, như năm 1698 thành  
lập xã Minh Hương ở Chợ Lớn (Sài Gòn);  
ngoài ra còn có những nhóm người Hoa di dân  
gắn với các sự kiện như cách mạng Tân Hợi  
1911... nhiều đợt di dân khác theo nhu cầu tìm  
vùng đất mới sinh sống, đoàn tụ gia đình... Như  
vậy, hành trang mang theo cuộc hành trình, là  
cội nguồn văn hóa Trung Hoa, là văn hóa thời  
Minh, Thanh.  
Khi người Hoa đặt chân đến Nam Bộ, tín  
ngưỡng Quan Công cũng xuất hiện ở Nam Bộ  
như một điều tất yếu, một phần gắn với ý thức  
hồi tưởng giữ gìn văn hóa, phần khác là do nhu  
cầu thực tiễn của chuyến di dân, trước sự nguy  
hiểm ngàn trùng vượt biển, trước mưu kế sinh  
nhai ở vùng đất lạ, cần có chỗ dựa về mặt tinh  
thần, Quan Công là vị thần được lựa chọn chắc  
chắn nhất, đáp ứng được nhu cầu tâm linh, khi  
mà lòng tin tưởng, thành tâm cầu khấn và cảm  
nhận sự linh ứng tương thông nhau. Thời gian  
di dân của người Hoa đến Nam Bộ cho thấy, tín  
ngưỡng Quan Công ở Nam Bộ ảnh hưởng bởi  
tín ngưỡng Quan Công thời Minh, Thanh. Hơn  
nữa, tín ngưỡng Quan Công vào Việt Nam từ  
trước thế kỷ XVII, tức bên Trung Quốc là từ  
trước Minh Thanh, lúc này chưa có vùng Nam  
Bộ. Từ sau thế kỷ XVII, giao lưu văn hóa trong  
quá trình cộng cư ở Nam Bộ càng dễ dàng làm cho  
Như vậy, ý nghĩa nội hàm của tín ngưỡng  
Quan Công thật phong phú, niềm tin về khả  
năng của Quan Công là đa dạng. Chiều hướng  
phát triển là mở rộng dần lĩnh vực và chức  
năng. Ngày nay, tín ngưỡng Quan Công có tầm  
ảnh hưởng phổ quát đến hầu hết các thành phần  
trong xã hội và chức năng chủ yếu là thần  
chính nghĩa, thần bảo hộ, thần độ mạng và thần  
tài. Những nội dung cầu nguyện phổ quát hầu  
hết mọi mong cầu trong cuộc sống, như cầu tài  
lộc, cầu như ý, cứu nạn, cầu sức khỏe, trị bệnh,  
trừ tà, cầu mưa thuận gió hòa, được mùa, cầu  
đỗ đạc trong thi cử, phát triển công danh sự  
nghiệp... Chức năng bảo hộ rộng khắp, như hộ  
pháp, hộ quốc, hộ dân. Khảo sát danh hiệu  
110  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Trần Phú Huệ Quang  
tín ngưỡng Quan Công không còn là tín ngưỡng  
của riêng người Hoa nữa, người Việt cũng thành  
kính, tin thờ. Hình ảnh thờ Quan Công xuất hiện  
trong nhà, trong chùa Phật của người Việt, trong  
những tín ngưỡng tôn giáo ra đời ở Việt Nam (Bửu  
sơn kỳ hương, tứ ân hiếu nghĩa…).  
Hình 2. Dấu tích thời gian trên tấm biển  
2.2. Đặc điểm ngôi Quan Đế miếu (chùa Ông)  
ở Tân Châu, An Giang  
Nguồn: tác giả  
Khảo sát chùa Ông về kiến trúc, trang trí có  
“Miếu” 廟 từ điển Từ Hải giải thích là nơi  
thờ phụng tổ tông, Thần Phật, hoặc hiền triết  
đời trước, như Tông miếu, thổ địa miếu, Khổng  
miếu, Quan Đế miếu [4, tr.960]. Ở Việt Nam,  
miếu là nơi thờ quỷ thần, đối tượng thờ đa  
dạng, lớn nhỏ khác nhau… Miếu nhỏ còn gọi là  
miễu. “Chùa” là nơi thờ Phật, nhưng như thói  
quen dân gian, “ở Nam Bộ hễ thấy nơi nào có  
sân rộng, mái ngói cong cong, thờ bất cứ ai, có  
nhang khói thì cứ gọi là chùa” [9, tr.237]. Nơi  
thờ Quan Đế, Bảo Sanh Đại Đế, Bà chúa xứ,  
chính danh ghi trên cổng là “miếu”, thông  
thường dân gian gọi là chùa: “chùa Ông”,  
“chùa Bà”. Ở Tân Châu, cư dân cũng gọi Quan  
Đế miếu là “chùa Ông”.  
ba đặc điểm: Về phương thức xây dựng là tạo  
dựng mới hoàn toàn, đồng thời giữ mô hình  
cũng như giá trị tinh thần xưa; Phong cách kiến  
trúc và trang trí thể hiện sự dung hợp văn hóa  
Hoa - Việt; Mang tính khang trang, nhưng đơn  
giản, mộc mạc, dân dã đảm bảo một số yếu tố  
căn bản của đặc trưng ngôi chùa Ông của người  
Hoa nói chung về kiểu dáng, cột liễn, màu sắc,  
bày trí, không chú trọng phương diện đầu tư  
cầu kỳ. Ngôi chùa được xây cách tân, phù hợp  
với hiện đại, không còn giếng trời, một không  
gian chánh điện, với phương thức không giữ  
hiện trạng xưa nhưng giữ mô hình xưa. Các cột  
kèo kết hợp với thiết kế mái khi vút cao khi hạ  
thấp tạo cảm giác có nhiều tầng điện sâu vào  
bên trong. Bước vào cửa, một chiếc lư hương to  
đặt giữa chùa, đây là mô hình tiền điện của  
chùa Ông nói chung. Trên lư hương khắc ba  
chữ “Hiệp thiên cung”, năm 1910. Bên trái là  
bàn hương án thờ “Mã thần tướng quân”, bên  
cạnh là người giữ ngựa và “ngựa Xích Thố”  
sơn đỏ đứng trên thảm cỏ. Sau lư hương là  
khoảng trống rộng, mái phía trên thiết kế cao  
hơn thành vòm sâu, đây chính là mô hình giếng  
trời. Hai bên là hai cửa mở ra hành lang, tượng  
trưng cho Tây sương và Đông sương. Không  
gian không đủ rộng để có bức bình phong, ngăn  
tầm nhìn vào chánh điện như các chùa Ông  
khác, qua lư hương là có thể nhìn thẳng vào  
điện thờ chính. Cũng ngay khoảng trống này,  
hai bên đặt bộ binh khí (bát bửu) thể hiện uy  
vũ, phía trên treo nhiều vòng nhang bình an.  
Tiến sâu vào bên trong, nền cao hơn một bậc  
phân biệt chánh điện với không gian ngoài.  
Chùa Ông đầu tiên xuất hiện cùng với sự  
hình thành cộng đồng người Hoa ở Tân Châu  
nhưng chưa rõ năm nào. Tuy nhiên, khảo sát các  
câu liễn, bức họa, bảng chữ, cột… trong chùa  
hiện nay, dấu tích năm tháng xưa nhất còn sót lại  
trên một tấm biển là năm 1878. Có thể ngôi chùa  
đầu tiên được xây dựng trong khoảng thời gian  
mà cộng đồng người Hoa có mặt ở Tân Châu  
vào khoảng thế kỷ XIX. Do Tân Châu nhiều lần  
sạt lở đất, phần đất khu chợ rộng lớn xưa kia nay  
đã thành sông. Chùa Ông xây mới hoàn toàn vào  
năm 2017, nằm đối diện với sông Tiền.  
Hình 1. Quan Đế miếu Tân Châu  
Nguồn: tác giả  
111  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 27, Tháng 5 - 2021  
Như vậy, cách thiết kết vẫn gợi kiểu kết cấu theo  
mô hình đặc trưng chung của một chùa Ông, có  
tiền điện, giếng trời, nhà hương, chính điện.  
Về nghệ thuật trang trí, bốn cột phía ngoài  
cửa treo bốn bức hoành phi màu đen, chữ vàng.  
Bên trong cửa, bốn cột vuông màu vàng treo  
hoành phi màu đỏ chữ vàng, tiếp theo là hai cặp  
cột tròn đỏ, một cặp khắc câu đối chữ vàng,  
một cặp đắp nổi hai con rồng điểm sắc xanh  
quấn quanh cột, gọi là “long trụ”. Trên các kèo  
nằm ngang, đặt tấm biển màu đen chữ vàng.  
Hai bên vách là các bức họa nội dung kể về  
cuộc đời của Quan Vũ. Trong số vật linh xuất  
hiện ở đình, miếu Nam Bộ như long lân, quy,  
phụng, hổ, cá… nơi đây có long, lân và cá.  
Trong miếu trang trí tương đối đơn giản, các  
cánh cửa, vòm cửa, kèo cột, cho đến mái bên  
ngoài không chạm trổ. Mái ngói hơi cong, hoa  
văn hình sóng nước, nhìn tổng thể dễ nhận ra là  
hình ảnh con thuyền và sóng nước, đặc trưng  
chung của kiến trúc đình, miếu Việt Nam. Tuy  
chùa xây mới, với chất liệu chính là bê tông, cốt  
thép, hệ thống mái vẫn theo nguyên tắc truyền  
thống gọi là “trùng thiềm điệp ốc” gồm nhiều  
lớp chồng lên nhau, hiệu ứng màu sắc làm ngôi  
chùa vẫn mang nét xưa với mái ngói lợp kiểu âm  
dương. Trên nóc mái cổng là lưỡng long tranh  
châu. Do điều kiện diện tích hiện tại, chùa không  
còn sân rộng như xưa, trước cổng có hai cặp kỳ  
lân bằng đá trắng uy nghi chầu đối xứng nhau.  
Nhìn tổng thể, ngôi chùa có đủ năm màu theo  
ngũ hành (vàng, đỏ, xanh, trắng, đen), trong đó,  
màu chủ đạo là hai màu đỏ và vàng, là màu của  
tươi sáng, may mắn, tốt lành, hạnh phúc.  
Hình 4. Khu vực tiền - trung điện treo vòng hương  
Nguồn: tác giả  
Các bức hoành phi trên cột được làm mới  
hoàn toàn, nhưng vẫn giữ nguyên tinh thần xưa  
bởi nội dung các câu được sao chép từ chùa cũ.  
Tổng cộng, chùa có 30 bức hoành phi, nội dung  
ca ngợi tính cách, công lao, dung mạo… của  
Quan Đế. Qua các câu liễn cho thấy đức độ  
chánh khí, nghĩa khí, chánh trực, lòng sắc son  
trung nghĩa, ca ngợi sự linh thiêng, anh linh,  
hiển linh, khí phách… của Ông được sánh với  
nhật nguyệt, trời đất, núi sông, tinh tú.  
Sơ đồ 1. Sơ đồ bức hoành phi trên các cột  
Nguồn: tác giả  
Sơ đồ 2. Sơ đồ bàn thờ  
Nguồn: tác giả  
Hình 3. Chánh điện chùa Ông  
Nguồn: tác giả  
112  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Bảng 1. Chú thích Sơ đồ 1  
Trần Phú Huệ Quang  
STT  
Chữ Hán  
Âm Hán Việt  
Dịch nghĩa  
1
志在春秋功在漢  
Chí tại Xuân Thu công tại Hán;  
Chí ở Xuân Thu công tại Hán  
Trung đồng nhật nguyệt nghĩa  
đồng thiên.  
2
3
忠同日月義同天  
Trung cùng năm tháng nghĩa tợ trời.  
Lưỡng đạo ngọa tàm mi tỏa trụ Hai nét mày ngài giữ chặt giang sơn xã tắc  
Hán gia xã tắc; triều Hán  
Nhất song đan phụng nhãn Một đôi mắt phượng nhìn thấu gian tà  
khám phá Tào thị gian manh. phản tặc họ Tào.  
Phục Ngô Ngụy dĩ hưng Lưu cảnh Đánh Ngô Ngụy lập triều Lưu một tấc  
cảnh tâm đan chiêu nhật nguyệt; lòng son sáng ngời như nhật nguyệt  
Phong hầu vương nhi chí đế nguy Phong hầu vương nên chí đế cả bầu nghĩa  
nguy nghĩa khí phối càn khôn. khí cao ngất tợ càn khôn  
Nghĩa đảm trung can kết bái Nghĩa đảm lòng trung huynh đệ kết bái  
tương tùng huynh cập đệ; theo cùng  
Đơn đao thất mã hoa di cộng Một ngựa múa đao xưa nay trong ngoài  
ngưỡng cổ do kim. thờ kính  
Bỉnh chúc khởi tị hiềm tích nhật Quan Vũ cầm đuốc tránh ngờ há chẳng  
tâm trung duy hữu Hán; ngày ấy lòng người chỉ thờ vua Hán  
Hoa dung phi báo đức đương Hoa Dung không buồn báo đức phải chăng  
thời mục hạ dĩ vô Tào. thuở nọ đạo trời đã ghét lũ Tào  
Thiên địa gián nhật tinh hà nhạc Trong đất trời tinh tú núi sông còn giữ  
chánh khí. lòng chánh trực  
Bằng hữu nội quân thần huynh Giữa tình người vua tôi huynh đệ phải nên  
đệ đại luân. nếp cương thường  
Đức sùng ngôn chánh bỉnh chú Đức cả lời ngay giữ vững một đời công  
nhân sinh công danh phúc thọ; danh phúc thọ  
Anh văn hùng vũ tinh trung đại Văn tài võ giỏi dốc lòng trung nghĩa khí  
nghĩa cao tiết thanh liêm. tiết thanh liêm  
Phong khố ấn huyền lương tước Phong tước ban lộc thảy đều khước từ  
两道卧蠶眉鎖住漢家社稷  
一雙丹鳳眼勘破曹氏奸瞞  
伏吴魏以興劉耿耿丹心昭日月  
封侯王而至帝巍巍義氣配乾坤  
義胆忠肝結拜相從兄及弟  
單刀匹馬華夷共仰古猶今  
秉燭豈避嫌昔日心中惟有漢;  
華容非報德當時目下己無曹。  
天地間日星河嶽正氣;  
朋友内君臣兄弟大倫。  
德崇言正秉注人生功名福夀;  
英文雄武精忠大義高節清廉。  
封庫印懸樑爵祿辭不受;  
俾知木有所本水有所源。  
4
5
6
7
8
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
lộc từ bất thọ  
không nhận  
Tỉ tri mộc hữu sở bổn thủy hữu  
sở nguyên.  
Để biết cây có cội rễ nước có nguồn cơn  
帝本天樞第一星  
臨凡欲使萬方寜  
勿謂善小而不做  
勿謂惡少而可行。  
萬物悉含天地造化依時生  
長與人靈  
Đế bổn thiên xu đệnhất tinh  
Thần vốn Thiên xu đệ nhất tinh  
17  
18  
19  
20  
Lâm phàm dục sử vạn phương ninh Xuống phàm vì để giúp khương ninh  
Vật vị thiện tiểu nhi bất tố,  
Vật vị ác thiểu nhi khả hành.  
Chớ bảo việc lành ít không tạo  
Đừng cho ác nhỏ chẳng hại mình  
Vạn vật tất hàm thiên địa tạo hóa Vạn vật hàm chứa đất trời tạo hóa theo  
y thời sinh trưởng dữ nhân linh thời sinh trưởng cùng linh tánh  
敬如在敬神須誠敬正直為  
神古至今。  
Kính như tại kính thần tu thành Kính như đối trước thánh thần xưa nay  
kính chính trực vi thần cổ chí kim. thành kính chính trực mới hóa thần  
Ninh tĩnh dĩ trí viễn đạm bạc dĩ Nơi tịch mịch nuôi chí lớn nếp đạm bạc  
21  
22  
寧靜以致遠淡泊以明志  
面赤心尤赤鬚長義更長  
minh chí  
giữ thanh cao  
Diện xích tâm vưu xích tu Mặt vốn đỏ lòng càng son râu đã dài nghĩa  
trường nghĩa cánh trường.  
thêm lớn  
113  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 27, Tháng 5 - 2021  
Thiên võng khôi khôi phân  
天網恢恢分曲直神靈赫赫  
定分明  
Lưới trời lồng lộng phán xét ngay gian  
thần thánh định đoạt rõ ràng  
23  
24  
khúc trực thần linh hách hách  
định phân minh  
形容雖去神猶存留得精英  
震百靈。  
Hình dung tuy khứ thần do tồn Hình dung tuy khuất khí phách hãy còn  
lưu đắc tinh anh chấn bách linh. anh linh chấn hưng trăm họ  
Sự tại nhân vi bất vi giả tắc diệc Thành bại ở người, người không cố gắng  
25  
26  
27  
28  
29  
30  
事在人為不為者則易赤難矣。  
事在人為不為者則易赤難矣  
關被生民神靈赫弈施呵護  
新迎紫氣帝關崔嶽具仰瞻。  
威德配山川千秋香煙盛  
靈通同天地顯祐保全民。  
xích nan hỹ.  
Sự tại nhân vi bất vi giả tắc diệc Thành bại ở người, người không cố gắng  
xích nan hỹ việc dễ cũng thành khó  
Quan bị sinh dân thần linh hách Che chở muôn dân thần thánh hiển linh  
dịch thi ha hộ đồng gia hộ  
Tân nghinh tử khí đế quan thôi Đón nghênh điềm tốt Đế quan cao vợi  
việc dễ cũng thành khó  
nhạc cụ ngưỡng chiêm.  
Oai đức phối sơn xuyên thiên  
thu hương yên thịnh;  
luôn kính thờ  
Oai đức tợ núi sông thiên thu dâng hương khói  
Linh thông đồng thiên địa hiển  
hộ bảo toàn dân.  
Anh linh như trời đất ngàn đời giúp muôn dân  
31  
32  
33  
34  
35  
36  
37  
38  
39  
正氣  
Chánh khí  
Chánh khí  
福德正神  
天后聖母  
協天宮  
Phúc đức chánh thần  
Thiên Hậu Thánh Mẫu  
Hiệp Thiên Cung  
Trung Nghĩa Đường  
Hộ ngã khang ninh  
Hạo khí trường tồn  
Lí hiểm như di  
Phúc Đức Chánh Thần  
Thiên Hậu Thánh Mẫu  
Hiệp Thiên Cung  
忠義堂  
Trung Nghĩa Đường  
祐我康寧  
浩氣長存  
履險如夷  
漢壽亭侯  
Bảo hộ được khang ninh  
Khí phách hiên ngang tồn tại đời đời  
Vượt nguy hiểm, không ngại khó khăn  
(tước vị của Quan Vũ)  
Hán Thọ Đình Hầu  
Nguồn: tác giả  
bên trái là tướng Châu Xương tay cầm thanh long  
đao, lưỡi đao hướng ra, cũng là thuận theo  
chiều của dòng chảy sông Tiền; bên phải là  
nghĩa tử Quan Bình, tay cầm Hán Thọ Đình  
Hầu ấn chương. Trên bàn thờ giữa chánh điện  
còn đặt bộ lư, đôi hạc và chiếc ấn được bọc kỹ  
trong vải đỏ, gói gọn trong cái ngai nhỏ. Ngoài  
cùng là bàn Hội đồng. Thành phần phối thờ  
gồm: Chánh điện, gian tả thờ Phúc Đức chánh  
thần, gian hữu thờ Thiên Hậu thánh mẫu. Khu  
vực nền cao chánh điện, hai vách trái, phải đặt  
bàn thờ Tiền Hiền và Hậu Hiền. Tiền điện chỉ  
có bàn thờ Mã thần tướng quân. Ở cổng rào bên  
phải có miếu thờ Thổ Địa, Thần Tài…  
2.3. Đặc điểm thờ tự  
Khu vực chánh điện trang nghiêm gồm 3  
gian: Gian giữa, tượng Ông ngự uy nghi trên  
ngai, một tay vuốt râu, một tay đặt hờ trên  
người. Hình tượng Quan Đế gần như chuẩn  
hóa, mỗi chi tiết trở thành “biểu tượng” và có ý  
nghĩa riêng. Sắc mặt đỏ, biểu thị khí chất cương  
nghị, anh dũng, trung thành; Râu năm chòm dài  
đến ngực mang vẻ uy nghiêm, chánh trực; Ngồi  
trên ngai đưa tay vuốt râu trong tư thế của một  
quan văn; chân mày đậm xếch cao, tư chất của  
một võ tướng; Đầu đội mão gắn kim hoa, thân  
mặc áo giáp bên trong, triều phục áo bào bên  
ngoài, toát vẻ cao quý, uy nghiêm. Hình tượng  
này mang cả chất văn lẫn võ. Đứng hầu hai bên,  
114  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Trần Phú Huệ Quang  
Tín ngưỡng Quan Đế hiển hiện ngay đặc  
điểm “tính dung hợp”. Nhìn từ phương diện  
một con người lịch sử, trong dân gian Ông là  
hình ảnh dung hợp cả đức lẫn tài, chuẩn mực lễ  
giáo đạo đức có bao nhiêu chữ gần như đều tập  
trung nơi Ông: trung, nghĩa, thành, tín, nhân,  
dũng, liêm, trực… văn võ song toàn. Ông là hình  
ảnh dung hợp Nho - Phật - Đạo, vừa là thánh  
thần, thiên tôn, hộ pháp, tam giáo đều tôn sùng.  
Ông là hình ảnh của một vị thần “toàn năng”  
(bảo hộ, ban bố, báo thiên cơ). Nơi cơ sở thờ tự  
Ông cũng thể hiện rõ tính chất dung hợp Nho -  
Phật - Đạo, dung hợp yếu tố ngoại sinh và bản  
địa, dung hợp cộng đồng dân cư trong vùng…  
Tín ngưỡng Quan Đế trong cộng đồng người  
Hoa và người Việt ở Tân Châu cũng thể hiện  
tính chất này. Người nơi đây không xa lạ về khí  
chất, tiết tháo, phẩm hạnh, tài năng, về câu  
chuyện Ông hiển thánh, hiển thần… Yếu tố  
Phật giáo thể hiện như thế nào? Khi chúng tôi  
đem bánh bao mặn đến dâng cúng Ông, người  
trong Ban hội cho biết, cúng bánh bao cho chư  
thần, còn Ông ăn chay và được giải thích cặn  
kẽ rằng “Ông là Hộ Pháp, là Bồ Tát rồi”. Thức  
ăn dâng cúng các bàn thờ mỗi sáng là xôi ngọt.  
Âm thanh thường nghe nơi đây là bài chú Đại  
Bi, hoặc câu thần chú của Mật tông “Om mani  
padme hum”.  
cầm nguyên bảo (thỏi vàng), một tay cầm cây  
long trượng, vẻ mặt như cười hớn hở. Trên  
tượng có ghi bốn chữ “bảo hộ bình an”. Tài liệu  
Trung Quốc đều ghi chép, Phước Đức Chánh  
Thần là thần Thổ địa, gọi là Thổ địa công, Xã  
thần, thờ phổ biến ở vùng Hoa Nam, ngày vía  
là mùng 2 tháng 2. Với người dân địa phương  
rất trực quan, không quan tâm Ông ở đâu, là gì,  
tên Ông là Phước Đức, tay cầm thỏi vàng, chắc  
chắn Ông là vị thần bảo hộ, có thể ban phước  
đức, tài lộc.  
Thờ Tiền Hiền - Hậu Hiền là tín ngưỡng  
bản địa, đây là tục thờ những lớp người khai  
hoang mở cõi đất Nam Bộ. Nhà nghiên cứu văn  
hóa Sơn Nam viết: Tiền hiền, hậu hiền là những  
người quy dân, lập làng và xây dựng công trình  
đặc biệt trong làng [9, tr.103]. Có câu “Tiền  
Hiền khai khẩn, Hậu Hiền khai cơ”. Người dân  
Nam Bộ không lập miếu riêng thờ Tiền Hiền,  
Hậu Hiền, họ được phối thờ trong hầu hết các  
đình làng để ghi nhớ công ơn. Chùa Ông ở Tân  
Châu cũng lập bàn thờ khói hương nghi ngút,  
một là tôn trọng thần địa phương, hai là thể  
hiện lòng nhớ ơn lớp người mở đất. Xét về  
chuỗi dài lịch sử, đây là vùng đất mới đối với  
cả cư dân Việt, Hoa. Tuy nhiên, không phải chùa  
Ông nào cũng lập bàn thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền,  
khảo sát vài chùa Ông ở Châu Đốc, Châu Phú,  
Cần Thơ không có lập bàn thờ này. Trong miếu  
nhỏ ở cổng rào bên phải thờ Thổ Địa, Thần Tài.  
Đặc biệt, miếu có thờ Ông Tà (Neakta), xuất phát  
từ tín ngưỡng của người Khmer.  
Thiên Hậu Thánh Mẫu được phối thờ  
trong chùa là vị thần của Đạo giáo, xuất phát từ  
vùng Phúc Kiến (Trung Quốc), hiển thánh và  
được sắc phong vào thời Tống. Cũng như Quan  
Đế, bà Thiên Hậu được thờ khắp nơi theo bước  
di dân của người Hoa. Bà vốn được tin là vị  
thần phù hộ cho người đi biển, người xa xứ.  
“Bà Thiên Hậu trong dân gian là một vị thần  
biển, thần ban phát phúc lành, nữ thần bảo trợ  
sinh sôi nảy nở và một vị thần tài” [5]. Bà ngồi  
trên ngai, uy nghi đoan trang, tay cầm phất  
trần, đầu đội mão có gắn hạt tròn, gợi hình ảnh  
xâu chuỗi (Phật giáo).  
Cư dân cảm nhận sự linh thiêng nơi ngôi  
chùa này không chỉ ở những tượng thần uy nghi  
hay bài vị trước mặt, mắt thấy tay sờ được, mà còn  
cảm nhận sự tồn tại vô hình của “chư thần” khác,  
có thể đó là binh tướng của Ông và các anh linh  
khác. Đồ ăn mặn dâng cúng là dâng cho chư thần.  
Trong chùa cũng xuất hiện một số bàn thờ chung,  
như ở giữa sân trước cửa chùa có một lư hương to,  
vào các dịp lễ, tết, một bàn hương án được lập ở  
đây, có đầy đủ lễ (trái cây, bánh, trà nước, hương  
khói…), bàn này gọi là “vạn ban ngũ hành”.  
Phước Đức Chánh Thần trong hình dạng  
một ông lão râu bạc phơ dài tới bụng, một tay  
115  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 27, Tháng 5 - 2021  
BànthờPhướcĐứcChánhThần  
BànthờThiênHậuThánhMẫu  
Bàn thờ Tiền Hiền  
Bàn thờ Hậu Hiền  
Hình 5. Các bàn thờ trong chùa Ông  
Ngôi chùa cho thấy sự dung hợp của cộng  
đồng cư dân trong vùng, trở thành một địa điểm  
tâm linh quan trọng của cả địa phương. Các  
cộng đồng dân tộc trong vùng cùng chia sẻ  
không gian linh thiêng cho nguyện cầu và vui  
cùng lễ hội nơi này. Tính dung hợp cũng thể  
hiện sự đa dạng, sự hòa quyện, sự trộn lẫn rất  
vô tư cũng rất tinh tế của dân gian. Nho - Phật -  
Đạo đi vào dân gian một cách hòa hợp, tự  
nhiên, không gượng gạo. Cư dân chia đều lòng  
thành kính cho các vị thần, ngoài những vị thần  
có hình tướng, trong tâm trí dân gian, còn là  
nơi cả một lực lượng đông đảo thần cư ngụ.  
Thổ thần, thổ địa, tà thần, anh linh những lớp  
người khai hoang, lập nghiệp nhiều đời ở vùng  
đất Tân Châu... Con người đặt tất cả lòng thành  
kính, lòng tin, lòng biết ơn với chư vị!  
bởi dòng sông Tiền, lâu dần tâm thức về chức  
năng bảo hộ người đi biển, cư dân xa nhà của  
bà Thiên Hậu đã phai nhạt. Người Việt ở Tân  
Châu càng không có ý niệm gì về chức năng  
này. Cũng như thế, người ta cầu phước, tài lộc  
ở Phước Đức Chánh Thần, không có nhu cầu  
thắc mắc nguồn gốc, lai lịch, ý nghĩa. Sự linh  
thiêng được thể hiện qua niềm tin được bảo hộ,  
được ban bố, được “tiết lộ thiên cơ”, được cả  
“tư vấn” những vấn đề rất thiết thực trong đời  
sống thực tiễn, được “mở đường mở lối” khi  
gặp chuyện khó khăn, bế tắc trong cuộc sống.  
Nội dung cầu xin gồm tất cả các lĩnh vực, các  
mặt hoạt động của con người… Trong đó, chức  
năng “thần tài” là nổi trội, người dân tin rằng,  
Ông nắm thiên cơ, có thể biết trước số phận,  
những chuyện tương lai... Do biết trước vận  
mệnh tương lai, nên người dân tin rằng lời phán  
(lời khuyên) của Ông là chính xác. Đặc biệt là  
gần như cả ba vị Quan Đế, bà Thiên Hậu,  
Phước Đức Chánh Thần đều nổi trội chức năng  
“thần tài”.  
Một đặc điểm khác của tín ngưỡng đó là  
thực tế. Yếu tố Nho - Phật - Đạo không hiển  
hiện như một hệ thống triết lý bác học, mà là  
cái đọng lại, sâu lắng nhất trong dân gian:  
Chính trực, nhân quả, phúc đức, hướng thiện…  
Mỗi vị thờ trong chùa Ông có gốc tích khác  
nhau, có tác dụng nhất định ở phương diện thiết  
chế xã hội, là biểu tượng cùng với hàng loạt ý  
nghĩa ban đầu. Đối với cư dân, điều quan trọng  
là chư thần tồn tại và linh thiêng! Chỉ cần biết  
có chư thần tồn tại là đủ, nhận thức đang quỳ  
lạy ai, mà không cần gốc tích, lai lịch hay ý  
nghĩa. Người Hoa tuy đến bằng đường biển,  
nhưng định cư ở Tân Châu, được bao quanh  
3. KẾT LUẬN  
Qua tìm hiểu tín ngưỡng Quan Công từ tư  
liệu và đi vào khảo sát thực tế ngôi Quan Đế  
miếu (chùa Ông) của một thị xã, dù chỉ trên  
hai khía cạnh kiến trúc, trang trí và thờ tự,  
thấy được diễn biến trong thực tiễn vô cùng  
linh hoạt. Tính dung hợp vẫn là đặc tính chủ  
đạo, dung hợp Nho – Phật – Đạo, dung hợp  
yếu tố ngoại sinh và bản địa, dung hợp các  
116  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Trần Phú Huệ Quang  
cộng đồng dân tộc,... Tùy vào điều kiện bản  
địa, điều kiện thời đại mà tín ngưỡng tồn tại  
theo cách riêng của nó. Xu hướng ở Tân Châu  
là tính mở, hoạt động tín ngưỡng thuận theo  
điều kiện thực tế, không câu nệ quá nhiều vào  
truyền thống, nhưng vẫn giữ giá trị tinh thần  
xưa; chú trọng vào nhu cầu thực tế hơn là ý  
nghĩa lý thuyết, xu hướng mộc mạc, dân dã,  
gần gũi, niềm tin tâm linh mạnh mẽ, tinh thần  
nhân văn sâu sắc. Ngôi Quan Đế miếu không  
chỉ là nơi ngụ của Quan Công mà còn là nơi  
cư ngụ của đông đảo thần thánh cùng anh linh  
những lớp người khai hoang, lập nghiệp nhiều  
đời ở vùng đất Tân Châu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Châu Hải (1992), Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[2] Chi cục thống kê thị xã Tân Châu (2019), Niên giám thống kê năm 2019.  
[3] Đinh Hiếu Minh (2013), Luận về nguyên nhân hình thành tín ngưỡng Quan Đế và hàm nghĩa văn  
hóa của nó, Tập luận văn tín ngưỡng Quan Đế và nghiên cứu xã hội hiện đại (Tiêu Phúc Đăng,  
Lâm Thúy Phụng (Chủ biên)), Nxb Vũ Hà. [丁孝明:論關帝信仰的成因及其文化意涵〉,收  
錄於蕭福登、林翠鳳主編《關帝信仰與現代社會研究論文集》(臺北:宇河出版,2013].  
[4]HạChínhNông(1989),TừHải,NxbTừThưThượngHải.[夏征农:《辞海》,上海辞书出版社,1989年].  
[5] Nguyễn Ngọc Thơ (2017), Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây Nam Bộ, Nxb Chính trị Quốc gia  
Sự thật, Hà Nội.  
[6] Nguyễn Thanh Phong (2014), Thờ cúng Quan Công trong các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ, Tạp  
chí Nghiên cứu tôn giáo, số 11 (137).  
[7]PhóHàmChương(2016),Luận vềtínngưỡngQuanCôngcủathươngnhân,TạpchíĐồthưquánĐạihọcĐông  
Hải, kỳ7năm2016.[傅含章:《论商人的关公信仰》,《东海大学图书馆馆刊》第七期2016 年].  
[8] Quan Thánh Đế Quân, Đào viên Minh Thánh kinh (Vô Trí cư sĩ dịch 2001).  
[9] Sơn Nam (2009), Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.  
[10] Trần Khánh (2001), Sự hình thành cộng đồng người Hoa ở Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII và nửa  
đầu thế kỷ XIX, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1.  
Ngày nhận bài: 23-4-2021. Ngày biên tập xong: 30-4-2021. Duyệt đăng: 20-5-2021  
117  
pdf 11 trang Thùy Anh 16820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tín ngưỡng quan đế và miếu thờ quan đế ở Tân Châu, An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftin_nguong_quan_de_va_mieu_tho_quan_de_o_tan_chau_an_giang.pdf