Những mảnh ghép phật giáo ở đồng bằng sông Cửu Long mười thế kỷ đầu công nguyên qua tư liệu khảo cổ học

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
77  
NHỮNG MẢNH GHÉP PHẬT GIÁO  
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
MƯỜI THẾ KỶ ĐẦU CÔNG NGUYÊN  
QUA TƯ LIỆU KHẢO CỔ HỌC  
ĐẶNG NGỌC KÍNH*  
Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy Phật giáo đã xuất hiện ở Đồng bằng  
sông Cửu Long từ trước thế kỷ thứ V. Nghệ thuật điêu khắc Phật giáo thế kỷ I-VI  
ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy nhiều yếu tố ngoại nhập, với nhiều đồ tạo  
tác mang phong cách Gandhara và Mathura hay Bắc Ngụy. Bên cạnh đó, một  
số tượng gỗ được chế tác ở Đồng Tháp Mười, với kiểu dáng mảnh mai, mang  
dấu ấn nghệ thuật Sarnath. Sang thời kỳ tiếp theo vào các thế kỷ VII-IX, kết quả  
nghiên cứu khảo cổ học gần đây cung cấp những hiểu biết quan trọng về Phật  
giáo trên vùng đất này. Nhiều biểu tượng của chư Phật và Bồ tát của Kim  
Cương Thừa như A Di Đà, Quán Âm và Trì Minh Vương được tôn thờ. Các bức  
tượng thời kỳ này cũng cho thấy rõ nét các phong cách bản địa ảnh hưởng từ  
các quốc gia Đông Nam Á, như nhóm tượng Bồ tát, tượng Phật đứng ảnh hưởng  
từ Mon-Dvaravati hoặc tượng Phật ngồi bán kiết già và ngồi kiểu đại sư ảnh  
hưởng từ Java.  
Từ khóa: Đồng bằng sông Cửu Long, nghệ thuật Phật giáo, khảo cổ học  
Nhận bài ngày: 7/6/2021; đưa vào biên tập: 15/6/2021; phản biện: 27/7/2021; duyệt  
đăng: 9/9/2021  
đại đế Alexander (356-323 TCN),  
khoảng trống quyền lực do đế chế Ba  
Tư tan rã để lại giúp vua Chandragupta  
(332-298 TCN) kiểm soát tiểu lục địa  
phía bắc Ấn Độ. Khi vương quốc  
Maurya đạt đến đỉnh cao dưới thời  
vua Ashoka (272-232 TCN), dưới sự  
bảo trợ của nhà vua một phong cách  
nghệ thuật Phật giáo đã phát triển  
mang ảnh hưởng của nghệ thuật Hy-  
La cổ. Trong vài thế kỷ đầu tiên, nghệ  
thuật Phật giáo sơ kỳ chỉ mang tính  
tượng trưng (iconic), không miêu tả  
1. DẪN NHẬP  
Phật giáo khởi nguồn từ Ấn Độ vào  
thế kỷ thứ VI trước Công nguyên sau  
đó truyền đi khắp thế giới, phía bắc  
từ Trung Á qua vùng núi Hymalaya,  
đến Trung Hoa, phía nam qua Sri  
Lanka và Đông Nam Á. Ngoài kinh  
điển, văn hóa Phật giáo còn kèm theo  
một lượng lớn các tác phẩm nghệ  
thuật và kiến trúc. Sau cái chết của  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
ĐẶNG NGỌC KÍNH – NHỮNG MẢNH GHÉP PHẬT GIÁO Ở ĐỒNG BẰNG…  
78  
nhân dạng mà chủ yếu là các biểu 2. ĐIÊU KHẮC PHẬT GIÁO TẠI ĐỒNG  
tượng như sư tử, pháp luân, dấu BẰNG SÔNG CỬU LONG (THẾ KỶ I-  
VI)  
chân, ngai vàng để trống, ngựa  
không người cỡi… Những nhân hình  
đầu tiên của đức Phật xuất hiện ở hai  
trung tâm Gandhara với những nét  
Châu Âu, tóc xoăn và có ria mép, và  
Mathura mang ảnh hưởng của Ấn  
Độ nhiều hơn trong trang phục và  
khuôn mặt tròn. Nghệ thuật Phật  
giáo đạt đến thời hoàng kim dưới  
triều đại Gupta (thế kỷ IV-V), với  
khuôn mặt, chuyển động thân thể và  
trang phục được tạo tác một cách  
chân thật, duyên dáng. Phong cách  
Gupta nhanh chóng lan tỏa, được  
tiếp biến các văn hóa và thẩm mỹ bản  
địa, để tạo nên nhiều trung tâm nghệ  
thuật khắp Châu Á (McAthur, 2005:  
13-17).  
Các tác phẩm nghệ thuật Phật giáo từ  
thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VI ở Đồng  
bằng sông Cửu Long tiêu biểu có  
nhóm tượng Phật bằng gỗ, các bức  
tượng đồng mang phong cách Bắc  
Ngụy và các tượng đá mang ảnh  
hưởng trực tiếp của các phong cách  
Ấn Độ và Trung Hoa. Phần lớn di vật  
này phân bố ở các di tích quan trọng  
của văn hóa Óc Eo, thuộc các vùng  
đất thấp như Óc Eo, Nền Chùa, Cạnh  
Đền, Gò Tháp.  
2.1. Tượng đồng phong cách Gandhara  
Một mảnh đầu tượng đức Phật ký  
hiệu BTLS.1587 mang đậm dấu ấn  
nghệ thuật Gandhara với nhiều nét  
ảnh hưởng từ nghệ thuật tạo hình cổ  
Hy Lạp. Tượng có khuôn mặt tròn, đôi  
mắt hình hạnh nhân rõ mí, mũi cao,  
miệng rộng, tai lớn và dài. Đầu tóc búi  
cao tạo thành nhục kế (ushnisha) với  
những nếp tóc xoăn mềm (Malleret,  
1960: 201-202; Lê Thị Liên, 2006: 54;  
Bùi Chí Hoàng và nnk., 2018: 265).  
Thông qua mạng lưới thương mại,  
các ý tưởng văn hóa thượng tầng của  
Ấn Độ đã đến Đông Nam Á, tạo nên  
quá trình “Ấn Độ hóa” trong những thế  
kỷ đầu Công nguyên, với sự du nhập  
nhiều khía cạnh như ngôn ngữ, nghệ  
thuật, cũng như tư tưởng, mô hình  
nhà nước, chính trị và tôn giáo, bao  
gồm cả Phật giáo. Các trường phái  
Phật giáo khác nhau, cả Đại thừa,  
Nguyên thủy, Kim Cương thừa… đã  
cùng tồn tại với đạo Bà La Môn và tín  
ngưỡng vật linh bản địa trong nhiều  
thế kỷ. Bằng chứng khảo cổ học cho  
thấy Phật giáo có mặt ở Đông Nam Á  
và Đồng bằng sông Cửu Long ít nhất  
là vào thế kỷ thứ III và bắt đầu có ảnh  
hưởng mạnh vào thế kỷ thứ V, và sau  
đó vào các thế kỷ VII-IX.  
2.2. Tượng đồng phong cách Bắc  
Ngụy  
Hai pho tượng Phật bằng đồng  
nguyên vẹn có kích thước khá nhỏ,  
được tìm thấy tại khu vực Óc Eo-Ba  
Thê (An Giang), cả hai đều mang đặc  
điểm của tượng Phật triều đại Bắc  
Ngụy (386-534), với thế đứng thẳng,  
trang trọng và hơi cứng, thân phẳng, y  
khá nặng nề, không lộ thân thể và tạo  
nên nhiều nếp gấp ngang thân như  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
79  
những gợn sóng, nét mặt tượng thanh trang phục trở nên tự nhiên hơn nhiều,  
có thể thấy đường nét của thân thể  
sau làn y mỏng.  
tú, mắt, mũi, miệng, lông mày đều  
mảnh, nhục kế khá nhỏ và phẳng. Cả  
hai bức tượng đều có cánh tay đưa  
lên phía trước, lòng bàn tay trái ngửa,  
hơi khum nhẹ và hướng xuống dưới,  
kết ấn ban ân (varada mudra), tay  
phải giơ cao ngang vai, cánh tay uốn  
cong và lòng bàn tay hướng ra ngoài  
với các ngón tay thẳng đứng kết ấn vô  
úy (abhaya mudra) (Lê Thị Liên, 2006:  
54-55; Bùi Chí Hoàng và nnk., 2018:  
264). Ngoài ra, sưu tập tượng phong  
cách Bắc Ngụy ở khu vực này còn có  
một bức Quán Âm bằng đồng nhỏ, tìm  
thấy ở Óc Eo. Tượng bán tròn, phần  
lưng dẹt gần như một phù điêu, trong  
tư thế đứng trên bệ. Gương mặt tròn  
nhỏ, tạo hình phi giới tính với trang  
phục xếp tầng ôm sát cơ thể (Malleret,  
1960: 208; Lê Thị Liên, 2006: 56).  
2.3. Các tượng đá  
Các bức tượng nhỏ trong tư thế kiết  
già hoặc bán kiết già, nhưng tạo hình  
và phong cách hoàn toàn khác biệt,  
khó có thể xếp thành một nhóm.  
Tượng ở Mỹ Thạnh Đông (Long An)  
trong tư thế ngồi kiết già (padmasana)  
lộ rõ hai bàn chân bắt chéo, hai tay  
ôm trước bụng bắt ấn thiền định  
(dhyana-mudra). Khuôn mặt bầu, môi  
dày, mũi to, đầu tròn, nhục kế nổi cao  
nhưng không có búi tóc mà giống như  
một cái mũ ni (karpadin). Trang phục  
chỉ có thể nhận ra ở một viền tròn  
quanh cổ. Tượng tạo hình mập khỏe  
ở thế chính diện nhưng lại dẹp nếu  
nhìn nghiêng phần lưng phẳng và để  
nguyên mặt đá tự nhiên. Tượng cho  
thấy nhiều đặc điểm của nghệ thuật  
Mathura giai đoạn Kushana-Gupta  
(thế kỷ II-IV), tính phù điêu còn đậm  
nét, trang phục và các chi tiết được  
đơn giản hóa. Đặc biệt là chất liệu đá  
xanh đen, hạt mịn, ít gặp trong khu  
vực khiến người ta ngờ rằng tượng có  
thể được du nhập từ bên ngoài (Lê  
Thị Liên, 2006: 51).  
Cả 3 tượng đều mang rõ phong cách  
Á Đông, triều Bắc Ngụy và Bắc Tề,  
các ngón tay tượng thường rất cứng,  
và sau đó dần dần mới bắt đầu thả  
lỏng, đến thời nhà Đường thì các  
đường nét ngón tay mới cong tự  
nhiên. Dưới triều Bắc Ngụy, nghệ  
thuật Phật giáo rất phát triển, phong  
cách tượng vừa phản ánh những ảnh  
hưởng từ phong cách nghệ thuật  
Gupta và Mathura, trung tâm Bắc Ấn,  
vừa chịu ảnh hưởng bởi các đặc điểm  
của văn hóa Trung Hoa. Bằng chứng  
rõ ràng nhất là những đường nét  
thanh tú trên khuôn mặt và y phục. Y  
phục tượng vào cuối thời Bắc Ngụy  
Tượng ở Tân Mỹ (Long An) cũng thể  
hiện Phật trong tư thế ngồi kiết già và  
thiền định, tuy nhiên có lối xếp chân  
hơi khác lạ, hai chân chúc xuôi chữ V.  
Trang phục trơn, gần như không được  
thể hiện, khuôn mặt dài, nét mặt mờ  
thường rất nặng nề, che kín thân thể, nhạt, mũi, miệng, cằm đều nhỏ thanh.  
nhưng đến thời Bắc Tề, kiểu dáng  
Lối xếp chân và chi tiết nhân dạng gần  
ĐẶNG NGỌC KÍNH – NHỮNG MẢNH GHÉP PHẬT GIÁO Ở ĐỒNG BẰNG…  
80  
gũi với các điêu khắc hang động thời thấy chúng mang ảnh hưởng của  
phong cách Amaravati và Dvaravati,  
đặc trưng bởi một vai phải trần và một  
y xếp ly hẹp với viền rơi trên mắt cá  
chân, tỷ lệ cơ thể cân đối không có chi  
tiết cách điệu.  
Nam - Bắc Triều (Trung Hoa), niên đại  
có thể khoảng thế kỷ thứ IV-V (Lê Thị  
Liên, 2006: 51).  
Một nhóm khoảng 3 tiêu bản tượng  
phát hiện ở Óc Eo-Ba Thê (An Giang)  
và Bàu Công (Long An), kích thước  
rất nhỏ; tạo hình Phật ngồi trong tư  
thế bán kiết già (paryankasana) trên  
một bệ cao, hai tay để phía trước  
bụng trong cử chỉ thiền định. Các chi  
tiết nhân dạng và trang phục gần như  
không nhận ra, kích thước nhỏ, tạo  
hình đơn giản hình thức nặng về tính  
phù điêu cộng với trang phục trơn  
thường thấy trong nghệ thuật Gupta,  
cho thấy những nét gần gũi với tượng  
trong các ô khám thờ nhỏ ở các hang  
Các tượng bằng gỗ có kích thước  
bằng một người thật của Đức Phật  
Thích Ca Mâu Ni được tạo hình mảnh  
khảnh, cơ thể được che bởi một  
thượng y (uttaraanga) chéo qua vai  
phải, phủ đến mắt cá chân. Thân dưới  
đắp hạ y (antarvasa), có thể nhận thấy  
qua một vệt cong ngang eo. Nhục kế  
nổi cao, với những lọn tóc rõ rệt, mặt  
mỉm cười bình thản. Bàn tay phải đưa  
lên trong cử chỉ trấn an (abhayamudra),  
tay trái nắm chéo y, cả hai mắt cá  
động vùng Tây Ấn (Bùi Chí Hoàng và chân có thể nhìn thấy bên dưới lớp y.  
nnk., 2018; Lê Thị Liên, 2006).  
Phần lớn các bức tượng Phật được  
tạo tác trong tư thế đứng (sthanaka)  
trên bệ hoa sen (padma-pita), với 3 thế:  
đứng thẳng (samabhanga) đầu, cổ và  
rốn trên một đường thẳng, tạo hình  
được sắp xếp đối xứng với đường  
thẳng đi từ đỉnh đầu, qua rốn đến giữa  
gót chân. Đứng lệch (abhanga) thân  
uốn cong nhẹ ở thắt lưng, đường  
thẳng trung tâm từ đỉnh đầu đến điểm  
giữa gót chân, hơi đi qua bên phải của  
rốn. Trong đó chia thành hai tư thế  
phụ là lệch nhẹ (dvibhanga), tư thế chỉ  
uốn cong ở thắt lưng, trong khi các bộ  
phận từ thắt lưng đến đầu và từ eo  
đến chân gần như thẳng và lệch mạnh  
(tribhanga), cơ thể ở ba khúc cua  
thanh nhã và duyên dáng riêng biệt -  
ở cổ, vai và thắt lưng, một tư thế múa  
cổ điển, thường sử dụng cho tượng  
2.4. Các bức tượng Phật bằng gỗ  
Những bức tượng Phật bằng gỗ được  
tìm thấy tại các vùng Đồng Tháp Mười,  
Bình Hòa, Phong Mỹ, Giồng Xoài… là  
những ví dụ điển hình cho những tác  
phẩm đầu tiên về nghệ thuật Phật  
giáo ở Đông Nam Á. Đặc biệt khu di  
tích Gò Tháp, nơi tìm thấy một số lớn  
hiện vật, với nhiều bức phác vật dang  
dở, là bằng chứng tồn tại một xưởng  
chế tác bản địa. Ở đây, các tác phẩm  
điêu khắc bằng gỗ đặc biệt hiếm, chỉ  
còn khoảng hơn 30 bức được tìm thấy  
trong vùng đất yếm khí của Đồng  
bằng sông Cửu Long, một số bị hư hại,  
một số may mắn vẫn còn những  
đường nét cơ bản. Bề mặt các tượng  
bị nứt và cong vênh nên khó xác định  
phong cách, tuy nhiên có thể nhận  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
81  
nữ thần như Krishna và Ganapathi, Phần lớn các di tích và di vật thời kỳ  
này phân bố trên các vùng đất cao  
như Long An, vùng chân núi Ba Thê  
(An Giang) hay các vùng đất giồng  
ven biển Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc  
Trăng.  
hiếm khi thấy ở một điêu khắc Phật  
giáo. Ngoài ra còn có một bức phác  
vật ở thế ngồi đại sư (bhadrasana)  
được thấy trong một ngôi chùa ở  
Đồng Tháp (Lê Thị Liên, 2006: 42-48;  
Bùi Chí Hoàng và nnk., 2018: 266-  
273). Về niên đại, các tượng tư thế  
lệch hông mạnh chịu ảnh hưởng  
nhiều của phong cách Amaravati,  
được xác định có niên đại sớm, thế kỷ  
thứ II-IV. Trong khi, nhóm tượng lệch  
hông nhẹ và đứng thẳng, có kích cỡ  
nhỏ hơn, chịu ảnh hưởng của nghệ  
thuật Dvaravati, được định niên đại  
trong khoảng thế kỷ thứ V-VI (Lê Thị  
Liên, 2006: 42-46).  
3.1. Nhóm tượng Bồ tát  
Bồ tát là phiên âm Bồ Ðề Tát Ðỏa  
(Bodhisattva), nguyên nghĩa là “Giác  
hữu tình”, do hạnh nguyện mà còn lưu  
lại trong tam giới theo đuổi tâm  
nguyện độ thoát chúng sanh. Các điêu  
khắc hình tượng Bodhisattva với các  
phong cách kéo dài từ Phnom Da  
(514-600), Sambor Prei Kuk (600-650)  
đến Prei Khmeng (635-700), đã được  
tìm thấy cho thấy sự ảnh hưởng của  
Phật giáo Đại thừa trong suốt thế kỷ  
thứ VI và thứ VII.  
Như vậy, các di vật Phật giáo thế kỷ I-  
VI ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện  
được tìm thấy chủ yếu là các tượng  
Phật Thích Ca và có thể chia thành  
hai nhóm tách biệt: các tượng gỗ  
được chế tác bản địa và các hiện vật  
ngoại nhập có nguồn gốc Ấn Độ hoặc  
Trung Hoa. Trong khi nhóm tượng gỗ  
cho thấy những nét thống nhất trong  
phong cách và chuyển biến về tạo  
hình theo thời gian, thì nhóm tượng  
ngoại nhập lại khá đa dạng, rời rạc về  
phong cách và thường có kích thước  
nhỏ.  
Một trong số những bức tượng  
Boddhisatva Avalokitesvara đẹp nhất  
ở Đông Nam Á, được xác định bởi  
Đức Phật A Di Đà (Amitabha), là bức  
tìm thấy tại Rạch Giá, hiện lưu tại Bảo  
tàng Nghệ thuật Châu Á, Guimet,  
Paris. Tượng trong tư thế đứng, trên  
một đôi hoa sen, phần đầu được trang  
trí với một vương miện, kiểu Jata-  
makuta, được cột bởi nhiều băng  
trang trí bằng hoa (ratnajali), mái tóc  
được xử lý thành những lọn tóc xếp  
xuống phía sau. Khuôn mặt có chiếc  
mũi dài, mỏng, đôi mắt khép nhẹ, môi  
hơi mỉm cười, mọng nước. Trang  
phục là antariya một miếng vải quấn  
quanh thân dưới đơn giản, với nếp  
gấp cuộn giữa hai chân, đặc trưng  
của nghệ thuật Phnom Da, cuối thế kỷ  
thứ VI. Trang sức không quá cầu kỳ,  
3. ĐIÊU KHẮC PHẬT GIÁO TẠI ĐỒNG  
BẰNG SÔNG CỬU LONG (THẾ KỶ  
VII-IX)  
Các tác phẩm nghệ thuật từ thế kỷ thứ  
VII đến thế kỷ thứ IX ở Đồng bằng  
sông Cửu Long có các tượng chư Bồ  
tát và tượng Phật trong tư thế đứng,  
ngồi bán kiết già hoặc ngồi thế đại sư.  
ĐẶNG NGỌC KÍNH – NHỮNG MẢNH GHÉP PHẬT GIÁO Ở ĐỒNG BẰNG…  
82  
chỉ có khuyên tai hình tròn (kundala) giữa trán. Tóc kiểu Jata-makuta búi  
và vòng tay (kaukana), một vòng cổ cao thành hai tầng, được tạo thành từ  
hình xuyến (lambanam) và thắt lưng những móc bao quanh của những lọn  
(mekala). Tay trái của ngài cầm một tóc xoắn ốc và buộc thành một búi ở  
nụ sen (padmapani) và tay phải cầm đỉnh. Khuôn mặt đầy đặn, cung mày  
một tịnh bình (kamandalu) (Lê Thị nổi cao, mũi cao, miệng rộng, môi dày.  
Liên, 2006: 54). Một bức khác, cùng Bốn tay có các vật cầm (ayudha) khác  
phong cách và tạo hình với tượng này nhau. Hai tay phía sau đưa ngang đầu,  
nhưng chỉ còn phần chân, bệ sen và tựa vào cung đỡ, cầm chuỗi hạt  
chốt tượng hiện được lưu giữ tại Ban (akshamala), tay trái cầm pho kinh  
Quản lý Di tích Óc Eo tỉnh An Giang.  
(pustak). Hai tay trước đưa ngang  
hông với các ngón tay cong lại, dường  
như hai vật cầm đã bị mất. Ngoài ra  
còn có các bức khác ở Trà Cú (Trà  
Vinh) và Bình Tả (Long An) cũng có  
cùng phong cách (Lê Thị Liên, 2006:  
56-58; Bùi Chí Hoàng và nnk., 2018:  
278-281).  
Tượng Bodhisattva Maitreya, ký hiệu  
BTLS.5551, nhận ra qua tạo hình bảo  
tháp ở trên mũ, được tìm thấy ở Vĩnh  
Long, trong tư thế đứng thẳng, với 4  
tay, khuôn mặt cứng, tóc búi cao,  
giống như một cái mũ trụ của Vishnu,  
thân dưới quấn antariya dài đến cổ  
chân, thắt thành một dải giữa hai chân 3.2. Nhóm tượng mon-dvaravati  
hình túi trước bụng, đặc trưng của  
Bao gồm các hình ảnh của Đức Phật  
phong cách Sambor Prei Kuk, nửa  
trong tư thế đứng, đa số được tìm  
đầu thế kỷ VII. Hai tay sau đưa ngang  
thấy gần khu vực Kiên Giang và  
đầu, cầm một bánh xe và một vật hình  
Angkor Borei (Campuchia), dựa trên  
trụ, hai tay trước để ngang hông, tay  
nhiều đặc điểm phong cách, là đại  
phải cầm một bông sen, tay trái chống  
diện của một tổng hợp hài hòa các  
lên trụ đỡ. Tư thế tạo hình rõ ràng bị  
truyền thống từ Ấn Độ và Nam Á.  
ảnh hưởng từ tạo hình Vishnu (Bùi  
Trong đó có thể nhận thấy sự mô  
Chí Hoàng và nnk., 2018: 278-281).  
phỏng rõ nét của phong cách Sarnath,  
Nhóm tượng Bồ tát trong tư thế đứng  
mang phong cách Prei Khmeng, nửa  
cuối thế kỷ VII, đặc trưng bởi cung đỡ  
hình chữ U sau đầu và trang phục  
antariya-calanika rất ngắn chỉ dài đến  
giữa đùi, quấn chéo qua đùi trái và  
một thắt lưng (kayabandh) bằng thừng  
quanh eo. Tiêu biểu là Avalokitesvara,  
ký hiệu BTLS.5531 ở Tiểu Cần, tỉnh  
Trà Vinh, có thể nhận ra bởi một bức  
đặc trưng bởi quần áo trơn và hiệu  
ứng đánh bóng bề mặt của sa thạch,  
đặc điểm phân biệt với những tác  
phẩm điêu khắc được thực hiện ở các  
khu vực khác ở Ấn Độ trong thời kỳ  
Gupta (Kang Heejung, 2013). Các tác  
phẩm có thể đã trải qua một quá trình  
“địa phương hóa” bởi các thợ Đông  
Nam Á, có thể qua trung gian của  
vùng Mon-Dvaravati (Thái Lan). Nhóm  
tượng mon-dvaravati có thể chia  
có huệ nhãn giống ký hiệu ॐ “Auṃ” ở  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
83  
thành 3 tiểu nhóm dựa trên niên đại, tới vai, mày cong, đôi mắt nhìn xuống,  
hình dáng cơ thể và khuôn mặt.  
không có dấu hiệu của con ngươi, môi  
trên mỏng, môi dưới dày, cằm lớn.  
Một chiếc áo choàng khoác chéo, để  
lộ vai phải và cánh tay trần, kéo dài  
xuống và xung quanh chân phải cong  
lên ở giữa bắp chân, đến cánh tay trái.  
Phần hạ y thể hiện bằng ngấn nhẹ  
quanh eo. Bàn chân song song trên  
bệ sen, phần gót và bàn chân không  
thể hiện chi tiết liền khối với bệ sen  
hình oval (Bùi Chí Hoàng và nnk.,  
2018: 274).  
Tiểu nhóm có niên đại sớm nhất,  
khoảng thế kỷ thứ VI đầu thứ VII, tiêu  
biểu là các tượng Đức Phật tìm thấy ở  
Wat Romlok, Angkor Borei trong thế  
đứng lệch trên hai bông sen, chân  
được tả thực, lộ gót và mắt cá chân.  
Hình dáng cân đối, bề mặt nhẵn mịn  
và thân hình tự nhiên rất gần với tác  
phẩm điêu khắc Sarnath được thực  
hiện vào cuối thế kỷ thứ V. Tuy nhiên,  
có một vài khác biệt, trong khi các tác  
phẩm điêu khắc Sarnath có khuôn mặt  
tròn, bức tượng Wat Romlok có khuôn  
mặt hẹp và đường viền tròn của cổ áo  
không được miêu tả trong trang phục.  
Một chiếc áo choàng trong suốt cổ  
tròn và rũ xuống dính chặt thân hình,  
phía sau thấp hơn phía trước, tạo  
thành một đường vành đai cong. Hạ y  
(antaraviisaka) xếp ly phía dưới tạo  
thành một đai ở dưới thắt lưng (Nancy  
Dowling, 2000: 123).  
Tiểu nhóm thứ ba có thể có niên đại  
muộn nhất, khoảng nửa sau thế kỷ VII,  
bao gồm các bức tượng tiêu biểu ở  
Đá Nổi, Cạnh Đền, Sơn Thọ... đều  
trong tư thế đứng thẳng trên bệ hoa  
sen. Những lọn tóc lớn, dẹt xen kẽ  
hàng ngang qua trán theo một đường  
thẳng. Nhục kế nổi cao giống như búi  
tóc hoặc xoắn trên đầu. Khuôn mặt  
trái xoan, rộng có lông mày hình cánh  
làm nổi bật đôi mắt hình hạnh, mũi  
mỏng, môi dày, cằm tròn. Bên dưới  
cằm nổi bật cổ lớn ngắn. Vai xuôi tròn,  
ngực phẳng, bụng hơi lớn, lỗ rốn sâu  
và có một ngấn nhẹ thể hiện lớp hạ y.  
Tượng khoát một chiếc áo choàng lộ  
vai bên phải và cánh tay trần, đi xuống  
và quanh chân phải cong lên ở giữa  
bắp chân sang cánh tay trái. Hai cánh  
tay gập vuông góc và đưa ra phía  
trước, bàn tay trong tư thế thuyết  
pháp, lớn bất thường so với tỷ lệ cơ  
thể (Bùi Chí Hoàng và nnk., 2018:  
274).  
Tiểu nhóm thứ hai, tiêu biểu có bức  
tượng ở Nền Chùa (Kiên Giang)  
(BTKG.Đa 431), có niên đại muộn hơn,  
khoảng nửa đầu thế kỷ thứ VII. Tượng  
tạo tác tinh tế, hơi tròn và nặng. Trọng  
tâm cơ thể nằm trên chân phải, bên  
thân cong và xoay nhẹ, đầu hơi  
nghiêng, vai phải thấp hơn một chút,  
tay phải buông xuôi sát hông, bàn tay  
hơi xoay ra ngoài, tay trái gập vuông  
góc, có thể nắm chéo y. Những lọn  
tóc lớn, xen kẽ, chạy sát xuống cổ,  
nhục kế (ushnisha) nổi cao được đánh  
dấu bằng một búi tóc xoắn trên đỉnh. 3.3. Nhóm tượng Phật ngồi bán kiết  
già  
Khuôn mặt tròn rộng, tai lớn chảy dài  
ĐẶNG NGỌC KÍNH – NHỮNG MẢNH GHÉP PHẬT GIÁO Ở ĐỒNG BẰNG…  
84  
Một nhóm tượng Đức Phật ngồi bán 3.4. Tượng Phật ngồi thế đại sư  
kiết già (virasana) trên bệ, hai tay trong  
một cử chỉ thiền định (dhyana mudra)  
hai tay khoanh tròn phía trước bụng,  
hai bàn tay tạo hình to bất thường so  
với tỷ lệ cơ thể. Chiếc áo choàng  
mỏng lộ phần vai phải, do ảnh hưởng  
ở phía nam Ấn Độ hoặc Sri Lanka.  
Một chiếc áo choàng trong suốt, chéo  
qua thân, tạo thành một hình chữ s  
bên dưới ngực phải. Thân hình gọn  
gàng, phần hạ y thể hiện bằng một  
đường nổi dưới phần bụng. Đôi chân  
được tạo hình tự nhiên, nhẹ nhàng, lộ  
rõ xưng đùi và đầu gối. Một đường  
rạch ở trên mỗi mắt cá chân đánh dấu  
cạnh áo choàng. Nhân dạng các bức  
tượng đều khá giống nhau, tóc xoắn  
ốc lớn, nhục kế nổi cao, khuôn mặt  
tròn, đầy đặn, cằm tròn ngắn, mắt hơi  
nhìn xuống, mỉm cười nhẹ. Các bức  
tượng được tìm thấy chủ yếu ở vùng  
Trà Vinh, và có thể chia thành hai phụ  
nhóm nhỏ, nhóm trên bệ oval không  
trang trí là hai bức ở Trà Cú, Svày  
Xiêm Càs với phần bệ hình; nhóm  
tượng ngồi trên bệ sen, tiêu biểu có  
bức Phnom Cangek (chùa Wat Trapen  
Ven - Trà Vinh) (Bùi Chí Hoàng và  
nnk., 2018: 276-277). Niên đại chung  
cho nhóm tượng này có thể xếp vào  
khoảng giữa thế kỷ thứ VII. Trên bức  
Phnom Cangek còn có các chữ cái  
tiếng Phạn được khắc trên 3 cánh hoa,  
đánh vần, một phần là Suryadatta có  
Một tượng tinh xảo của Đức Phật  
trong thế ngồi hoàng gia (bhadrasana-  
Enthroned Buddha), ngồi trên một  
ngai hình chữ nhật, cánh tay phải bị  
gãy, tay trái bắt ấn varadamudra, mặc  
áo choàng dài chéo qua vai trái,  
khuôn mặt thanh thản, lông mày cong  
trên đôi mắt khép, mũi rộng, môi mỉm  
cười, tai thon dài và tóc xoắn ốc, nhục  
kế nổi cao. Bức tượng là ví dụ duy  
nhất của loại bhadrasana Buddha  
được biết đến từ vùng Mekong, chịu  
ảnh hưởng từ các vùng Mon của Thái  
Lan và Trung Java, vào thế kỷ VII đến  
VIII.  
Về mặt nhân dạng, trước đây  
bhadrasana Buddha thường được  
gắn cho Di Lặc (Maitreya) cai quản cõi  
tương lai Ketumati. Tuy nhiên, sau  
nhiều lần phân tích, đối sánh nhận  
định này không hoàn toàn chính xác.  
Có rất nhiều ví dụ ở Ấn Độ, nơi các vị  
Phật trong thế bhadrasana đại diện  
cho những khoảnh khắc khác nhau  
trong cuộc đời của Thích Ca Mâu Ni  
(Sakyamuni), nổi bật là bài thuyết  
pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển  
(Sarnath). Nó cũng giống hệt về mặt  
hình tượng của Đại Nhật Như Lai  
(Vairocana) thuyết giảng chân lý phổ  
quát trên đỉnh núi Meru. Đáng chú ý là  
trong thế bhadrāsana Buddha, Đức  
Phật thường không xuất hiện đơn lẻ  
mà ở trong một bộ ba. Phần nhiều  
thể là tên của nhà cúng dường, các Phật được tìm thấy trong hang động  
Maharashtra, phía tây Ấn Độ, và các  
tượng tại Java đều cho thấy ngài  
được sắp xếp thành nhân vật trung  
âm tiết khác có thể là kính ngữ liên  
quan đến tên hoặc có thể là chú thuật  
(dharani) (Guy và nnk., 2014: 99).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
85  
tâm và được bao quanh bởi hai vị  
nhập này đều có kích thước nhỏ, một  
Bồ tát. Thông thường là Quán Thế số ở dạng tượng tròn không hoàn  
chỉnh, ảnh hưởng nhiều tạo hình phù  
điêu, cho thấy có khả năng đây chỉ là  
các tượng trong các trang thờ trên tàu,  
để cầu mong sự an lành, hộ trì từ chư  
Phật trong chuyến đi, hoặc trong các  
hốc thờ nhỏ trong các hang động, gốc  
cây. Những pho tượng này là chứng  
cứ cho sự liên hệ khắng khít giữa các  
nền văn hóa cổ Trung Hoa và Ấn Độ  
trong một bức tranh phức tạp đan xen  
của truyền thống Phật giáo trên vùng  
Đồng bằng sông Cửu Long trong  
những thế kỷ đầu Công nguyên. Phần  
Âm Padmapāṇi và Kim Cương Thủ  
Vajrapāṇi. Ở Java, hình ảnh bhadrāsana  
Buddha thường xuất hiện cùng các  
văn khắc có yếu tố Phật giáo Mật tông  
sớm (Griffiths và nnk., 2013).  
Như vậy, các di vật Phật giáo thế kỷ  
VII-IX ở Đồng bằng sông Cửu Long  
khá đa dạng, bao gồm cả tượng Thích  
Ca, A Di Đà và chư Bồ tát. Tất cả có  
kích thước khá lớn, mang phong cách  
bản địa rõ nét, các yếu tố tiểu tượng  
thống nhất và có sự tiếp nối, dễ dàng  
xếp thành các nhóm theo tạo hình và  
phong cách. Trong đó chia thành lớn di vật này phân bố ở các di tích  
nhóm tượng Bồ tát phát triển từ nghệ  
thuật Phnom Da, nhóm tượng Phật  
đứng ảnh hưởng của vùng Mon-  
Dvaravati (Thái Lan) và nhóm tượng  
ngồi bán kiết già hay trong tư thế đại  
sư ảnh hưởng của Java.  
quan trọng của văn hóa Óc Eo, là Óc  
Eo và Gò Tháp, cho thấy đó có khả  
năng là hai trung tâm Phật giáo lớn  
của thời kỳ này. Gò Tháp rõ ràng là  
một xưởng chế tác các tượng Phật  
đứng bằng gỗ, và phân phối cho các  
địa phương khác trong vùng như  
Giồng Xoài, Nhơn Thành hay Bình  
Hòa… Trong khi, một số lượng lớn  
các tượng đồng nhỏ Bắc Ngụy được  
tìm thấy tại khu vực Óc Eo, một hải  
khẩu quan trọng giai đoạn này, đặc  
biệt các báo cáo cho biết chúng được  
tìm thấy gần phế tích Gò Cây Thị, để  
ngỏ một khả năng về chức năng liên  
quan đến một điện thờ Phật giáo của  
kiến trúc này.  
4. KẾT LUẬN  
Mặc dù chỉ còn lại các mảnh ghép rời  
rạc, các bằng chứng khảo cổ học cho  
thấy Phật giáo đã xuất hiện ở Đồng  
bằng sông Cửu Long từ sớm.  
Các tác phẩm điêu khắc Phật giáo từ  
thế kỷ I đến thế kỷ VI bao gồm các  
tượng gỗ, tượng đá trong tư thế kiết  
già hoặc bán kiết già ảnh hưởng từ Ấn  
Độ, Trung Hoa và nhóm tượng đồng  
Bắc Ngụy (Trung Hoa). Ngoại trừ  
nhóm tượng Phật gỗ, được chế tác tại  
xưởng địa phương, hầu hết các tượng  
khác được du nhập từ Trung Hoa và  
Các tác phẩm điêu khắc thế kỷ VII-IX  
có ảnh hưởng từ các khu vực khác  
của Đông Nam Á như các tượng Phật  
Ấn Độ, do đó thường có phong cách đứng cho thấy ảnh hưởng của Mon-  
đa dạng, không liên tục. Đặc điểm thứ Dvaravati (Thái Lan), tượng Phật ngồi  
hai là phần lớn tượng Phật ngoại trong tư thế bán kiết già và ngồi kiểu  
ĐẶNG NGỌC KÍNH – NHỮNG MẢNH GHÉP PHẬT GIÁO Ở ĐỒNG BẰNG…  
86  
đại sư lại có ảnh hưởng Java hiện về bảo tháp và tu viện Phật giáo  
(Indonesia). Giai đoạn này cũng định rải rác trên khắp địa bàn Đồng bằng  
hình rõ nét các phong cách bản địa sông Cửu Long. Hai trung tâm quan  
trong nghệ thuật Phật giáo với đặc trọng có thể kể đến là Gò Xoài (Long  
điểm nhân dạng, trang phục ổn định, An) và Ba Thê (An Giang). Ngoài ra,  
có sự tiếp nối phát triển sớm muộn rõ còn một số địa điểm còn nghi vấn  
ràng. Các bức tượng cũng có kích khác ở khu vực đất giồng Trà Vinh,  
thước lớn hơn và là tượng tròn hoàn nơi tập trung một số lượng khá lớn  
chỉnh, cho thấy khả năng chúng là các tượng Phật bằng đá như xung  
những tượng thờ trong các Phật điện. quanh Ao Bà Om, nơi có di tích kiến  
Điều này phù hợp với hiện trường trúc Lò Gạch.  
khảo cổ giai đoạn này với các phát  
CHÚ THÍCH  
(1) Sáu Ba-la-mật gồm có: bố thí, giới, nhẫn, tinh tiến, thiền và huệ.  
(2) Thập địa (daśabhūmi) là 10 quả vị tu chứng của các vị Bồ tát.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bùi Chí Hoàng, Nguyễn Quốc Mạnh, Lê Hoàng Phong. 2018. Khảo cổ học Nam Bộ  
thời sơ sử. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
2. Griffiths, Arlo, Nicolas Revire, Rajat Sanyal. 2013. “An Inscribed Bronze Sculpture of  
a Buddha in bhadrāsana at Museum Ranggawarsita in Semarang (Central Java,  
Indonesia)”. Arts asiatiques, 68, pp. 3-26.  
3. Guy, John (editor). 2014. Lost Kingdoms: Hindu-Buddhist Sculpture of Early  
Southeast Asia. New York: The Metropolitan Museum of Art.  
4. Kang Heejung. 2013. “The Spread of Sarnath-Style Buddha Images in Southeast Asia  
and Shandong, China”. KEMANUSIAAN Penerbit Universiti Sains Malaysia, 20, pp. 39-  
60.  
5. Lê Thị Liên. 2006. Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long  
trước thế kỷ thứ X. Hà Nội: Nxb. Thế giới.  
6. Malleret, Louis. 1960. “L'archéologie du delta du Mékong. Tome second. La  
civilisation matérielle d'Oc-èo”. l'École Française d'Extrême-Orient, Vol. XLIII.  
7. McAthur, Meher. 2005. Tìm hiểu nghệ thuật Phật giáo. Hà Nội: Nxb. Mỹ thuật.  
8. Nancy Dowling. 2000. “New Light on Early Cambodian Buddhism”. Journal ofthe  
Siam Society, 88, pp. 122-155.  
pdf 10 trang Thùy Anh 16020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những mảnh ghép phật giáo ở đồng bằng sông Cửu Long mười thế kỷ đầu công nguyên qua tư liệu khảo cổ học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_manh_ghep_phat_giao_o_dong_bang_song_cuu_long_muoi_the.pdf