Thuyền độc mộc một giá trị văn hóa độc đáo của người Thái ở Tây Bắc

VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
DUGOUT BOAT  
A UNIQUE CULTURAL VALUE OF THAI IN THE NORTHWEST  
Le Anh Hoa  
Vietnam Museum of Ethnology  
Received:  
Reviewed:  
Revised:  
Accepted:  
Released:  
09/11/2021  
17/11/2021  
22/11/2021  
25/11/2021  
30/11/2021  
DOI:  
he dugout boat used to be quite common among the Thai and some ethnic groups in the Northwest.  
In recent years, due to the scarcity of natural wood resources and the development of road traffic..,  
the dugout boat almost no longer appear on rivers and streams and are only found in Thai people in Phong  
Tho district, Lai Chau province. In order to contribute to the preservation of an ancient human waterway  
vehicle, which is also a unique cultural value of the Thai people, the study will depict the presence of the  
boat with its crafting technique and its use value.  
T
Keywords: Thai people; Dugout boat; Cultural values; Cultural preservation.  
.1. Đặt vấn đề  
Tây Bắc. Những chiếc thuyền độc mộc mang dấu  
ấn thời gian, hàm chứa những giá trị lịch sử, văn  
hóa tộc người, bởi vậy rất cần được nghiên cứu và  
bảo tồn.  
Thuyền độc mộc được xem là phương tiện đường  
thủy cổ xưa nhất, được tạo tác sơ khai bằng cách  
đục, khoét rỗng một thân cây nguyên vẹn. Thuyền  
từng hiện diện ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam,  
dấu tích sớm được tìm thấy liên quan đến thuyền  
độc mộc là các mộ quan tài hình thuyền tại các di chỉ  
khảo khảo cổ học giai đoạn văn hóa Đông Sơn phân  
bố ở Bắc và Bắc Trung Bộ. Những chiếc quan tài  
được làm từ một thân cây khoét rỗng đơn sơ, gần gũi  
với thuyền độc mộc. Qua đó, các nhà khảo cổ cho  
rằng, cư dân ở giai đoạn này đã làm chủ sông nước,  
biết chế tạo và vận hành hết sức năng động phương  
tiện giao thông đường thủy (Bùi Văn Liêm, 2013:  
15-16). Nhiều năm trở lại đây, có nhiều chiếc thuyền  
độc mộc cổ ở các thế kỷ khác nhau được tìm thấy  
dưới lòng sông tại nhiều tỉnh thành, như Bắc Ninh  
(Nguyễn Văn Luyện, 2012), Huế (Trinh Nam Hải,  
2009), Tiền Giang (Nguyễn Mạnh Thắng. 2013)….,  
đã minh chứng cho sự phổ biến của thuyền độc mộc  
tại Việt Nam trong quá khứ.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Cho đến nay, có rất ít nghiên cứu về loại thuyền  
này, nhiều hơn cả là các công bố khảo cổ học việc  
tìm thấy thuyền tại địa phương nào đó. Ngoài ra,  
chỉ có một vài bài viết miêu tả về kỹ thuật tạo tác  
thuyền, kiểu dáng thuyền và yếu tố tâm linh gắn với  
thuyền ở các dân tộc ở Tây Nguyên, của các tác giả  
Nguyễn Đại Lượng (1992), Lê Anh Hòa (2016), Vũ  
Thị Hà (2017). Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đại  
Lượng (1992) trình bày cách chọn cây, kỹ thuật làm  
thuyền của người M’nông. Nghiên cứu của Lê Anh  
Hòa (2016) phân biệt các kiểu dáng khác nhau và  
kỹ thuật tạo tác thuyền độc mộc ở một số dân tộc  
ở Tây Nguyên. Nghiên cứu của Vũ Thị Hà (2017)  
trình bày những quan niệm và thực hành tâm linh  
gắn với thuyền độc mộc của người M’nông ở Hồ  
Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Các nghiên cứu cung cấp cho  
Hiện nay, ở Việt Nam, những chiếc thuyền độc người đọc kiến thức cơ bản về thuyền độc mộc ở  
mộc còn được một số tộc người sử dụng, như người Tây Nguyên. Bởi vậy, nghiên cứu về thuyền độc  
Ba Na, M’nông, Ê đê, Xơ Đăng ở Tây Nguyên, mộc của người Thái ở Tây Bắc sẽ thêm một mảnh  
người Tày ở Hồ Ba Bể (Bắc Kạn) và người Thái ở ghép để phần nào hoàn thiện góc nhìn tổng thể về  
Volume 10, Issue 4  
115  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
thuyền độc mộc ở Việt Nam.  
sử dụng thuyền độc mộc ở mỗi dân tộc có mức độ  
khác nhau, những tộc người cư trú dưới chân núi,  
gần sông nước như người Thái, người Mường sẽ  
dùng thuyền nhiều hơn, phổ biến hơn so với các tộc  
người khác.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp điền  
dã dân tộc học để thu thập thông tin. Bên cạnh đó,  
chúng tôi sử dụng phương pháp chuyên gia để tham  
vấn về sự hiện diện của thuyền và phương pháp  
nghiên cứu tổng hợp tư liệu.  
Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1955,  
thành lập khu tự trị Tây Bắc và bắt đầu quá trình  
xây dựng lại đất nước cho đến nay, những cánh  
rừng Tây Bắc đã nhanh chóng bị tàn phá (Nguyen  
Van Hoa, 2013, tr.135). Cùng với việc quản lý rừng  
được các cấp, các ngành địa phương thực hiện  
nghiêm túc, hoạt động khai thác gỗ làm thuyền trở  
nên khó khăn. Chưa kể, hệ thống giao thông đường  
bộ ở Tây Bắc hiện nay tương đối thuận tiện nên  
người dân không còn cần đến những chiếc thuyền  
độc mộc.  
4. Nội dung nghiên cứu  
4.1. Sự hiện diện của thuyền độc mộc ở Tây Bắc  
Tây Bắc là khu vực có núi cao trùng điệp nằm  
trong tuyến nhiệt đới gió mùa ẩm ướt. Diện tích tự  
nhiên phần nhiều là đất rừng, núi đá với nhiều dòng  
suối nhỏ đổ ra 4 con sông lớn là sông Đà, sông Mã,  
sông Thao và sông Nậm U. Cách ngày nay hơn một  
thế kỷ, việc đi lại ở vùng đất này vô cùng khó khăn,  
giao thông đường bộ chỉ là những con đường mòn,  
rộng trung bình không quá 2m luồn lách qua khe  
vực để có thể từ thung lũng này qua thung lũng khác  
hoặc men men theo hai bờ sông, suối để nối bản  
này với bản khác. Vào những năm 30 của thế kỷ  
XX, trục đường bộ vận chuyển bằng xe cơ giới mới  
dần hoàn thiện (Son & Trong, 2005, tr.80-81). Vì  
thế, giao thông đường thủy giữ vai trò quan trọng  
ở vùng này.  
Với mong muốn tìm hiểu về thuyền độc mộc,  
chúng tôi đã điền dã dọc các tỉnh Hòa Bình, Sơn  
La, Điện Biên, Lai Châu cho đến khi bắt gặp những  
chiếc thuyền độc mộc của người Thái Trắng ở huyện  
Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Đây là huyện vùng cao  
biên giới, có đường biên giới giáp với Trung Quốc,  
địa hình chủ yếu là đồi núi cao và nhiều khe suối  
nhỏ, sâu. Trong đó, thuyền độc mộc được phát hiện  
chủ yếu ở khu vực thị trấn huyện Phong Thổ, nơi  
người Thái Trắng di cư từ Mường So tới định cư.  
Mặc dù hệ thống dòng chảy dày đặc (tính bình  
quân khoảng 1km2 có 2,5km sông suối) nhưng lại  
không hoàn toàn phù hợp cho giao thông đường  
thủy bởi sông suối đều có độ dốc lớn và đi qua  
nhiều thác ghềnh. Chế độ thủy văn của sông, suối  
chia thành hai mùa rõ rệt. Mùa mưa nước dâng cao,  
chảy xiết dữ dội, sông suối trở nên hung dữ, đe dọa  
mùa màng và cuộc sống của con người. Mùa khô  
(từ tháng 10 đến tháng 4 âm lịch năm sau) nước rất  
cạn. Trong điều kiện đó, những chiếc thuyền độc  
mộc với kiểu dáng thuôn dài trở thành phương tiện  
phù hợp và hiệu quả. Cùng với những cánh rừng  
xưa kia rất phong phú, cây rừng đủ các loại, có đến  
100 họ, 500 loại gỗ lớn là nguồn nguyên liệu sẵn có  
để làm thuyền độc mộc.  
Người Thái ở đây kể rằng, xưa kia, một trận mưa  
lũ rất lớn dường như muốn cuốn mọi thứ trôi theo  
dòng nước. Con người và loài vật hoảng loạn tìm  
cách sống sót. Khi đó, họ nhìn thấy một đàn chuột  
chui vào trong một thân cây rỗng ruột, bị nước cuốn  
đi mà không chết nên mới nghĩ ra cách làm những  
chiếc thuyền đục từ thân cây gỗ để đi trên sông,  
suối. Theo ông Lò Văn Pinh (75 tuổi, người Thái,  
Phong Thổ), có lẽ thuyền độc mộc xuất hiện trước  
tiên ở người Thái Mường So rồi mới lan tỏa đi tới  
những nơi khác, tỉnh khác như Điện Biên, Sơn La...  
4.2. Thời điểm, kỹ thuật làm thuyền độc mộc  
Người Thái ở Phong Thổ thường làm các công  
việc lớn, đại sự vào các tháng cuối năm, từ tháng 8  
tới tháng giữa tháng 12 và từ giữa tháng giêng tới  
hết ngày 25/2. Họ quan niệm, tháng 3 là tháng của  
ếch ngóe ăn hỏi, cưới xin, nên con người không nên  
tranh cướp ngày lành tháng tốt của ếch ngóe. Tháng  
4 tới tháng 7 là mùa mưa bão nên hạn chế đi chơi,  
nếu đi thì không gặp thuận lợi, thậm trí mất mát và  
tai nạn, không mang lại kết quả tốt nên chỉ việc thật  
cần thiết mới đi.  
Theo các tác giả Chu Thái Sơn, Cầm Trọng  
(2005, tr.81), người Thái từ lâu đời đã biết làm  
thuyền bè đi trên sông nước, nhất là thuyền độc  
mộc (hưa lỏng hay hưa pang). Tác giả Nguyễn Văn  
Hòa (2013) cho rằng, người Thái có hai loại thuyền  
độc mộc. Thuyền nhỏ dùng để đi qua sông, qua  
suối làm nương. Thuyền lớn có 5 chèo và to nhất là  
thuyền 7 chèo, có 2 tấm mui che, chở người ngồi,  
người nằm và hàng hóa, đi lại giữa các vùng. Còn  
theo tác giả Phạm Quang Hoan (2012), ở Tây Bắc,  
bên cạnh người Thái, còn có một số dân tộc dùng  
thuyền độc mộc như, người Hoa, người Kháng,  
Mảng. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết thêm một  
số tộc người khác dùng thuyền độc mộc như người  
Mường, người Dao, người Lào, Lự. Tuy nhiên, việc  
Chiếc thuyền độc mộc, một vật dụng quan trọng  
vì vậy cũng chỉ được làm trong khoảng thời gian từ  
sau tháng 8 tới tháng 2 âm lịch. Họ quan niệm, nếu  
làm thuyền vào các tháng 4, 5 ,6, 7 âm lịch, gia đình  
dễ gặp tai họa và dễ gặp tai nạn khi sử dụng thuyền.  
Hơn nữa, những tháng này trong rừng thường xuất  
116  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
hiện nhiều thú dữ như hổ, gấu, rắn… đe dọa tính chặt cây.  
mạng con người nên họ hạn chế vào rừng.  
Tạo tác thuyền  
Dụng cụ làm thuyền  
Đẽo thuyền được thực hiện ở trong rừng, thường  
Để làm thuyền độc mộc, người Thái ở Phong từ 5-7 người làm trong thời gian từ 3-7 ngày. Sáng  
Thổ thường sử dụng các dụng cụ như rìu (khan seo), sớm, khoảng 6-7 giờ, họ đi vào rừng, mang theo  
quốc búa (khan chóp), thuổng chọc (xiêm chòn) và cơm nắm, nước và trở về nhà sau 5 giờ chiều mỗi  
bạt (chạm). Rìu (khan seo) có tay cầm thường dài ngày. Trong số những người đi đẽo thuyền, luôn có  
từ 50-60cm, được đẽo gọt thuôn tròn và to dần lên một người giàu kinh nghiệm để chỉ bảo cho những  
gần nơi có lưỡi rìu. Phần lưỡi và được làm bằng sắt, người khác.  
bề ngang lưỡi rìu khoảng 10cm và được cố định,  
kẹp bởi một thanh gỗ dẹt dài khoảng 40cm được  
luồn qua lỗ hình chữ nhật phần cuối tay cầm. Rìu  
dùng trong nhiều việc như chặt cây và đẽo thuyền.  
Quốc búa (khan chóp) có tay cầm thường dài từ 50-  
60cm; phần lưỡi chiều ngang khoảng 10cm được  
gắn vào tay cầm. Quốc búa thường dùng để đẽo  
bên trong lòng thuyền và làm phẳng thân thuyền.  
Thuổng chọc (xiêm chòn) thường có cán dài từ 1,2  
– 1,5m là thanh gỗ tròn đều, một đầu được gắn vào  
lưỡi thuổng bằng sắt. Lưỡi thuổng rộng khoảng  
10cm, hơi cong. Thuổng dùng để đục, khoét gỗ bên  
trong lòng thuyền và mạn thuyền. Bạt (chạm) có tay  
cầm bằng gỗ được gắn với phần lưỡi bằng sắt hình  
chữ U. Bề ngang của lưỡi chạm thường từ 7-10cm.  
Chạm thường dùng để chỉnh sửa các phần đẽo sau  
khi dùng rìu, thuổng, quốc búa giúp làm phẳng bên  
trong và bên ngoài thân thuyền.  
Phần gốc cây sẽ là đuôi thuyền, phần ngọn là  
phần mũi thuyền. Họ cho rằng, nếu làm ngược lại,  
thuyền đi trên sông sẽ bị gặp nạn, nhanh hỏng. Đầu  
tiên, họ dùng rìu chặt, đẽo tạo mặt phẳng trên thân  
cây gỗ, sau đó đục sâu xuống làm lòng thuyền, rồi  
lật úp thân gỗ lại để đẽo tạo vỏ ngoài và đáy thuyền.  
Sau cùng, họ đẽo tạo phần đầu và đuôi thuyền.  
Trong trường hợp có nhiều người cùng đẽo, mỗi  
người đẽo từng phần khác nhau của thuyền.  
Khi chiếc thuyền đã tương đối hoàn thiện, họ  
sẽ kéo thuyền từ rừng về con suối bên bản. Để làm  
vậy, họ huy động khoảng 15-20 thanh niên tham  
gia. Một đầu dây buộc vào đầu thuyền, một đầu  
dây được buộc vào đuôi thuyền. Những người kéo  
phía trước vừa kéo, vừa chỉnh hướng đi của thuyền.  
Những người kéo phía sau kìm hãm đà trượt khi  
xuống núi hoặc địa bàn dốc. Việc kéo thuyền vô  
cùng vất vả, họ thường bắt đầu từ 8 giờ sáng và kết  
thúc ở thời điểm khoảng 2 hoặc 3 giờ chiều.  
Gỗ làm thuyền  
Cây gỗ được chọn làm thuyền phải là cây gỗ  
thẳng, có đường kính lớn, gỗ dai, nhẹ và chịu nước,  
thường là cây muồng (chàm), cây sung (cha), cây  
trò chỉ hoặc cây trám rừng. Ở vùng này người  
dân không kiêng cây trám, khác với ghi chép của  
tác giả Trần Bình cho rằng: tuyệt đối không dùng  
gỗ trám làm thuyền, nhất là thuyền dùng để đánh  
cá. Nếu lấy gỗ trám làm thuyền, làm mái chèo,…  
đánh cá, cá sợ chạy hết, hỏng ăn.  
Công đoạn cuối cùng là hơ lửa cho chiếc thuyền.  
Người ta dùng các cây bụi như cây chó đẻ, cây cỏ  
gianh để hơ lửa bên trong và bên ngoài thân thuyền.  
Khi hơ lửa, thuyền sẽ được kê cao khoảng 20 - 30cm  
bằng những thanh gỗ bắt chéo hình chữ X. Bên trong  
lòng thuyền có những thanh gỗ đặt ngang, bắt lấy hai  
bên mạn thuyền để mạn thuyền không bị co, móp khi  
nung nóng. Thời gian đốt khoảng 2 tiếng, nhờ vậy  
thuyền trở nên chắc chắn hơn và không bị mọt.  
Trước đây, người dân thường lấy gỗ tại các cánh  
rừng gần bản, có tên gọi địa phương bằng tiếng Thái  
là pụ củng, pụ nậm phé, pụ thẳm cung, pụ thẳm kê  
ở Mường So; pụ vặng tâu, pụ vặng chặng, pụ vặng  
xó, pụ vặng vải,…ở thị trấn Phong Thổ. Khi tìm  
được cây, họ thường đi 2 người để có thể giúp đỡ  
nhau nếu không may gặp nạn trong rừng. Tìm được  
cây, họ sẽ dùng rìu chặt vào phần gốc cây hình chữ  
X để đánh dấu. Những người đi sau nhìn thấy dấu  
này sẽ không dám chặt nữa. Đây là luật bất thành  
văn với mọi người và từ trước đến nay chưa có ai  
làm trái.  
Chiếc thuyền hoàn thiện sẽ có dáng thuôn dài,  
thường dài từ 7-9m, nơi rộng nhất 30-40cm, mạn  
thuyền dày 2cm, đáy thuyền dày 3cm. Hai thành  
thuyền hơi móp vào trong để đi sông, suối không  
bị nước bắn vào bên trong. Phần đầu thuyền hơi  
thu vào so với phần đuôi thuyền giúp cho việc di  
chuyển thuận tiện, nhanh hơn.  
4.3. Thuyền độc mộc trong đời sống thường  
ngày  
Theo ông Lò Văn Pinh (70 tuổi, người Thái,  
Phong Thổ), trước những năm 2000, hầu như các  
hộ gia đình người Thái ở thị trấn Phong Thổ đều có  
từ 1-2 chiếc thuyền độc mộc để đi qua suối Nậm So  
làm nương và đánh bắt cá. Chiếc thuyền lớn có thể  
chở tới 10 người, chiếc nhỏ chở được 4-5 người.  
Trong trận chiến Điện Biên Phủ (1954), người Thái  
Sau đó, họ sẽ nói với cây và thổ thần đại ý rằng:  
tôi sẽ chặt cây này để làm thuyền, nếu được thì cho  
tôi gặp mộng đẹp, nếu tôi mơ phải giấc mơ lạ thì sẽ  
không chặt cây nữa. Khi về nhà, nếu nằm mơ thấy  
điềm dữ, họ tin rằng con ma rừng không cho mình  
Volume 10, Issue 4  
117  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
ở Phong Thổ đã dùng thuyền để vận chuyển gạo, đối phổ biến ở Tây Bắc. Chúng là phương tiện di  
lương thực từ huyện Phong Thổ tới thành phố Sơn chuyển quan trọng khi hệ thống giao thông đường  
La và xuôi theo sông tới Điện Biên Phủ để chi viện bộ chưa phát triển. Bên cạnh giá trị sử dụng, thuyền  
cho bộ đội. Người Thái ở đây vì thế có từ “pay độc mộc còn phản ánh được nhiều khía cạnh khác  
chiến” để ví thuyền độc mộc như con voi có sức về đời sống văn hóa, tinh thần của người Thái. Nơi  
vận chuyển hay có câu đố “trạng pay pố bớ hin họi” mà cuộc sống của con người gắn liền với môi trường  
nghĩa là voi đi nhưng không thấy nốt chân.  
tự nhiên, núi rừng với điều kiện sống còn nhiều khó  
khăn. Tuy nhiên, họ luôn khát khao có được cuộc  
sống ấm no, hạnh phúc và gửi gắm niềm tin đó khi  
chọn những thân cây tốt làm thuyền. Vì vậy, rất cần  
có những nghiên cứu chuyên sâu về giá trị lịch sử  
và văn hóa của những chiếc thuyền mộc mạc này.  
Có thể nói, chiếc thuyền độc mộc là phương tiện  
gắn bó mật thiết với người dân nơi đây. Hàng năm,  
vào ngày mùng 3 tết, bà con thường tổ chức ngày  
hội đua thuyền giữa các thôn, bản, vừa để rèn luyện  
sức khỏe, còn để các chàng trai Thái thể hiện bản  
lĩnh, sự dẻo dai, khéo léo với những cô gái xinh đẹp.  
Những năm qua, một số bảo tàng tỉnh và huyện  
Từ năm 2005 đến nay, chính quyền huyện Phong đã để tâm lưu giữ những chiếc thuyền độc mộc của  
Thổ đứng ra tổ chức lễ hội đua thuyền.  
các tộc người, nhưng hồ sơ về thuyền còn chưa đầy  
đủ, chi tiết. Bởi vậy, chúng ta rất cần có những hoạt  
động sưu tầm bài bản để lưu giữ vật dụng quan  
trọng này nhằm góp phần bảo tồn một giá trị văn  
hóa tộc người cho thế hệ tương lai.  
5. Thảo luận  
Qua nghiên cứu, chúng tôi có thể khẳng định,  
những chiếc thuyền độc mộc từng hiện diện tương  
Tai lieu tham khao  
Binh, T. (2001). Tap quan hoat dong kinh te cua  
mot so dan toc o Tay Bac Viet Nam. Ha Noi:  
Nxb. Van hoa Dan toc.  
Hoa, L. A. (2016). Kieu dang va tao tac thuyen  
doc moc o Tay Nguyen. Tap chi Nghien cuu  
Dong Nam A, so 12, tr.68-74.  
Ha, V. T. (2017). Phong tuc tap quan, nghi le  
va kieng ki lien quan den thuyen doc moc  
cua nguoi Mnong o Ho Lak, tinh Dak Lak.  
Tap chi Khoa hoc Xa hoi mien Trung, 3(47),  
tr.41-49.  
Hoa, N. V. (2013). Tuc lap ban muong va le te  
than nui, than nguon nuoc cua nguoi Thai  
Den o Tay Bac. Nxb. Thoi dai.  
Liem, B. Van. (2013). Mo thuyen Dong Son Viet  
Nam. Nxb. Tu dien Bach khoa.  
Hai, L. T. (2021). Bieu tuong nuoc trong doi  
song van hoa cua nguoi Thai o Tay Bac. Tap  
chi Khoa hoc va Cong nghe Dai hoc Duy  
Tan, 01(44), tr.97-103.  
Luong, N. D. (1992). Tim hieu con thuyen doc  
moc M’nong. Tap chi Van hoa Dan gian, so  
3, tr.42-46.  
Luyen, N. V. (2012). Chiec thuyen doc moc o  
bao tang tinh Bac Ninh. Trong Nhung phat  
hien moi ve khao co hoc nam 2011 (tr.648-  
649). Nxb. Khoa hoc Xa hoi.  
Hai, T. N. (2009). Phat hien thuyen doc moc  
duoi song Huong. Trong Nhung phat hien  
moi ve khao co hoc nam 2008 (tr.622-623).  
Nxb. Tu dien Bach khoa.  
Son, C. T., & Trong, C. (2005). Nguoi Thai.  
Hanh, N. D. (2009). Phat hien thuyen doc moc  
tren song Da Rang. Trong Nhung phat hien  
moi ve khao co hoc nam 2008 (tr.621-622).  
Nxb. Tu dien Bach khoa.  
Nxb. Tre.  
Thang, N. M. (2013). Thuyen doc moc Tan Dieu  
- Tien Giang. Trong Nhung phat hien moi ve  
khao co hoc nam 2013 (tr.620-622). Nxb.  
Khao co hoc.  
118  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  
THUYỀN ĐỘC MỘC  
MỘT GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC  
Lê Anh Hòa  
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam  
Ngày nhận bài:  
09/11/2021  
Ngày phản biện: 17/11/2021  
Ngày tác giả sửa: 22/11/2021  
Ngày duyệt đăng: 25/11/2021  
Ngày phát hành: 30/11/2021  
DOI:  
huyền độc mộc đã từng hiện diện khá phổ biến ở người Thái và một số tộc người ở Tây Bắc. Trong  
nhiều năm trở lại đây, do nguồn gỗ tự nhiên khan hiếm, giao thông đường bộ phát triển.., những  
chiếc thuyền độc mộc gần như không còn xuất hiện trên các dòng sông, con suối và chỉ còn được thấy ở  
người Thái ở huyện Phong Thổ, Lai Châu. Nhằm góp phần bảo tồn một loại phương tiện đường thủy cổ  
xưa của con người, cũng là một giá trị văn hóa độc đáo của người Thái, nghiên cứu sẽ khắc họa sự hiện  
diện của con thuyền với kỹ thuật chế tác và giá trị sử dụng của nó.  
T
Từ khóa: Người Thái; Thuyền độc mộc; Giá trị văn hóa; Bảo tồn văn hóa.  
Volume 10, Issue 4  
119  
pdf 5 trang Thùy Anh 14440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thuyền độc mộc một giá trị văn hóa độc đáo của người Thái ở Tây Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuyen_doc_moc_mot_gia_tri_van_hoa_doc_dao_cua_nguoi_thai_o.pdf