Thực trạng và hậu quả của việc Mĩ sử dụng bom mìn trong chiến tranh Việt Nam trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (1965-1973)

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0055  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 3, pp. 127-135  
THỰC TRẠNG VÀ HẬU QUẢ CỦA VIỆC MĨ SỬ DỤNG BOM MÌN TRONG CHIẾN  
TRANH VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ (1965-1973)  
Nguyễn Văn Nam  
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2  
Tóm tắt. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975), đế quốc Mĩ đã huy động tiềm lực  
kinh tế, quân sự khổng lồ, từ những vũ khí thông thường cho đến những vũ khí hiện đại  
nhất để áp dụng thí điểm ở Việt Nam. Đối với địa bàn tỉnh Quảng Trị, do vị trí chiến lược  
quan trọng nên đế quốc Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã bố trí lực lượng quân sự  
đông đảo và sử dụng những loại vũ khí hiện đại bậc nhất, với khối lượng bom mìn rất lớn,  
nhiều thủ đoạn đánh phá ác liệt khiến Quảng Trị trở thành địa phương gánh chịu hậu quả  
nặng nề nhất của bom mìn Mĩ trong chiến tranh. Bài viết tập trung làm rõ về thực trạng sử  
dụng bom mìn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị của Mĩ trong thời gian chiến tranh từ năm 1965  
đến năm 1973; từ đó đưa ra những nhận xét hậu quả về kinh tế, vật chất, con người và môi  
trường mà vùng đất Quảng Trị đã phải gánh chịu.  
Từ khóa: Thực trạng, hậu quả, bom mìn, tỉnh Quảng Trị, chiến tranh Việt Nam.  
1. Mở đầu  
Ngày 21/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được kí kết, vĩ tuyến 17 được lấy làm giới tuyến quân  
sự tạm thời chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam - Bắc. Theo đó, tỉnh Quảng Trị bị chia thành  
hai vùng: phía bắc sông Bến Hải (phía Bắc huyện Vĩnh Linh gồm 17 xã đồng bằng và 6 xã miền  
núi) do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lí và vùng phía Nam sông Bến Hải do  
chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lí. Như vậy, Quảng Trị trở thành đầu cầu của hậu phương  
lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa với tiền tuyến lớn miền Nam đang trực tiếp chống đế quốc Mĩ  
xâm lược. Quảng Trị là địa phương có các tuyến đường Trường Sơn (559) và Quốc lộ số 9 nối  
thông với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, cùng nhiều tuyến đường chiến lược quan  
trọng khác. Với vị trí quan trọng của Quảng Trị nên vùng đất này được Mĩ và chính quyền Việt  
Nam Cộng hòa đặc biệt coi trọng, xem đây vừa là bàn đạp để thực hiện âm mưu “Bắc tiến” vừa  
là lá chắn bảo vệ “biên giới Mĩ kéo dài đến vĩ tuyến 17” theo như cách nói của Mĩ và chính  
quyền Sài Gòn. Quảng Trị trở thành nơi đối đầu trực diện giữa hai bên trong cuộc chiến và là  
chiến trường sinh tử đối với Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chính vì vậy, Mỹ  
và chính quyền Sài Gòn đã tập trung các nguồn lực quân sự, vũ khí, bom mìn hiện đại để đánh  
Quảng Trị. Quảng Trị trở thành địa bàn diễn ra những trận đánh ác liệt nhất trong cuộc chiến  
tranh và là địa phương gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của bom mìn Mĩ trong chiến tranh.  
Nghiên cứu về thực trạng và hậu quả bom mìn của Mĩ trong chiến tranh Việt Nam nói  
chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói riêng đã nhận được nhiều sự quan tâm của các tác giả  
trong và ngoài nước.  
Những công trình phản ánh thực trạng của việc Mĩ sử dụng bom mìn trên địa bàn tỉnh Quảng  
Ngày nhận bài: 22/6/2020. Ngày sửa bài: 29/7/2020. Ngày nhận đăng: 10/8/2021.  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Văn Nam. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
127  
Nguyễn Văn Nam  
Trị có thể kể đến: Cơ quan Cục Thống kê Quảng Trị trong công trình Quảng Trị trước thềm thế  
kỉ XXI con số và sự kiện [1] đã trình bày về quá trình xây dựng và cách bố trí, cài đặt các loại  
mìn tại phòng tuyến “Hàng rào điện tử McNamara”. Viện lịch sử quân sự Việt Nam với công  
trình Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975) [2], Tỉnh ủy  
Quảng Trị, Bộ Quốc phòng với công trình 40 năm giải phóng tỉnh Quảng Trị và chiến đấu bảo  
vệ Thành cổ (1972-2012) [3], Tạp chí Trí thức và Phát triển, Trung tâm truyền thông vì môi trường  
phát triển, Công ty Văn hóa trí tuệ Việt với công trình Huyền thoại Thành cổ Quảng Trị (81 ngày  
đêm mùa hè đỏ lửa-1972) [4], Nguyễn Văn Ái với công trình Địa danh Quảng Trị xưa và nay  
[5], Trần Hữu Huy với công trình Mặt trận đường 9 – Khe Sanh (Xuân hè 1968) [6] đã đề cập  
đến số liệu thống kê về khối lượng bom mìn và một số chủng loại bom mìn quân đội Mĩ sử  
dụng trong các trận đánh ác liệt trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.  
Những công trình (ở nước ngoài) phân tích hậu quả bom mìn của Mĩ trong chiến tranh Việt  
Nam có thể kể đến: Báo cáo do Quỹ tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ (VVMF) thực hiện với tên  
gọi Socio - Economic Report on the Impact of Landmines (Báo cáo kinh tế - xã hội về tác động  
của bom mìn) [7] đã đưa ra những đánh giá ban đầu về các tác động kinh tế, xã hội do tai nạn  
bom mìn gây nên tại Việt Nam. Báo cáo cũng đi sâu, tập trung phân tích, mô tả, thống kê thực  
trạng bom mìn và tai nạn bom mìn từ sau khi chiến tranh kết thúc và những số liệu ước tính về  
thiệt hại con người, kinh tế, môi trường do tai nạn bom mìn gây nên. Tác giả Jim Monan với  
công trình Mìn và sự chậm phát triển [8] đã đã trình bày khái quát những tác hại của bom mìn  
sau chiến tranh đối với môi trường và đời sống người dân Việt Nam với hàng loạt các tranh ảnh  
minh họa rõ nét. Ở trong nước, Trung tâm Công nghệ xử lí bom mìn với công trình Báo cáo kết  
quả Dự án điều tra, khảo sát và đánh giá tác động của sự ô nhiễm bom mìn, vật nổ còn sót lại  
sau chiến tranh ở Việt Nam [9] đã đề cập đến tỷ lệ đất đai bị ô nhiễm bom mìn của Quảng Trị  
và có sánh với các địa phương khác ở Việt Nam. Tác giả Vũ Quang Hiển trong bài viết Hậu quả  
của cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) - mấy vấn đề bàn luận [10] đã phân tích những hậu  
quả nặng nề của cuộc chiến tranh mà cả hai phía tham chiến phải gánh chịu. Đó là những tổn  
thất to lớn về sinh mạng, sức khỏe nhân dân và sự biến đổi môi trường sinh thái ở Việt Nam.  
Chiến tranh kết thúc, nhưng bom mìn chưa nổ vẫn còn tồn tại dưới mặt đất, rải rác trên khắp cả  
nước, đặc biệt là các tỉnh miền Trung.  
Những công trình phân tích hậu quả bom mìn của Mĩ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có thể kể  
đến: Công trình Nghiên cứu nhận thức - thái độ - hành vi về hiểm họa bom mìn và tai nạn bom  
mìn sau chiến tranh tại tỉnh Quảng Trị, Việt Nam [11] đã được Dự án Phục hồi môi trường và  
Khắc phục hậu quả chiến tranh (Dự án RENEW) phối hợp với Sở Y tế tỉnh Quảng Trị thực  
hiện. Công trình đã nghiên cứu về tình hình tai nạn bom mìn cũng như đánh giá nhận thức, thái  
độ, hành vi của người dân với hiểm họa bom mìn tại tỉnh Quảng Trị từ khi chiến tranh kết thúc  
năm 1975 đến năm 2002. Tác giả Nguyễn Duy Bính trong bài viết Những hậu quả của bom mìn  
Mĩ trong chiến tranh Việt Nam với cộng đồng cư dân tỉnh Quảng Trị [12] đã khái quát những  
tác động, ảnh hưởng của bom mìn còn sót lại sau chiến tranh đối với cộng đồng cư dân trên địa  
bàn tỉnh Quảng Trị từ năm 1975 đến năm 2002.  
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đề cập trực  
tiếp hoặc gián tiếp đến thực trạng và hậu quả bom mìn của Mĩ trên địa bàn Quảng Trị. Trên cơ  
sở kế thừa các nghiên cứu trước đó, cùng với việc bổ sung các số liệu thống kê thu thập được về  
thực trạng và hậu quả của việc Mĩ sử dụng bom mìn trên địa bàn Quảng Trị thông qua các Hồ  
sơ của Ủy ban điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mĩ ở Việt Nam lưu tại Trung tâm lưu trữ  
quốc gia III như: Hồ sơ số 54 [13], 112 [14], 114 [15], 116 [16], 117 [17], 132 [18], 179 [19],  
201 [20], 235 [21], 252 [22], 271 [23], 294 [24], 488 [25], tác giả phân tích về thực trạng và hậu  
quả của việc Mĩ sử dụng bom mìn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong thời gian chiến tranh từ  
năm 1965 đến năm 1973.  
128  
Thực trạng và hậu quả của việc Mỹ sử dụng bom mìn trong chiến tranh Việt Nam…  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Thực trạng của việc Mĩ sử dụng bom mìn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị  
Trong những năm 1954-1964, nhân dân tỉnh Quảng Trị thực hiện song song hai nhiệm vụ:  
khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội (phía Bắc sông Bến Hải) và đấu tranh đòi thi hành  
Hiệp định Giơnevơ cũng như làm thất bại âm mưu của đế quốc Mĩ và tay sai. Thắng lợi của  
phong trào Đồng Khởi ở miền Nam và những chiến thắng của quân và dân ta trong năm 1964 đã  
làm cho chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ bị thất bại.  
Đứng trước sự thất bại của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mĩ phải chuyển sang thực  
hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” từ năm 1965, đưa quân đội viễn chinh Mĩ trực tiếp vào  
tham chiến ở miền Nam Việt Nam và leo thang, mở rộng chiến tranh ra cả miền Bắc, trong đó  
có Quảng Trị.  
Ở phía Bắc vĩ tuyến 17, đặc khu Vĩnh Linh cùng các địa phương miền Bắc trở thành hậu  
phương trực tiếp của chiến trường miền Nam đánh Mĩ. Quảng Trị trở thành tuyến đầu của miền  
Bắc, mang trọng trách to lớn: là biểu tượng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là chỗ dựa về tinh  
thần, chính trị để cổ vũ nhân dân miền Nam. Đồng thời, Quảng Trị cũng là nơi chi viện kịp thời,  
đắc lực cho chiến trường miền Nam. Trong khi đó, đế quốc Mĩ âm mưu biến Vĩnh Linh thành  
vành đai trắng, chặn đứng mọi sự chi viện của hậu phương miền Bắc với tiền tuyến lớn miền  
Nam. Mĩ đã tiến hành đánh phá Vĩnh Linh cả trên bộ, trên không và trên biển. Ngày 8/8/1964,  
Mĩ đã cho không quân bắn phá đảo Cồn Cỏ (Vĩnh Linh, Quảng Trị). Trong 4 năm kể từ 1964  
trở đi, đảo Cồn Cỏ trở thành mục tiêu đánh phá có tính chất hủy diệt. Với 1.850 lần oanh tạc,  
máy bay Mĩ đã ném xuống đảo Cồn Cỏ 1,3 vạn quả bom lớn, hàng triệu quả bom bi, hàng ngàn  
quả rốc két. Đã có 172 lần tàu chiến Mĩ pháo kích số lượng gần 4000 quả pháo lên đảo Cồn Cỏ,  
bình quân 1 chiến sĩ trên đảo hứng chịu 39,3 tấn bom (gấp 5,6 lần bình quân trên đất liền ở khu  
vực Vĩnh Linh - trung bình 7 tấn mỗi người) [5, tr.35].  
Trong năm 1967, đại bác của quân đội Mĩ ở phía Nam vĩ tuyến 17 đã liên tục bắn phá cả  
ngày lẫn đêm thị trấn Hồ Xá (Vĩnh Linh) với 300.000 viên đạn. Tàu chiến ngoài biển của Mĩ đã  
bắn phá khu vực Vĩnh Linh 1.412 vụ, tăng gấp 10 lần so với năm 1966. Tính đến ngày  
30/6/1967, máy bay Mĩ đã ném bom thị trấn Hồ Xá 144 lần cả ngày lẫn đêm (57 lần đánh đêm).  
Thị trấn Hồ Xá phải gánh chịu 22.500 quả bom phá các loại, 10.000 bom bi quả dứa, trên 6.200  
rốc két, 68 quả bom na-pan tàn phá [13, tr.155]. Chỉ riêng 5 tháng cuối năm 1967, 18 xã và thị  
trấn Hồ Xá bị máy bay B.52 đánh phá 1580 lần/chiếc [14, tr.2]. Như vậy, khu vực Vĩnh Linh là  
nơi bị quân đội Mĩ đánh phá ác liệt nhất bằng mọi thủ đoạn, từ máy bay chiến thuật đến máy  
bay B.52, từ không quân đến các tàu chiến của hạm đội 7 và các đại bác hạng nặng đặt ở phía  
Nam khu phi quân sự [14, tr.2]. 17/23 xã của Vĩnh Linh đã bị đánh phá với mức độ hủy diệt.  
Từ tháng 1 đến tháng 9/1968, khu vực Vĩnh Linh có 23/23 xã đều bị quân đội Mĩ ném bom  
với tần suất 14.574 lần bị đánh phá, tính trung bình mỗi ngày có hơn 53 lần bị đánh phá với số  
lượng 101.500 quả bom phá, 440.000 quả đạn đại bác trút xuống khu vực [18, tr.130]. Chỉ trong  
tháng 3/1969, quân đội Mĩ đã ném hơn 2.000 quả bom phá và bom bi xuống các vùng dân cư  
trên địa bàn Vĩnh Linh. Tháng 8/1969, quân đội Mĩ ném 350 bom phá, 16 bom bi mẹ và nhiều  
mìn sát thương như mìn lá, mìn nổ chậm xuống Vĩnh Linh. Đồng thời, Mĩ huy động 118 lần  
chiếc B.52 tiến hành oanh tạc, rải hơn 3500 tấn bom xuống vùng đông dân cư ở khu vực Vĩnh  
Linh [21, tr.33]. Trong tháng 1/1972, máy bay Mĩ đã ném 478 quả bom các loại như bom phá,  
bom bi, bom hơi xuống Cù Bai, Trà Lí, Đông Can, Đông Châu, A Chốc (xã Hướng Lập, Vĩnh  
Linh) [20, tr.4].  
Quân đội Mĩ đánh phá mang tính chất triệt hạ các làng xã, thị trấn khu vực Vĩnh Linh. Mĩ  
đã huy động 707 tốp máy bay B.52 đánh phá với 4.659 lượt chiếc, rải nửa triệu tấn bom các  
loại. Tính bình quân 1km2 đất của Vĩnh Linh phải gánh chịu 600 tấn bom, 80 quả đạn pháo và  
129  
Nguyễn Văn Nam  
mỗi người trung bình phải gánh chịu 7 tấn bom và 10 quả đạn pháo của Mĩ [15, tr.9]. Các loại  
máy bay và tàu chiến của Mĩ đã phối hợp thả bom từ trên không và nã pháo từ ngoài biển vào,  
kết hợp bom bi, bom nổ chậm, bom phá, bom hơi nhằm sát thương nhiều người, uy hiếp tinh  
thần chống Mĩ của nhân dân.  
Ở phía Nam vĩ tuyến 17, Mĩ đã xây dựng “Hàng rào điện tử McNamara” dọc theo khu phi  
quân sự và đường mòn Hồ Chí Minh nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của quân đội Việt Nam Dân  
chủ Cộng hòa năm 1966. Hệ thống hàng rào gồm có 17 căn cứ quân sự kết hợp với hệ thống vật  
cản, các thiết bị trinh sát mặt đất được bố trí liên hoàn trong khu vực có chiều rộng 10-20km,  
dài khoảng 100km từ cảng Cửa Việt lên Đường 9 tới biên giới Việt Nam-Lào, kéo dài sang  
Mường Phìn (Lào). Hệ thống vật cản gồm 12 lớp dây kẽm gai chồng lên nhau, cao 3m. Phía  
trước lớp kẽm gai là bãi mìn dày đặc từ 500-700 m với đủ loại mìn kíp, mìn chống tăng, mìn tín  
hiệu chạy suốt tuyến hệ thống và thường tập trung mật độ cao xung quanh các cứ điểm [1,  
tr.340]. Mĩ coi đây là tuyến phòng thủ ngoài cùng vững chắc nhất Đông Dương, làm lá chắn bảo  
vệ cho cố đô Huế và góp phần giữ vững chế độ thực dân kiểu mới ở miền Nam.  
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, quân dân Quảng Trị đã độc lập chiến đấu  
trên 9.817 trận đánh [5, tr.26], trong số đó có nhiều trận mang tính chất bước ngoặt của cuộc  
kháng chiến đã diễn ra trên địa bàn Quảng Trị như: Chiến dịch tiến công Đường 9-Khe Sanh xuân  
hè năm 1968, chiến dịch “Đường 9-Nam Lào” năm 1971, trận chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành  
cổ Quảng Trị năm 1972. Trong những trận đánh này, quân đội Mĩ và quân đội Sài Gòn đều tận  
dụng ưu thế về trang bị vũ khí, trút lên địa bàn Quảng Trị khối lượng bom mìn vô cùng lớn.  
Tại chiến dịch Khe Sanh năm 1968, quân đội Mĩ đã sử dụng 24.000 lần chiếc máy bay  
chiến thuật, 2.700 lần chiếc máy bay chiến lược B.52, ném trên 100.000 tấn bom (gần bằng 1/6  
số bom Mĩ sử dụng trong chiến tranh Triều Tiên), hơn 100.000 quả đạn pháo 175 mm trên vùng  
đất có diện tích khoảng 34km2 [6, tr.141] Chỉ tính dọc hai bên bờ sông Bến Hải, quân đội Mĩ đã  
dội xuống hơn một triệu tấn bom đạn [2, tr.207] với ý định “giữ bằng được Khe Sanh với bất kì  
giá nào” [10, tr.281]. Trong chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm 1971, không quân Mĩ đã ném 2  
quả bom siêu hạng BLU-82/ nặng 15.000 pound (khoảng 7 tấn) xuống phía Đông Nam của Khe  
Sanh trong ngày 10/9/1971. Mỗi quả bom đã phát quang một vùng rộng lớn như sân bóng, đủ  
cho nhiều máy bay lên thẳng có mặt bằng đổ quân xuống được [19, tr.9].  
Ngày 30/3/1972, quân cách mạng Việt Nam chủ trương mở cuộc tấn công trên 3 vùng  
chiến lược của miền Nam: Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Trị Thiên. Trong đó chiến trường Trị  
Thiên là chủ yếu. Ngày 01/5/1972, Quảng Trị cơ bản được giải phóng. Mĩ và quân đội Việt  
Nam Cộng hòa vạch ra kế hoạch phản công tái chiếm Quảng Trị năm 1972 mang tên Kế hoạch  
hành quân “Lam Sơn 72”. Quân đội Mĩ đã ném xuống chiến trường Quảng Trị 328.000 tấn  
bom, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima (Nhật Bản)  
năm 1945. Riêng trong đêm 04/7/1972, máy bay B.52 của Mĩ đã ném 4000 tấn bom. Chỉ trong  
ngày 31/7/1972, không quân và hải quân Mĩ đã sử dụng khoảng 2 vạn quả đạn đại bác cỡ lớn từ  
105-203 mm bắn phá xuống khu vực thị xã Quảng Trị. Mỗi mét vuông đất Quảng Trị phải hứng  
chịu 63kg bom đạn do không quân và hải quân Mĩ bắn phá. Tính bình quân, mỗi người dân  
Quảng Trị đã phải gánh chịu 7 tấn bom đạn Mĩ, còn mỗi chiến sĩ ở đây phải hứng chịu trên 100  
quả bom và 200 quả đạn pháo [4, tr.25].  
Với diện tích chỉ có 4.746,4km2 và dân số gần 30 vạn người (1973) nhưng đế quốc Mĩ đã  
ném xuống địa bàn Quảng Trị khối lượng bom mìn còn nhiều hơn cả khối lượng bom mìn Mĩ  
ném xuống một quốc gia khác trước đó [13, tr.16,24]. Hàng trăm loại bom mìn, vật nổ khác  
nhau đã được Mĩ sử dụng trong chiến tranh trên địa bàn Quảng Trị. Từ các loại bom nhỏ như  
bom bi, bom cam, bom ổi chỉ nhằm vào gây sát thương cho con người đến một trong những loại  
bom lớn nhất là bom siêu hạng BLU-82/B nặng 15.000 pound để dọn sạch một vùng đất lớn làm  
bãi đỗ trực thăng hoặc đặt ụ pháo. Các loại mìn Mĩ sử dụng để phá hủy các mục tiêu cầu cống,  
130  
Thực trạng và hậu quả của việc Mỹ sử dụng bom mìn trong chiến tranh Việt Nam…  
đê đập hoặc thả kết hợp với thủy lôi để ngăn chặn, phong tỏa giao thông đường thủy hoặc lập  
các phòng tuyến để ngăn chặn sự xâm nhập quân đội Việt Nam. Từ các loại bom ngòi nổ cơ khí,  
Mĩ đã sử dụng bom ngòi nổ cảm quang, điện, cảm ứng từ trường, âm thanh. Quân đội Mĩ còn sử  
dụng các loại bom điều khiển vô tuyến truyền hình cho đến bom laze tân tiến nhất thời điểm đó.  
Nhiều loại vật liệu nổ gây sát thương khác cũng được Mĩ sử dụng trên chiến trường Quảng Trị  
như: đạn pháo 175 (M107), đạn M79, đạn xuyên, đạn cối, đạn rocket, đạn phốt pho, đạn chất  
độc, pháo, lựu đạn…  
Bom mìn của Mĩ tập trung trút xuống hệ thống giao thông vận tải như: cầu, phà, bến cảng,  
cửa sông, cửa biển. Đường Trường Sơn ở vùng núi phía Tây của tỉnh Quảng Trị hay dọc hai bên  
bờ Vĩ tuyến 17 để tạo “hành lang trắng” an toàn cho “biên giới Hoa Kì”. Ngoài ra, các vùng  
đông dân ở vùng đồng bằng phía Đông chỉ chiếm 12,8% tổng diện tích của tỉnh nhưng chiếm  
87,5% dân số toàn tỉnh năm 1956 [26, tr.26,28] với các vườn cây, đồng ruộng, đê điều, thủy lợi  
cũng trở thành mục tiêu đánh phá của Mĩ. Trên bộ, quân đội Mĩ đã cho trọng pháo từ bờ Nam  
sông Bến Hải đánh lên khu vực bờ Bắc. Trên biển, quân đội Mĩ cho tàu hải quân nã pháo từ  
ngoài biển vào đảo Cồn Cỏ cho đến khu vực Vĩnh Linh trên đất liền. Trên không, không quân  
Mĩ với đủ các loại máy bay chiến thuật lẫn máy bay chiến lược oanh tạc các mục tiêu. Dựa vào  
ưu thế về vũ khí, quân đội Mĩ và Việt Nam Cộng hòa đã sử dụng nhiều thủ đoạn để trút xuống  
địa bàn Quảng Trị đủ các loại bom mìn với mức độ tàn phá, hủy diệt chưa từng có.  
2.2. Hậu quả của việc Mĩ sử dụng bom mìn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị  
2.2.1. Hậu quả về người  
Bom mìn của Mĩ đã cướp đi sinh mạng của nhiều người và cũng khiến cho nhiều người  
khác ở Quảng Trị bị thương tật. Ngoài binh lính, cán bộ, nhân dân là nạn nhân chủ yếu trong  
các trận đánh phá, ném bom của quân đội Mĩ và quân đội Sài Gòn. Không tính lực lượng vũ  
trang, chỉ riêng khu vực Vĩnh Linh có 213 người chết (151 nam và 62 nữ), 234 người bị thương,  
447 người bị mất tích trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai (16/4/1972 đến 27/01/1973).  
Nếu tính cả hai cuộc chiến tranh phá hoại lần 1 và lần 2 (05/8/1964 đến 27/1/1973), Vĩnh Linh  
có 3.926 người chết (2079 nam và 1849 nữ), 781 người bị thương, trong đó có 19 trẻ em dưới  
15 tuổi, 10.805 người bị mất tích [16, tr.5-14]. Huyện Gio Linh có 14.200 người dân bị bom  
mìn của Mĩ giết chết, khoảng 3.086 người trở thành liệt sĩ và 661 người trở thành thương binh  
[27, tr.161, 273]. Ước tính ở Quảng Trị có trên 5 vạn người là nạn nhân bị bom mìn sát hại.  
Bom đạn của Mĩ cũng khiến 17.003 người trở thành thương binh và 9.050 người trở thành liệt sĩ  
trong suốt thời gian chiến tranh [1, tr.301].  
Mĩ đã sử dụng bom mìn gây ra nhiều vụ tàn sát dân thường ở nhiều làng quê Quảng Trị.  
Ngày 2/3/1967, máy bay Mĩ ném bom giết 100 người làm bị thương 200 người ở làng Vây  
(Hướng Hóa). Ngày 26/2/1968, 18 máy bay Mĩ bắn phá suốt 10 giờ xuống xã Cam Thủy (Cam  
Lộ) đã làm 193 người chết và bị thương. Tháng 7/1968, máy bay Mĩ ném bom xuống cánh đồng  
Vinh Quang Thượng (Gio Linh) giết chết 75 người đang gặt lúa. Ngày 12/5/1968, máy bay Mĩ  
ném bom và bắn rốc két xuống khu vực nhà thờ Bái Sơn (Gio Linh) khiến hơn 100 người theo  
đạo Thiên Chúa chết và bị thương khi đang hành lễ [13, tr.13]. Máy bay ném bom của Mĩ đã đánh  
phá một cách có chủ đích vào những người dân thường không được vũ trang. Không quân Mĩ  
thường chọn những thời điểm và địa điểm người dân tập trung để ném bom sát hại nhiều người.  
Để gây ra hậu quả lâu dài cho việc tái thiết sau đó, bom mìn của Mĩ đã gây thương vong cho  
cả phụ nữ và trẻ em. Trong 5 ngày từ 19/6 đến 24/6/1967, máy bay Mĩ đã ném bom vào xã Vĩnh  
Quang (Vĩnh Linh) sát hại 62 người dân, trong đó có 15 phụ nữ và 35 trẻ em [17, tr.38]. Những  
nơi tập trung phụ nữ và trẻ em như trường học giờ lên lớp, nhà trẻ, nhà hộ sinh, chợ thường bị  
máy bay Mĩ ném bom. Không chỉ ở Vĩnh Quang mà ở nhiều địa phương khác trên miền Bắc, số  
trẻ em và phụ nữ thương vong thường chiếm trên 75% như ở thị xã Thanh Hóa chiếm 80%, ở thị  
trấn Hà Tu (Quảng Ninh) chiếm 80%, ở khu phố Tích Sơn (Vĩnh Phú) chiếm 94% [25, tr.4].  
131  
Nguyễn Văn Nam  
Khi các nạn nhân bị bom mìn cướp đi sinh mạng đã gây ra nhiều đau thương, mất mát cho  
gia đình và người thân các nạn nhân. Những nạn nhân sống sót cũng mang nhiều thương tật.  
Năm 1965, Ty y tế khu vực Vĩnh Linh thống kê được số người bị một vết thương chiếm 35%, từ  
2 đến 5 vết thương chiếm 31,66%, trên 5 vết thương chiếm 8,33%, còn lại 25% tử vong [23,  
tr.37]. Đa phần các nạn nhân dính các chấn thương trên là những thương tật vĩnh viễn, phần lớn  
mất khả năng lao động sinh hoạt bình thường. Nạn nhân bị thương không chỉ bị suy giảm sức  
khỏe, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày mà còn mang tâm lí bi quan, mặc cảm, tự ti tùy theo  
từng loại hình thương tật.  
2.2.2. Hậu quả về kinh tế  
Hậu quả kinh tế trực tiếp do việc Mĩ sử dụng bom mìn trong chiến tranh đã tàn phá nặng nề  
tài sản của người dân tỉnh Quảng Trị. Khi chiến tranh kết thúc, Quảng Trị có 90% làng mạc, thị  
trấn bị tàn phá, 190.000 người trở về không còn nhà cửa do bị bom Mĩ phá hủy. Trong 5 ngày từ  
19 đến 24/6/1967, Mĩ đã đánh phá 90% nhà cửa, 69 chiếc thuyền đánh cá, hầu hết chài lưới,  
vườn tược, trường học, nhà hộ sinh của xã Vĩnh Quang đều bị phá hủy [17, tr.37-38]. Trong khi  
đó, 100% nhà cửa của nhân dân ở xã Vĩnh Thạnh đã bị phá hủy toàn bộ. Huyện Gio Linh có  
11.000 nhà cửa bị phá hủy, 82/84 thôn xóm bị hủy diệt hoàn toàn [27, tr.161,273]. Trong hai  
cuộc chiến tranh phá hoại lần 1 và lần 2 (từ ngày 05/8/1964 đến ngày 27/1/1973), thiệt hại tài  
sản ở khu vực Vĩnh Linh là 24,011 triệu đồng Việt Nam [16, tr.5,14]. Đến năm 1972, Quảng Trị  
có 585 xã bị triệt hạ do bom mìn của Mĩ, toàn bộ trường học, đền miếu, nhà thờ bị phá hủy, 3  
vạn nóc nhà bị tàn phá. Trong 82 ngày đêm tiến hành tái chiếm Quảng Trị đã có 1 vạn ngôi nhà  
gồm: trường học nam, trường học nữ, trường Bồ Đề, nhà thờ Tin Lành, bưu điện, chùa Tỉnh  
Hội, chùa Bà Nam, bệnh viện, khu chợ, thánh đường Thạch Hãn, nhà thờ Trí Bửu đã bị bom  
mìn Mĩ tàn phá [13, tr.153].  
Bom mìn của Mĩ đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế của người dân  
Quảng Trị vốn chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp. Đối với cây trồng, ở các địa phương miền  
núi Hướng Hóa, Cam Lộ, Gio Linh có nhiều vườn cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị như  
chè, cà phê, mít, dừa, hồ tiêu đã bị bom mìn tàn phá biến thành đồi trọc chỉ có cỏ dại mọc được.  
Điển hình là xã Cam Lộc (Cam Lộ), Mĩ đã sử dụng bom đạn tàn phá hơn 100.000 gốc mít,  
320.000 gốc chè, hàng vạn gốc hồ tiêu, hàng trăm ha chuối, dứa [21, tr.34]. Tại Vĩnh Linh, nông  
trường Quyết Thắng bị máy bay Mĩ oanh tạc và pháo kích 1.965 lần khiến cây trồng bị hủy diệt,  
đất đai không thể canh tác vì hố bom dày đặc [13, tr.140]. Ở các vùng đồng bằng và ven biển  
huyện Triệu Hải, Cam Lộ, Gio Linh, bom đạn của Mĩ đã khiến cho các vườn cây ăn quả và  
đồng ruộng trồng lúa dày đặc hố bom, đất màu bị xáo trộn, nhiều ruộng vườn bị bỏ hoang vì  
không thể canh tác. Bom mìn cũng gây tâm lí bất an cho người dân khi đi làm ruộng vì sợ chính  
bản thân họ, trâu bò dẫm phải mảnh bom mìn. Đối với vật nuôi, bom đạn đã giết hại rất nhiều  
gia súc, gia cầm. Các vùng ở Triệu Phong, Hải Lăng, Cam Lộ, Gio Linh có thời điểm Mĩ sử  
dụng không quân ném bom xuống các địa bàn trên giết hàng trăm con trâu, con bò. Ở xã Cam  
Lộc (Cam Lộ) trước và sau khi bị bom đạn Mĩ trút xuống, số lượng trâu bò giảm từ 5000 con  
xuống còn 170 con. Huyện Triệu Phong trước đây có 1 vạn trâu bò đến năm 1973 còn 300 con  
[21, tr.35]. Trâu bò là sức kéo chủ yếu trong nông nghiệp. Sức kéo dành cho nông nghiệp ở  
Quảng Trị đã bị Mĩ ném bom đến mức bị kiệt quệ. Các loại gia cầm như gà, vịt cũng bị tiêu diệt  
gần hết dẫn đến con giống gia súc, gia cầm để phát triển chăn nuôi bị thiếu trầm trọng. Các trận  
ném bom của Mĩ đã đánh vào nguồn sống, kế sinh nhai của người dân trước mắt và ảnh hưởng  
lâu dài đến hoạt động khôi phục sản xuất của người dân.  
Bom mìn của Mĩ cũng phá hoại nặng nề hệ thống giao thông vận tải trên địa bàn Quảng  
Trị. Toàn bộ hệ thống đường bộ, không chỉ đường quốc lộ mà cả các đường liên xã cũng bị  
đánh phá nhiều lần, chằng chịt các hố bom lớn nhỏ. Trong hai ngày 13/7 và 26/7/1967, máy bay  
B.52 của Mĩ ném bom theo lối rải thảm các xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Thủy, Vĩnh Lâm (Vĩnh Linh)  
132  
Thực trạng và hậu quả của việc Mỹ sử dụng bom mìn trong chiến tranh Việt Nam…  
trên chiều dài 6km và chiều rộng 4km tạo thành các hố bom dày đặc phá hủy nhiều tuyến đường  
trên địa bàn [13, tr.151]. Hệ thống giao thông đường biển và đường sông cũng là mục tiêu trọng  
điểm đánh phá của Mĩ nên gần như toàn bộ các cảng biển, bến thuyền, bến phà, cây cầu lớn nhỏ  
ở Quảng Trị đều bị phá hủy. Khoảng 2 vạn quả bom mìn, thủy lôi được thả ở cửa sông, cửa biển  
miền Bắc trong đó có các cửa sông, cửa biển ở Quảng Trị, số lượng rất lớn còn chưa phát nổ.  
Khu vực Vĩnh Linh, toàn bộ các công trình thủy lợi đê, cống tưới tiêu, đập nước đều bị phá hủy  
[22, tr.57]. Các công trình thủy lợi bị phá hủy không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất của địa  
phương mà còn đe dọa tính mạng và tài sản của người dân khi lũ về.  
2.2.3. Hậu quả về môi trường tự nhiên  
Bom đạn của Mĩ sử dụng trên địa bàn đã trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng rất lớn đến môi  
trường tự nhiên ở Quảng Trị. Ước tính trên địa bàn Quảng Trị còn lại không dưới 2 triệu quả  
bom mìn chưa nổ sau chiến tranh gây ô nhiễm bom mìn (chiếm khoảng 1/5 tổng số bom mìn  
chưa nổ của cả nước) [24, tr.23]. Quảng Trị có 100% số xã bị ô nhiễm bom mìn. Trên 83% diện  
tích đất đai của Quảng Trị vẫn còn tồn đọng bom đạn chưa nổ. Tỷ lệ ô nhiễm bom mìn của  
Quảng Trị cao nhất cả nước và cao hơn rất nhiều so với các tỉnh khác ở miền Trung như: Nghệ  
An 17%, Quảng Bình 28,2%, Hà Tĩnh 38,8%, Thừa Thiên Huế 34,4% [9, tr.8] (Số liệu điều tra  
từ năm 2004 đến năm 2008 nên số liệu trong chiến tranh tỷ lệ ô nhiễm bom mìn còn cao hơn).  
Đồng thời, Mĩ đã sử dụng bom mìn với khối lượng lớn thả xuống các cánh rừng trên địa  
bàn Quảng Trị đã làm cho thảm rừng ở đây bị thu hẹp về diện tích và giảm sút về chất lượng.  
Phần lớn rừng già chuyển sang rừng thứ sinh rồi trở thành savan, đồi trọc, cây bụi, cỏ gianh và  
rất khó hồi phục lại được như ban đầu. Vùng Ba Lòng trước khi bị bom đạn tàn phá có 12.000  
ha rừng thì đến năm 1973 diện tích còn khai thác được chỉ còn 1.200 ha. Rừng Quảng Trị trước  
đây đại bộ phận là rừng già, có nhiều gỗ quý, sản lượng khai thác đạt 130m3/ha thì đến năm  
1973, bom đạn của Mĩ tàn phá nghiêm trọng rừng khiến sản lượng sụt giảm còn 70m3/ha [21,  
tr.33-34]. Do thảm xanh co lại, các tán rừng bị hủy diệt, độ che phủ giảm sút, nước bốc hơi  
nhanh dẫn đến khả năng giữ nước của đất giảm sút. Địa hình Quảng Trị có đặc điểm là sông  
ngắn, đồi núi độ dốc cao, độ che phủ của rừng thấp dẫn đến đất đai bị xói mòn, bạc màu, cằn  
cỗi. Những rừng cây phi lao được trồng ở ven biển bị bom mìn của Mĩ triệt phá dẫn đến nạn cát  
bay, cát xâm lấn vào sâu trong đất liền.  
Hậu quả do bom đạn được quân đội Mĩ và quân Việt Nam cộng hòa sử dụng cũng làm mất  
cân bằng nghiêm trọng hệ sinh thái. Động vật trong tự nhiên như lợn rừng, hươu, các loài chim,  
rắn giảm sút vì môi trường sống thay đổi đột ngột và thiếu nguồn thức ăn do rừng bị tàn phá,  
hủy diệt. Do rắn săn bắt chuột, các loài chim bắt sâu bọ bị tiêu diệt dẫn đến các loài thú, côn  
trùng có hại lại sinh sôi phát triển nhanh chóng. Xã Cam Lộc (Cam Lộ) có 105/259 mẫu ruộng  
bị chuột cắn nặng và sâu đục thân phá hoại [21, tr.35].  
3. Kết luận  
Với vị trí chiến lược vô cùng đặc biệt, Quảng Trị là mảnh đất địa đầu của miền Nam, là  
tiền đồn của miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Quảng Trị giống như hình  
ảnh thu nhỏ của đất nước Việt Nam bị chia cắt, phải cùng lúc thực hiện cả hai nhiệm vụ chiến  
lược của cách mạng Việt Nam ở hai miền. Địa bàn Quảng Trị trở thành nơi đối đầu trực tiếp  
sống còn giữa quân đội giải phóng với đế quốc Mĩ. Cả hai phía Việt Nam và Mĩ đều hiểu tầm  
quan trọng của Quảng Trị nên những trận đánh khốc liệt nhất có ý nghĩa bước ngoặt của cuộc  
kháng chiến chống Mĩ (về chính trị, quân sự, ngoại giao) đều đã diễn ra trên địa bàn Quảng Trị.  
Quân đội Mĩ và quân đội Việt Nam Cộng hòa đã bố trí một một hệ thống phòng tuyến  
mạnh nhất Đông Dương trên địa bàn và đem khối lượng bom đạn khổng lồ trút xuống Quảng  
Trị trong các trận đánh với mức độ ác liệt chưa từng thấy. Nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Quảng  
Trị, lượng bom đạn Mĩ trút xuống với mức độ hủy diệt sự sống. Lượng bom đạn mà Quảng Trị  
133  
Nguyễn Văn Nam  
phải gánh chịu có ngày còn nhiều hơn lượng bom đạn của cả miền Nam trong một năm.  
Mĩ thường kết hợp lục quân, không quân và hải quân tác chiến, sử dụng nhiều loại vũ khí  
bom mìn phối hợp với nhau để có thể gây ra sát thương lớn nhất, hủy diệt mục tiêu hiệu quả  
nhất. Quân đội Mĩ sử dụng bom mìn để đánh phá địa bàn Quảng Trị với nhiều thủ đoạn thâm  
hiểm. Mục tiêu khi đánh phá Quảng Trị của quân đội Mĩ nhằm tàn sát dân thường, phá hủy các  
cơ sở kinh tế, giao thông vận tải đến mức tối đa. Ý đồ trên của đế quốc Mĩ được thể hiện rõ qua  
việc quân đội Mĩ kết hợp nhiều loại vũ khí bom mìn với nhau, tăng cường sử dụng các loại vũ  
khí mới được cải tiến và phát minh khi tiến hành leo thang chiến tranh ở Việt Nam.  
Quảng Trị là địa bàn phải hứng chịu hậu quả nặng nề nhất do bom mìn của Mĩ gây ra. Bom  
mìn của Mĩ không chỉ gây ra số lượng thương vong rất lớn cho người dân Quảng trị mà còn phá  
hoại rất nghiêm trọng về kinh tế và tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên. Tỉ lệ diện tích đất  
đai bị ô nhiễm bom mìn ở Quảng Trị vượt xa tất cả các địa phương khác trong cả nước. Lượng  
bom mìn chưa nổ sau chiến tranh ở Quảng Trị còn rất lớn nên hệ quả tác động của bom mìn còn  
kéo dài. Những tác động nặng nề, lâu dài, trên nhiều lĩnh vực đã khiến cho Quảng Trị trở thành  
một điển hình rõ nhất về tội ác của Mĩ gây ra trong cuộc chiến tranh Việt Nam.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Cục Thống kê Quảng Trị, 2001. Quảng Trị trước thềm thế kỉ XXI con số và sự kiện. Tài  
liệu của Thư viện Quảng Trị, kí hiệu ĐC 0103.  
[2] Viện lịch sử quân sự Việt Nam, 2001. Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mĩ,  
cứu nước (1954 – 1975). Tài liệu của Thư viện Quảng Trị, kí hiệu ĐC 0098.  
[3] Tỉnh ủy Quảng Trị, Bộ Quốc phòng, 2012. 40 năm giải phóng tỉnh Quảng Trị và chiến đấu  
bảo vệ Thành cổ (1972-2012). Tài liệu của Thư viện Quảng Trị, kí hiệu KCL 73.  
[4] Nhiều tác giả, 2013. Huyền thoại Thành cổ Quảng Trị (81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa-1972).  
Nxb Thông Tấn xã Việt Nam, Hà Nội.  
[5] Nguyễn Văn Ái, 2014. Địa danh Quảng Trị xưa và nay. Tài liệu của Thư viện Quảng Trị,  
kí hiệu KCL 301.  
[6] Trần Hữu Huy 2018, Mặt trận đường 9 – Khe Sanh (Xuân hè 1968). Nxb Quân đội Nhân  
dân, Hà Nội.  
[7] VVMF, 1993. Socio - Economic Report on the Impact of Landmines (Báo cáo kinh tế - xã  
hội về tác động của bom mìn). Washington D.C, USA.  
[8] Jim Monan, 1997. Mìn và sự chậm phát triển. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[9] Trung tâm Công nghệ xử lí bom mìn, 2009. Báo cáo kết quả Dự án điều tra, khảo sát và  
đánh giá tác động của sự ô nhiễm bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh ở Việt Nam.  
Hà Nội.  
[10] Vũ Quang Hiển, 2015. “Hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975)-Mấy vấn đề  
bàn luận”. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4, tr.44-55.  
[11] RENEW, 2002. Nghiên cứu nhận thức - thái độ - hành vi về hiểm họa của bom mìn và tai  
nạn bom mìn sau chiến tranh tại tỉnh Quảng Trị, Việt Nam. Văn phòng điều phối dự án  
RENEW, Quảng Trị.  
[12] Nguyễn Duy Bính, 2005. “Những hậu quả của bom mìn Mĩ trong chiến tranh Việt Nam  
với cộng đồng cư dân tỉnh Quảng Trị”. Việt Nam 1954-2005 (21 năm kháng chiến chống  
Mĩ cứu nước và 30 năm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.568-575.  
[13] Một số tư liệu về tội ác diệt chủng của Mĩ và tay sai ở tỉnh Quảng Trị năm 1973. TTLTQG  
III, hồ sơ số 54.  
134  
Thực trạng và hậu quả của việc Mỹ sử dụng bom mìn trong chiến tranh Việt Nam…  
[14] Báo cáo tổng kết công tác điều tra và tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ năm 1967, Số  
150/UBĐT. TTLTQG III, hồ sơ số 112.  
[15] Thông báo về tội ác chiến tranh của đế quốc Mĩ trong tháng 10/1967, đặc biệt là đối với  
các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và khu vực Vĩnh Linh. TTLTQG III, hồ sơ số 114.  
[16] Số liệu thiệt hại chiến tranh do đế quốc Mĩ gây ra ở miền Bắc Việt Nam. TTLTQG III, hồ  
sơ số 116.  
[17] Tuyên bố của Ủy ban điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mĩ ở Việt Nam về việc chính  
phủ Mĩ dùng máy bay và tàu chiến đánh phá có tính chất hủy diệt xã Vĩnh Quang nằm  
trong khu phi quân sự. TTLTQG III, hồ sơ số 117.  
[18] Tư liệu về những hành động leo thang tội ác của đế quốc Mĩ ở miền Bắc Việt Nam từ sau  
31/3/1968 đến 30/9/1968. TTLTQG III, hồ sơ số 132.  
[19] Sơ kết một số tội ác của đế quốc Mĩ và tay sai trong quý 3 năm 1971. TTLTQG III, hồ sơ  
số 179.  
[20] Thông báo về tội ác của đế quốc Mĩ và tay sai ở Việt Nam trong tháng 1 năm 1972.  
TTLTQG III, hồ sơ số 201.  
[21] Điều tra tình hình phá hoại và những hậu quả của cuộc chiến tranh bằng chất độc hóa học  
và bom đạn của đế quốc Mĩ đối với động vật, thực vật và cảnh quan ở một số địa phương  
thuộc tỉnh Quảng Trị. TTLTQG III, hồ sơ số 235.  
[22] Thông báo về tội ác trong 8 năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ ở miền Bắc Việt  
Nam. TTLTQG III, hồ sơ số 252.  
[23] Sự thật tội ác chiến tranh của Mĩ đã gây ra ở Việt Nam. TTLTQG III, hồ sơ số 271.  
[24] Những số liệu tham khảo về tội ác của địch và hậu quả chiến tranh ở các tỉnh phía Nam  
năm 1977. TTLTQG III, hồ sơ số 294.  
[25] Tác động khốc hại nhiều mặt của cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ đối với phụ  
nữ và trẻ em. TTLTQG III, hồ sơ số 488.  
[26] Số liệu thống kê tỉnh Quảng Trị năm 1956. TTLTQG III, hồ sơ số 40.  
[27] Thường vụ Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị, 2002. Anh hùng lực lượng vũ  
trang nhân dân tỉnh Quảng Trị. Tài liệu của Thư viện Quảng Trị, kí hiệu KCL 57.  
ABSTRACT  
Reality and consequence caused by bombs and mines which United States  
used during Vietnam War in Quang Tri Province (1965-1973)  
Nguyen Văn Nam  
Faculty of History, Hanoi Pedagogical University 2  
During Vietnam War (1954-1975), the US imperialists mobilized enormous economic and  
military potentials, including both conventional weapons and newly invented weapons which  
were improved in the most modern manner. In Quang Tri Province, due to its strategically  
important position, the US imperialists and the Government of the Republic of Vietnam  
arranged a large military forces, used the most modern weapons, a large number of bombs and  
mines, together with many fierce attacks that made Quang Tri to become a place suffering from  
the most serious consequences of bombs and mines during the war. The article focuses on  
clarifying the actual use of bombs and mines in Quang Tri Province by US during the war from  
1965 to 1973; accordingly giving comments on economic, material, human and environmental  
consequences that Quang Tri has suffered.  
Keywords: Reality, consequences, bombs and mines, Quang Tri Province, Vietnam War.  
135  
pdf 9 trang Thùy Anh 17800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và hậu quả của việc Mĩ sử dụng bom mìn trong chiến tranh Việt Nam trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (1965-1973)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_hau_qua_cua_viec_mi_su_dung_bom_min_trong_chie.pdf