Quan niệm về hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo ở Nam Bộ hiện nay

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
74  
QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƯỜI  
VÀ KHÁC TÔN GIÁO Ở NAM BỘ HIỆN NAY  
VÕ CÔNG NGUYỆN*  
Sự tương tác xã hội và giao lưu văn hóa giữa các tộc người, đặc biệt là giữa các  
tộc người thiểu số với tộc người đa số ở Nam Bộ diễn ra lâu nay biểu hiện sinh  
động, đa chiều kích. Trong đó, việc thiết lập quan hệ hôn nhân khác tộc người  
(hay hỗn hợp tộc người) và khác tôn giáo, góp phần hình thành gia đình và dòng  
họ đa tộc người (hay đa văn hóa). Trên cơ sở đó, quan niệm về hôn nhân khác  
tộc người và khác tôn giáo của các tộc người ở Nam Bộ cũng đã thay đổi, làm  
sâu sắc hơn mối quan hệ xã hội và văn hóa, sự hòa hợp giữa các tộc người và  
hội nhập xã hội - vào một quốc gia chung hiện nay. Bài viết phân tích quan niệm  
về hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo của các cộng đồng tộc người ở  
Nam Bộ từ kết quả nghiên cứu 695 hộ gia đình đa tộc người có tín ngưỡng tôn  
giáo khác nhau ở Nam Bộ vào thời điểm tháng 6/2019 về vấn đề này.  
Từ khóa: hôn nhân, hôn nhân khác tộc ngƣời, hôn nhân khác tôn giáo, Nam Bộ  
Nhận bài ngày: 7/10/2020; đưa vào biên tập: 8/10/2020; phản biện: 9/10/2020;  
duyệt đăng: 24/10/2020  
1. DẪN NHẬP  
cơ cấu dân cƣ đa tộc ngƣời, đa văn  
hóa và đa tôn giáo của vùng này. Trải  
qua quá trình cộng cƣ, cƣ trú đan xen,  
gắn bó giao lƣu với nhau, quan hệ  
hôn nhân khác tộc ngƣời và khác tôn  
giáo đã đƣợc thiết lập ngày càng trở  
nên phổ biến trong các cộng đồng tộc  
ngƣời ở Nam Bộ.  
Nam Bộ là một vùng cƣ dân đa tộc  
ngƣời, gồm có dân tại chỗ và dân  
nhập cƣ qua các thời kỳ lịch sử trƣớc  
và sau năm 1975. Trên địa bàn Nam  
Bộ hiện nay, ngƣời Kinh (Việt), ngƣời  
Khmer, ngƣời Hoa, ngƣời Chăm cùng  
với các tộc ngƣời thiểu số tại chỗ ở  
Đông Nam Bộ (Xtiêng, Châu Ro, Mạ, Bài viết là một phần kết quả nghiên  
Mnông), các tộc ngƣời thiểu số di cƣ cứu của đề tài cấp Bộ “Quan hệ hôn  
chủ yếu từ Nam Tây Nguyên (Cơ Ho, nhân, gia đình và thân tộc của các  
Ê Đê…) và các tộc ngƣời thiểu số di cộng đồng dân cƣ đa tộc ngƣời ở  
cƣ từ các tỉnh miền núi phía Bắc (Tày, Nam Bộ” do tác giả làm chủ nhiệm,  
Thái, Nùng, Hmông, Dao…) là những Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ  
thành phần cƣ dân cơ bản hợp thành chủ trì. Bài viết sử dụng dữ liệu từ  
cuộc khảo sát định lƣợng 695 hộ gia  
đình đa tộc ngƣời (hay đa văn hóa) và  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
một số cuộc phỏng vấn sâu cá nhân  
VÕ CÔNG NGUYỆN – QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƢỜI…  
75  
của hộ gia đình theo Hồi giáo, Công quân nhân khẩu/hộ là 4,8 ngƣời và số  
giáo và Tin Lành ở Nam Bộ vào tháng nhân khẩu phổ biến nhất của hộ là 4  
6/2019.  
ngƣời (Bảng 2). Bình quân nhân  
khẩu/hộ và số nhân khẩu phổ biến  
nhất của hộ gia đình đa tộc ngƣời ở  
Nam Bộ nhìn chung tƣơng đồng với  
bình quân nhân khẩu/hộ (4,7 ngƣời)  
và số nhân khẩu phổ biến nhất của hộ  
(4 ngƣời) trong 1.000 hộ gia đình các  
tộc ngƣời Kinh, Khmer, Hoa và Chăm  
ở vùng Tây Nam Bộ vào thời điểm  
tháng 8/2016 (Võ Công Nguyện, 2018:  
32).  
2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ CƯ DÂN  
ĐA TỘC NGƯỜI  
Mẫu khảo sát hộ gia đình đa tộc  
ngƣời của các cộng đồng tộc ngƣời  
thiểu số ở Nam Bộ vào thời điểm  
tháng 6/2019 gồm có 140 hộ Khmer,  
140 hộ Hoa, 135 hộ Chăm, 70 hộ  
Xtiêng, 70 hộ Châu Ro, 70 hộ Mạ và  
70 hộ Mnông tại 16 xã/phƣờng/thị trấn  
của 10 huyện/thị xã/thành phố thuộc 6  
tỉnh ở Nam Bộ, trong đó có ba tỉnh  
Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Phƣớc,  
Tây Ninh) và ba tỉnh Tây Nam Bộ (An  
Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu) (Bảng 1).  
Nhân khẩu của 695 hộ gia đình có  
25,50% ngƣời Kinh, 15,88% ngƣời  
Khmer, 14,82% ngƣời Chăm, 13,56%  
ngƣời Hoa, 9,51% ngƣời Xtiêng,  
6,37% ngƣời Mạ, 5,95% ngƣời Châu  
Ro, 5,10% ngƣời Mnông, 1,48% thuộc  
Trong 695 hộ gia đình đa tộc ngƣời ở  
Nam Bộ có 3.312 nhân khẩu, bình  
Bảng 1. Mẫu khảo sát chia theo địa bàn, tộc ngƣời và quy mô mẫu  
Tỉnh  
Quận/huyện/thành phố Xã/phƣờng/thị trấn Tộc ngƣời Số hộ Nhân khẩu  
Xã Bù Gia Mập  
Xã Đăk Ơ  
Mnông  
Xtiêng  
70  
70  
352  
336  
Bình Phƣớc  
Huyện Bù Gia Mập  
Huyện Tân Châu  
Xã Suối Dây  
Xã Tân Hƣng  
Chăm  
70  
300  
Tây Ninh  
Thành phố Tây Ninh Xã Thanh Tân  
Xã Hòa Hiệp  
Huyện Tân Biên  
Khmer  
70  
296  
Xã Tân Phong  
Thành phố Biên Hòa Phƣờng Bửu Long Hoa  
Thị trấn Định Quán Mạ  
70  
70  
328  
321  
Đồng Nai  
Huyện Định Quán  
Xã Túc Trƣng  
Xã Phú Túc  
Châu Ro  
Chăm  
70  
65  
360  
324  
Xã Đa Phƣớc  
Xã Vĩnh Trƣờng  
Xã Châu Phong  
Phƣờng Mỹ Đức  
Huyện An Phú  
An Giang  
Thị xã Tân Châu  
Kiên Giang  
Thành phố Hà Tiên  
Thành phố Bạc Liêu  
Khmer  
70  
70  
349  
346  
Bạc Liêu  
Xã Vĩnh Trạch Đông Hoa  
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
76  
Bảng 2. Số nhân khẩu trung bình/hộ chia theo tộc ngƣời  
Tộc ngƣời  
Châu  
Ro  
Tổng  
cộng  
Khmer Chăm Hoa  
Xtiêng Mnông Mạ  
Số hộ khảo sát  
140  
645  
4
135  
624  
5
140  
674  
4
70  
360  
5
70  
336  
4
70  
70  
695  
Tổng số nhân khẩu  
352 321 3.312  
Số nhân khẩu phổ biến nhất/hộ  
Số nhân khẩu trung bình/hộ  
Số nhân khẩu cao nhất/hộ  
Số nhân khẩu thấp nhất/hộ  
Độ lệch chuẩn (Std. Deviation)  
4
3
4
4,8  
14  
2
4,6  
9
4,6  
12  
2
4,8  
10  
2
5,1  
14  
2
4,8  
10  
2
5,0 4,6  
10  
2
12  
2
2
1
2
2
2
1
2
2
2
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019.  
Bảng 3. Thành phần tộc ngƣời trong mẫu khảo sát, chia theo giới tính  
Nam Nữ  
Số ngƣời Tỷ lệ % Số ngƣời Tỷ lệ % Số ngƣời Tỷ lệ %  
Tổng cộng  
Ngƣời Kinh  
455  
238  
276  
240  
96  
27,31  
14,29  
16,57  
14,41  
5,76  
391  
288  
173  
251  
101  
167  
116  
117  
8
23,75  
17,50  
10,51  
15,25  
6,14  
846 25,54  
526 15,88  
449 13,56  
491 14,82  
Ngƣời Khmer  
Ngƣời Hoa  
Ngƣời Chăm  
Ngƣời Châu Ro  
Ngƣời Xtiêng  
197  
315  
171  
211  
23  
5,95  
9,51  
5,16  
6,37  
0,69  
0,45  
0,57  
148  
55  
8,88  
10,15  
7,05  
Ngƣời Mnông  
3,30  
Ngƣời Mạ  
94  
5,64  
7,11  
Ngƣời Khmer Campuchia  
Nhóm ngƣời Tàmun  
Tộc ngƣời thiểu số Tây Nguyên  
15  
0,90  
0,49  
8
0,48  
7
0,43  
15  
10  
0,60  
9
0,55  
19  
Tộc ngƣời thiểu số các tỉnh phía  
Bắc  
31  
1,86  
100  
18  
1,09  
100  
49  
1,48  
100  
Tổng cộng  
1.666  
1.646  
3.312  
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019.  
các tộc ngƣời thiểu số ở các tỉnh miền hệ này. Ngƣợc lại, ở ngƣời Khmer,  
núi phía Bắc. So sánh tƣơng quan về ngƣời Chăm, ngƣời Xtiêng, ngƣời  
giới của các cộng đồng tộc ngƣời thì Châu Ro, ngƣời Mnông và ngƣời Mạ,  
ngƣời Kinh và ngƣời Hoa, nam có tỷ nữ có tỷ số cao hơn nam, nhƣng  
số cao hơn nữ (27,31% và 16,57% ngoài ngƣời Khmer và ngƣời Mnông,  
nam so với 23,75% và 10,50% nữ) và không có sự khác biệt đáng kể giữa  
có sự khác biệt giữa nam và nữ ở hai nam và nữ trong các cộng đồng tộc  
cộng đồng tộc ngƣời theo chế độ phụ ngƣời thiểu số (Bảng 3).  
VÕ CÔNG NGUYỆN – QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƢỜI…  
77  
3. QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC nhất ngƣời Minh Hƣơng với ngƣời  
TỘC NGƯỜI  
Kinh về mặt pháp lý (Khuông Việt,  
1943b: 18 ). Đầu thế kỷ XX, tại Sóc  
Trăng đã có 57.000 ngƣời Kinh hoặc  
ngƣời Kinh lai Hoa và 38.000 ngƣời  
Khmer hoặc ngƣời Khmer lai Hoa;  
đến năm 1936 có 14.050 ngƣời Hoa  
lai Kinh và 3.803 ngƣời Hoa lai Khmer  
(Nguyễn Phan Quang, 2000: 43 - 44).  
Sau năm 1975, đặc biệt từ năm 1986  
Trƣớc năm 1975, quan hệ hôn nhân  
khác tộc thƣờng là hôn nhân giữa  
ngƣời Hoa với ngƣời Kinh, giữa  
ngƣời Hoa với ngƣời Khmer, và quan  
hệ hôn nhân giữa các tộc ngƣời thiểu  
số tại chỗ (Xtiêng, Châu Ro, Mạ,  
Mnông…) ở Đông Nam Bộ vốn có  
chung nguồn gốc nhân chủng, ngôn  
ngữ và văn hóa (Võ Công Nguyện, đến nay, quan hệ hôn nhân khác tộc  
2017: 301). Ngƣời Xtiêng và ngƣời đã phổ biến hơn. Kết quả khảo sát  
Châu Ro cƣ trú trên vùng “bản lề”  
giữa miền núi và đồng bằng Đông  
Nam Bộ, có quan hệ hôn nhân khác  
tộc với ngƣời Khmer và ngƣời Chăm  
sớm hơn ngƣời Kinh và kể cả ngƣời  
Hoa là hai cộng đồng cƣ dân đến sau  
hơn ở vùng này. Trƣớc đây, theo  
ngƣời Châu Ro, quan hệ hôn nhân  
khác tộc với ngƣời Khmer và ngƣời  
Chăm thì “Chăm xa, Khmer gần”  
(Cham ngai, Sai mêch), bởi vì ngƣời  
Khmer có sự gần gũi về văn hóa với  
ngƣời Châu Ro hơn so với ngƣời  
Chăm (Trần Tấn Vĩnh, 2003: 12).  
cộng đồng đa tộc ngƣời (Kinh - Khmer  
- Hoa) tại xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh  
Châu, tỉnh Sóc Trăng (tháng 8/2003)  
có 80 hộ gia đình đa tộc ngƣời Kinh -  
Khmer - Hoa, chiếm tỷ lệ 26,67% so  
với tổng số 300 hộ gia đình của ba tộc  
ngƣời trên ở xã này (Võ Công Nguyện,  
2010: 112). Kết quả khảo sát 1.000 hộ  
gia đình ở Tây Nam Bộ vào tháng  
8/2016 cho thấy, có 18,30% hộ gia  
đình đa tộc ngƣời (39% trong 200 hộ  
ngƣời Hoa, 21,20% trong 250 hộ  
ngƣời Khmer, 11,14% trong 350 hộ  
ngƣời Kinh và 6,30% trong 200 hộ  
ngƣời Chăm) (Võ Công Nguyện, 2018:  
34). Ở Đông Nam Bộ, quan hệ hôn  
nhân giữa các tộc ngƣời thiểu số tại  
chỗ và các tộc ngƣời thiểu số di cƣ  
đến (Tày, Thái, Nùng, Hmông, Dao…)  
cũng đã và đang diễn ra.  
Quan hệ hôn nhân giữa ngƣời Hoa và  
ngƣời Kinh ở Nam Bộ đã diễn ra từ  
thời các chúa Nguyễn, đàn ông ngƣời  
Hoa kết hôn với phụ nữ ngƣời Kinh,  
con cái sinh ra từ quan hệ hôn nhân  
này đƣợc gọi là ngƣời Minh Hƣơng.  
Nhóm cƣ dân mang hai dòng máu đã  
dần hòa nhập vào cộng đồng của mẹ -  
ngƣời Kinh “từ cách ăn, thói ở đến lời  
nói việc làm, tỏ ra họ không còn “Tàu”  
chút nào cả” (Khuông Việt, 1943a: 23).  
Năm 1874, chính quyền thuộc địa  
Khi đƣợc hỏi “Ông/bà có đồng ý con  
cháu/ngƣời thân là nữ và nam đƣợc  
kết hôn với ngƣời khác tộc ngƣời hay  
không?” thì có đến 94,39% số ngƣời  
trả lời đồng ý đối với con cháu/ngƣời  
thân là nữ và 93,67% số ngƣời trả lời  
Nam Kỳ ban hành quyết định đồng đồng ý đối với con cháu/ngƣời thân là  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
78  
nam trong tổng số 695 ngƣời trả lời kết hôn với ngƣời khác tộc ngƣời  
đại diện hộ gia đình đa tộc ngƣời ở trong các tộc ngƣời thiểu số tại chỗ ở  
Nam Bộ. Tỷ số ngƣời trả lời đồng ý Đông Nam Bộ, các tộc ngƣời thiểu số  
con cháu/ngƣời thân đƣợc kết hôn với di cƣ từ các tỉnh miền núi phía Bắc và  
ngƣời khác tộc ngƣời đối với nữ và ngƣời Khmer có tỷ lệ cao gần nhƣ  
nam trong gia đình mỗi cộng đồng tộc tuyệt đối (từ hơn 97% đến 100%), cao  
ngƣời ở vùng này nhìn chung khá hơn nhiều so với ngƣời Hoa (nữ:  
tƣơng đồng với nhau (Bảng 4). Đặc 90,10% và nam: 87,13%), ngƣời  
biệt, số ngƣời trả lời đồng ý con Chăm (nữ: 90,80% và nam: 88,51%)  
cháu/ngƣời thân là nữ và nam đƣợc và ngƣời Kinh (nữ: 92,31% và nam:  
Bảng 4. Ông/bà có đồng ý con cháu/ngƣời thân đƣợc kết hôn với ngƣời khác tộc  
ngƣời, chia theo tộc ngƣời của ngƣời trả lời  
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lới  
Tộc  
ngƣời  
khác  
Châu  
Ro  
Kinh Khmer Hoa Chăm  
Xtiêng Mnông Mạ  
A. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nữ  
N
156  
105  
91  
79  
45  
59  
55  
46  
20  
656  
Đồng ý  
% 92,31 95,45 90,10 90,80 97,83 100,00 98,21 97,87  
100 94,39  
16  
0,00 2,30  
23  
0,00 3,31  
N
7
0
0
7
8,05  
1
0
0,00  
1
0
1
1
2,13  
0
0
Không  
đồng ý  
% 4,14 0,00 0,00  
10  
% 3,55 4,55 9,90  
0,00 1,79  
N
6
5
0
0
0
Ý kiến  
khác  
1,15  
87  
2,17  
46  
0,00 0,00  
0,00  
47  
N
169  
100  
110  
100  
101  
100  
59  
56  
20  
695  
100  
Tổng  
cộng  
%
100  
100  
100  
100  
100  
100  
B. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nam  
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời  
Tộc  
ngƣời  
khác  
Châu  
Kinh Khmer Hoa Chăm  
Xtiêng Mnông Mạ  
Ro  
45  
% 91,12 97,27 87,13 88,51 97,83 100,00 98,21 97,87  
N
154  
107  
88  
77  
59  
55  
46  
20  
651  
Đồng ý  
100 93,67  
19  
0,00 2,73  
25  
0,00 3,60  
N
7
2
0
8
9,20  
2
0
0,00  
1
0
1
1
2,13  
0
0
Không  
đồng ý  
% 4,14 1,82 0,00  
13  
% 4,73 0,91 12,87  
0,00 1,79  
N
8
1
0
0
0
Ý kiến  
khác  
2,30  
87  
2,17  
46  
0,00 0,00  
0,00  
47  
N
169  
100  
110  
100  
101  
100  
59  
56  
20  
695  
100  
Tổng  
cộng  
%
100  
100  
100  
100  
100  
100  
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019.  
VÕ CÔNG NGUYỆN – QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƢỜI…  
79  
91,12%) ở Nam Bộ.  
Châu Ro, bon Xtiêng, Mạ, Mnông…).  
Số liệu khảo sát cho thấy hơn một  
nửa số ngƣời trả lời đồng ý con  
cháu/ngƣời thân là nữ (51,37%) và  
nam (52,23%) lấy chồng/vợ ngƣời  
cùng làng, tuy nhiên có đến hơn một  
phần ba số ngƣời trả lời không đồng ý  
con cháu/ngƣời thân là nữ (35,54%)  
và nam (34,68%) lấy chồng/vợ ngƣời  
cùng làng (Bảng 5); số ngƣời trả lời  
có ý kiến khác chiếm tỷ lệ 13,09% cho  
Nhƣ vậy, quan hệ hôn nhân khác tộc  
đã đƣợc tuyệt đại đa số hộ gia đình  
các cộng đồng tộc ngƣời ở Nam Bộ  
đồng thuận. Theo đó, quan niệm về  
việc lấy chồng/vợ có nên lựa chọn  
ngƣời cùng làng hay không cũng thay  
đổi theo hƣớng cởi mở hơn, đối  
tƣợng kết hôn đƣợc mở rộng ra ngoài  
cộng đồng làng (bao gồm cả phum  
sóc Khmer, hội quán Hoa, palei Chăm,  
Bảng 5. Ông/bà có đồng ý lấy vợ/chồng nên chọn ngƣời cùng làng, chia theo tộc ngƣời  
của ngƣời trả lời  
A. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nữ  
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời  
Châu  
Ro  
TN  
khác  
Kinh Khmer Hoa Chăm  
Xtiêng Mnông Mạ  
N
91  
% 53,85  
59  
% 34,91  
19  
% 11,24  
56  
72  
56  
27  
6
7
36  
6
357  
Đồng ý  
50,91 71,29 64,37 58,70 10,17 12,50 76,60 30,00 51,37  
41 20 22 18 39 28 10 10 247  
37,27 19,80 25,29 39,13 66,10 50,00 21,28 50,00 35,54  
N
Không  
đồng ý  
N
13  
11,82  
110  
9
9
1
14  
21  
1
4
91  
Ý khác  
8,91 10,34 2,17 23,73 37,50  
2,13 20,00 13,09  
N
169  
100  
101  
100  
87  
46  
59  
56  
47  
20  
695  
100  
Tổng cộng  
%
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
B. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nam  
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời  
Châu  
Ro  
TN  
khác  
Kinh Khmer Hoa Chăm  
Xtiêng Mnông Mạ  
N
95  
% 56,21  
55  
% 32,54  
19  
% 11,24  
60  
71  
55  
26  
6
8
35  
7
363  
Đồng ý  
54,55 70,30 63,22 56,52 10,17 14,29 74,47 35,00 52,23  
40 19 22 19 39 27 11 241  
36,36 18,81 25,29 41,30 66,10 48,21 23,40 45,00 34,68  
10 11 10 14 21 91  
9,09 10,89 11,49 2,17 23,73 37,50 2,13 20,00 13,09  
N
9
Không  
đồng ý  
N
1
1
4
Ý khác  
N
169  
100  
110  
100  
101  
100  
87  
46  
59  
56  
47  
20  
695  
100  
Tổng cộng  
%
100  
100  
100  
100  
100  
100  
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
80  
cả nữ và nam, đa số cho rằng không trả lời đồng ý con cháu/ngƣời thân  
quan trọng đối với việc lấy chồng/vợ đƣợc kết hôn với ngƣời khác tôn giáo  
ngƣời cùng làng hay không cùng làng.  
Cộng đồng ngƣời Xtiêng ở xã Đắk Ơ  
và cộng đồng ngƣời Mnông ở xã Bù  
Gia Mập (trƣớc đây thuộc xã Đắk Ơ),  
huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phƣớc  
cƣ trú gần gũi, liền kề, thông hiểu  
ngôn ngữ và thấu hiểu phong tục của  
nhau nên không đồng ý con cháu/  
ngƣời thân lấy chồng/vợ ngƣời cùng  
làng có tỷ lệ vƣợt trội hơn so với các  
tộc ngƣời khác ở Nam Bộ (Xtiêng:  
66,10% và 66,10%; Mnông: 50,0% và  
48,21%). Trong khi đó, cộng đồng  
ngƣời Hoa ở Bạc Liêu và Đồng Nai,  
cộng đồng ngƣời Chăm ở An Giang  
và Tây Ninh và cộng đồng ngƣời Mạ  
ở Đồng Nai, có mối quan hệ cộng  
đồng đồng tộc (Hoa) và cộng đồng  
đồng tôn giáo (Chăm, Mạ) bền chặt  
hơn so với các tộc ngƣời khác, vì thế  
số ngƣời không đồng ý con cháu/  
ngƣời thân là nữ và nam lấy chồng/vợ  
ngƣời cùng làng có tỷ lệ thấp nhất:  
19,80% và 18,81% ở ngƣời Hoa,  
21,28% và 23,50% ở ngƣời Mạ và  
25,29% đối với cả nữ và nam ở ngƣời  
Chăm (Bảng 5).  
có tỷ lệ thấp hơn hẳn so với số ngƣời  
đồng ý con cháu/ngƣời thân kết hôn  
với ngƣời khác tộc ngƣời và không có  
sự khác biệt về giới. Đặc biệt, trong  
cộng đồng ngƣời Chăm Hồi giáo, số  
ngƣời đồng ý con cháu/ngƣời thân là  
nữ và nam đƣợc kết hôn với ngƣời  
khác tôn giáo có tỷ lệ thấp nhất (nữ:  
47,13% và nam: 44,83%), nhƣng số  
ngƣời trả lời có ý kiến khác (nữ:  
22,99%; nam: 24,14%) chiếm tỷ lệ cao  
nhất so với tỷ lệ tƣơng ứng của các  
tộc ngƣời khác ở Nam Bộ (Bảng 6).  
Trong số ngƣời trả lời có ý kiến khác,  
nhiều ngƣời cho rằng, ngƣời ngoài  
cộng đồng kết hôn với ngƣời Chăm  
thì ngƣời đó phải theo Hồi giáo và một  
số còn băn khoăn, lo lắng là sau khi  
kết hôn, chồng/vợ ngƣời Chăm thuộc  
tộc ngƣời và tôn giáo khác cho dù đã  
theo Hồi giáo nhƣng có giữ đƣợc  
những điều cấm nhƣ không ăn một số  
thức ăn, nhịn ăn ban ngày vào tháng  
ăn chay (tháng Ramadan), thực hành  
nghi lễ năm lần trong một ngày.  
Số liệu Bảng 6 và Bảng 4 cho thấy,  
trong quan hệ hôn nhân khác tộc  
ngƣời và khác tôn giáo của các cộng  
đồng tộc ngƣời ở Nam Bộ, yếu tố  
khác tộc ngƣời không quan trọng  
bằng yếu tố khác tôn giáo, nhất là đối  
với các cộng đồng theo Hồi giáo,  
Công giáo và Tin Lành. Mặc dù, quan  
hệ hôn nhân của các cộng đồng tộc  
ngƣời ở Nam Bộ nhìn chung đã đƣợc  
thiết lập trên cơ sở tình yêu với  
52,98% số ngƣời trả lời khẳng định là  
4. QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC  
TÔN GIÁO  
Khi đƣợc hỏi “Ông/bà có đồng ý con  
cháu/ngƣời thân là nữ và nam đƣợc  
kết hôn với ngƣời khác tôn giáo?” thì  
có 79,86% số ngƣời trả lời đồng ý đối  
với nữ và 79,57% số ngƣời trả lời  
đồng ý đối với nam trong tổng số 695  
ngƣời trả lời đại diện hộ gia đình đa  
tộc ngƣời ở Nam Bộ. Ở đây, số ngƣời  
VÕ CÔNG NGUYỆN – QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƢỜI…  
81  
“yêu rồi mới tiến tới hôn nhân” và ngƣời đồng thời là cộng đồng tôn giáo  
ở Nam Bộ đã có sự thay đổi so với  
trƣớc đây. Theo ý kiến ông M. (ngƣời  
Chăm Hồi giáo, 71 tuổi, ở xã Tân  
Hƣng, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh)  
thì: “ngày xƣa cha mẹ sắp đặt và lo  
cho con, bây giờ ngƣợc lại, con thấy  
đƣợc chỗ nào cha mẹ tính chỗ đó”  
(Vũ Ngọc Xuân Ánh, 2020: 168).  
Tƣơng tự, ông K. (ngƣời Mạ Công  
giáo, 70 tuổi, ở thị trấn Định Quán,  
38,44% số ngƣời trả lời cho biết  
“đƣợc tự do tìm hiểu rồi mới quyết  
định việc hôn nhân”, chỉ có 8,38% số  
ngƣời trả lời “lấy nhau rồi mới có tình  
yêu (do mai mối, ông bà cha mẹ quyết  
định)”.  
Hiện nay, quan niệm của những  
ngƣời lớn tuổi về việc quyết định trong  
hôn nhân của con cháu/ngƣời thân  
trong gia đình các cộng đồng tộc  
Bảng 6. Ông/bà có đồng ý con cháu/ngƣời thân đƣợc kết hôn với ngƣời khác tôn giáo,  
chia theo thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời  
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời  
TN  
khác  
Châu  
Ro  
Kinh Khmer Hoa Chăm  
Stiêng Mnông Mạ  
A. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nữ  
N
136  
% 80,47 82,73 89,11 47,13  
23 26  
% 13,61 7,27 0,99 29,89  
11 10 20  
5,92 10,00 9,90 22,99  
91  
90  
41  
42  
51  
42  
46  
16  
555  
Đồng ý  
91,30 86,44 75,00 97,87 80,00 79,86  
13 86  
6,52 13,56 23,21 2,13 15,00 12,37  
54  
5,00 7,77  
N
8
1
3
8
1
3
Không  
đồng ý  
N
10  
1
0
1
0
1
Ý khác  
%
N
2,17 0,00 1,79 0,00  
169  
100  
110  
100  
101  
100  
87  
46  
59  
56  
47  
20  
695  
100  
Tổng cộng  
%
100  
100  
100  
100  
100  
100  
B. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nam  
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời  
TN  
khác  
Châu  
Ro  
Kinh Khmer Hoa Chăm  
Stiêng Mnông Mạ  
N
135  
% 79,88 86,36 86,14 44,83  
24 27  
% 14,20 7,27 1,98 31,03  
12 21  
6,36 11,88 24,14  
95  
87  
39  
41  
52  
41  
46  
17  
553  
Đồng ý  
89,13 88,14 73,21 97,87 85,00 79,57  
14 88  
6,52 11,86 25,00 2,13 10,00 12,66  
54  
5,00 7,77  
N
8
2
3
7
1
2
Không  
đồng ý  
N
10  
5,92  
169  
100  
7
2
0
1
0
1
Ý kiến khác  
Tổng cộng  
%
N
4,35 0,00 1,79 0,00  
110  
100  
101  
100  
87  
46  
59  
56  
47  
20  
695  
100  
%
100  
100  
100  
100  
100  
100  
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
82  
huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) chia đạo mình thôi, thì mình mới ƣng (đồng  
sẻ: “Bây giờ khác hồi xƣa lắm rồi, con  
nó muốn lấy ngƣời nào thì mình nghe  
vậy và theo ý nó” (Nguyễn Thị  
Phƣơng Thảo, 2020: 130). Tuy nhiên,  
những ngƣời thuộc tộc ngƣời và tôn  
giáo khác muốn kết hôn với ngƣời  
Chăm theo Hồi giáo (Islam), ngƣời  
Xtiêng, ngƣời Châu Ro, ngƣời Mạ và  
ngƣời Mnông theo Công giáo hoặc  
Tin Lành thì họ phải theo hoặc cải đạo  
theo Hồi giáo, hoặc Công giáo, hoặc  
Tin Lành và nhìn chung là không có  
trƣờng hợp ngoại lệ.  
ý). Mình bỏ đạo bên đây mà đi theo  
bên kia là không đƣợc” (Vũ Ngọc  
Xuân Ánh, 2020: 168-169). Còn theo  
ông L. (ngƣời Mạ Công giáo, 68 tuổi,  
thị trấn Định Quán, huyện Định Quán,  
tỉnh Đồng Nai) thì ngƣời thuộc tộc  
ngƣời và tôn giáo khác muốn kết hôn  
với con của ông, “ngƣời đó theo đạo  
mình (đạo của ông) thì đƣợc, nếu  
ngƣời đó không theo đạo mà con  
mình (con của ông) theo ngƣời đó thì  
không có đám cƣới hoặc đám cƣới  
không có [khách] mời”, vì “ngƣời đó  
không phải là [ngƣời] Công giáo thì họ  
[giáo dân buôn làng] không bao giờ đi  
dự tiệc” (Nguyễn Thị Phƣơng Thảo,  
2020: 138).  
Ông M. (ngƣời Xtiêng, 61 tuổi) và ông  
M. (ngƣời Mnông, 70 tuổi) theo Tin  
Lành ở xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia  
Mập, tỉnh Bình Phƣớc đồng quan  
điểm, cho rằng: Nam - nữ ngƣời  
ngƣời Xtiêng cũng nhƣ ngƣời Mnông  
kết hôn với ngƣời khác tộc là “bình  
thƣờng, không phân biệt”, nhƣng  
ngƣời khác tộc ngƣời và khác tôn  
giáo nếu kết hôn với con cháu/ngƣời  
thân của hai ông thì phải theo hoặc  
cải đạo theo Tin Lành (Phan Thanh  
Lời, 2020: 110). Ông M. (ngƣời Chăm  
Hồi giáo, 71 tuổi, ở xã Tân Hƣng)  
khẳng định: Những ngƣời không phải  
là ngƣời Hồi giáo (Muslim) nếu lấy vợ  
hoặc chồng ngƣời Chăm thì điều bắt  
buộc trƣớc tiên là họ “phải gia nhập  
đạo rồi mới đƣợc cƣới” và đám cƣới  
phải đƣợc tổ chức theo phong tục của  
ngƣời Chăm Hồi giáo. Bà Z. (ngƣời  
Vì vậy, cho dù quan hệ hôn nhân khác  
tộc ngƣời và khác tôn giáo đã diễn ra  
khá phổ biến trong xã hội hiện đại,  
nhƣng các bậc cha mẹ trong gia đình  
các cộng đồng tộc ngƣời ở Nam Bộ  
vẫn mong muốn, khuyến khích con cái  
của họ kết hôn với ngƣời đồng tộc và  
đồng tôn giáo. Ông M. (ngƣời Mnông,  
70 tuổi, ở xã Bù Gia Mập) nhận thấy  
có không ít trƣờng hợp ngƣời Mnông  
ở xã này “lấy nhau” với các tộc ngƣời  
thiểu số “ở ngoài Bắc”, kể cả “lấy  
nhau” với ngƣời Kinh, nhƣng chung  
sống “với nhau” không bao lâu thì “bỏ  
nhau”, vì “khác nhau về phong tục tập  
quán” nên “không ràng buộc [hòa  
thuận với] nhau trong cuộc sống gia  
Chăm Hồi giáo, 43 tuổi, ở xã Châu đình”. Từ thực tế đó, ông cho rằng  
Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang) ngƣời Mnông kết hôn với ngƣời  
Mnông hoặc với ngƣời Xtiêng, ngƣời  
Mạ… gần gũi về phong tục tập quán  
cũng chia sẻ: “Kết hôn với ngƣời khác  
đạo mình bắt buộc ngƣời đó phải vô  
VÕ CÔNG NGUYỆN – QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƢỜI…  
83  
thì phù hợp hơn (Phan Thanh Lời, Chăm, ngay cả trong gia đình đa tộc  
2020: 110). Từ dẫn chứng trên và qua ngƣời của ngƣời Chăm Hồi giáo ở  
khảo sát thực tế tại các cộng đồng cƣ Nam Bộ.  
dân đa tộc ngƣời ở Nam Bộ hiện nay  
5. KẾT LUẬN  
cho thấy, sự khác biệt về văn hóa  
Các cộng đồng tộc ngƣời ở Nam Bộ  
giữa các tộc ngƣời tiềm ẩn và có thể  
hiện nay không chỉ duy trì mối quan  
nảy sinh mâu thuẫn, thậm chí là xung  
hệ nội tộc ngƣời bằng hình thức hôn  
đột trong gia đình, làm cho các cặp vợ  
nhân đồng tộc, mà còn mở rộng mối  
chồng đa tộc ngƣời khó hòa hợp, dễ  
quan hệ liên tộc ngƣời bằng hình thức  
đổ vỡ. Còn đối với bà R. (ngƣời Chăm,  
hôn nhân khác tộc. Nghiên cứu hôn  
55 tuổi, ở xã Châu Phong, thị xã Tân  
nhân khác tộc ngƣời cho thấy loại  
Châu, tỉnh An Giang) lấy chồng ngƣời  
hình hôn nhân này ngày càng trở nên  
Kinh, chồng bà cũng đã quyết định từ  
phổ biến hơn trong các cộng đồng tộc  
bỏ phong tục cũng nhƣ vai trò, vị thế  
ngƣời ở nông thôn và thành thị, miền  
của ngƣời con trai trƣởng trong gia  
núi và miền xuôi Đông Nam Bộ và Tây  
đình ngƣời Kinh để chung sống với vợ  
Nam Bộ, kể cả dân tại chỗ và dân  
con trong cộng đồng ngƣời Chăm Hồi  
nhập cƣ ở Nam Bộ.  
giáo ở xã này tính đến nay trên 32  
Sự khác biệt về văn hóa và tôn giáo là  
rào cản đối với quan hệ hôn nhân  
khác tộc ngƣời, đặc biệt là quan hệ  
hôn nhân khác tôn giáo trong các  
cộng đồng tộc ngƣời ở Nam Bộ.  
Nhƣng nhìn chung, quan hệ hôn nhân  
khác tộc ngƣời và khác tôn giáo ở  
vùng đất này đã kiến tạo nên những  
gia đình và dòng họ đa tộc ngƣời (hay  
đa văn hóa), làm sâu sắc hơn các mối  
quan hệ xã hội và văn hóa, sự hòa  
hợp giữa các tộc ngƣời và hội nhập  
xã hội vào một quốc gia chung hiện  
nay.  
năm. Thế nhƣng, khi con trai giới  
thiệu ngƣời yêu của mình là một nữ  
đồng nghiệp ngƣời Kinh với gia đình  
thì bà từ chối: “Mẹ không muốn rồi,  
mẹ lấy chồng Việt rồi thôi con (…)  
đừng có lấy nữa”. Sau khi tiếp xúc với  
ngƣời yêu của con mình, bà nhận xét:  
“Ngƣời con gái đó tui cũng hổng  
(không) có tin, nó không có theo [đạo  
Hồi] đâu” (Vũ Ngọc Xuân Ánh, 2020:  
172). Trong trƣờng hợp này thì tôn  
giáo là yếu tố tạo ra “lực cản” đối với  
việc thiết lập quan hệ hôn nhân với  
ngƣời khác tộc ngƣời không phải  
ngƣời Hồi giáo trong cộng đồng ngƣời  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Khuông Việt.1943a. “Lƣợc khảo về chế độ cai trị ngƣời Minh Hƣơng ở Nam Kỳ”. Tạp  
chí Đại Việt, số 8. Sài Gòn.  
2. Khuông Việt. 1943b. “Lƣợc khảo về chế độ cai trị ngƣời Minh Hƣơng ở Nam Kỳ” (tiếp  
theo). Tạp chí Đại Việt, số 9. Sài Gòn.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020  
84  
3. Nguyễn Phan Quang. 2000. Việt Nam cận đại, những sử liệu mới - Tập 3. Sóc Trăng  
(1867-1943). TPHCM: Nxb. Văn nghệ.  
4. Nguyễn Thị Phƣơng Thảo. 2020. “Biến đổi về quan niệm trong hôn nhân và gia đình  
của ngƣời Mạ ở Đồng Nai”, trong Kỷ yếu hội thảo Cơ sở lý luận và thực tiễn về hôn  
nhân, gia đình và thân tộc ở Nam Bộ. Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
5. Phan Thanh Lời. 2020. “Hôn nhân khác tộc ngƣời và những biến đổi trong đời sống  
hôn nhân nơi tộc ngƣời Mnông ở Nam Bộ”, trong Kỷ yếu hội thảo Cơ sở lý luận và thực  
tiễn về hôn nhân, gia đình và thân tộc ở Nam Bộ. Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
6. Trần Tấn Vĩnh (chủ nhiệm). 2003. Nghiên cứu và phục chế trang phục truyền thống  
của người Châu Ro. Đề tài cấp tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.  
7. Võ Công Nguyện (chủ biên). 2017. Vùng đất Nam Bộ - Tập 9. Tộc người và quan hệ  
tộc người. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia-Sự thật.  
8. Võ Công Nguyện. 2010. “Quan hệ hôn nhân giữa các tộc ngƣời vùng Tây Nam Bộ”,  
Tạp chí Khoa học xã hội, số 11+12, tr. 109-115.  
9. Võ Công Nguyện. 2018. “Quan hệ hôn nhân, gia đình và thân tộc của các cộng đồng  
đa tộc ngƣời ở vùng Tây Nam Bộ”. Tạp chí Dân tộc học, số 1(205), Hà Nội.  
10. Vũ Ngọc Xuân Ánh. 2020. “Hôn nhân khác tộc ngƣời và tôn giáo với ngƣời Chăm  
Hồi giáo: Đạo Hồi vừa là thử thách, vừa là giải pháp cho những khó khăn”, trong Kỷ yếu  
hội thảo Cơ sở lý luận và thực tiễn về hôn nhân, gia đình và thân tộc ở Nam Bộ. Viện  
Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
pdf 11 trang Thùy Anh 20360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan niệm về hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo ở Nam Bộ hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_niem_ve_hon_nhan_khac_toc_nguoi_va_khac_ton_giao_o_nam.pdf