Thuyền độc mộc một giá trị văn hóa độc đáo của người Thái ở Tây Bắc
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
DUGOUT BOAT
A UNIQUE CULTURAL VALUE OF THAI IN THE NORTHWEST
Le Anh Hoa
Vietnam Museum of Ethnology
Email: [email protected]
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
09/11/2021
17/11/2021
22/11/2021
25/11/2021
30/11/2021
DOI:
he dugout boat used to be quite common among the Thai and some ethnic groups in the Northwest.
In recent years, due to the scarcity of natural wood resources and the development of road traffic..,
the dugout boat almost no longer appear on rivers and streams and are only found in Thai people in Phong
Tho district, Lai Chau province. In order to contribute to the preservation of an ancient human waterway
vehicle, which is also a unique cultural value of the Thai people, the study will depict the presence of the
boat with its crafting technique and its use value.
T
Keywords: Thai people; Dugout boat; Cultural values; Cultural preservation.
.1. Đặt vấn đề
Tây Bắc. Những chiếc thuyền độc mộc mang dấu
ấn thời gian, hàm chứa những giá trị lịch sử, văn
hóa tộc người, bởi vậy rất cần được nghiên cứu và
bảo tồn.
Thuyền độc mộc được xem là phương tiện đường
thủy cổ xưa nhất, được tạo tác sơ khai bằng cách
đục, khoét rỗng một thân cây nguyên vẹn. Thuyền
từng hiện diện ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam,
dấu tích sớm được tìm thấy liên quan đến thuyền
độc mộc là các mộ quan tài hình thuyền tại các di chỉ
khảo khảo cổ học giai đoạn văn hóa Đông Sơn phân
bố ở Bắc và Bắc Trung Bộ. Những chiếc quan tài
được làm từ một thân cây khoét rỗng đơn sơ, gần gũi
với thuyền độc mộc. Qua đó, các nhà khảo cổ cho
rằng, cư dân ở giai đoạn này đã làm chủ sông nước,
biết chế tạo và vận hành hết sức năng động phương
tiện giao thông đường thủy (Bùi Văn Liêm, 2013:
15-16). Nhiều năm trở lại đây, có nhiều chiếc thuyền
độc mộc cổ ở các thế kỷ khác nhau được tìm thấy
dưới lòng sông tại nhiều tỉnh thành, như Bắc Ninh
(Nguyễn Văn Luyện, 2012), Huế (Trinh Nam Hải,
2009), Tiền Giang (Nguyễn Mạnh Thắng. 2013)….,
đã minh chứng cho sự phổ biến của thuyền độc mộc
tại Việt Nam trong quá khứ.
2. Tổng quan nghiên cứu
Cho đến nay, có rất ít nghiên cứu về loại thuyền
này, nhiều hơn cả là các công bố khảo cổ học việc
tìm thấy thuyền tại địa phương nào đó. Ngoài ra,
chỉ có một vài bài viết miêu tả về kỹ thuật tạo tác
thuyền, kiểu dáng thuyền và yếu tố tâm linh gắn với
thuyền ở các dân tộc ở Tây Nguyên, của các tác giả
Nguyễn Đại Lượng (1992), Lê Anh Hòa (2016), Vũ
Thị Hà (2017). Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đại
Lượng (1992) trình bày cách chọn cây, kỹ thuật làm
thuyền của người M’nông. Nghiên cứu của Lê Anh
Hòa (2016) phân biệt các kiểu dáng khác nhau và
kỹ thuật tạo tác thuyền độc mộc ở một số dân tộc
ở Tây Nguyên. Nghiên cứu của Vũ Thị Hà (2017)
trình bày những quan niệm và thực hành tâm linh
gắn với thuyền độc mộc của người M’nông ở Hồ
Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Các nghiên cứu cung cấp cho
Hiện nay, ở Việt Nam, những chiếc thuyền độc người đọc kiến thức cơ bản về thuyền độc mộc ở
mộc còn được một số tộc người sử dụng, như người Tây Nguyên. Bởi vậy, nghiên cứu về thuyền độc
Ba Na, M’nông, Ê đê, Xơ Đăng ở Tây Nguyên, mộc của người Thái ở Tây Bắc sẽ thêm một mảnh
người Tày ở Hồ Ba Bể (Bắc Kạn) và người Thái ở ghép để phần nào hoàn thiện góc nhìn tổng thể về
Volume 10, Issue 4
115
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
thuyền độc mộc ở Việt Nam.
sử dụng thuyền độc mộc ở mỗi dân tộc có mức độ
khác nhau, những tộc người cư trú dưới chân núi,
gần sông nước như người Thái, người Mường sẽ
dùng thuyền nhiều hơn, phổ biến hơn so với các tộc
người khác.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp điền
dã dân tộc học để thu thập thông tin. Bên cạnh đó,
chúng tôi sử dụng phương pháp chuyên gia để tham
vấn về sự hiện diện của thuyền và phương pháp
nghiên cứu tổng hợp tư liệu.
Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1955,
thành lập khu tự trị Tây Bắc và bắt đầu quá trình
xây dựng lại đất nước cho đến nay, những cánh
rừng Tây Bắc đã nhanh chóng bị tàn phá (Nguyen
Van Hoa, 2013, tr.135). Cùng với việc quản lý rừng
được các cấp, các ngành địa phương thực hiện
nghiêm túc, hoạt động khai thác gỗ làm thuyền trở
nên khó khăn. Chưa kể, hệ thống giao thông đường
bộ ở Tây Bắc hiện nay tương đối thuận tiện nên
người dân không còn cần đến những chiếc thuyền
độc mộc.
4. Nội dung nghiên cứu
4.1. Sự hiện diện của thuyền độc mộc ở Tây Bắc
Tây Bắc là khu vực có núi cao trùng điệp nằm
trong tuyến nhiệt đới gió mùa ẩm ướt. Diện tích tự
nhiên phần nhiều là đất rừng, núi đá với nhiều dòng
suối nhỏ đổ ra 4 con sông lớn là sông Đà, sông Mã,
sông Thao và sông Nậm U. Cách ngày nay hơn một
thế kỷ, việc đi lại ở vùng đất này vô cùng khó khăn,
giao thông đường bộ chỉ là những con đường mòn,
rộng trung bình không quá 2m luồn lách qua khe
vực để có thể từ thung lũng này qua thung lũng khác
hoặc men men theo hai bờ sông, suối để nối bản
này với bản khác. Vào những năm 30 của thế kỷ
XX, trục đường bộ vận chuyển bằng xe cơ giới mới
dần hoàn thiện (Son & Trong, 2005, tr.80-81). Vì
thế, giao thông đường thủy giữ vai trò quan trọng
ở vùng này.
Với mong muốn tìm hiểu về thuyền độc mộc,
chúng tôi đã điền dã dọc các tỉnh Hòa Bình, Sơn
La, Điện Biên, Lai Châu cho đến khi bắt gặp những
chiếc thuyền độc mộc của người Thái Trắng ở huyện
Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Đây là huyện vùng cao
biên giới, có đường biên giới giáp với Trung Quốc,
địa hình chủ yếu là đồi núi cao và nhiều khe suối
nhỏ, sâu. Trong đó, thuyền độc mộc được phát hiện
chủ yếu ở khu vực thị trấn huyện Phong Thổ, nơi
người Thái Trắng di cư từ Mường So tới định cư.
Mặc dù hệ thống dòng chảy dày đặc (tính bình
quân khoảng 1km2 có 2,5km sông suối) nhưng lại
không hoàn toàn phù hợp cho giao thông đường
thủy bởi sông suối đều có độ dốc lớn và đi qua
nhiều thác ghềnh. Chế độ thủy văn của sông, suối
chia thành hai mùa rõ rệt. Mùa mưa nước dâng cao,
chảy xiết dữ dội, sông suối trở nên hung dữ, đe dọa
mùa màng và cuộc sống của con người. Mùa khô
(từ tháng 10 đến tháng 4 âm lịch năm sau) nước rất
cạn. Trong điều kiện đó, những chiếc thuyền độc
mộc với kiểu dáng thuôn dài trở thành phương tiện
phù hợp và hiệu quả. Cùng với những cánh rừng
xưa kia rất phong phú, cây rừng đủ các loại, có đến
100 họ, 500 loại gỗ lớn là nguồn nguyên liệu sẵn có
để làm thuyền độc mộc.
Người Thái ở đây kể rằng, xưa kia, một trận mưa
lũ rất lớn dường như muốn cuốn mọi thứ trôi theo
dòng nước. Con người và loài vật hoảng loạn tìm
cách sống sót. Khi đó, họ nhìn thấy một đàn chuột
chui vào trong một thân cây rỗng ruột, bị nước cuốn
đi mà không chết nên mới nghĩ ra cách làm những
chiếc thuyền đục từ thân cây gỗ để đi trên sông,
suối. Theo ông Lò Văn Pinh (75 tuổi, người Thái,
Phong Thổ), có lẽ thuyền độc mộc xuất hiện trước
tiên ở người Thái Mường So rồi mới lan tỏa đi tới
những nơi khác, tỉnh khác như Điện Biên, Sơn La...
4.2. Thời điểm, kỹ thuật làm thuyền độc mộc
Người Thái ở Phong Thổ thường làm các công
việc lớn, đại sự vào các tháng cuối năm, từ tháng 8
tới tháng giữa tháng 12 và từ giữa tháng giêng tới
hết ngày 25/2. Họ quan niệm, tháng 3 là tháng của
ếch ngóe ăn hỏi, cưới xin, nên con người không nên
tranh cướp ngày lành tháng tốt của ếch ngóe. Tháng
4 tới tháng 7 là mùa mưa bão nên hạn chế đi chơi,
nếu đi thì không gặp thuận lợi, thậm trí mất mát và
tai nạn, không mang lại kết quả tốt nên chỉ việc thật
cần thiết mới đi.
Theo các tác giả Chu Thái Sơn, Cầm Trọng
(2005, tr.81), người Thái từ lâu đời đã biết làm
thuyền bè đi trên sông nước, nhất là thuyền độc
mộc (hưa lỏng hay hưa pang). Tác giả Nguyễn Văn
Hòa (2013) cho rằng, người Thái có hai loại thuyền
độc mộc. Thuyền nhỏ dùng để đi qua sông, qua
suối làm nương. Thuyền lớn có 5 chèo và to nhất là
thuyền 7 chèo, có 2 tấm mui che, chở người ngồi,
người nằm và hàng hóa, đi lại giữa các vùng. Còn
theo tác giả Phạm Quang Hoan (2012), ở Tây Bắc,
bên cạnh người Thái, còn có một số dân tộc dùng
thuyền độc mộc như, người Hoa, người Kháng,
Mảng. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết thêm một
số tộc người khác dùng thuyền độc mộc như người
Mường, người Dao, người Lào, Lự. Tuy nhiên, việc
Chiếc thuyền độc mộc, một vật dụng quan trọng
vì vậy cũng chỉ được làm trong khoảng thời gian từ
sau tháng 8 tới tháng 2 âm lịch. Họ quan niệm, nếu
làm thuyền vào các tháng 4, 5 ,6, 7 âm lịch, gia đình
dễ gặp tai họa và dễ gặp tai nạn khi sử dụng thuyền.
Hơn nữa, những tháng này trong rừng thường xuất
116
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
hiện nhiều thú dữ như hổ, gấu, rắn… đe dọa tính chặt cây.
mạng con người nên họ hạn chế vào rừng.
Tạo tác thuyền
Dụng cụ làm thuyền
Đẽo thuyền được thực hiện ở trong rừng, thường
Để làm thuyền độc mộc, người Thái ở Phong từ 5-7 người làm trong thời gian từ 3-7 ngày. Sáng
Thổ thường sử dụng các dụng cụ như rìu (khan seo), sớm, khoảng 6-7 giờ, họ đi vào rừng, mang theo
quốc búa (khan chóp), thuổng chọc (xiêm chòn) và cơm nắm, nước và trở về nhà sau 5 giờ chiều mỗi
bạt (chạm). Rìu (khan seo) có tay cầm thường dài ngày. Trong số những người đi đẽo thuyền, luôn có
từ 50-60cm, được đẽo gọt thuôn tròn và to dần lên một người giàu kinh nghiệm để chỉ bảo cho những
gần nơi có lưỡi rìu. Phần lưỡi và được làm bằng sắt, người khác.
bề ngang lưỡi rìu khoảng 10cm và được cố định,
kẹp bởi một thanh gỗ dẹt dài khoảng 40cm được
luồn qua lỗ hình chữ nhật phần cuối tay cầm. Rìu
dùng trong nhiều việc như chặt cây và đẽo thuyền.
Quốc búa (khan chóp) có tay cầm thường dài từ 50-
60cm; phần lưỡi chiều ngang khoảng 10cm được
gắn vào tay cầm. Quốc búa thường dùng để đẽo
bên trong lòng thuyền và làm phẳng thân thuyền.
Thuổng chọc (xiêm chòn) thường có cán dài từ 1,2
– 1,5m là thanh gỗ tròn đều, một đầu được gắn vào
lưỡi thuổng bằng sắt. Lưỡi thuổng rộng khoảng
10cm, hơi cong. Thuổng dùng để đục, khoét gỗ bên
trong lòng thuyền và mạn thuyền. Bạt (chạm) có tay
cầm bằng gỗ được gắn với phần lưỡi bằng sắt hình
chữ U. Bề ngang của lưỡi chạm thường từ 7-10cm.
Chạm thường dùng để chỉnh sửa các phần đẽo sau
khi dùng rìu, thuổng, quốc búa giúp làm phẳng bên
trong và bên ngoài thân thuyền.
Phần gốc cây sẽ là đuôi thuyền, phần ngọn là
phần mũi thuyền. Họ cho rằng, nếu làm ngược lại,
thuyền đi trên sông sẽ bị gặp nạn, nhanh hỏng. Đầu
tiên, họ dùng rìu chặt, đẽo tạo mặt phẳng trên thân
cây gỗ, sau đó đục sâu xuống làm lòng thuyền, rồi
lật úp thân gỗ lại để đẽo tạo vỏ ngoài và đáy thuyền.
Sau cùng, họ đẽo tạo phần đầu và đuôi thuyền.
Trong trường hợp có nhiều người cùng đẽo, mỗi
người đẽo từng phần khác nhau của thuyền.
Khi chiếc thuyền đã tương đối hoàn thiện, họ
sẽ kéo thuyền từ rừng về con suối bên bản. Để làm
vậy, họ huy động khoảng 15-20 thanh niên tham
gia. Một đầu dây buộc vào đầu thuyền, một đầu
dây được buộc vào đuôi thuyền. Những người kéo
phía trước vừa kéo, vừa chỉnh hướng đi của thuyền.
Những người kéo phía sau kìm hãm đà trượt khi
xuống núi hoặc địa bàn dốc. Việc kéo thuyền vô
cùng vất vả, họ thường bắt đầu từ 8 giờ sáng và kết
thúc ở thời điểm khoảng 2 hoặc 3 giờ chiều.
Gỗ làm thuyền
Cây gỗ được chọn làm thuyền phải là cây gỗ
thẳng, có đường kính lớn, gỗ dai, nhẹ và chịu nước,
thường là cây muồng (chàm), cây sung (cha), cây
trò chỉ hoặc cây trám rừng. Ở vùng này người
dân không kiêng cây trám, khác với ghi chép của
tác giả Trần Bình cho rằng: tuyệt đối không dùng
gỗ trám làm thuyền, nhất là thuyền dùng để đánh
cá. Nếu lấy gỗ trám làm thuyền, làm mái chèo,…
đánh cá, cá sợ chạy hết, hỏng ăn.
Công đoạn cuối cùng là hơ lửa cho chiếc thuyền.
Người ta dùng các cây bụi như cây chó đẻ, cây cỏ
gianh để hơ lửa bên trong và bên ngoài thân thuyền.
Khi hơ lửa, thuyền sẽ được kê cao khoảng 20 - 30cm
bằng những thanh gỗ bắt chéo hình chữ X. Bên trong
lòng thuyền có những thanh gỗ đặt ngang, bắt lấy hai
bên mạn thuyền để mạn thuyền không bị co, móp khi
nung nóng. Thời gian đốt khoảng 2 tiếng, nhờ vậy
thuyền trở nên chắc chắn hơn và không bị mọt.
Trước đây, người dân thường lấy gỗ tại các cánh
rừng gần bản, có tên gọi địa phương bằng tiếng Thái
là pụ củng, pụ nậm phé, pụ thẳm cung, pụ thẳm kê
ở Mường So; pụ vặng tâu, pụ vặng chặng, pụ vặng
xó, pụ vặng vải,…ở thị trấn Phong Thổ. Khi tìm
được cây, họ thường đi 2 người để có thể giúp đỡ
nhau nếu không may gặp nạn trong rừng. Tìm được
cây, họ sẽ dùng rìu chặt vào phần gốc cây hình chữ
X để đánh dấu. Những người đi sau nhìn thấy dấu
này sẽ không dám chặt nữa. Đây là luật bất thành
văn với mọi người và từ trước đến nay chưa có ai
làm trái.
Chiếc thuyền hoàn thiện sẽ có dáng thuôn dài,
thường dài từ 7-9m, nơi rộng nhất 30-40cm, mạn
thuyền dày 2cm, đáy thuyền dày 3cm. Hai thành
thuyền hơi móp vào trong để đi sông, suối không
bị nước bắn vào bên trong. Phần đầu thuyền hơi
thu vào so với phần đuôi thuyền giúp cho việc di
chuyển thuận tiện, nhanh hơn.
4.3. Thuyền độc mộc trong đời sống thường
ngày
Theo ông Lò Văn Pinh (70 tuổi, người Thái,
Phong Thổ), trước những năm 2000, hầu như các
hộ gia đình người Thái ở thị trấn Phong Thổ đều có
từ 1-2 chiếc thuyền độc mộc để đi qua suối Nậm So
làm nương và đánh bắt cá. Chiếc thuyền lớn có thể
chở tới 10 người, chiếc nhỏ chở được 4-5 người.
Trong trận chiến Điện Biên Phủ (1954), người Thái
Sau đó, họ sẽ nói với cây và thổ thần đại ý rằng:
tôi sẽ chặt cây này để làm thuyền, nếu được thì cho
tôi gặp mộng đẹp, nếu tôi mơ phải giấc mơ lạ thì sẽ
không chặt cây nữa. Khi về nhà, nếu nằm mơ thấy
điềm dữ, họ tin rằng con ma rừng không cho mình
Volume 10, Issue 4
117
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
ở Phong Thổ đã dùng thuyền để vận chuyển gạo, đối phổ biến ở Tây Bắc. Chúng là phương tiện di
lương thực từ huyện Phong Thổ tới thành phố Sơn chuyển quan trọng khi hệ thống giao thông đường
La và xuôi theo sông tới Điện Biên Phủ để chi viện bộ chưa phát triển. Bên cạnh giá trị sử dụng, thuyền
cho bộ đội. Người Thái ở đây vì thế có từ “pay độc mộc còn phản ánh được nhiều khía cạnh khác
chiến” để ví thuyền độc mộc như con voi có sức về đời sống văn hóa, tinh thần của người Thái. Nơi
vận chuyển hay có câu đố “trạng pay pố bớ hin họi” mà cuộc sống của con người gắn liền với môi trường
nghĩa là voi đi nhưng không thấy nốt chân.
tự nhiên, núi rừng với điều kiện sống còn nhiều khó
khăn. Tuy nhiên, họ luôn khát khao có được cuộc
sống ấm no, hạnh phúc và gửi gắm niềm tin đó khi
chọn những thân cây tốt làm thuyền. Vì vậy, rất cần
có những nghiên cứu chuyên sâu về giá trị lịch sử
và văn hóa của những chiếc thuyền mộc mạc này.
Có thể nói, chiếc thuyền độc mộc là phương tiện
gắn bó mật thiết với người dân nơi đây. Hàng năm,
vào ngày mùng 3 tết, bà con thường tổ chức ngày
hội đua thuyền giữa các thôn, bản, vừa để rèn luyện
sức khỏe, còn để các chàng trai Thái thể hiện bản
lĩnh, sự dẻo dai, khéo léo với những cô gái xinh đẹp.
Những năm qua, một số bảo tàng tỉnh và huyện
Từ năm 2005 đến nay, chính quyền huyện Phong đã để tâm lưu giữ những chiếc thuyền độc mộc của
Thổ đứng ra tổ chức lễ hội đua thuyền.
các tộc người, nhưng hồ sơ về thuyền còn chưa đầy
đủ, chi tiết. Bởi vậy, chúng ta rất cần có những hoạt
động sưu tầm bài bản để lưu giữ vật dụng quan
trọng này nhằm góp phần bảo tồn một giá trị văn
hóa tộc người cho thế hệ tương lai.
5. Thảo luận
Qua nghiên cứu, chúng tôi có thể khẳng định,
những chiếc thuyền độc mộc từng hiện diện tương
Tai lieu tham khao
Binh, T. (2001). Tap quan hoat dong kinh te cua
mot so dan toc o Tay Bac Viet Nam. Ha Noi:
Nxb. Van hoa Dan toc.
Hoa, L. A. (2016). Kieu dang va tao tac thuyen
doc moc o Tay Nguyen. Tap chi Nghien cuu
Dong Nam A, so 12, tr.68-74.
Ha, V. T. (2017). Phong tuc tap quan, nghi le
va kieng ki lien quan den thuyen doc moc
cua nguoi Mnong o Ho Lak, tinh Dak Lak.
Tap chi Khoa hoc Xa hoi mien Trung, 3(47),
tr.41-49.
Hoa, N. V. (2013). Tuc lap ban muong va le te
than nui, than nguon nuoc cua nguoi Thai
Den o Tay Bac. Nxb. Thoi dai.
Liem, B. Van. (2013). Mo thuyen Dong Son Viet
Nam. Nxb. Tu dien Bach khoa.
Hai, L. T. (2021). Bieu tuong nuoc trong doi
song van hoa cua nguoi Thai o Tay Bac. Tap
chi Khoa hoc va Cong nghe Dai hoc Duy
Tan, 01(44), tr.97-103.
Luong, N. D. (1992). Tim hieu con thuyen doc
moc M’nong. Tap chi Van hoa Dan gian, so
3, tr.42-46.
Luyen, N. V. (2012). Chiec thuyen doc moc o
bao tang tinh Bac Ninh. Trong Nhung phat
hien moi ve khao co hoc nam 2011 (tr.648-
649). Nxb. Khoa hoc Xa hoi.
Hai, T. N. (2009). Phat hien thuyen doc moc
duoi song Huong. Trong Nhung phat hien
moi ve khao co hoc nam 2008 (tr.622-623).
Nxb. Tu dien Bach khoa.
Son, C. T., & Trong, C. (2005). Nguoi Thai.
Hanh, N. D. (2009). Phat hien thuyen doc moc
tren song Da Rang. Trong Nhung phat hien
moi ve khao co hoc nam 2008 (tr.621-622).
Nxb. Tu dien Bach khoa.
Nxb. Tre.
Thang, N. M. (2013). Thuyen doc moc Tan Dieu
- Tien Giang. Trong Nhung phat hien moi ve
khao co hoc nam 2013 (tr.620-622). Nxb.
Khao co hoc.
118
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
THUYỀN ĐỘC MỘC
MỘT GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC
Lê Anh Hòa
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Email: [email protected]
Ngày nhận bài:
09/11/2021
Ngày phản biện: 17/11/2021
Ngày tác giả sửa: 22/11/2021
Ngày duyệt đăng: 25/11/2021
Ngày phát hành: 30/11/2021
DOI:
huyền độc mộc đã từng hiện diện khá phổ biến ở người Thái và một số tộc người ở Tây Bắc. Trong
nhiều năm trở lại đây, do nguồn gỗ tự nhiên khan hiếm, giao thông đường bộ phát triển.., những
chiếc thuyền độc mộc gần như không còn xuất hiện trên các dòng sông, con suối và chỉ còn được thấy ở
người Thái ở huyện Phong Thổ, Lai Châu. Nhằm góp phần bảo tồn một loại phương tiện đường thủy cổ
xưa của con người, cũng là một giá trị văn hóa độc đáo của người Thái, nghiên cứu sẽ khắc họa sự hiện
diện của con thuyền với kỹ thuật chế tác và giá trị sử dụng của nó.
T
Từ khóa: Người Thái; Thuyền độc mộc; Giá trị văn hóa; Bảo tồn văn hóa.
Volume 10, Issue 4
119
Bạn đang xem tài liệu "Thuyền độc mộc một giá trị văn hóa độc đáo của người Thái ở Tây Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuyen_doc_moc_mot_gia_tri_van_hoa_doc_dao_cua_nguoi_thai_o.pdf

