Quan niệm về hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo ở Nam Bộ hiện nay
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020
74
QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƯỜI
VÀ KHÁC TÔN GIÁO Ở NAM BỘ HIỆN NAY
VÕ CÔNG NGUYỆN*
Sự tương tác xã hội và giao lưu văn hóa giữa các tộc người, đặc biệt là giữa các
tộc người thiểu số với tộc người đa số ở Nam Bộ diễn ra lâu nay biểu hiện sinh
động, đa chiều kích. Trong đó, việc thiết lập quan hệ hôn nhân khác tộc người
(hay hỗn hợp tộc người) và khác tôn giáo, góp phần hình thành gia đình và dòng
họ đa tộc người (hay đa văn hóa). Trên cơ sở đó, quan niệm về hôn nhân khác
tộc người và khác tôn giáo của các tộc người ở Nam Bộ cũng đã thay đổi, làm
sâu sắc hơn mối quan hệ xã hội và văn hóa, sự hòa hợp giữa các tộc người và
hội nhập xã hội - vào một quốc gia chung hiện nay. Bài viết phân tích quan niệm
về hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo của các cộng đồng tộc người ở
Nam Bộ từ kết quả nghiên cứu 695 hộ gia đình đa tộc người có tín ngưỡng tôn
giáo khác nhau ở Nam Bộ vào thời điểm tháng 6/2019 về vấn đề này.
Từ khóa: hôn nhân, hôn nhân khác tộc ngƣời, hôn nhân khác tôn giáo, Nam Bộ
Nhận bài ngày: 7/10/2020; đưa vào biên tập: 8/10/2020; phản biện: 9/10/2020;
duyệt đăng: 24/10/2020
1. DẪN NHẬP
cơ cấu dân cƣ đa tộc ngƣời, đa văn
hóa và đa tôn giáo của vùng này. Trải
qua quá trình cộng cƣ, cƣ trú đan xen,
gắn bó giao lƣu với nhau, quan hệ
hôn nhân khác tộc ngƣời và khác tôn
giáo đã đƣợc thiết lập ngày càng trở
nên phổ biến trong các cộng đồng tộc
ngƣời ở Nam Bộ.
Nam Bộ là một vùng cƣ dân đa tộc
ngƣời, gồm có dân tại chỗ và dân
nhập cƣ qua các thời kỳ lịch sử trƣớc
và sau năm 1975. Trên địa bàn Nam
Bộ hiện nay, ngƣời Kinh (Việt), ngƣời
Khmer, ngƣời Hoa, ngƣời Chăm cùng
với các tộc ngƣời thiểu số tại chỗ ở
Đông Nam Bộ (Xtiêng, Châu Ro, Mạ, Bài viết là một phần kết quả nghiên
Mnông), các tộc ngƣời thiểu số di cƣ cứu của đề tài cấp Bộ “Quan hệ hôn
chủ yếu từ Nam Tây Nguyên (Cơ Ho, nhân, gia đình và thân tộc của các
Ê Đê…) và các tộc ngƣời thiểu số di cộng đồng dân cƣ đa tộc ngƣời ở
cƣ từ các tỉnh miền núi phía Bắc (Tày, Nam Bộ” do tác giả làm chủ nhiệm,
Thái, Nùng, Hmông, Dao…) là những Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ
thành phần cƣ dân cơ bản hợp thành chủ trì. Bài viết sử dụng dữ liệu từ
cuộc khảo sát định lƣợng 695 hộ gia
đình đa tộc ngƣời (hay đa văn hóa) và
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
một số cuộc phỏng vấn sâu cá nhân
VÕ CÔNG NGUYỆN – QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƢỜI…
75
của hộ gia đình theo Hồi giáo, Công quân nhân khẩu/hộ là 4,8 ngƣời và số
giáo và Tin Lành ở Nam Bộ vào tháng nhân khẩu phổ biến nhất của hộ là 4
6/2019.
ngƣời (Bảng 2). Bình quân nhân
khẩu/hộ và số nhân khẩu phổ biến
nhất của hộ gia đình đa tộc ngƣời ở
Nam Bộ nhìn chung tƣơng đồng với
bình quân nhân khẩu/hộ (4,7 ngƣời)
và số nhân khẩu phổ biến nhất của hộ
(4 ngƣời) trong 1.000 hộ gia đình các
tộc ngƣời Kinh, Khmer, Hoa và Chăm
ở vùng Tây Nam Bộ vào thời điểm
tháng 8/2016 (Võ Công Nguyện, 2018:
32).
2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ CƯ DÂN
ĐA TỘC NGƯỜI
Mẫu khảo sát hộ gia đình đa tộc
ngƣời của các cộng đồng tộc ngƣời
thiểu số ở Nam Bộ vào thời điểm
tháng 6/2019 gồm có 140 hộ Khmer,
140 hộ Hoa, 135 hộ Chăm, 70 hộ
Xtiêng, 70 hộ Châu Ro, 70 hộ Mạ và
70 hộ Mnông tại 16 xã/phƣờng/thị trấn
của 10 huyện/thị xã/thành phố thuộc 6
tỉnh ở Nam Bộ, trong đó có ba tỉnh
Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Phƣớc,
Tây Ninh) và ba tỉnh Tây Nam Bộ (An
Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu) (Bảng 1).
Nhân khẩu của 695 hộ gia đình có
25,50% ngƣời Kinh, 15,88% ngƣời
Khmer, 14,82% ngƣời Chăm, 13,56%
ngƣời Hoa, 9,51% ngƣời Xtiêng,
6,37% ngƣời Mạ, 5,95% ngƣời Châu
Ro, 5,10% ngƣời Mnông, 1,48% thuộc
Trong 695 hộ gia đình đa tộc ngƣời ở
Nam Bộ có 3.312 nhân khẩu, bình
Bảng 1. Mẫu khảo sát chia theo địa bàn, tộc ngƣời và quy mô mẫu
Tỉnh
Quận/huyện/thành phố Xã/phƣờng/thị trấn Tộc ngƣời Số hộ Nhân khẩu
Xã Bù Gia Mập
Xã Đăk Ơ
Mnông
Xtiêng
70
70
352
336
Bình Phƣớc
Huyện Bù Gia Mập
Huyện Tân Châu
Xã Suối Dây
Xã Tân Hƣng
Chăm
70
300
Tây Ninh
Thành phố Tây Ninh Xã Thanh Tân
Xã Hòa Hiệp
Huyện Tân Biên
Khmer
70
296
Xã Tân Phong
Thành phố Biên Hòa Phƣờng Bửu Long Hoa
Thị trấn Định Quán Mạ
70
70
328
321
Đồng Nai
Huyện Định Quán
Xã Túc Trƣng
Xã Phú Túc
Châu Ro
Chăm
70
65
360
324
Xã Đa Phƣớc
Xã Vĩnh Trƣờng
Xã Châu Phong
Phƣờng Mỹ Đức
Huyện An Phú
An Giang
Thị xã Tân Châu
Kiên Giang
Thành phố Hà Tiên
Thành phố Bạc Liêu
Khmer
70
70
349
346
Bạc Liêu
Xã Vĩnh Trạch Đông Hoa
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020
76
Bảng 2. Số nhân khẩu trung bình/hộ chia theo tộc ngƣời
Tộc ngƣời
Châu
Ro
Tổng
cộng
Khmer Chăm Hoa
Xtiêng Mnông Mạ
Số hộ khảo sát
140
645
4
135
624
5
140
674
4
70
360
5
70
336
4
70
70
695
Tổng số nhân khẩu
352 321 3.312
Số nhân khẩu phổ biến nhất/hộ
Số nhân khẩu trung bình/hộ
Số nhân khẩu cao nhất/hộ
Số nhân khẩu thấp nhất/hộ
Độ lệch chuẩn (Std. Deviation)
4
3
4
4,8
14
2
4,6
9
4,6
12
2
4,8
10
2
5,1
14
2
4,8
10
2
5,0 4,6
10
2
12
2
2
1
2
2
2
1
2
2
2
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019.
Bảng 3. Thành phần tộc ngƣời trong mẫu khảo sát, chia theo giới tính
Nam Nữ
Số ngƣời Tỷ lệ % Số ngƣời Tỷ lệ % Số ngƣời Tỷ lệ %
Tổng cộng
Ngƣời Kinh
455
238
276
240
96
27,31
14,29
16,57
14,41
5,76
391
288
173
251
101
167
116
117
8
23,75
17,50
10,51
15,25
6,14
846 25,54
526 15,88
449 13,56
491 14,82
Ngƣời Khmer
Ngƣời Hoa
Ngƣời Chăm
Ngƣời Châu Ro
Ngƣời Xtiêng
197
315
171
211
23
5,95
9,51
5,16
6,37
0,69
0,45
0,57
148
55
8,88
10,15
7,05
Ngƣời Mnông
3,30
Ngƣời Mạ
94
5,64
7,11
Ngƣời Khmer Campuchia
Nhóm ngƣời Tàmun
Tộc ngƣời thiểu số Tây Nguyên
15
0,90
0,49
8
0,48
7
0,43
15
10
0,60
9
0,55
19
Tộc ngƣời thiểu số các tỉnh phía
Bắc
31
1,86
100
18
1,09
100
49
1,48
100
Tổng cộng
1.666
1.646
3.312
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019.
các tộc ngƣời thiểu số ở các tỉnh miền hệ này. Ngƣợc lại, ở ngƣời Khmer,
núi phía Bắc. So sánh tƣơng quan về ngƣời Chăm, ngƣời Xtiêng, ngƣời
giới của các cộng đồng tộc ngƣời thì Châu Ro, ngƣời Mnông và ngƣời Mạ,
ngƣời Kinh và ngƣời Hoa, nam có tỷ nữ có tỷ số cao hơn nam, nhƣng
số cao hơn nữ (27,31% và 16,57% ngoài ngƣời Khmer và ngƣời Mnông,
nam so với 23,75% và 10,50% nữ) và không có sự khác biệt đáng kể giữa
có sự khác biệt giữa nam và nữ ở hai nam và nữ trong các cộng đồng tộc
cộng đồng tộc ngƣời theo chế độ phụ ngƣời thiểu số (Bảng 3).
VÕ CÔNG NGUYỆN – QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƢỜI…
77
3. QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC nhất ngƣời Minh Hƣơng với ngƣời
TỘC NGƯỜI
Kinh về mặt pháp lý (Khuông Việt,
1943b: 18 ). Đầu thế kỷ XX, tại Sóc
Trăng đã có 57.000 ngƣời Kinh hoặc
ngƣời Kinh lai Hoa và 38.000 ngƣời
Khmer hoặc ngƣời Khmer lai Hoa;
đến năm 1936 có 14.050 ngƣời Hoa
lai Kinh và 3.803 ngƣời Hoa lai Khmer
(Nguyễn Phan Quang, 2000: 43 - 44).
Sau năm 1975, đặc biệt từ năm 1986
Trƣớc năm 1975, quan hệ hôn nhân
khác tộc thƣờng là hôn nhân giữa
ngƣời Hoa với ngƣời Kinh, giữa
ngƣời Hoa với ngƣời Khmer, và quan
hệ hôn nhân giữa các tộc ngƣời thiểu
số tại chỗ (Xtiêng, Châu Ro, Mạ,
Mnông…) ở Đông Nam Bộ vốn có
chung nguồn gốc nhân chủng, ngôn
ngữ và văn hóa (Võ Công Nguyện, đến nay, quan hệ hôn nhân khác tộc
2017: 301). Ngƣời Xtiêng và ngƣời đã phổ biến hơn. Kết quả khảo sát
Châu Ro cƣ trú trên vùng “bản lề”
giữa miền núi và đồng bằng Đông
Nam Bộ, có quan hệ hôn nhân khác
tộc với ngƣời Khmer và ngƣời Chăm
sớm hơn ngƣời Kinh và kể cả ngƣời
Hoa là hai cộng đồng cƣ dân đến sau
hơn ở vùng này. Trƣớc đây, theo
ngƣời Châu Ro, quan hệ hôn nhân
khác tộc với ngƣời Khmer và ngƣời
Chăm thì “Chăm xa, Khmer gần”
(Cham ngai, Sai mêch), bởi vì ngƣời
Khmer có sự gần gũi về văn hóa với
ngƣời Châu Ro hơn so với ngƣời
Chăm (Trần Tấn Vĩnh, 2003: 12).
cộng đồng đa tộc ngƣời (Kinh - Khmer
- Hoa) tại xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh
Châu, tỉnh Sóc Trăng (tháng 8/2003)
có 80 hộ gia đình đa tộc ngƣời Kinh -
Khmer - Hoa, chiếm tỷ lệ 26,67% so
với tổng số 300 hộ gia đình của ba tộc
ngƣời trên ở xã này (Võ Công Nguyện,
2010: 112). Kết quả khảo sát 1.000 hộ
gia đình ở Tây Nam Bộ vào tháng
8/2016 cho thấy, có 18,30% hộ gia
đình đa tộc ngƣời (39% trong 200 hộ
ngƣời Hoa, 21,20% trong 250 hộ
ngƣời Khmer, 11,14% trong 350 hộ
ngƣời Kinh và 6,30% trong 200 hộ
ngƣời Chăm) (Võ Công Nguyện, 2018:
34). Ở Đông Nam Bộ, quan hệ hôn
nhân giữa các tộc ngƣời thiểu số tại
chỗ và các tộc ngƣời thiểu số di cƣ
đến (Tày, Thái, Nùng, Hmông, Dao…)
cũng đã và đang diễn ra.
Quan hệ hôn nhân giữa ngƣời Hoa và
ngƣời Kinh ở Nam Bộ đã diễn ra từ
thời các chúa Nguyễn, đàn ông ngƣời
Hoa kết hôn với phụ nữ ngƣời Kinh,
con cái sinh ra từ quan hệ hôn nhân
này đƣợc gọi là ngƣời Minh Hƣơng.
Nhóm cƣ dân mang hai dòng máu đã
dần hòa nhập vào cộng đồng của mẹ -
ngƣời Kinh “từ cách ăn, thói ở đến lời
nói việc làm, tỏ ra họ không còn “Tàu”
chút nào cả” (Khuông Việt, 1943a: 23).
Năm 1874, chính quyền thuộc địa
Khi đƣợc hỏi “Ông/bà có đồng ý con
cháu/ngƣời thân là nữ và nam đƣợc
kết hôn với ngƣời khác tộc ngƣời hay
không?” thì có đến 94,39% số ngƣời
trả lời đồng ý đối với con cháu/ngƣời
thân là nữ và 93,67% số ngƣời trả lời
Nam Kỳ ban hành quyết định đồng đồng ý đối với con cháu/ngƣời thân là
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020
78
nam trong tổng số 695 ngƣời trả lời kết hôn với ngƣời khác tộc ngƣời
đại diện hộ gia đình đa tộc ngƣời ở trong các tộc ngƣời thiểu số tại chỗ ở
Nam Bộ. Tỷ số ngƣời trả lời đồng ý Đông Nam Bộ, các tộc ngƣời thiểu số
con cháu/ngƣời thân đƣợc kết hôn với di cƣ từ các tỉnh miền núi phía Bắc và
ngƣời khác tộc ngƣời đối với nữ và ngƣời Khmer có tỷ lệ cao gần nhƣ
nam trong gia đình mỗi cộng đồng tộc tuyệt đối (từ hơn 97% đến 100%), cao
ngƣời ở vùng này nhìn chung khá hơn nhiều so với ngƣời Hoa (nữ:
tƣơng đồng với nhau (Bảng 4). Đặc 90,10% và nam: 87,13%), ngƣời
biệt, số ngƣời trả lời đồng ý con Chăm (nữ: 90,80% và nam: 88,51%)
cháu/ngƣời thân là nữ và nam đƣợc và ngƣời Kinh (nữ: 92,31% và nam:
Bảng 4. Ông/bà có đồng ý con cháu/ngƣời thân đƣợc kết hôn với ngƣời khác tộc
ngƣời, chia theo tộc ngƣời của ngƣời trả lời
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lới
Tộc
ngƣời
khác
Châu
Ro
Kinh Khmer Hoa Chăm
Xtiêng Mnông Mạ
A. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nữ
N
156
105
91
79
45
59
55
46
20
656
Đồng ý
% 92,31 95,45 90,10 90,80 97,83 100,00 98,21 97,87
100 94,39
16
0,00 2,30
23
0,00 3,31
N
7
0
0
7
8,05
1
0
0,00
1
0
1
1
2,13
0
0
Không
đồng ý
% 4,14 0,00 0,00
10
% 3,55 4,55 9,90
0,00 1,79
N
6
5
0
0
0
Ý kiến
khác
1,15
87
2,17
46
0,00 0,00
0,00
47
N
169
100
110
100
101
100
59
56
20
695
100
Tổng
cộng
%
100
100
100
100
100
100
B. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nam
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời
Tộc
ngƣời
khác
Châu
Kinh Khmer Hoa Chăm
Xtiêng Mnông Mạ
Ro
45
% 91,12 97,27 87,13 88,51 97,83 100,00 98,21 97,87
N
154
107
88
77
59
55
46
20
651
Đồng ý
100 93,67
19
0,00 2,73
25
0,00 3,60
N
7
2
0
8
9,20
2
0
0,00
1
0
1
1
2,13
0
0
Không
đồng ý
% 4,14 1,82 0,00
13
% 4,73 0,91 12,87
0,00 1,79
N
8
1
0
0
0
Ý kiến
khác
2,30
87
2,17
46
0,00 0,00
0,00
47
N
169
100
110
100
101
100
59
56
20
695
100
Tổng
cộng
%
100
100
100
100
100
100
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019.
VÕ CÔNG NGUYỆN – QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƢỜI…
79
91,12%) ở Nam Bộ.
Châu Ro, bon Xtiêng, Mạ, Mnông…).
Số liệu khảo sát cho thấy hơn một
nửa số ngƣời trả lời đồng ý con
cháu/ngƣời thân là nữ (51,37%) và
nam (52,23%) lấy chồng/vợ ngƣời
cùng làng, tuy nhiên có đến hơn một
phần ba số ngƣời trả lời không đồng ý
con cháu/ngƣời thân là nữ (35,54%)
và nam (34,68%) lấy chồng/vợ ngƣời
cùng làng (Bảng 5); số ngƣời trả lời
có ý kiến khác chiếm tỷ lệ 13,09% cho
Nhƣ vậy, quan hệ hôn nhân khác tộc
đã đƣợc tuyệt đại đa số hộ gia đình
các cộng đồng tộc ngƣời ở Nam Bộ
đồng thuận. Theo đó, quan niệm về
việc lấy chồng/vợ có nên lựa chọn
ngƣời cùng làng hay không cũng thay
đổi theo hƣớng cởi mở hơn, đối
tƣợng kết hôn đƣợc mở rộng ra ngoài
cộng đồng làng (bao gồm cả phum
sóc Khmer, hội quán Hoa, palei Chăm,
Bảng 5. Ông/bà có đồng ý lấy vợ/chồng nên chọn ngƣời cùng làng, chia theo tộc ngƣời
của ngƣời trả lời
A. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nữ
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời
Châu
Ro
TN
khác
Kinh Khmer Hoa Chăm
Xtiêng Mnông Mạ
N
91
% 53,85
59
% 34,91
19
% 11,24
56
72
56
27
6
7
36
6
357
Đồng ý
50,91 71,29 64,37 58,70 10,17 12,50 76,60 30,00 51,37
41 20 22 18 39 28 10 10 247
37,27 19,80 25,29 39,13 66,10 50,00 21,28 50,00 35,54
N
Không
đồng ý
N
13
11,82
110
9
9
1
14
21
1
4
91
Ý khác
8,91 10,34 2,17 23,73 37,50
2,13 20,00 13,09
N
169
100
101
100
87
46
59
56
47
20
695
100
Tổng cộng
%
100
100
100
100
100
100
100
B. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nam
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời
Châu
Ro
TN
khác
Kinh Khmer Hoa Chăm
Xtiêng Mnông Mạ
N
95
% 56,21
55
% 32,54
19
% 11,24
60
71
55
26
6
8
35
7
363
Đồng ý
54,55 70,30 63,22 56,52 10,17 14,29 74,47 35,00 52,23
40 19 22 19 39 27 11 241
36,36 18,81 25,29 41,30 66,10 48,21 23,40 45,00 34,68
10 11 10 14 21 91
9,09 10,89 11,49 2,17 23,73 37,50 2,13 20,00 13,09
N
9
Không
đồng ý
N
1
1
4
Ý khác
N
169
100
110
100
101
100
87
46
59
56
47
20
695
100
Tổng cộng
%
100
100
100
100
100
100
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020
80
cả nữ và nam, đa số cho rằng không trả lời đồng ý con cháu/ngƣời thân
quan trọng đối với việc lấy chồng/vợ đƣợc kết hôn với ngƣời khác tôn giáo
ngƣời cùng làng hay không cùng làng.
Cộng đồng ngƣời Xtiêng ở xã Đắk Ơ
và cộng đồng ngƣời Mnông ở xã Bù
Gia Mập (trƣớc đây thuộc xã Đắk Ơ),
huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phƣớc
cƣ trú gần gũi, liền kề, thông hiểu
ngôn ngữ và thấu hiểu phong tục của
nhau nên không đồng ý con cháu/
ngƣời thân lấy chồng/vợ ngƣời cùng
làng có tỷ lệ vƣợt trội hơn so với các
tộc ngƣời khác ở Nam Bộ (Xtiêng:
66,10% và 66,10%; Mnông: 50,0% và
48,21%). Trong khi đó, cộng đồng
ngƣời Hoa ở Bạc Liêu và Đồng Nai,
cộng đồng ngƣời Chăm ở An Giang
và Tây Ninh và cộng đồng ngƣời Mạ
ở Đồng Nai, có mối quan hệ cộng
đồng đồng tộc (Hoa) và cộng đồng
đồng tôn giáo (Chăm, Mạ) bền chặt
hơn so với các tộc ngƣời khác, vì thế
số ngƣời không đồng ý con cháu/
ngƣời thân là nữ và nam lấy chồng/vợ
ngƣời cùng làng có tỷ lệ thấp nhất:
19,80% và 18,81% ở ngƣời Hoa,
21,28% và 23,50% ở ngƣời Mạ và
25,29% đối với cả nữ và nam ở ngƣời
Chăm (Bảng 5).
có tỷ lệ thấp hơn hẳn so với số ngƣời
đồng ý con cháu/ngƣời thân kết hôn
với ngƣời khác tộc ngƣời và không có
sự khác biệt về giới. Đặc biệt, trong
cộng đồng ngƣời Chăm Hồi giáo, số
ngƣời đồng ý con cháu/ngƣời thân là
nữ và nam đƣợc kết hôn với ngƣời
khác tôn giáo có tỷ lệ thấp nhất (nữ:
47,13% và nam: 44,83%), nhƣng số
ngƣời trả lời có ý kiến khác (nữ:
22,99%; nam: 24,14%) chiếm tỷ lệ cao
nhất so với tỷ lệ tƣơng ứng của các
tộc ngƣời khác ở Nam Bộ (Bảng 6).
Trong số ngƣời trả lời có ý kiến khác,
nhiều ngƣời cho rằng, ngƣời ngoài
cộng đồng kết hôn với ngƣời Chăm
thì ngƣời đó phải theo Hồi giáo và một
số còn băn khoăn, lo lắng là sau khi
kết hôn, chồng/vợ ngƣời Chăm thuộc
tộc ngƣời và tôn giáo khác cho dù đã
theo Hồi giáo nhƣng có giữ đƣợc
những điều cấm nhƣ không ăn một số
thức ăn, nhịn ăn ban ngày vào tháng
ăn chay (tháng Ramadan), thực hành
nghi lễ năm lần trong một ngày.
Số liệu Bảng 6 và Bảng 4 cho thấy,
trong quan hệ hôn nhân khác tộc
ngƣời và khác tôn giáo của các cộng
đồng tộc ngƣời ở Nam Bộ, yếu tố
khác tộc ngƣời không quan trọng
bằng yếu tố khác tôn giáo, nhất là đối
với các cộng đồng theo Hồi giáo,
Công giáo và Tin Lành. Mặc dù, quan
hệ hôn nhân của các cộng đồng tộc
ngƣời ở Nam Bộ nhìn chung đã đƣợc
thiết lập trên cơ sở tình yêu với
52,98% số ngƣời trả lời khẳng định là
4. QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC
TÔN GIÁO
Khi đƣợc hỏi “Ông/bà có đồng ý con
cháu/ngƣời thân là nữ và nam đƣợc
kết hôn với ngƣời khác tôn giáo?” thì
có 79,86% số ngƣời trả lời đồng ý đối
với nữ và 79,57% số ngƣời trả lời
đồng ý đối với nam trong tổng số 695
ngƣời trả lời đại diện hộ gia đình đa
tộc ngƣời ở Nam Bộ. Ở đây, số ngƣời
VÕ CÔNG NGUYỆN – QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƢỜI…
81
“yêu rồi mới tiến tới hôn nhân” và ngƣời đồng thời là cộng đồng tôn giáo
ở Nam Bộ đã có sự thay đổi so với
trƣớc đây. Theo ý kiến ông M. (ngƣời
Chăm Hồi giáo, 71 tuổi, ở xã Tân
Hƣng, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh)
thì: “ngày xƣa cha mẹ sắp đặt và lo
cho con, bây giờ ngƣợc lại, con thấy
đƣợc chỗ nào cha mẹ tính chỗ đó”
(Vũ Ngọc Xuân Ánh, 2020: 168).
Tƣơng tự, ông K. (ngƣời Mạ Công
giáo, 70 tuổi, ở thị trấn Định Quán,
38,44% số ngƣời trả lời cho biết
“đƣợc tự do tìm hiểu rồi mới quyết
định việc hôn nhân”, chỉ có 8,38% số
ngƣời trả lời “lấy nhau rồi mới có tình
yêu (do mai mối, ông bà cha mẹ quyết
định)”.
Hiện nay, quan niệm của những
ngƣời lớn tuổi về việc quyết định trong
hôn nhân của con cháu/ngƣời thân
trong gia đình các cộng đồng tộc
Bảng 6. Ông/bà có đồng ý con cháu/ngƣời thân đƣợc kết hôn với ngƣời khác tôn giáo,
chia theo thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời
TN
khác
Châu
Ro
Kinh Khmer Hoa Chăm
Stiêng Mnông Mạ
A. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nữ
N
136
% 80,47 82,73 89,11 47,13
23 26
% 13,61 7,27 0,99 29,89
11 10 20
5,92 10,00 9,90 22,99
91
90
41
42
51
42
46
16
555
Đồng ý
91,30 86,44 75,00 97,87 80,00 79,86
13 86
6,52 13,56 23,21 2,13 15,00 12,37
54
5,00 7,77
N
8
1
3
8
1
3
Không
đồng ý
N
10
1
0
1
0
1
Ý khác
%
N
2,17 0,00 1,79 0,00
169
100
110
100
101
100
87
46
59
56
47
20
695
100
Tổng cộng
%
100
100
100
100
100
100
B. Trƣờng hợp con cháu/ngƣời thân là nam
Thành phần tộc ngƣời của ngƣời trả lời
TN
khác
Châu
Ro
Kinh Khmer Hoa Chăm
Stiêng Mnông Mạ
N
135
% 79,88 86,36 86,14 44,83
24 27
% 14,20 7,27 1,98 31,03
12 21
6,36 11,88 24,14
95
87
39
41
52
41
46
17
553
Đồng ý
89,13 88,14 73,21 97,87 85,00 79,57
14 88
6,52 11,86 25,00 2,13 10,00 12,66
54
5,00 7,77
N
8
2
3
7
1
2
Không
đồng ý
N
10
5,92
169
100
7
2
0
1
0
1
Ý kiến khác
Tổng cộng
%
N
4,35 0,00 1,79 0,00
110
100
101
100
87
46
59
56
47
20
695
100
%
100
100
100
100
100
100
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 6/2019.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020
82
huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) chia đạo mình thôi, thì mình mới ƣng (đồng
sẻ: “Bây giờ khác hồi xƣa lắm rồi, con
nó muốn lấy ngƣời nào thì mình nghe
vậy và theo ý nó” (Nguyễn Thị
Phƣơng Thảo, 2020: 130). Tuy nhiên,
những ngƣời thuộc tộc ngƣời và tôn
giáo khác muốn kết hôn với ngƣời
Chăm theo Hồi giáo (Islam), ngƣời
Xtiêng, ngƣời Châu Ro, ngƣời Mạ và
ngƣời Mnông theo Công giáo hoặc
Tin Lành thì họ phải theo hoặc cải đạo
theo Hồi giáo, hoặc Công giáo, hoặc
Tin Lành và nhìn chung là không có
trƣờng hợp ngoại lệ.
ý). Mình bỏ đạo bên đây mà đi theo
bên kia là không đƣợc” (Vũ Ngọc
Xuân Ánh, 2020: 168-169). Còn theo
ông L. (ngƣời Mạ Công giáo, 68 tuổi,
thị trấn Định Quán, huyện Định Quán,
tỉnh Đồng Nai) thì ngƣời thuộc tộc
ngƣời và tôn giáo khác muốn kết hôn
với con của ông, “ngƣời đó theo đạo
mình (đạo của ông) thì đƣợc, nếu
ngƣời đó không theo đạo mà con
mình (con của ông) theo ngƣời đó thì
không có đám cƣới hoặc đám cƣới
không có [khách] mời”, vì “ngƣời đó
không phải là [ngƣời] Công giáo thì họ
[giáo dân buôn làng] không bao giờ đi
dự tiệc” (Nguyễn Thị Phƣơng Thảo,
2020: 138).
Ông M. (ngƣời Xtiêng, 61 tuổi) và ông
M. (ngƣời Mnông, 70 tuổi) theo Tin
Lành ở xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia
Mập, tỉnh Bình Phƣớc đồng quan
điểm, cho rằng: Nam - nữ ngƣời
ngƣời Xtiêng cũng nhƣ ngƣời Mnông
kết hôn với ngƣời khác tộc là “bình
thƣờng, không phân biệt”, nhƣng
ngƣời khác tộc ngƣời và khác tôn
giáo nếu kết hôn với con cháu/ngƣời
thân của hai ông thì phải theo hoặc
cải đạo theo Tin Lành (Phan Thanh
Lời, 2020: 110). Ông M. (ngƣời Chăm
Hồi giáo, 71 tuổi, ở xã Tân Hƣng)
khẳng định: Những ngƣời không phải
là ngƣời Hồi giáo (Muslim) nếu lấy vợ
hoặc chồng ngƣời Chăm thì điều bắt
buộc trƣớc tiên là họ “phải gia nhập
đạo rồi mới đƣợc cƣới” và đám cƣới
phải đƣợc tổ chức theo phong tục của
ngƣời Chăm Hồi giáo. Bà Z. (ngƣời
Vì vậy, cho dù quan hệ hôn nhân khác
tộc ngƣời và khác tôn giáo đã diễn ra
khá phổ biến trong xã hội hiện đại,
nhƣng các bậc cha mẹ trong gia đình
các cộng đồng tộc ngƣời ở Nam Bộ
vẫn mong muốn, khuyến khích con cái
của họ kết hôn với ngƣời đồng tộc và
đồng tôn giáo. Ông M. (ngƣời Mnông,
70 tuổi, ở xã Bù Gia Mập) nhận thấy
có không ít trƣờng hợp ngƣời Mnông
ở xã này “lấy nhau” với các tộc ngƣời
thiểu số “ở ngoài Bắc”, kể cả “lấy
nhau” với ngƣời Kinh, nhƣng chung
sống “với nhau” không bao lâu thì “bỏ
nhau”, vì “khác nhau về phong tục tập
quán” nên “không ràng buộc [hòa
thuận với] nhau trong cuộc sống gia
Chăm Hồi giáo, 43 tuổi, ở xã Châu đình”. Từ thực tế đó, ông cho rằng
Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang) ngƣời Mnông kết hôn với ngƣời
Mnông hoặc với ngƣời Xtiêng, ngƣời
Mạ… gần gũi về phong tục tập quán
cũng chia sẻ: “Kết hôn với ngƣời khác
đạo mình bắt buộc ngƣời đó phải vô
VÕ CÔNG NGUYỆN – QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN KHÁC TỘC NGƢỜI…
83
thì phù hợp hơn (Phan Thanh Lời, Chăm, ngay cả trong gia đình đa tộc
2020: 110). Từ dẫn chứng trên và qua ngƣời của ngƣời Chăm Hồi giáo ở
khảo sát thực tế tại các cộng đồng cƣ Nam Bộ.
dân đa tộc ngƣời ở Nam Bộ hiện nay
5. KẾT LUẬN
cho thấy, sự khác biệt về văn hóa
Các cộng đồng tộc ngƣời ở Nam Bộ
giữa các tộc ngƣời tiềm ẩn và có thể
hiện nay không chỉ duy trì mối quan
nảy sinh mâu thuẫn, thậm chí là xung
hệ nội tộc ngƣời bằng hình thức hôn
đột trong gia đình, làm cho các cặp vợ
nhân đồng tộc, mà còn mở rộng mối
chồng đa tộc ngƣời khó hòa hợp, dễ
quan hệ liên tộc ngƣời bằng hình thức
đổ vỡ. Còn đối với bà R. (ngƣời Chăm,
hôn nhân khác tộc. Nghiên cứu hôn
55 tuổi, ở xã Châu Phong, thị xã Tân
nhân khác tộc ngƣời cho thấy loại
Châu, tỉnh An Giang) lấy chồng ngƣời
hình hôn nhân này ngày càng trở nên
Kinh, chồng bà cũng đã quyết định từ
phổ biến hơn trong các cộng đồng tộc
bỏ phong tục cũng nhƣ vai trò, vị thế
ngƣời ở nông thôn và thành thị, miền
của ngƣời con trai trƣởng trong gia
núi và miền xuôi Đông Nam Bộ và Tây
đình ngƣời Kinh để chung sống với vợ
Nam Bộ, kể cả dân tại chỗ và dân
con trong cộng đồng ngƣời Chăm Hồi
nhập cƣ ở Nam Bộ.
giáo ở xã này tính đến nay trên 32
Sự khác biệt về văn hóa và tôn giáo là
rào cản đối với quan hệ hôn nhân
khác tộc ngƣời, đặc biệt là quan hệ
hôn nhân khác tôn giáo trong các
cộng đồng tộc ngƣời ở Nam Bộ.
Nhƣng nhìn chung, quan hệ hôn nhân
khác tộc ngƣời và khác tôn giáo ở
vùng đất này đã kiến tạo nên những
gia đình và dòng họ đa tộc ngƣời (hay
đa văn hóa), làm sâu sắc hơn các mối
quan hệ xã hội và văn hóa, sự hòa
hợp giữa các tộc ngƣời và hội nhập
xã hội vào một quốc gia chung hiện
nay.
năm. Thế nhƣng, khi con trai giới
thiệu ngƣời yêu của mình là một nữ
đồng nghiệp ngƣời Kinh với gia đình
thì bà từ chối: “Mẹ không muốn rồi,
mẹ lấy chồng Việt rồi thôi con (…)
đừng có lấy nữa”. Sau khi tiếp xúc với
ngƣời yêu của con mình, bà nhận xét:
“Ngƣời con gái đó tui cũng hổng
(không) có tin, nó không có theo [đạo
Hồi] đâu” (Vũ Ngọc Xuân Ánh, 2020:
172). Trong trƣờng hợp này thì tôn
giáo là yếu tố tạo ra “lực cản” đối với
việc thiết lập quan hệ hôn nhân với
ngƣời khác tộc ngƣời không phải
ngƣời Hồi giáo trong cộng đồng ngƣời
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Khuông Việt.1943a. “Lƣợc khảo về chế độ cai trị ngƣời Minh Hƣơng ở Nam Kỳ”. Tạp
chí Đại Việt, số 8. Sài Gòn.
2. Khuông Việt. 1943b. “Lƣợc khảo về chế độ cai trị ngƣời Minh Hƣơng ở Nam Kỳ” (tiếp
theo). Tạp chí Đại Việt, số 9. Sài Gòn.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (266) 2020
84
3. Nguyễn Phan Quang. 2000. Việt Nam cận đại, những sử liệu mới - Tập 3. Sóc Trăng
(1867-1943). TPHCM: Nxb. Văn nghệ.
4. Nguyễn Thị Phƣơng Thảo. 2020. “Biến đổi về quan niệm trong hôn nhân và gia đình
của ngƣời Mạ ở Đồng Nai”, trong Kỷ yếu hội thảo Cơ sở lý luận và thực tiễn về hôn
nhân, gia đình và thân tộc ở Nam Bộ. Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
5. Phan Thanh Lời. 2020. “Hôn nhân khác tộc ngƣời và những biến đổi trong đời sống
hôn nhân nơi tộc ngƣời Mnông ở Nam Bộ”, trong Kỷ yếu hội thảo Cơ sở lý luận và thực
tiễn về hôn nhân, gia đình và thân tộc ở Nam Bộ. Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
6. Trần Tấn Vĩnh (chủ nhiệm). 2003. Nghiên cứu và phục chế trang phục truyền thống
của người Châu Ro. Đề tài cấp tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
7. Võ Công Nguyện (chủ biên). 2017. Vùng đất Nam Bộ - Tập 9. Tộc người và quan hệ
tộc người. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia-Sự thật.
8. Võ Công Nguyện. 2010. “Quan hệ hôn nhân giữa các tộc ngƣời vùng Tây Nam Bộ”,
Tạp chí Khoa học xã hội, số 11+12, tr. 109-115.
9. Võ Công Nguyện. 2018. “Quan hệ hôn nhân, gia đình và thân tộc của các cộng đồng
đa tộc ngƣời ở vùng Tây Nam Bộ”. Tạp chí Dân tộc học, số 1(205), Hà Nội.
10. Vũ Ngọc Xuân Ánh. 2020. “Hôn nhân khác tộc ngƣời và tôn giáo với ngƣời Chăm
Hồi giáo: Đạo Hồi vừa là thử thách, vừa là giải pháp cho những khó khăn”, trong Kỷ yếu
hội thảo Cơ sở lý luận và thực tiễn về hôn nhân, gia đình và thân tộc ở Nam Bộ. Viện
Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
Bạn đang xem tài liệu "Quan niệm về hôn nhân khác tộc người và khác tôn giáo ở Nam Bộ hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quan_niem_ve_hon_nhan_khac_toc_nguoi_va_khac_ton_giao_o_nam.pdf

