Tín ngưỡng thần nông qua các tiết lễ thờ cúng trong năm (nghiên cứu từ tư liệu Hán Nôm)

28  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT  
TÍN NGƯỠNG THẦN NÔNG  
QUA CÁC TIẾT LỄ THỜ CÚNG TRONG NĂM  
(Nghiên cứu từ tư liệu Hán Nôm)  
VƯƠNG THỊ HƯỜNG*  
Tín ngưỡng và phong tục thờ cúng Thần Nông khá phổ biến ở Việt Nam. Trong  
lịch sử, từ triều đình cho đến người dân, từ Bắc tới Nam, từ nông thôn đến miền  
núi, ở đâu cũng ghi nhận sự hiện diện của tín ngưỡng thờ cúng Thần Nông và  
các vị thần liên quan tới nông nghiệp. Sự hiện diện của tín ngưỡng và phong tục  
này trong đời sống đã được nhiều tư liệu Hán Nôm ghi lại. Bài viết giới thiệu và  
hệ thống hóa những tiết lễ thờ cúng Thần Nông trong năm của người Việt được  
phản ánh từ tư liệu Hán Nôm.  
Từ khóa: tín ngƣỡng thờ Thần Nông, điển chế, tiết lễ nông nghiệp, tƣ liệu Hán Nôm  
Nhận bài ngày: 31/3/2021; đưa vào biên tập: 02/4/2021; phản biện: 10/4/2021;  
duyệt đăng: 05/5/2021  
1. DẪN NHẬP  
các vị thần tự nhiên nhƣ trời, đất, mây,  
mƣa… khá phổ biến. Sử sách Việt  
Nam chép rằng Thần Nông là vị thần  
cai quản phƣơng Nam và còn có tên  
khác là Viêm Đế - vua xứ nóng và là  
thủy tổ của ngƣời Việt. Sự ghi nhận  
trên thƣ tịch bắt đầu từ ghi chép của  
Trần Thế Pháp ở Lĩnh Nam chích quái  
trong Truyện Hồng Bàng thị: “Đế Minh  
cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông  
sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về  
phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy đƣợc  
con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra  
Lộc Tục. Tục dung mạo đoan chính,  
Trong truyền thuyết các nƣớc Việt  
Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật  
Bản đều có sự xuất hiện của Thần  
Nông. Tuy nhiên, ở mỗi nƣớc, mỗi  
dân tộc, sự xuất hiện của Thần Nông  
lại có những nét khu biệt. Ngƣời Việt  
sống chủ yếu bằng nghề nông, sản  
xuất nông nghiệp đƣợc biết đến từ rất  
sớm. Trong tín ngƣỡng sơ khai của  
ngƣời Việt, việc thờ cúng, sùng bái  
* Viện Nghiên cứu Hán Nôm.  
VƢƠNG THỊ HƢỜNG – TÍN NGƢỠNG THẦN NÔNG QUA…  
29  
bẩm tính thông minh, Đế Minh lấy làm Nguyễn cho biết: Đàn Tiên Nông là  
lạ, cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, nơi diễn ra nghi lễ chính trong lễ Tịch  
điền, là lễ nhà vua đích thân đi cày  
ruộng. Lễ tế ở đàn Tiên Nông đƣợc  
quy định chặt chẽ, rõ ràng dƣới triều  
Nguyễn nhƣng cũng không thấy giải  
thích hay phân biệt giữa Tiên Nông và  
Thần Nông. Mục Bộ Hộ chiếu lệ cấp  
phát trong Điển chế và pháp luật Việt  
Nam thời trung đại cho thấy lễ tế ở  
đàn Tiên Nông đƣợc quy định cụ thể:  
“Bộ Hộ lĩnh tiền, gạo, mắm, muối ở Hộ  
phiên phát cho Thái quan ở Thái đàn  
làm” (Nguyễn Ngọc Nhuận, 2011, tập  
2: 151)(8). Hay lệ khí ở đàn Tiên Nông,  
mục Tạo lệ của Lê triều Hội điển cho  
biết: “Lệ tế khí ở đàn Tiên Nông: hàng  
năm Bộ Công căn cứ tờ tƣ của Bộ Lễ  
tƣ đến, tƣ cho Hộ Bộ lĩnh 4 quan tiền  
quý giao cho các cục thợ chẻ gỗ đan  
trúc làm hoa, làm mâm… Gồm các  
thứ sau: bàn 2 chiếc, giá đèn 1 chiếc,  
mộc vị 1 chiếc, đấu gỗ 1 chiếc. Giá và  
chậu quán tẩy 1 chiếc” (Nguyễn Ngọc  
Nhuận, 2011, tập 2: 151). Đến năm  
Minh Mạng thứ 13 (1832), nhà nƣớc  
có quy định các trực tỉnh tế thần Tiên  
Nông: “Các địa phƣơng đều đặt 3  
mẫu ruộng tịch điền phía đông bên  
ngoài tỉnh thành, dựng đàn Tiên Nông  
ở giữa” (Viện Sử học, 2005, tập 4:  
288). Lễ vật cũng đƣợc quy định cụ  
thể cho các trực tỉnh trong cúng Tiên  
Nông: lễ dùng trâu, lợn, xôi đều dùng  
từ 1 - 3 mâm quả phẩm, quan tỉnh ấy  
văn vũ thƣ hạt, mặc đủ triều phục làm  
lễ” (Viện Sử học, 2005, tập 4: 288).  
Hàng năm vào các tiết lễ thờ cúng hay  
lễ hội về nông nghiệp nhƣ lễ hội đầu  
xuân, tiết Hạ điền, Thƣợng điền... đều  
xin nhƣờng cho anh, Đế Minh liền lập  
Đế Nghi làm kẻ nối ngôi để trị đất Bắc,  
lại phong Lộc Tục là Kinh Dƣơng  
Vƣơng để cai trị đất Nam, lấy hiệu  
nƣớc là Xích Quỷ” (Đinh Gia Khánh,  
1990: 29)(1). Chép lại từ Lĩnh Nam  
chích quái, Đại Việt sử ký toàn thư ghi:  
“Kinh Dƣơng Vƣơng tên húy là Lộc  
Tục, con cháu họ Thần Nông” (Ngô  
Đức Thọ, 1998, tập 1: 116)(2).  
Ở Trung Quốc, ngoài Thần Nông còn  
có Hậu Tắc là quan trông coi về nông  
nghiệp của vua Nghiêu, cũng có khi  
Hậu Tắc đƣợc đồng nhất với Thần  
Nông (Điền Thiên, 2003: 60-67)(3).  
Nhƣng đến đời Hán thì xuất hiện khái  
niệm Tiên Nông, đàn Tiên Nông trong  
ngày lễ Tịch điền, vua làm lễ tế Tiên  
Nông ở đàn xong mới xuống đồng, vì  
thế đàn còn có tên là đàn Tịch điền,  
đến đời Đƣờng mới ấn định tên chính  
thức là đàn Tiên Nông(4). Nhƣ vậy về  
chữ Tiên Nông (先農) trong thƣ tịch  
Trung Quốc là dùng để chỉ vị thần chủ  
về nông nghiệp.  
Khảo trong sử sách các đời vua chúa  
phong kiến Việt Nam chƣa thấy ghi  
chép phân biệt về nguồn gốc thờ cúng  
Tiên Nông và Thần Nông. Các bài văn  
tế trong nghi lễ thờ thần dân gian  
cũng không có sự phân biệt rõ ràng.  
Cùng một tiết tế lễ nhƣng có nơi gọi là  
Thần Nông (Văn tế Thần Nông trong  
lễ Thƣờng tân - 嘗新神農祭文(5)), có nơi  
lại gọi là Tiên Nông (Văn tế Tiên Nông  
trong lễ Thƣờng tân - 嘗新先祭文(6)).  
Sách Giao tự điển lệ (交祀典例)(7) nhà  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
30  
có cúng Thần Nông, Tiên Nông. Trong Còn các kỳ lễ tế Thƣợng điền, Hạ  
dân gian cũng không hề có sự phân điền, Thƣờng tân lại phổ biến trong  
biệt rạch ròi giữa Thần Nông và Tiên  
Nông mà họ mặc nhiên coi hai vị này  
là một, vì cả hai đều là tổ tiên, là  
ngƣời giúp cho mùa màng tƣơi tốt,  
ngũ cốc bội thu. Tín ngƣỡng thờ cúng  
Thần Nông đã ăn sâu vào đời sống  
tinh thần của ngƣời dân Việt, trở  
thành phong tục thờ cúng hội hè đình  
đám hàng năm.  
dân gian. Bài viết bƣớc đầu giới thiệu  
6 điển chế và tiết lễ liên quan đến việc  
thờ Thần Nông, thần nông nghiệp qua  
tƣ liệu Hán Nôm.  
2.1. Lễ Tịch điền và lệ cày ruộng  
tịch điền  
“Tịch điền - 籍田” theo Từ điển Hán  
Việt (của Đào Duy Anh) có nghĩa là  
ruộng do đích thân nhà vua xuống  
cày. Lễ Tịch điền đƣợc triều đình  
phong kiến tổ chức nhằm khích lệ  
nông dân phát triển nông nghiệp, lấy  
nghề nông làm gốc.  
2. ĐIỂN CHẾ VÀ TIẾT LỄ LIÊN  
QUAN ĐẾN TÍN NGƯỠNG THỜ  
THẦN NÔNG  
Điển chế và pháp luật thời trung đại  
Việt Nam cho rằng: “Tế tự chính là  
phải thành kính… Còn việc cầu phúc,  
cầu tạnh, cầu mƣa cần phải thành  
kính…” (Nguyễn Ngọc Nhuận, 2011,  
tập 1: 380). Các thể lệ về cúng tế  
đƣợc quy định: “Việc cúng tế phải cẩn  
thận đàng hoàng, phàm các việc làm  
không đƣợc vi phạm kỷ cƣơng, thất  
lễ…” (Nguyễn Ngọc Nhuận, tập 1:  
381). Điều đó cho thấy rằng các triều  
vua rất coi trọng việc cúng tế thần linh,  
nhất là các thần linh phù hộ cho quốc  
thái dân an. Một trong những vị thần  
đƣợc triều đình quy định đứng vào  
hàng “đại lễ”, “quốc tế” và nhân dân  
vọng ngƣỡng, cùng hƣởng ứng, đó  
chính là tế lễ Thần Nông.  
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép vào  
đầu xuân năm 987, vua Lê Đại Hành  
làm lễ Tịch điền, cày ruộng để khuyến  
khích dân chúng trồng trọt: “Đinh Hợi  
(Thiên Phúc) năm thứ 8 (987)... Mùa  
xuân, vua lần đầu cày Tịch điền ở núi  
Đọi(9) đƣợc một hũ nhỏ vàng. Lại cày  
ở núi Bàn Hải, đƣợc một hũ nhỏ bạc,  
nhân đó đặt tên là ruộng Kim Ngân  
(Ngô Đức Thọ, 1998, tập 1: 224).  
Ngƣời tiếp nối vua Lê Đại Hành đi cày  
ruộng Tịch điền là vua Thái Tông nhà  
Lý. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho  
biết, vua Lý Thái Tông đã đích thân  
cày Tịch điền hai lần. Lần thứ nhất  
vào: “Mậu Dần (Thông Thụy) năm thứ  
5 (1038),... Mùa xuân, tháng 2, vua  
ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch  
điền. Sau Hữu ty dọn cỏ đắp đàn. Vua  
thân tế Thần Nông, tế xong tự cầm  
cày để làm lễ tự cày. Các quan tả hữu  
có ngƣời can rằng: “Đó là công việc  
của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế?”.  
Vua nói: “Trẫm không tự cày thì lấy gì  
Việc tế lễ Thần Nông đƣợc tổ chức ở  
cả triều đình và địa phƣơng. Những  
điển chế đƣợc triều đình quy định và  
tổ chức hàng năm có lễ Tịch điền, Tế  
đàn Xã tắc, lễ Tiến Xuân ngƣu. Ngoài  
ra cũng có một số lễ khác có liên quan  
nhƣ các kỳ lễ tế cầu quốc thái dân an.  
VƢƠNG THỊ HƢỜNG – TÍN NGƢỠNG THẦN NÔNG QUA…  
31  
làm xôi cúng, lại lấy gì cho thiên hạ 2020: 3-16). Những ghi nhận của sử  
noi theo?”. Nói xong đẩy cày ba lần rồi sách đối với chế độ ruộng đất, công  
thôi” (Ngô Đức Thọ, 1998, tập 1: 259). điền, tƣ điền và đặc biệt là việc đặt tạo  
Lần thứ 2 là khi: “Nhâm Ngọ (Càn Phù lệ, đặt ra các loại ruộng để thờ cúng  
Hữu Đạo) năm thứ 4 (1042),... Mùa thần linh không phải đóng thuế đã  
xuân, tháng 3, vua ngự ra cửa biển gián tiếp cho thấy việc thờ cúng thần  
Kha Lãm cày ruộng tịch điền rồi về linh trong đó có Thần Nông vẫn đƣợc  
Kinh sƣ (Ngô Đức Thọ, 1998, tập 1: các triều đại này coi trọng.  
262). Sách Khâm định Việt sử thông  
giám cương mục, ngoài việc ghi sự  
kiện cày ruộng Tịch điền của vua Lê  
Đại Hành, vua Lý Thái Tông (2 lần)  
còn ghi sự kiện vua Lý Thái Tông đã  
từng đi cày: vào năm 1032 “... mùa  
hạ, tháng 4. Nhà vua chính mình đi  
cày Tịch điền. Nhà vua đi Đỗ Động  
Giang, cày ruộng Tịch điền, có ngƣời  
nông dân dâng lúa có điềm lạ: một giò  
đƣợc chín bông. Nhà vua hạ chiếu đổi  
gọi ruộng ấy là Ứng Thiên” (Viện Sử  
Vốn là vƣơng triều trọng nông nên lệ  
thờ Thần Nông đƣợc nhà Nguyễn rất  
chú ý. Vua Gia Long ngoài tổ chức lễ  
Tịch điền theo lệ cổ còn đặt cả quy  
định về ruộng tịch điền. Vua Minh  
Mạng tiếp tục thực hiện nghi lễ này và  
coi nhƣ một đại lễ quan trọng. Sách  
Đại Nam thực lục chép vào tháng 2  
năm Mậu Tý (1828) vua Minh Mạng  
đã ban lời dụ về việc cày ruộng tịch  
điền nhƣ sau: “Ðời xƣa vua cày ruộng  
Tịch điền, để lấy gạo làm xôi tế Giao  
Miếu, nhân thể để xét thời tiết làm  
ruộng khuyên giúp nông dân, thực là  
việc lớn trong vƣơng chính…, bên tả  
dựng đài Quan canh, đằng trƣớc làm  
ruộng đế tịch, đằng sau làm điện thay  
áo, bên hữu đặt đàn Tiên Nông…”  
(Viện Sử học, 2007, tập 2: 679-681)(11)  
Ông còn giao cho Bộ Lễ soạn thảo  
điển lệ quy định chặt chẽ về việc cúng  
tế Thần Nông và ruộng tịch điền. Đích  
thân vua cử hành nghi lễ thờ cúng  
Thần Nông và các Tiên Nông: “… Giờ  
Tý ngày ấy, Hữu ty bày lễ phẩm lên  
đàn Tiên Nông… Đến giờ Mão vua đội  
mũ cửu long, áo hoàng bào, đai ngọc  
lên kiệu, ngƣời dẫn trƣớc, ngƣời theo  
học, 2007, tập 1): 291)(10)  
.
.
Sách Khâm định Việt sử thông giám  
cương mục ghi việc vua Lý Thái Tông cày  
ruộng Tịch điền ở cửa Bố Hải và làm lễ tế  
Thần Nông.  
Từ các văn bản Hán Nôm cho thấy  
các vua triều Tiền Lê - Lý đều tổ chức  
lễ tế Thần Nông, coi trọng sản xuất  
nông nghiệp. Các đời vua nhà Trần,  
Hồ, Hậu Lê sử sách ít đề cập nhƣng  
căn cứ vào những lời bàn của các sử sau đúng nghi vệ… Sau đấy hàng  
thần thì thấy việc tịch điền, cúng tế  
Thần Nông đều có (Trịnh Khắc Mạnh,  
năm việc tế đàn Tiên Nông đều sai  
Kinh đoàn khâm mệnh làm lễ...” (Viện  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
32  
Sử học, 2007, tập 2: 679-681). Việc hoàn tất, cảm xin cúng tế truy ân…  
anh linh hâm hƣởng chứng giám, lƣu  
cho tăng thêm ân phúc phù trì, mƣa  
thuận thời gió thuận vụ, mạ lớn lúa  
chín đầy bồ, ngƣời ngƣời hớn hở, vạn  
vật đông đúc, phú quý phồn vinh đều  
lũ lƣợt kéo về. Kính cẩn dâng cáo!”  
(Viện Nghiên cứu Hán Nôm, AFa3/56:  
99).  
xây dựng các công trình phục vụ tế lễ  
và đặt điển lệ cúng tế hàng năm đối  
với Thần Nông của vua Minh Mạng  
càng khẳng định tín ngƣỡng này  
mang dấu ấn quan trọng đối với triều  
Nguyễn. Đến triều vua Tự Đức, nghi  
lễ đƣợc rà soát, bỏ bớt rƣờm rà và  
định lại điển lệ, lập quy chế rõ ràng.  
Bài văn tế cũng đã mang hàm ý chỉ  
Thần vừa là vị thánh đế, vừa là ngƣời  
bảo trợ cho nông nghiệp. Và những  
bài văn tế dạng này xuất hiện phổ  
biến trong văn bản tục lệ Hán Nôm  
các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.  
Việc phân cấp tế thần đƣợc thông  
suốt từ triều đình tới địa phƣơng. Ở  
cấp quốc gia thì vua sẽ đích thân đi  
cày ruộng tịch điền và ở cấp địa  
phƣơng, việc này đƣợc ủy quyền cho  
ngƣời đứng đầu từng tỉnh, phủ, huyện  
hoặc các vị bô lão đức cao vọng trọng.  
Ở cấp xã thôn cũng có ngƣời chuyên  
trách lo việc tế lễ và bố trí ruộng tịch  
điền. Các quy định về thể lệ cúng tế,  
chủ tế, thành phần ban tế, lễ vật cúng  
tế đều đƣợc quy định trong tục lệ,  
hƣơng ƣớc. Nhân dân, hƣơng lão,  
chức dịch địa phƣơng… đều có giao  
ƣớc, cam kết bắt buộc thực hiện.  
Ruộng đƣợc dùng làm tịch điền còn  
gọi là ruộng tế, sau khi làm lễ Tịch  
điền xong thì giao cho những ngƣời  
(đã đƣợc lựa chọn và đánh giá là có  
đạo đức ở địa phƣơng) luân phiên cày  
cấy, lấy hoa lợi làm lễ cúng Thần  
Nông. Trong các nghi thức ở buổi tế  
thần bắt buộc phải có bài văn tế thần,  
bày tỏ sự kính trọng, biết ơn và mong  
thần tiếp tục phù hộ cho nghề nông,  
phù hộ cho dân khang vật thịnh, quốc  
thái dân an và bày tỏ tấm lòng biết ơn  
của ngƣời dân với thần: “Thánh đế!  
Sinh theo điển lệ, nối nhau trị vì sáng  
2.2. Lễ đàn Xã tắc  
Theo Đào Duy Anh (2020) “Xã tắc” là:  
Dân cần có đất ở nên lập nền xã để tế  
thần hậu thổ, dân cần có lúa ăn nên  
lập nền tắc để tế Thần Nông. Mất  
nƣớc thì mất xã tắc, nên xã tắc cũng  
có nghĩa là quốc gia. Việc lập đàn Xã  
tắc theo Lê Quý Đôn (2007: 62) có từ  
thời Lý: “Triều nhà Lý, lập đàn Phong  
vân để cầu mƣa; đàn Xã tắc để cầu  
quanh năm đƣợc mùa…”. Việc này  
cũng đƣợc Ngô Thì Sỹ nhắc lại trong  
Việt sử tiêu án mục về Lý Thái Tông:  
“Vua đặt ra đàn Xã tắc, để bốn mùa  
cúng tế cầu cho đƣợc mùa” (Ngọ  
Phong Ngô Thì Sỹ, 1960: 125). Hoàng  
Việt luật lệ, quyển IX, phần Lễ luật,  
mục Tế tự ghi các phép tắc về việc  
cúng tế, quy định nghiêm khắc về tổ  
chức lễ tế, nghi thức tế, lễ vật tế…  
Trong đó có thể hiện rõ những quy  
định cúng tế ở đàn Xã tắc. Nếu thực  
hiện không nghiêm sẽ bị trị tội: “Phàm  
rỡ… Nay tiết đúng lúc việc nông tang lễ tế trời đất xã tắc và cúng tế ở các  
VƢƠNG THỊ HƢỜNG – TÍN NGƢỠNG THẦN NÔNG QUA…  
33  
miếu nếu sở ty không cáo thị trƣớc quan lại sở ty bị phạt đánh 100  
ngày cúng tế cho các nha môn biết thì trƣợng” (Nguyễn Ngọc Nhuận, 2011,  
tập 3: 436). Di tích đàn Xã tắc đƣợc  
xây dƣới thời vua Gia Long vào tháng  
4 năm 1806 để tế cúng thần đất (xã)  
sẽ phạt đánh 50 roi. Vì không cáo thị  
mà nhầm lẫn khi hành sự thì phạt đánh  
100 trƣợng. Nếu đã đƣợc cáo thị mà  
kẻ nào nhầm lẫn thì xử tội ngƣời nhầm và thần ngũ cốc (tắc). Nhà Nguyễn tổ  
lẫn cũng phạt đánh 100 trƣợng” chức tế lễ mỗi năm hai lần, vào mùa  
(Nguyễn Văn Thành, 1994: 432).  
Không chỉ ban hành các định lệ về  
việc cúng tế ở đàn Xã tắc, cầu cho  
mƣa thuận gió hòa, mùa màng bội  
thu, nhà Nguyễn cho rằng tế đàn Xã  
tắc là lễ tế quan trọng hàng đại tự:  
“Đại tự là tế trời đất, tế đàn xã, đàn  
tắc vậy” (Nguyễn Ngọc Nhuận, 2011,  
tập 3: 435)(12). Đối với việc phá hỏng  
đàn tế của đại tự thì ngay từ thời Lê  
đã khép tội này vô cùng lớn: “Phàm kẻ  
nào phá hủy làm hỏng đàn tế đại tự  
bất luận là cố ý hay vô ý đều phạt 100  
trƣợng, lƣu đày xa 3.000 dặm. Phá  
hủy cổng ngoài thì giảm 2 bậc phạt  
đánh 90 trƣợng, đồ (lƣu đày) 2 năm  
rƣỡi, phá hủy đồ cúng tế của đại tự thì  
phải xử phạt đánh 100 trƣợng, đồ 3  
năm. Tuy làm hỏng nhẹ cũng phải xử  
tội. Đánh mất hoặc vô ý làm hỏng thì  
giảm 3 bậc (đánh 70 trƣợng, đồ 1  
năm rƣỡi. Nếu giá trị lớn thì xử tội phá  
hủy hàng hóa công” (Nguyễn Ngọc  
Nhuận, 2011, tập 3: 435). Những điều  
trên là điều lệ quy định đối với đàn tế  
cấp quốc gia, còn với địa phƣơng thì:  
“phàm các thần xã tắc, núi sông mƣa  
gió ở trong các doanh trấn và các  
thánh đế minh vƣơng, trung thần liệt  
sĩ đời trƣớc… Hữu ty sở tại lập bài vị,  
viết thần hiệu treo ở nơi thanh tịnh  
thƣờng tế đúng ngày tế lễ. Nếu đến kỳ  
mà quên không treo thần hiệu thì  
xuân và mùa thu và cách ba năm (vào  
các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu) đích  
thân nhà vua đến làm lễ. Các địa  
phƣơng cũng cho xây dựng đàn Xã  
tắc, đàn Thần Nông để cúng Thần  
Nông, thần đất, thần lúa và tổ chức Kỳ  
an (cầu an).  
2.3. Lễ Tiến Xuân  
Lễ Tiến xuân, Tiến Xuân ngƣu,  
Nghênh xuân, lễ thần Câu Mang là  
những tiết lễ đều đƣợc tiến hành vào  
mùa xuân và đều liên quan đến tiết  
khí, trâu cày nên mọi ngƣời vẫn coi là  
một. Thần Câu Mang (Mang Thần)  
theo thuyền thuyết Trung Quốc là Mộc  
thần (thần mùa xuân, chủ về sự nảy  
mầm và phát triển cây cối) nên đƣợc  
coi là một hiện thân của Thần Nông.  
Chƣa rõ thời điểm chính xác xuất hiện  
nghi thức độc đáo này ở Việt Nam  
nhƣng từ thời vua Lý Anh Tông (1138-  
1175) đã ban lệnh thờ cúng thần Câu  
Mang – vị thần coi sóc về mùa xuân,  
vị thần chủ về mùa màng, đồng thời  
chuyên lo việc làm mƣa và có lệ khi  
làm lễ mùa xuân phải đem con trâu  
làm bằng đất (gọi là Xuân ngƣu) dâng  
lên đền thờ. Đây là dấu mốc cho nghi  
thức dâng trâu đất mùa xuân mà thƣ  
tịch còn lƣu lại đƣợc. Nhà Nguyễn  
đến đầu những năm 30 (thế kỷ XX)  
vẫn giữ lệ Tiến xuân (tế Thần Nông).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
34  
Theo Nguyễn Mạnh Hùng, vào thời doãn và quan huyện lấy cành dâu  
gian này, ở kinh đô Huế mỗi đầu năm,  
khoảng từ mồng 7 đến rằm tháng  
giêng, Bộ Lễ của triều đình đều tổ  
chức lễ Tế Xuân hay Tế Thần Nông.  
Đàn Tế Xuân đƣợc lập tại làng Phú  
Mỹ (nay là Phú Hiệp) và hiện nay tàn  
tích vẫn còn. Lễ Tế có trống kèn,  
hƣơng hoa, ngũ quả, Chủ lễ có năm  
là ông Phủ Doãn, có năm là ông Phủ  
Thừa của tỉnh Thừa Thiên. Các vị này  
vâng mệnh triều đình (thay mặt vua),  
mặc áo đại trào và lạy ở bàn thờ giữa.  
Chiếc hƣơng án có ảnh Thần Nông  
đƣợc che lọng vàng do bốn lính của  
Hoàng Cung khuân (Nguyễn Mạnh  
đánh trâu đất rồi đƣa vào sân điện  
làm lễ Tiến Xuân ngƣu. Các vị công  
hầu bá đại thần và văn võ bá quan  
vâng chỉ của chúa đều đầy đủ phẩm  
phục vào triều làm lễ. Lễ xong quan  
Tƣ thiên giám khiêng án để Xuân  
ngƣu đến dâng vua rồi đệ tiến sang  
phủ chúa” (Nguyễn Ngọc Nhuận, 2011,  
tập 1: 196). Sử gia Phan Huy Chú chú  
thích ý nghĩa của lễ này nhƣ sau: “Xét  
thiên Nguyệt Lệnh nói: Tháng quý  
đông làm con trâu bằng đất để tống  
khí lạnh, vì tháng ấy là tháng Sửu,  
sửu là trâu, đất thì ngăn nƣớc, cho  
nên làm con trâu bằng đất để át khí  
lạnh. Các đời cứ dùng theo nghĩa ấy,  
cho nên mới có lễ Tiến Xuân ngƣu,  
mà ban cho các quan là để cùng nhau  
tống khí lạnh đi” (dẫn theo Nam  
Khánh, 2016). Năm Nhâm Thìn, niên  
Hùng, 1989: 89)(13)  
.
Cùng với lễ Tịch điền thì lễ Tiến Xuân  
ngƣu và tế thần Câu Mang gắn với  
hình ảnh con trâu. Nghi thức dâng  
trâu đất mùa xuân ở lễ tiến Xuân  
Ngƣu luôn gắn với hình ảnh thần Câu hiệu Khánh Đức thứ 4 (1652), mùa  
Mang(14): “Sau lễ tế thần Câu Mang,  
đông tháng 12, ban lệnh về định lễ vật  
một ngƣời đƣợc cử cầm roi trang trí tế xuân: “Lệ tế xuân ở các đền thần,  
từ hạng Thƣợng, Trung đẳng thì 1  
thị “tống hàn, nghênh xuân”, tiếp đến tổng hoặc 2 tổng, hoặc 2 xã phải tế 1  
đền. Quan huyện chuyển công văn  
trâu đất mang về nhà với ý nghĩa cầu đến xã dân để chuẩn bị mua các thứ  
trâu dê, lợn, mâm đôi, y theo lệ tế của  
vƣợng” (Nguyễn Ngọc Nhuận, 2011: Quốc triều, đồng thời sắm sửa chỉnh  
tề đầy đủ đƣa đến bản đền. Đến ngày,  
Lê triều Hội điển mô tả: “Buổi chiều quan phủ, huyện, hiệu và lại viên Nhị  
màu sắc sặc sỡ quất vào trâu đất biểu  
ngƣời dân khoét một ít đất trên thân  
một năm mới bội thu, may mắn thịnh  
151). Lễ Tiến Xuân ngƣu đƣợc sách  
ty đến làm lễ, sao cho chỉnh tề, tinh  
khiết, chí kính, đều do dân thủ lệ cung  
đốn” (Nguyễn Ngọc Nhuận, 2011, tập  
1: 581). Ý nghĩa đón xuân, đón khí tiết  
hôm trƣớc ngày Lập xuân, cục  
Thƣờng ban đệ trâu đất đến đàn tế ở  
phƣờng Đông Hà. Quan Phủ doãn và  
quan hai huyện Thọ Xƣơng, Quảng  
Đức làm lễ xong thì sai dân phƣờng mới, cầu mong Thần Nông phù hộ  
cùng với thời điểm gieo trồng của năm  
Sớm hôm sau làm lễ xong, quan Phủ mới và lệ chăm sóc đàn trâu cày  
đƣa đến đàn tế ở phƣờng Hà Khẩu.  
VƢƠNG THỊ HƢỜNG – TÍN NGƢỠNG THẦN NÔNG QUA…  
35  
xuyên suốt phong tục này. Năm Minh điền. Sau khi thu hoạch xong thì có lễ  
dâng sản vật ngon để cúng tế thần  
linh và tổ tiên. Ý nghĩa của các tiết lễ  
thờ cúng mong Thần Nông, Tiên Nông  
phù hộ cho mùa màng tƣơi tốt, dân  
yên vật thịnh. Tục cúng tế Hạ điền,  
Thƣợng điền và Thƣờng tân thƣờng  
tổ chức theo làng xóm, tổ chức không  
có ngày cố định. Tục lệ giáp Phong  
Miêu, huyện Giao Thủy, tổng Cát  
Xuyên, tỉnh Nam Định viết: “Lệ Hạ  
điền vào ngày tốt hạ tuần tháng 5  
hoặc là ngày tốt thƣợng tuần tháng 6  
hàng năm” (Viện Nghiên cứu Hán  
Nôm, AF.a11/1: 16). Nghi thức tiến  
hành và cỗ dâng cúng cũng đƣợc quy  
định kỹ càng: “chọn cử bốn giáp một  
mâm, kỳ lão làm điền chủ, đặt 10  
thƣớc ruộng ở Cửa Miếu, điền chủ  
nhận ruộng canh tác, đến ngày tốt  
điền chủ ấy chuẩn bị sửa soạn một  
con gà trống, 5 đấu xôi, 1 bình rƣợu,  
30 miếng trầu cau, trai giới tắm rửa  
sạch sẽ yết tế Thần Nông, lúc Hạ điền  
tháng 7, 8 cấy lúa thu, trồng 3, 4 củ  
khoai để làm biểu thị cho sự tƣơi tốt,  
đến ngày mồng 6 tháng 11 cầu phúc  
đem biếu điền chủ nửa thủ lợn làm lệ”  
(Viện Nghiên cứu Hán Nôm, AF.a11/1:  
16-17). Tục lệ làng Nho Lâm (tỉnh  
Hƣng Yên) thì ghi rõ “Hàng năm vào  
Mạng thứ 9 (1828) trong bản đình  
nghị tâu lên nhà vua và đƣợc ban chỉ  
chuẩn: “hàng năm, sau ngày Đông chí,  
gặp ngày Thìn, tòa Khâm Thiên giám  
hội đồng với Vũ khố, lấy nƣớc và đất  
ở phƣờng thần Tuế Đức, làm ra 3 con  
trâu và 3 vị Mang thần dùng cày dâu  
cây giá làm thai cất, coi xem can chi  
năm ấy…” (Viện Sử học, 2005, tập 4:  
162). Lệ Tiến xuân không chỉ diễn ra  
ở kinh thành mà thời Nguyễn, lệ tiết  
này còn đƣợc triều đình ban chỉ chuẩn  
cho các địa phƣơng tiến hành. Bởi vì:  
“… trâu đất và Mang thần nguyên là ý  
chăm việc làm ruộng, khuyên bảo giúp  
đỡ, ở Kinh thành đã cử hành trƣớc thì  
các địa phƣơng cũng nên tuân làm tất  
cả, để cho phù hợp lễ đời cổ …” (Viện  
sử học, 2005, tập 4: 164)”. Theo tìm  
hiểu của Nguyễn Mạnh Hùng (1989:  
89) thì “Trƣớc kia, hàng năm ngƣời  
Việt Nam đều làm lễ tế xuân. Ngƣời ta  
nắn hình Câu Mang dẫn trâu bằng đất,  
tùy theo từng năm mà có màu sắc  
khác nhau. Thần và trâu đƣợc rƣớc đi  
khắp phố. Dân chúng thi nhau đốt  
pháo khi đám rƣớc đi ngang qua”.  
2.4. Lễ Hạ điền  
Hạ điền hiểu nôm na là khoảng thời  
gian xuống đồng cày cấy (bƣớc xuống tháng 5 có tiết Đoan Dƣơng và Hạ  
điền” (Viện Nghiên cứu Hán Nôm,  
AF.a3/33: 86) nhƣng không nói rõ là  
ngày nào. Tuy nhiên, các tỉnh đồng  
bằng Bắc Bộ thƣờng chọn tổ chức  
vào ngày tốt tháng 5, nhƣ tục lệ thôn  
Trung Hòa xã Nhân Hòa “Theo lệ  
chính lễ Hạ điền tháng 5 thì chọn ngày  
tốt để làm lễ” (Viện Nghiên cứu Hán  
ruộng). Nghi thức tế lễ này cùng với lễ  
Thƣợng điền, Thƣờng tân đã trở  
thành phong tục phổ biến của nông  
thôn Việt Nam. Trƣớc kia, việc cày  
cấy thƣờng là tháng năm, tháng sáu  
gieo mạ; đến tháng 9, tháng 10 thu  
hoạch. Nhƣng có nơi trồng cấy hai vụ  
thì mỗi vụ nông dân đều làm lễ Hạ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
36  
Nôm, AF.a3/44: 27). Đồ vật lễ dâng Thƣợng điền là khoảng thời gian cày  
cúng thần cũng không cố định mà tùy  
thuộc vào điều kiện kinh tế của từng  
địa phƣơng. Tục lệ của tổng Cát  
Xuyên: “Lệ vào lễ Hạ điền… chọn 4  
giáp một mâm, Kỳ lão có gia cảnh tốt  
đặt làm điền chủ tại xứ Cửa Đình. Mỗi  
giáp một sào nhận canh tác, chọn  
ngày tốt điền chủ ấy chỉnh biện 2 con  
gà trống 10 đấu xôi, 2 chai rƣợu, 40  
miếng trầu cau, trai giới sạch sẽ yết tế  
Thần Nông. Vào lúc hành lễ Hạ điền  
tháng 7, 8 cấy lúa thu, trồng 2, 3 củ  
khoai để làm biểu thị cho sự tƣơi tốt,  
đến ngày mồng 6 tháng 11 làm lễ Cầu  
phúc đem biếu điền chủ nửa cái thủ  
lợn làm lệ” (Viện Nghiên cứu Hán  
Nôm, AF.a11/1: 16). Nguyễn Thanh  
Lợi (2020) cho biết: “Lễ Cầu bông  
đƣợc tiến hành khi lúa bắt đầu ngậm  
sữa (lúa mùa), cầu cho lúa ngậm sữa,  
đơm bông, vụ mùa tốt tƣơi. Nghi thức  
cúng Thần Nông diễn ra ngay trƣớc  
sân đình, do hƣơng chức đảm nhiệm,  
có chiêng trống, thịt, xôi, bánh, trái,  
nhang đèn. Có nơi làm đơn giản  
nhƣng cũng có nơi làm đầy đủ nghi  
thức tế lễ, có văn tế, nhạc lễ, giống  
nhƣ lễ Kỳ yên. Về sau, một số đình đã  
nhập lễ Cầu bông vào lễ Hạ điền”;  
làng xóm lập đàn tế, thƣờng là ngay  
tại bờ ruộng (Nguyễn Hữu Mùi, 2020:  
3-10) để tiện việc thần chứng giám  
lòng thành. Trong buổi tế lễ sẽ có bài  
văn tế ca ngợi công đức của thần, lễ  
vật trầu cau, hƣơng hoa, xôi oản dâng  
mời thần thụ hƣởng, ban phúc lành  
cho dân.  
cấy đã xong (nghĩa đen là công việc  
đồng áng đã xong, bƣớc lên ruộng).  
Tài liệu Hán Nôm về nghi lễ, phong  
tục lệ làng tế Thần Nông phong phú.  
Từ nghi lễ cúng tế, ngày tháng tổ  
chức, lễ vật dâng cúng… đều đƣợc  
chi tiết hóa. Trong Tế thần nghi tiết  
chép 27 bài văn tế thần, rƣớc thần,  
vào đám, hạ điền, thƣợng điền, cầu  
phúc, cầu an,... của làng Hƣơng Lam  
xã Đại Đồng tổng Đại Đồng huyện  
Thạch Thất phủ Quốc Oai tỉnh Sơn  
Tây thì Thượng điền tế Thần Nông thị  
ngoài việc thể hiện xin thần ban cho  
cày bừa đƣợc thuận lợi, muôn vật tốt  
tƣơi, trăm họ phú quý, phúc lộc dài lâu  
còn cho biết những hình dung về  
Thần Nông: “Đại vƣơng đức tốt đẹp  
trong ngoài, tính bẩm thụ từ sông núi,  
làm chủ một phƣơng, vạn đại hƣơng  
hỏa” (Viện Nghiên cứu Hán Nôm,  
A.1544: 32). Hay tục lệ giáp Phong  
Miêu, huyện Giao Thủy, tổng Cát  
Xuyên, tỉnh Nam Định, miêu tả nghi lễ  
và cách thức cúng Tiên Nông trong lễ  
Thƣợng điền: “Lệ Thƣợng điền tế  
Tiên Nông, viên chủ tế gieo mạ phải  
chọn ngƣời khỏe mạnh không làm  
việc gì sai trái, việc cấy lúa trồng khoai  
trong lễ Thƣợng điền trƣớc tiên là hai  
viên Thứ chỉ và Chánh phó lý phải  
sửa soạn một hộp trầu cau, một chai  
rƣợu; các giáp sửa soạn lợn xôi, trầu  
rƣợu đầy đủ đem đến đình kính tế,  
mỗi giáp đều biếu một miếng thủ lợn,  
một mâm xôi trị giá bằng 2 quan tiền  
đồng, tim lợn chia đủ 4 đĩa, còn thừa  
kính biếu quan viên trên dƣới ăn  
2.5. Lễ Thượng điền  
VƢƠNG THỊ HƢỜNG – TÍN NGƢỠNG THẦN NÔNG QUA…  
37  
uống” (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Phúc thần, có làng chỉ lễ Tiên Nông.  
Tục thƣờng kén một ông lão hiền lành  
phúc hậu mà hai vợ chồng còn song  
toàn để làm lễ Hạ điền. Nghĩa là ông  
ấy phải xuống cấy vài nắm mạ trƣớc  
rồi từ đó trở đi cả xã mới cấy”. Qua  
khảo sát của Phan Kế Bính và văn  
bản tục lệ Hán Nôm tỉnh Hƣng Yên thì  
thấy phong tục cúng tế Thần Nông  
trong làng xã Bắc Bộ xƣa rất phổ biến.  
Đồng thời qua đó cũng cho thấy tín  
ngƣỡng và nghi thức tiến hành cúng  
tế Thần Nông ở các địa phƣơng Bắc  
Bộ đều tƣơng đối giống nhau. Những  
ngƣời đƣợc chọn làm chủ tế phải là  
ngƣời hoàn mỹ, có đạo đức và nhất là  
phải đủ tin cậy để đƣợc phép dâng lễ  
vật, văn tế thần. Chủ tế là ngƣời đƣợc  
thực hiện các công việc biểu trƣng  
của nhà nông: gieo mạ, gặt lúa...  
AF.a11/1: 17-18). Lễ vật dâng thần  
phải đƣợc chuẩn bị chu đáo và sau  
khi tế xong đƣợc phép chia nhau lộc:  
“Lễ tế Thƣợng điền, 1 viên Tiên chỉ, 2  
viên Thứ chỉ cùng các Chánh, Phó lý  
chỉnh biện 3 hộp trầu cau, 3 khệ rƣợu,  
các giáp chỉnh biện 1 con lợn, 3 mâm  
xôi, rƣợu ngon, cỗ đủ dùng, tề tựu tại  
đình hành lễ kính tế. Tế xong, mỗi  
giáp biếu 1 thủ lợn, 1 mâm xôi trị giá 2  
quan tiền đồng, tim lợn chia làm 4 đĩa  
đem biếu quan viên, còn lại thì già trẻ  
cùng nhau ăn uống” (Viện Nghiên cứu  
Hán Nôm, AF.a11/1:17).  
Lễ Hạ điền và Thƣợng điền là hai lễ  
lớn trong năm, đƣợc nhân dân tổ  
chức long trọng và đều đặn. Nghiên  
cứu từ các văn bản tục lệ cho thấy hai  
lễ này đều đƣợc coi trọng và cùng  
mong muốn thần phù hộ cho sản xuất  
thuận lợi, “mƣa thuận gió hòa”, “lúa  
khoai mơn mởn”, “ngũ cốc đầy bồ”…  
Khảo sát riêng văn bản tục lệ Hán  
Nôm tỉnh Hƣng Yên còn đƣợc lƣu giữ  
tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho  
thấy trong 187 văn bản thì có tới 127  
văn bản (chiếm 68%) đề cập đến  
phong tục thờ cúng Thần Nông thông  
qua các nghi lễ, điều lệ cúng Thƣợng  
điền, Hạ điền, Thƣờng tân. Phan Kế  
Bính (2011: 99) cho biết ở vùng đồng  
bằng Bắc Bộ đầu thế kỷ XX: “Hạ điền  
là ngày mới bắt đầu bƣớc chân cuống  
ruộng, ngày Thƣợng điền là ngày mới  
có gạo mới… Lễ Thƣợng điền, Hạ  
điền về làng nào có ruộng mới tế lễ  
mà nhiều làng chỉ tế một lần vào ngày  
Hạ điền mà thôi. Lễ ấy có làng tế  
2.6. Lễ Thường tân  
Lễ Thƣờng tân (嘗新) còn đƣợc gọi  
bằng nhiều tên khác nhau nhƣ lễ  
Thƣờng tiên (嘗先), lễ Hạ nguyên (下元),  
lễ Trùng thập (重十), Song thập (雙十),  
Thực tân (食新)... Thƣờng tân (嘗新)  
theo nghĩa chữ Hán, nghĩa là nếm thử  
cơm mới; Thƣờng tiên (嘗先) cũng có  
nghĩa tƣơng tự nhƣ vậy nhƣng chỉ rõ  
là “nếm thử trƣớc”; Hạ nguyên (下元)  
là cách gọi theo thời gian diễn ra vào  
rằm (ngày 15) tháng 10. Trùng thập  
(重十), Song thập (雙十) là chỉ ngày 10  
tháng 10. Tiết Thực tân (食新) có nghĩa  
là ăn đồ mới/cơm mới.  
Tuy tên gọi có thể khác nhau do ngày  
diễn ra lễ cúng tế khác nhau nhƣng  
đều là cúng lúa mới, tạ ân Thần Nông  
đã phù hộ cho một mùa màng tốt tƣơi.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
38  
Vì thế sau khi thu hoạch lúa về, bát kỳ” (Nguyễn Ngọc Nhuận, 2011, tập 3:  
cơm gạo mới đầu tiên sẽ đƣợc kính 590). Lê triều Hội điển ghi: “Lễ  
cẩn dâng lên thần. Lễ vật dâng thần Thƣờng tiên kỳ tháng 8: phụng ban 25  
trong ngày lễ phải đƣợc làm từ các quan tiền, 20 thúng gạo mới, 1 con bò  
sản vật nông nghiệp nhƣ: xôi, bánh, lớn, 1 vò rƣợu ngon. Đệ đến để dâng  
cơm, gạo. Triều Nguyễn quy định tiến” (Nguyễn Ngọc Nhuận, 2011, tập  
ngày tế Thần Nông trong tiết Thƣờng 2: 92). Trong các bản tục lệ thì lễ vật  
tân: “Hàng năm lệ tế Thƣờng tân, lễ có giản tiện hơn nhƣng ngày tháng và  
phẩm là 500 hốt vàng hoa, 3 mạch quy định lễ nghi vẫn rất cụ thể, chặt  
tiền hƣơng, 5 mạch tiền rƣợu, 1 nải chẽ “Lệ Cơm mới tháng 9 đến mùa  
chuối, 3 mạch tiền trầu cau, 1 cân xôi lúa chín chuẩn bị thu hoạch của vụ ấy,  
(Nguyễn Ngọc Nhuận, 2011, tập 3: Chánh, Phó lý sửa soạn một thủ lợn,  
353). Tục lệ xã Lạc Thành tổng Cát một mâm xôi, trầu rƣợu đầy đủ kính tế  
Xuyên huyện Giao Thủy tỉnh Nam Tiên Nông” (Viện Nghiên cứu Hán  
Định quy định: “Vào tháng 10, chọn Nôm, AF.a11/1: 18). Tục lệ này ở  
lấy ngày tốt để làm lễ Thƣờng tân; vùng Thanh Trì (Hà Nội): “thì lại ăn  
bản xã thu các khoản tiền giao cho Tết Trùng thập về ngày 21 tháng 10(15)  
Thủ từ nhận canh, lấy tiền vào ngày Đại để nhà quê là việc gặt hái xong,  
.
nhớ đến công tiên nông mà cúng tế và  
an ủi nhƣ sự khó nhọc mọi ngày” (Phan  
Kế Bính, 2011: 61). Nhƣ vậy lễ Thƣờng  
tân diễn ra tùy theo từng khu vực do  
địa hình và khí hậu canh tác của mỗi  
nơi. Thời gian có thể du di nhƣng đều  
chung một ý nghĩa tạ ân Thần Nông  
phù hộ nên sau khi thu hoạch xong  
nông phẩm ngon nhất, tinh khiết nhất  
sẽ đƣợc dâng cúng thần. Khảo sát  
phong tục Việt Nam đầu thế kỷ XX  
cho biết tục lệ này vẫn thịnh hành:  
“Mồng mƣời tháng mƣời là tết Trùng  
thập… về nhà quê cũng có nhiều nơi  
ăn, có nơi ăn to lắm, nhƣ về vùng phủ  
Hoài thì làm bánh dầy, nấu chè kho,  
trƣớc cúng thần, sau cúng gia tiên…”  
(Phan Kế Bính, 2011: 61).  
đó (ngày làm lễ Thƣờng tân), lấy gạo  
ngon một nồi, chuối xanh một nồi, phu  
phế ra các hạng, hoa quả kính lễ, còn  
lại lộc chia đều cho mọi ngƣời” (Viện  
Nghiên cứu Hán Nôm, AF.a11/1: 18).  
Ngày diễn ra lễ Thƣờng tân cũng  
không nhất thiết giống nhau: “Lệ  
Thƣờng tân tháng 9 đến mùa lúa chín  
chuẩn bị thu hoạch của vụ ấy Chánh,  
Phó lý sửa soạn một đầu lợn, một  
mâm xôi, trầu rƣợu đầy đủ kính tế  
Tiên Nông” (Viện Nghiên cứu Hán  
Nôm, AF.a11/1: 18). Trong Quốc triều  
chiếu lệnh thiện chính ghi chép các  
chiếu lệnh đƣợc ban hành trong thời  
gian từ niên đại Vĩnh Tộ thứ 7 (1627)  
đến niên đại Chính Hòa thứ 8 (1687):  
“… Theo lệ hàng năm phải có dâng  
tiến các lễ Thƣờng tiên, Tiết liệu. Mỗi  
năm có một kỳ tháng 5, một kỳ tháng  
10, một kỳ tháng 12. Tổng cộng là 3  
3. KẾT LUẬN  
Ở Việt Nam, dƣới thời phong kiến,  
việc thờ cúng Thần Nông đƣợc triều  
VƢƠNG THỊ HƢỜNG – TÍN NGƢỠNG THẦN NÔNG QUA…  
39  
đình thực hiện cũng nhƣ việc tổ chức tâm thức, trở thành phong tục, thành  
các tiết lễ trong dân gian đã trở thành biểu trƣng của cƣ dân nông nghiệp  
phong tục không thể thiếu trong đời Việt Nam. Ngày nay, một số địa  
sống tinh thần của ngƣời nông dân. phƣơng tổ chức lễ Tịch điền, lễ Tiến  
Có những tiết lễ thờ thần riêng nhƣng Xuân ngƣu… nhằm góp phần phát  
cũng có những tiết lễ phối thờ Thần huy nét đẹp văn hóa cộng đồng và  
Nông với các vị thần liên quan đến giáo dục tính nhân văn. Tuy nhiên,  
nông nghiệp khác nhƣ thần mây, thần việc phục dựng các phong tục, lễ hội  
mƣa, thần sấm… Từ vua Lê Đại Hành cần đƣợc nghiên cứu kỹ càng, thận  
(tiền Lê) cho đến vua Minh Mạng (thời trọng từ nguồn gốc, ý nghĩa, quy  
Nguyễn) đều công nhận và tôn trọng mô,… để phát huy đƣợc sức mạnh  
tín ngƣỡng thờ cúng Thần Nông. Ý của di sản cha ông để lại; không thể  
nghĩa của tín ngƣỡng thờ cúng Thần tùy tiện, vì mục đích thƣơng mại mà  
Nông và các điển chế, tiết lễ thờ cúng làm mất đi những giá trị chân, thiện,  
nhằm ghi nhớ công ơn của thần với mỹ - giá trị cốt lõi của văn hóa. Vua Lê  
quan niệm là vị thủy tổ cũng nhƣ là vị Thánh Tông mong muốn và từng huấn  
thần bảo trợ cho mùa màng bội thu đã dụ: “Lễ nghĩa để sửa tốt lòng dân,  
tạo nên sự gắn kết cộng đồng ngƣời nông tang để có đủ cơm áo. Hai điều  
Việt giúp nhau vƣợt qua khó khăn đó là việc cần kíp của chính sự, là  
trong quá trình sản xuất, chinh phục chức trách của các quan nuôi giữ dân”  
thiên nhiên. Tín ngƣỡng này đã đi vào (Ngô Đức Thọ, 1998, tập 3: 97).  
CHÚ THÍCH  
Nghiên cứu này đƣợc tài trợ bởi Quỹ Phát triển Khoa học và công nghệ Quốc gia  
(NAFOSTED) trong đề tài mã số 602.09-2019.03.  
(1)  
Sách Lĩnh Nam chích quái, bằng chữ Hán, do Trần Thế Pháp viết, Vũ Quỳnh - Kiều Phú  
(bổ sung). Trong bài viết chúng tôi dựa theo bản dịch năm 1990 do Đinh Gia Khánh chủ biên,  
Nguyễn Ngọc San biên khảo - giới thiệu.  
(2) Lê Văn Hƣu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… Đại Việt sử ký toàn thư: Bản in Nội các quan  
bản. Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Trong bài viết này, chúng tôi trích dẫn  
bản in do Ngô Đức Thọ chủ biên. Phần dịch nghĩa ở quyển 1, 2, 3; nguyên văn chữ Hán ở  
quyển 4.  
(3)  
“Tế tự Tiên Nông và tế tự Hậu Tắc, tế tự Linh tinh (các sao thiêng) đều là lễ hiến tế thần  
nông nghiệp theo truyền thống của Trung Quốc” (先农祭祀与后稷祭祀 灵星祭祀同为中国 传统的农神祭祀).  
(4) Tiên Nông, thời xƣa gọi là Đế xã, Vƣơng xã, đến đời Hán mới bắt đầu gọi là Tiên Nông…  
Trƣớc đời Đƣờng là Đế xã, Đàn tế còn viết là Đàn Tịch điền, sau năm 685-688 niên hiệu  
Thùy Củng (Lý Đán Đƣờng Duệ Tông đời Đƣờng) đổi là Đàn Tiên Nông  
Nguyên văn: 先农,远古称帝社、王社,至汉时始称先农。春时东耕于藉田,引诗先农坛先农,则神农也”引;“坛  
于田,以祀先农”引。魏时,先农为国六神之一(“风伯、雨师、灵星、先农、社、稷为国六神”引)。藉天祭先农,唐前  
为帝社,祭坛曰藉田坛,垂拱年(公元 685~688 年)后改为先农坛。至此祭祀先农正式定为封建社会的一种礼制,  
每年开春,皇帝亲领文武百官行藉田礼于先农坛。https://baike.sogou.com/v8325.htm.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (273) 2021  
40  
(5)  
Xem Viện Nghiên cứu Hán Nôm, AF.b1/21: “Nghệ An tỉnh Hƣng Nguyên phủ Văn Viên  
tổng các xã tục lệ 乂安省興元府文園總各社俗例”, phần Tục lệ xã Phúc Xuyên.  
(6) Xem Viện Nghiên cứu Hán Nôm, AF.b1/21: “Nghệ An tỉnh Hƣng Nguyên phủ Văn Viên  
tổng các xã tục lệ 乂安省興元府文園總各社俗例”, phần Tục lệ xã Văn Viên.  
(7) Xem Viện Nghiên cứu Hán Nôm, A.274: “Giao tự điển lệ 交祀典例”, gồm những quy định về  
nghi thức tế lễ ở đàn Nam Giao; ở miếu, điện, lăng tẩm; ở đàn Xã tắc và các nơi khác trong  
kinh thành Huế dƣới triều nhà Nguyễn.  
(8) Sách Điển chế pháp luật Việt Nam thời trung đại bằng chữ Hán, gồm nhiều phần gộp lại  
(nhƣ Lê triều Hội điển, Quốc triều chiếu lệnh thiện chính, Hồng Đức thiện chính thư… do  
Nguyễn Ngọc Nhuận chủ biên, Trần Thị Kim Anh, Lê Tuấn Anh dịch. Các trích dẫn trong bài  
viết này đều theo bản Nguyễn Ngọc Nhuận.  
(9)  
Núi Đọi: Còn gọi là Đọi Sơn (hay Long Đọi sơn), hiện tọa lạc trên đỉnh núi Long Đọi, xã  
Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.  
(10)  
Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sách chữ Hán,  
chúng tôi dẫn theo bản dịch Viện Sử học (2007).  
(11) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Chính biên; chúng tôi dẫn theo bản dịch  
Viện Sử học (2007).  
(12) Lễ tế ở đàn Xã tắc là lễ tế Thần Đất và Thần Lúa (Thần Nông).  
(13) Về lễ tế Xuân (hay Xuân ngƣu) có thể xem thêm Bửu Kế (1961), “Ngô Đình Nhu (1942).  
(14) Hình ảnh thần Câu Mang thƣờng đƣợc mô tả là một chú bé mục đồng.  
(15) Tuy gọi là tiết Trùng thập (10/10) nhƣng ở địa phƣơng này lại tổ chức cúng tế vào 21/10.  
Qua đây có thể thấy, tên tiết Trùng thập cũng chỉ mang tính ƣớc lệ.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bửu Kế. 1961. “Lễ tế Xuân hay đám rƣớc Thần Nông”. Sài Gòn. Tạp chí Bách khoa,  
số Tết Tân Sửu, tr. 39-44;  
2. Đào Duy Anh. 2020. Từ điển Hán Việt. Hà Nội: Nxb. Hồng Đức.  
3. Điền Thiên. 2003. Tiên Nông và Linh tinh: khảo sát tế tự Thần Nông ở các địa  
phương thời Tần Hán. Trung Quốc quốc gia bác vật quán, số 2003(8), tr. 60-67. (田天, 先  
农与灵星:秦汉地方农神祭祀丛考. 中国国家博物馆馆刊).  
5. Lê Quý Đôn. 2007. Kiến văn tiểu lục. Viện Sử học biên tập, dịch chú. Hà Nội: Nxb.  
Văn hóa Thông tin.  
6. Lê Văn Hƣu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… 1998. Đại Việt sử ký toàn thư: Bản in Nội các  
quan bản. Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Bản dịch Ngô Đức Thọ chủ biên.  
1998. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, 3 tập.  
7. Nam Khánh. 2016. “Lễ hội đầu xuâ độc đáo của triều đình phong kiến xƣa”. http://kien  
24/2/2016.  
8. Nội các triều Nguyễn. Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ. Bản dịch: Viện Sử học (tái  
bản). 2005. Huế. Nxb. Thuận Hóa.  
9. Nội các triều Nguyễn. 2005. Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ tục biên. VHv.2793/1-  
30; In năm Khải Định 2 (1917). Bản dịch Viện Sử học (2005). Huế: Nxb. Thuận Hóa.  
VƢƠNG THỊ HƢỜNG – TÍN NGƢỠNG THẦN NÔNG QUA…  
41  
10. Ngọ Phong Ngô Thì Sỹ. 1960. Việt sử tiêu án (越史標案). Viện Nghiên cứu Hán Nôm,  
A.2977/1. Bản dịch: Hội Việt Nam Nghiên cứu liên lạc văn hóa Á Châu. 1960. Nxb. Văn  
hóa Á Châu.  
11. Ngô Đình Nhu. 1942. “Lễ lập Xuân ở Hà Nội”. Tạp chí Thanh Nghị, ngày 16/9/1942,  
tr.16-18.  
12. Nguyễn Hữu Hiếu, Lê Thành Thuận. 2020. Đình làng Nam Bộ và tục thờ Thần  
Nông - nhìn từ Đồng Tháp, Hà Nội: Nxb. Hội Nhà văn.  
13. Nguyễn Hữu Mùi. 2020. “Lễ tế Thần Nông và phong tục khuyến nông ở Việt Nam (trƣờng hợp  
tỉnh Phúc Yên cũ)”. Tạp chí Hán Nôm, số 1 (158), tr.3-10.  
14. Nguyễn Ngọc Nhuận (chủ biên); Trần Thị Kim Anh, Lê Tuấn Anh (dịch). 2011. Điển  
chế pháp luật Việt Nam thời trung đại. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
15. Nguyễn Mạnh Hùng. 1989. Ký họa Việt Nam đầu thế kỷ XX. TPHCM: Nxb. Trẻ.  
16. Nguyễn Thanh Lợi. 2020. “Tục thờ Thần Nông ở Nam Bộ”. https://doanhnhan  
plus.vn/tuc-tho-than-nong-o-nam-bo, cập nhật ngày 3/1/2020  
17. Nguyễn Thế Anh. 2008. Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn. Hà  
Nội: Nxb. Văn học.  
18. Nguyễn Văn Thành. Hoàng Việt luật lệ. Bản dịch Nguyễn Q. Thắng. 1994. Hà Nội:  
Nxb. Văn hóa Thông tin.  
19. Phan Kế Bính. 2011. Việt Nam phong tục. Hà Nội: Nxb. Văn học.  
20. Quốc hội. 2016. “Luật Tín ngƣỡng, tôn giáo”. https://thuvienphapluat.vn/van-  
21. Sơn Nam. 2009. Lịch sử khẩn hoang miền Nam (ấn bản 1). TPHCM: Nxb. Trẻ.  
22. Trần Nghĩa (đồng chủ biên). 1993. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu. Hà  
Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
23. Trần Thế Pháp soạn, Vũ Quỳnh - Kiều Phú bổ sung. Lĩnh Nam chích quái. Bản dịch  
Đinh Gia Khánh chủ biên, Nguyễn Ngọc San biên khảo - giới thiệu. 1990. Hà Nội: Nxb.  
Văn học (tái bản lần 2).  
24. Trịnh Khắc Mạnh. 2020. “Tìm hiểu về lễ tế Thần Nông và lễ Tịch điền ở Việt Nam  
qua tƣ liệu Hán Nôm”. Tạp chí Hán Nôm, số 3 (160), tr. 3-16.  
25. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Giao tự điển lệ (交祀典例)”, A. 274.  
26. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 南定省交水縣葛川總風苗甲俗例 (Nam Định tỉnh Giao Thủy  
huyện Cát Xuyên tổng Phong Miêu giáp tục lệ), AF.a11/1.  
27. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 祭神儀節 (Tế thần nghi tiết), A.1544.  
28. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 興安省安美縣僚舍總儒林村 (Hƣng Yên tỉnh Yên Mỹ huyện  
Liêu Xá tổng Nho Lâm thôn), AF.a3/33.  
29. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 興安省安美縣太樂總各社俗例 (Hƣng Yên tỉnh Yên Mỹ huyện  
Thái Lạc tổng các xã tục lệ), AF.a3/83.  
30. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 興安省安美縣安富總楷範社中富村俗, (Hƣng Yên tỉnh Yên Mỹ  
huyện Yên Phú tổng Giai Phạm xã Trung Phú thôn tục lệ), AF.a3/56.  
31. Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 興安省安美縣柴莊總仁和社中和村 (Hƣng Yên tỉnh Yên Mỹ  
huyện Sài Trang tổng Nhân Hòa xã Trung Hòa thôn), AF.a3/44.  
32. Viện Sử học. 2005. Đại Nam thực lục, Chính biên - tập 4. Hà Nội: Nxb. Giáo dục.  
33. Viện Sử học. 2007. Khâm định Việt sử thông giám cương mục - tập 1. Hà Nội: Nxb.  
Giáo dục.  
pdf 14 trang Thùy Anh 19680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tín ngưỡng thần nông qua các tiết lễ thờ cúng trong năm (nghiên cứu từ tư liệu Hán Nôm)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftin_nguong_than_nong_qua_cac_tiet_le_tho_cung_trong_nam_nghi.pdf