Hội chợ triển lãm Sài Gòn 1942-1943 qua tư liệu báo chí
51
CHUYÊN MỤC
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC
HỘI CHỢ TRIỂN LÃM SÀI GÒN 1942-1943
QUA TƯ LIỆU BÁO CHÍ
NGUYỄN VĂN GIÁC*
Trên cơ sở sưu tập, phân loại, đối sánh các nguồn tư liệu báo chí đương thời,
bài viết lần đầu tiên cập nhật sự kiện về Hội chợ Triển lãm Sài Gòn 1942-1943,
hội chợ cuối cùng được chính phủ thuộc địa ở Đông Dương tổ chức. Đây là hội
chợ diễn tiến với khoảng thời gian dài nhất, quy mô lớn nhất, có số lượt người
tham gia đông đảo nhất, bao quát cả 5 xứ của Đông Dương và của Nhật Bản.
Từ khóa: Hội chợ Triển lãm Sài Gòn 1942-1943, tuần báo
Nhận bài ngày: 01/3/2021; đưa vào biên tập: 10/3/2021; phản biện: 23/3/2021;
duyệt đăng: 3/6/2021
Tuy vậy, các công trình nghiên cứu
Hội chợ triển lãm thuộc địa là một lịch sử - văn hóa trước nay chưa đề
1. DẪN NHẬP
trong những hình thức thương mại
nhằm quảng bá các sản phẩm ưu trội
cập đến sự kiện này. Qua khảo cứu
các tư liệu liên quan cho thấy, bài viết
của nền sản xuất thuộc địa, qua đó Vai trò của người Pháp đối với hoạt
khuếch trương tiềm năng và khuynh động triển lãm và hội chợ ở Hà Nội
hướng hoạt động của các chủ thể kinh trước năm 1945 của Vũ Minh Hương
tế có lợi ích quan hệ chặt chẽ với
quyền lợi của chính quyền thuộc địa
và các tập đoàn tư bản trong nước lẫn
quốc tế thời kỳ này.
(2000) đã có cách tiếp cận lịch sử
thuộc địa khá mới mẻ, lần đầu tiên
cập nhật trực diện vấn đề thương mại
- hội chợ; hướng nghiên cứu đó được
kế thừa qua Tính hiện đại và sự
chuyển biến của văn hóa Việt Nam
thời cận đại do Đỗ Quang Hưng chủ
biên (2019), song cũng chỉ dừng lại ở
Hội chợ Hà Nội năm 1941, như lời
tổng kết: “Hội chợ năm 1941 cũng là
hội chợ cuối cùng người Pháp tổ chức
Sau Hội chợ Hà Nội được tổ chức vào
năm 1941, Hội chợ Triển lãm Sài Gòn
được tiến hành trong khoảng thời gian
từ ngày 20/12/1942 đến 20/2/1943.
* Trường Đại học Thủ Dầu Một.
52
NGUYỄN VĂN GIÁC – HỘI CHỢ TRIỂN LÃM SÀI GÒN…
được ở Việt Nam” (Đỗ Quang Hưng Trung (Giám đốc Nam Kỳ Tuần báo)
2019: 266). Các chuyên khảo về Nam nhận xét: “Nói „Hội chợ Triển lãm
Bộ nói chung, Gia Định và Sài Gòn -
Chợ Lớn nói riêng cũng hoàn toàn
vắng bóng sự kiện sôi động nêu trên.
Saigon khổng lồ‟ không phải là lời nói
thái quá. Thiệt như vậy, các sắc nhơn
[nhân](1) dân trong Liên bang Đông
Pháp hoan nghênh cuộc Hội chợ nầy
một cách đặc biệt, thuở nay chưa
từng thấy. Thiên hạ đi xem Hội chợ
đến nỗi các đường các nẻo đều chật
nức, chen lấn nhau mà vô cửa như
nước tràn bờ.
Vì thiếu vắng những tư liệu chính thức
từ phía các chính phủ thời thuộc địa
nên trong bài viết này, tác giả không
thể đi sâu luận giải mục đích, kết quả,
ý nghĩa thực tế của sự kiện mà chủ
yếu tập trung công bố một phần tư
liệu khai thác được qua báo chí nhằm
gợi mở những công trình nghiên cứu
tiếp sau.
Còn trong Hội chợ, thì số gian hàng
nhiều không thể kể cho xiết; nhiều mà
lại cất theo kiểu mẫu tối tân, lộng lẫy,
giữa một khoảnh công viên diện tích
minh mông, thảo mộc trù mật, làm cho
cảnh tuy phồn thạnh, song không mất
vẻ thanh nhã.
2. ĐÔI NÉT VỀ HỘI CHỢ TRIỂN
LÃM SÀI GÒN
Hoạt động hội chợ hay đấu xảo đã
được chính phủ thuộc địa ở Nam Kỳ
tổ chức lần đầu tiên tại Sài Gòn vào
đầu năm 1866, và lần sau cùng vào 6
giờ chiều ngày 19/12/1942. Hội chợ
Triển lãm Sài Gòn lần cuối này được
khai mạc bởi Toàn quyền Jean
Decoux và chính thức bắt đầu hoạt
động vào sáng ngày 20/12/1942, lúc
10 giờ (K.V, 1942: 3, 18).
Sự triển lãm thì chia có thứ tự rành
rẽ…” (Nam Kỳ Tuần báo, 1943, số 21:
23).
Nhà báo Trúc Hà (1942: 13-15, 30)
cho biết: cách bố trí của Hội chợ được
mô tả theo lối biểu trưng bởi ngành
nghề hay chuyên môn, với sở Học
chánh, gian hàng Sử ký, Mỹ thuật,
Chuyên môn Giáo dục, gian hàng
Nhựt Bổn, sở Công nghệ bổn xứ, sở
Hải Lục Không quân và Vận tải, gian
hàng Canh nông, Trường Viễn Đông
Bác cổ, cùng nhiều gian hàng vui chơi
giải trí, thưởng thức ẩm thực, có cả
các trò đỏ đen…
Hội chợ dự kiến kéo dài một tháng,
tức đến 20/1/1943 bế mạc. Tuy nhiên,
“Nhơn [nhân] thấy Hội chợ Saigon
thâu [thu] hoạch được kết quả rất tốt
đẹp, quan Toàn quyền ban phép cho
Hội chợ được mở cửa thêm một
tháng nữa” (Nam Kỳ Tuần báo, 1943,
số 21: 23). Như vậy, Hội chợ Triển
lãm Sài Gòn đã diễn ra 60 ngày, chưa
kể ngày khai mạc và ngày bế mạc.
Đây là kỳ hội chợ triển lãm dài ngày
nhất trong lịch sử kinh tế - văn hóa
“Mấy ngày đầu Hội chợ Saigon được
kết quả hết sức mỹ mãn. Trong 7 ngày
đầu số người vào xem tới 329.426
người. Riêng ngày 26 Décembre [ngày
thứ bảy, cuối tuần đầu - TG] có tới
của Liên bang Đông Dương. Hồ Văn 61.258 người vào xem” (N.T, 1942: 25).
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
53
Theo Phóng sự tuần báo (1943, số được 1.842.213 người vào xem Hội
317) sau gần 3 tuần lễ “Hội chợ chợ. Thêm vào số ấy, lại có 13.000
Saigon vẫn được công chúng hoan học sinh, 5.000 nhà binh Pháp - Nhật,
nghênh nhiệt liệt. Có cơ hội tốt đẹp 3.000 người ở các hội đoàn và những
nào cho bằng, với hai cắc bạc, tiền vô người có thẻ ra vào luôn, có thể cho
cửa ta có thể lãnh hội những điều ích tổng số người vào xem Hội chợ là 2
lợi cho trí thức và tinh thần của 5 xứ triệu 4 vạn 854 người”.
Liên bang.
Nhìn chung, Hội chợ Triển lãm Sài
Mỗi ngày mỗi được số người rất đông Gòn 1942-1943 là một kỳ Hội chợ dài
ngày, quy mô với đa dạng các gian
hàng trưng bày, có sự tham gia không
chỉ cả 5 xứ thuộc Liên bang Đông
Dương mà bên cạnh Pháp quốc còn
có Nhật Bản. Đây mới thực là lần hội
chợ triển lãm cuối cùng được tổ chức
ở Việt Nam trước khi kết thúc chế độ
Pháp trị lần thứ nhất.
đến viếng (…) Nếu kể luôn 10.000 lá
cát [card] vô cửa khỏi trả tiền thì trung
bình mỗi ngày số người vào cửa Hội
chợ có đến 50 ngàn. Hãng thông tin
ấy cho biết thêm rằng cũng trong thời
gian trên đây nội gian hàng Nhựt Bổn
có đến 640.000 người vào xem, một
con số khổng lồ tính ra gần bằng số
dân cư ngụ tại Địa phương Saigon -
Cholon.
3. ĐẶC TẢ MỘT SỐ GIAN HÀNG TẠI
HỘI CHỢ TRIỂN LÃM SÀI GÒN
Và cũng trong thời gian trên đây gian
hàng của Nhựt bán ra trên 10.000
cuốn sách và báo chí nói về Nhựt”.
Hội chợ Triển lãm Sài Gòn diễn tiến
ngay tại thủ phủ xứ thuộc địa Nam Kỳ,
vì vậy đã được các báo cập nhật
nhanh chóng và thông tin kịp thời,
rộng rãi. Phương tiện truyền thông đại
chúng mô tả, quảng bá nhiều loại sản
phẩm thuộc các ngành nghề, và đã
thu hút sự quan sát không chỉ của số
đông người tham quan mà còn cả các
ký giả, bao gồm công nghệ, mỹ thuật,
thông tin - tuyên truyền, lịch sử có
xuất xứ nội địa Đông Dương, cùng với
những thành tựu tiên tiến của nền sản
xuất công nghiệp Âu - Nhật.
Sang trung tuần tháng 2/1943, Nam
Kỳ Tuần báo (1943, số 24: 5) thông tin:
“Hội chợ gần ngày bế mạc, song
khách vẫn còn đông nườm nượp”; để
sang số ra ngày 25/2/1943, tờ báo
này tuyên bố: “Bữa chúa nhựt 21 Fév,
Hội chợ Saigon đã đóng cửa. Tính
chung số khách vào viếng Hội chợ
trong 2 tháng có gần 2 triệu người. Ấy
cũng là một cái kỷ lục”.
Trong khi đó, số 2807 ra ngày
9/3/1943 của Trung Hòa báo lại có
những thống kê khá chi tiết về quy mô
số người tham gia, để rồi tổng kết:
“Tính từ khi mở, Hội chợ đã được
1.654.329, cộng với 187.884 là tất cả
3.1. Công nghệ
Trong Hội chợ Triển lãm Saigon - Đi
viếng vài gian hàng ký giả N.T. mô tả
khá tập trung và cuốn hút những sản
phẩm được trưng bày trong bốn gian
54
NGUYỄN VĂN GIÁC – HỘI CHỢ TRIỂN LÃM SÀI GÒN…
hàng: Tiểu công nghệ, gian Thợ khéo, ngớt. Rồi các bạn lại xem nắn nồi,
chén bát, sẽ thấy các chị thợ lui cui
bóp nặn đất sét” (N.T, 1942: 24).
gian Giáo dục chuyên môn và gian Kỹ
nghệ (cả bốn gian hàng này đều cùng
thuộc về lĩnh vực công nghệ).
Sang gian Giáo dục chuyên môn, “…
gồm có tất cả các trường dạy làm ren,
dạy dệt, dạy kỹ nghệ, dạy làm thợ
máy và các trường Nữ công Tân Định,
Dakao v.v… Ở đây thật là chen chưn
[chân] không lọt, vì người xem đông
nức. Nhứt là chung quanh những cái
máy hơi nước, máy dầu săn [xăng]
đương chạy. Lạ mắt hơn hết là chúng
ta thấy, ở trong cái máy có những gì
và lúc máy đương chạy, ở trong ấy
hoạt động như thế nào. Chúng ta còn
thấy một cái sân máy bay thâu nhỏ lại
và một vàm sông, ghe thuyền lển
nghển, với ít chiếc tàu đương dắt ghe”
(N.T, 1942: 25).
Ở gian Tiểu Công nghệ, đối diện với
bốn tấm bảng treo trên vách hiển lộ
các thông số về số lượng nhân công
cùng giá trị tạo tác tính bằng tiền của
bốn xứ Đông Dương, bao gồm Nam
Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Cao Miên là
các hiện vật đặc trưng được sắp xếp
theo từng nhóm sản phẩm: đồ thực
phẩm (mứt, đồ hộp, rượu, giấm v.v…);
đồ vải (tơ lụa, tuýt so, vải bông, đồ dệt,
khảm); đồ bện - đan (dây chạc, chiếu,
thúng, rổ); đồ cần dùng trong nhà
bằng thiếc hay bằng cây (vòi nước,
ống khóa, đồ đồng, đồ thau); giấy - đồ
dùng trên bàn viết (giấy cứng, càng
viết, viết chì, mực, keo v.v…); đồ bằng
chai, đồ gốm, chén bát; da thuộc, đồ
nhuộm; đèn và dầu mỡ để đốt; đồ
chơi bằng cây, bằng thiếc… (N.T,
1942: 24).
Hàng kỹ nghệ mang tính cách kỹ
thuật - thực hành được xếp đặt thành
ba gian với nhiều biểu mẫu và kiểu
mẫu do các hãng Đông Dương tạo tác.
Một trong những hoạt động máy móc
được tái hiện khá thú vị ghi lại như
sau: “Và có một cái máy vấn thuốc
đang chạy cho công chúng coi. Có vài
ba người đứng xem chừng cho máy
chạy. Ghi trong năm phút đồng hồ mà
sản xuất huyên thiên [thuyên] điếu
thuốc, trông chừng một trăm người
vấn tay 1 giờ chưa chắc theo kịp cái
kết quả của cái máy ấy trong năm
mười phút đồng hồ” (N.T, 1942: 25).
Gian Thợ khéo được mô tả: “Thiết
tưởng, trong Hội chợ, đây là vui vẻ và
hoạt động nhứt. Đặc sắc hơn hết là
những máy dệt. Có cái giản tiện, có
cái phiền phức [tinh xảo]. Luôn luôn
tiếng máy chạy không phút nào ngưng.
Tôi nom thấy hai người đàn bà, người
Mán thì phải, đương dệt một cái máy
hết sức đơn sơ và thật mất công.
Những cái máy khác làm một giờ có lẽ
cái nầy phải làm ba, bốn giờ mới
được kết quả bằng… Ở gian hàng
nầy có thợ chạm, thợ làm đồi mồi,
nhiều món chưng [trưng] bày rất mỹ
thuật, người coi tấm tắc khen không
Tràng An báo từ ngày 10/12/1942, tức
trước khi Hội chợ chính thức khai
trương, cũng đã có những mô tả sôi
động và ấn tượng về các gian hàng
công nghệ.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
55
“Có một chỗ rất đáng xem, là vì chưa Xứ Lào sẽ trình bày những thợ làm nữ
trang và vàng bạc, thợ dệt các thứ vải
Lào bền chắc và hoa mỹ.
từng có trong hội chợ nào, ấy là „làng
công nghệ Đông Pháp‟...
Xứ Cao Mên sẽ có những thợ làm
khăn choàng Mã Lai, làm chiếu
Kompong Chnang, làm mền và vải
Kompong Cham, dệt lụa Prei Veng và
Kondol, làm da thuộc của tỉnh
Siemréap, những đồ chạm trổ và khí
giới rất mỹ thuật của tỉnh Pursat.
Riêng xứ Trung Kỳ đã chiếm hết sáu,
bảy căn nhà trong „làng công nghệ‟
này. Trung Kỳ sẽ triển lãm những
công nghệ đặc biệt. Như kinh thành
Huế trình bày những người thợ khéo
đang đóng „giày Kinh‟, thứ giày rất mỹ
thuật, các nhà quý phái „Thần kinh‟
năng dùng.
Xứ Nam Kỳ, với những bàn dệt của
trường Châu Đốc, những thợ làm lãnh
Tân Châu, thợ dệt chăn và các thứ vải
đẹp của Triton [Tri Tôn], thợ làm đồ
gốm của Thủ Dầu Một (Tràng An báo,
1942, số 106: 1).
Tỉnh Quảng Nam sẽ trưng bày xưởng
dệt các thứ gấm có bông lớn để may
áo lễ phục các quan. Nên để ý rằng về
nghề dệt gấm này, các nhà công nghệ
Quảng Nam đã canh cải và dùng một
bàn máy dệt kiểu „Jarquard‟, do một
thợ bổn xứ chế ra. Trong cuộc đấu
xảo công nghệ tại Hà Nội năm ngoái,
bàn máy này đã chiếm giải nhất.
Theo trên, Hội chợ Triển lãm Sài Gòn
không chỉ tái hiện các dòng sản phẩm
đa dạng của các xứ thuộc địa Đông
Dương mà còn cho thấy tiềm năng to
lớn nhiều mặt của nền sản xuất thủ
công nghệ bản địa.
Tỉnh Qui Nhơn sẽ trình bày những
người thợ dệt nhiễu.
3.2. Mỹ thuật
Tỉnh Thanh Hóa sẽ triển lãm nghề làm
Gian hàng Mỹ thuật tại Hội chợ Triển
lãm Sài Gòn được L.T.K đề cập khá
chi tiết trong bài viết Mỹ thuật Việt
Nam tại Hội chợ Saigon: “Khắp ba căn
cao, rộng minh mông mà đông đầy
những tranh, những đồ sơn và đồ
gốm. Có thể nói là bề bộn. Thoạt mới
vào, người ta phải bát ngát, ngỡ
ngàng. Người ta phải nhớ đến những
cuộc triển lãm họa phẩm Nhựt với tất
cả cái khéo léo về cách trình bày
những tác phẩm. Những bức họa lựa
chén bát, bình tích…
Một tỉnh khác ở Trung Kỳ sẽ cho ta
xem những người thợ dùng vỏ dừa
làm đồ đựng bình nước cho ấm, làm
nút… Một tỉnh khác nữa sẽ phô bày
những thợ làm nón lá mà các cô gái
Huế thường đội.
Còn xứ Bắc Kỳ thì có nhiều thứ công
nghệ, không thể đem ra trình hết trong
Hội chợ được, nên nhà tổ chức chỉ
lựa những kỹ nghệ đặc sắc: công
nghệ vải, tơ lụa, dệt khăn long [lông] chọn chỉ vừa đủ, bày hàng lối, bên
lau mặt của tỉnh Hà Đông; các thứ đồ
chơi trẻ con bằng gỗ; các đồ cẩn xà
cừ, đồ đồi mồi v.v…
dưới bục chạy dài, đó đây vài cái bình
trên cắm năm ba đóa cúc. Tất cả một
nghệ thuật bài trí rất giản dị và tinh
56
NGUYỄN VĂN GIÁC – HỘI CHỢ TRIỂN LÃM SÀI GÒN…
tế… Những sản phẩm của nghệ sĩ ta chóng. Hiện nay những sản phẩm về
hơi nhiều (đó cũng tỏ nổi một sức làm sơn của nghệ sĩ Việt Nam đã có một
việc ghê gớm), nên khiến cho người
xem tranh đến xem, hoa cả mắt, nhất
là khi thấy đồ sơn, đồ bạc, đồ gốm, đồ
gỗ và tranh lẫn lộn, chen chúc nhau
mà „đứng‟, mà „ngồi‟… người ta cũng
có thể nhận được ở gian giữa những
sản phẩm của Trường Mỹ thuật Hanoi,
bên cạnh những kết quả của Trường
Gia Định và Thủ Dầu Một và bên trái
là những tranh lụa bày trong cuộc
triển lãm Tokyo sắp tới đây. Cuộc
triển lãm nầy là cái „đinh‟ của gian
hàng Mỹ thuật. Và cũng là cái „đinh‟
của Hội chợ nữa” (Nam Kỳ Tuần báo,
1943, số 24: 14-15).
địa vị vững vàng và đang còn có thể
phát triển một cách lớn lao hơn nữa.
Những „sơn‟ của Nguyễn Gia Trí tiếc
thay vắng mặt, nhưng những „sơn‟
của Nguyễn Văn Ty cũng đủ tỏ được
cái đặc sắc ấy”.
Các ngành kỹ nghệ khác tại Hội chợ,
như đồ gốm, đồ gỗ và kiến trúc, cũng
được đề cao như sau: “… gian
Trường Gia Định, Thủ Dầu Một và
Trường Mỹ thuật Hà Nội. Mỗi gian nầy
cũng có thể cho ta hay nhiều điều mà
tôi sẽ có dịp nói rõ ở đây sau. Tất cả,
nhứt là những đồ gốm của trường
Biên Hòa, đồ gỗ của Gia Định đều tỏ
một sức làm việc tinh tế và cần cù.
Những công việc tỉ mỉ đó đủ tỏ những
nghệ sĩ Annam rất có khiếu về mỹ
thuật, vừa có biệt tài và rất nhẫn nại
trong cách cấu tạo… Biệt tài đó và
sức nhẫn nại đó càng thấy rõ rệt
trong nghề kiến trúc nữa. Nghệ thuật
nầy ở Đông Pháp đã phát triển rất
mau. Và trong dịp Hội chợ Triển lãm
nầy, nhiều kiến trúc sư Annam đã có
dịp tỏ tài được một cách đầy đủ… Cứ
Sau khi điểm luận một lượt các họa
phẩm trưng bày của một số tác giả nổi
tiếng sinh thời, bài báo nhận định:
“Bằng vào những họa phẩm như của
Cẩn [Trần Văn Cẩn], của Nguyễn Đỗ
Cung, Tô Ngọc Vân, quả thật mỹ thuật
Việt Nam, ta đã thấy, đúng như lời
của họa sĩ Foujita tuyên bố với một
phóng viên Annam, có rất nhiều đặc
sắc. Nó không giống mỹ thuật Nhựt
hoặc mỹ thuật Pháp và lúc nào cũng
giữ được đặc sắc. Nhưng cái đặc sắc nhìn những gian nhà, không, những
ấy nó chưa rõ hẳn cái tính cách tòa lầu mới đúng, đồ sộ, bát ngát
trong Hội chợ, ai cũng phải tin rằng rồi
đây sẽ còn có nhiều sự thành công về
nghệ thuật kiến trúc ở đấy” (L.T.K.,
1942: 8).
Annam” (L.T.K., 1942: 8).
Trong khi đó, kỹ nghệ sơn Việt lại
được đánh giá cao cả về bản sắc lẫn
hội nhập, theo L.T.K. (1942: 8): “Cái
tính cách quê hương ấy có lẽ người ta
dễ tìm thấy hơn ở những bức bình
phong sơn và những tranh sơn bày la
liệt cả ba gian phòng… Nghề sơn
Annam đã tiến một cách rất mau
Có lẽ điều đáng kể nhất là lời bình giải
của một nghệ sĩ người Pháp am hiểu
chuyên sâu mỹ thuật không được kể
rõ tên tuổi cùng tham quan tại gian
hàng hội họa này, khi đối sánh tác
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
57
phẩm của một người Pháp với một khi họa sĩ mới đến xứ này” (Hồ Văn
người Việt, được ký giả thuật lại như
sau: “Theo ý ông, thì 4 pho tượng nhỏ
truyền thần của nhà điêu khắc E.
Jouchère chỉ cho ta hiểu một nghệ sĩ
theo lối thiên tạo, nghĩa là sản xuất
theo sự trông thấy mà thôi, song
không thể chỉ cho ta rõ người thuộc về
nhành [ngành] nào, phái nào. Trong
một cuộc Triển lãm lớn, nhà điêu khắc
nên cho ta xem một pho khỏa thân ta
mới thấy tài năng được. Ta mong đợi
một cái gì làm cho ta cảm hơn, một
pho khỏa thân, người Annam với đá
Annam thì mới quý… Bước lại hai pho
tượng lớn như thiệt và khỏa thân của
G. Khánh, một pho bằng đá cứng
miền Bắc chạm một cô gái đương
trang điểm và một pho bằng gỗ gụ, thì
ông bạn tôi nói hai công trình nầy
đáng để ý, vì nghệ sĩ đã tỏ được bản
năng của mình một cách đầy đủ.
Những đường mềm mại, cái điệu tươi
đẹp xem ngả nào cũng ngoạn mục, đó
là chỗ khó của nghề điêu khắc, mà
nghệ sĩ đã làm được hoàn toàn” (Hồ
Văn Trung, 1943: 3-4).
Trung, 1943: 3-4).
Cùng với lối đánh giá khách quan và
chứa chan nhiệt huyết khích lệ dành
cho người Việt đó, một thế hệ nghệ sĩ
hội họa tiên phong cũng đã được
nhận diện và vinh danh: “… đáng
trông cậy nhứt vào mấy nghệ sĩ có
biệt tài, là những người lính tiên
phong chuyên xây móng đắp nền cho
tương lai. Ngọn bút của mấy họa sĩ Lê
Văn Đệ, Trần Văn Cẩn, Lương Xuân
Nhị, Tô Ngọc Vân, linh động bạo dạn,
uyển chuyển, huyền bí, cảm hóa, thôi
miên khách xem hơn hết” (Hồ Văn
Trung, 1943: 4). Ưu trội của từng
nghệ sĩ gắn với tác phẩm được đem
ra phân diễn một cách cụ thể: Trong
màn thưa của Lê Văn Đệ thì mềm mại,
màu thuốc dung hòa, ấm áp dịu dàng
như bầu trời sáng xuân, được công
chúng ái mộ hơn hết nên lúc nào cũng
có đông người thưởng thức và tán
dương; Gánh lúa của Trần Văn Cẩn tỏ
ra rất bạo nét, cho thấy “họa sĩ muốn
đi xa tạo hóa”; phong cảnh quê nói
chung của Lương Xuân Nhị với màu
thanh tao, nét tuấn tú, vẻ sơn sáng
láng, “chứa đầy hứa hẹn tương lai”;
bức Thiếu nữ của Tô Ngọc Vân tỏ rõ
biệt tài của nghệ sĩ “phô bày sự tương
phản các màu chói lọi mà vẫn hòa hiệp
với nhau” (Hồ Văn Trung, 1943: 4)...
Tương tự, một số tên tuổi nghệ sĩ
Pháp quốc dường như không còn giữ
được sự ngưỡng mộ như trước qua
lối thẩm định của du khách người
Pháp kể trên: “Đến những bức của
họa sĩ Barrière, Bàte Gauguin,
Inguimberty và của bà Brecq, thì ông
bạn nhận xét công phu dày dặn của
mỗi người, song với tác phẩm của
Inguimberty thì lại tiếc nét vẽ không
được mạnh bạo, màu sắc không được
Ở một góc nhìn khác chuyên về tranh
cảnh, ký giả Tam Cang của Phóng sự
cho biết về số tác phẩm trưng bày tại
hội chợ bao gồm những tranh vẽ gửi
đi triển lãm tại Đông Kinh thuộc bốn
nồng nàn, như những bức họa xưa, nhóm nghệ sĩ, bao gồm Hiệp Tác hội
58
NGUYỄN VĂN GIÁC – HỘI CHỢ TRIỂN LÃM SÀI GÒN…
Thủ công ở Thủ Dầu Một và Biên Hòa, đánh giá: “… là bộ óc thông minh của
của các nhà hội họa tỉnh Gia Định và
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội; về
sự ái mộ hội họa nói riêng thì không
chỉ tư nhân bỏ tiền mua tranh cảnh
nhiều mà ngay cả quan Toàn quyền
Decoux và Miên hoàng Sihanouk cũng
đã mua một số bức; về tài năng thì
một họa sĩ trẻ có nhiều triển vọng
được đề cao là U Văn An (Ủ Văn An)
mà một trong những yếu tố góp phần
tạo nên sự thành công của tác phẩm
thuộc về kỹ thuật sơn, thông qua đội
ngũ thợ sơn có xuất xứ từ vùng đất
Thủ Dầu Một. Ký giả cho biết: “Khác
hơn người Bắc, họa sĩ U Văn An đã
tìm được một cách chế sơn tuyệt hảo,
hoàn toàn Nam Kỳ, để cho màu sơn
của họa sĩ được vĩnh viễn… Những
người thợ làm việc cho họa sĩ, đều
được họa sĩ lựa chọn trong những
cựu sanh viên có tài ở Trường Mỹ
thuật Thudaumot, vì nơi đây, một ông
tổ về nghề sơn ở Nam Kỳ lâu nay
sống trong bóng tối, đã truyền cái
nghề ấy” (Tam Cang, 1943: 11).
quốc gia, nó là món ăn tinh thần của
một dân tộc. Nó là tai mắt miệng lưỡi
của tất cả mọi người” (Đỗ Quyên,
1943: 18).
Theo Đỗ Quyên (1943: 18) của tờ
Nam Kỳ Tuần báo, đó là một gian
trưng bày được mô tả là khá kén
khách, trang nghiêm, bắt đầu bởi
phòng báo chí với vô số ấn phẩm của
các tòa báo Nam Kỳ, Đại Việt,
Indochine… cùng Nhà sách Nguyễn
Khánh Đàm, Nhà in I.D.E.O. ở Hà Nội,
Nhà in Portail, Ardin ở Sài Gòn…
Trong đó, “Khách chú ý nhứt là những
hình ảnh nhà văn nhà báo tân cựu,
kiểu mẫu Trường thi Nam Định hồi
trước, các số báo tết đã qua, những
quyển sách khó kiếm, dòng bìa thật
đẹp”. Phòng kế theo bên trong được
xác định là địa phận chính I.P.P. của
Nam Kỳ và Cao Miên, với vô số bản
đồ cùng tranh ảnh.
Ký giả tờ Saigon đã tiến hành hệ
thống hóa lẫn chi tiết hơn với sự
quảng bá các loại giấy nội địa dùng để
in ấn, các tác giả văn chương kim cổ
và giới chủ bút đi kèm ấn phẩm của
mình, biểu thị trên hai tấm bản đồ ấn
tượng và cho biết: “Đây là một bức địa
đồ Bắc Kỳ rất lớn: Trông vào, ta thấy
các hãng làm giấy Bắc Kỳ ở vào vùng
nào, đốn tre ở đâu để làm giấy và
chuyên chở bằng cách nào để đem tre
về hãng. Dưới bức địa đồ ấy, có nhiều
thứ giấy; các nhà thủ công làm giấy
màu, giấy viết thơ, giấy in sách vân
Có thể nhận thấy các gian hàng Mỹ
thuật tại Hội chợ Triển lãm Sài Gòn đã
trưng bày các tác phẩm của những
họa sĩ hàng đầu Việt Nam đương thời.
Đáng lưu ý hơn, còn có gian hàng
riêng giới thiệu tranh của một số họa
sĩ xuất thân từ các trường mỹ thuật
địa phương thuộc Nam Kỳ, như Thủ
Dầu Một hay Biên Hòa.
3.3. Thông tin - báo chí - tuyên truyền
Gian hàng về lĩnh vực truyền thông có
tên nguyên ngữ là Information Presse vân, rất mịn màng… Một tấm địa đồ
văn chương rất lớn chỉ rõ quê hương
Propagande hoặc gọi tắt I.P.P., được
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
59
của các nhà danh sĩ. Đối diện với bức Đó hẳn là sự phô bày của một loại
địa đồ ấy có một khuôn kiến [kính] hình mỹ thuật được định danh là đồ
họa.
lồng những bút tích của các nhà danh
sĩ xưa như Trương Hán Siêu, Chu
Mạnh Trinh, Chúa Trịnh. Lại cũng có
treo ảnh các nhà văn xưa và nay mà
các nhà yêu văn ai ai cũng muốn biết:
ảnh Dương Lâm, Phan Thanh Giảng
[Giản], Yên Đỗ, Hồ Biểu Chánh, Khái
Hưng, Thế Lữ, Nhất Linh, Lê Văn
Trương vân vân. Ta cũng được xem ở
chỗ nầy những tờ báo mà lâu nay ta
nghe tên nhưng không thấy mặt như
tờ Gia Định báo và Nông Cổ mín đàm”
(Saigon, 1942, số 15246: 1).
Cũng tại đây, hai ấn bản thể hiện rõ
nét khuynh hướng chính trị đề huề
Pháp - Việt, trong điều kiện Pháp quốc
và Liên bang Đông Pháp đều bại trận
trước các đối thủ của mìnhtrong cuộc
chiến tranh thế giới, đã được phô
trương đặc biệt(2) (Saigon, 1942, số
15246: 2).
Đồng thời, khá ngạc nhiên và thú vị
khi viên ký giả của tờ nhật báo Saigon
lại lên tiếng khen Nam Kỳ Tuần báo,
còn ấn phẩm song sinh của nó là Đại
Việt tập chí nhận được sự ngưỡng mộ:
“Cách trình bày của tờ Đại Việt tạp chí
[Đại Việt tập chí] rất nên để ý. Bên
cạnh tờ Đại Việt xuất bản năm nay, có
để kèm một tờ Đại Việt năm 1918 mà
cách ấn loát cũng đã có phần đẹp
đẽ”(3) (Saigon, 1942, số 15246: 1).
Kiểu mẫu Trường thi Nam Định mà
Nam Kỳ Tuần báo chỉ nhắc thoáng
qua, lại được nhật báo Saigon mô tả
tương đối tường tận rằng “Những cái
mới lạ làm cho các nhà hoài cổ thỏa
mãn là họa đồ và tượng hình trường
thi ngày xưa. Phần đông chúng ta
được nghe những người lớn tuổi nói Có thể nhận diện một cách khách
quan rằng những ấn bản Tạp chí vừa
nêu đã thể hiện một phong cách báo
chí rất chuyên nghiệp không chỉ
đương thời mà kể cả sau này, chưa
kể nội dung cập nhật vừa khoa học,
đa ngành vừa thực nghiệp, lôi cuốn.
chuyện, thi hội, thi đình, việc đóng
chõng cất lều ở trường thi và hiếu kỳ,
ta muốn tận mắt xem một ông đồ với
một tiểu đồng mang chõng xách lều đi
tận kinh nhập trường thi. Ở gian hàng
Truyền thông và Báo giới, tuy ta
không thấy trường thi thật nhưng ta
được xem một trường thi nhỏ bằng
cây [gỗ] với ngày vô [nhập trường thi],
những chỗ thí sanh [thí sinh] làm bài,
các chỗ ngồi của Giám viên, Sơ khảo;
ta cũng được xem một cái lều và một
cái chõng nhỏ, ống quyển và quyển thi.
Hơn nữa, ta được dự vào cuộc vinh
quy của một ông nghè” (Saigon, 1942,
số 15246: 1).
3.4. Lịch sử
Gian Lịch sử, nguyên ngữ là Pavillon
Historique được nhà báo Lê Thọ Xuân
(1942: 16) mô tả ấn tượng với 7 hoặc
8 tấm địa đồ trình bày diễn biến Cần
vương của hậu duệ chúa Nguyễn là
Nguyễn Phúc Ánh, khởi đầu từ biến
cố rời bỏ kinh thành Phú Xuân tìm
đường vào Gia Định (1775) đến lúc
thu phục Huế từ triều đình Tây Sơn
60
NGUYỄN VĂN GIÁC – HỘI CHỢ TRIỂN LÃM SÀI GÒN…
Nguyễn Quang Toản (1801), bao gồm (1863) treo trên tường, có thể tưởng
5 tấm về xứ Nam Kỳ, 2 tấm về xứ tượng được những nỗi khổ tâm của
Trung Kỳ, lại có thêm 1 tấm kê riêng một vị đại thần đang gánh vác một
từng tỉnh về tên các công thần của trọng trách nặng nề, gay cấn… trong
hoàng triều Gia Long sinh trưởng hay một cái tủ, một số công văn tờ trình
cư ngụ tại xứ Nam Kỳ. Đây là một bộ về cụ Phan đã được gom góp lại.
công trình lịch sử biên niên được Bạn có cảm động không? Khi bạn
lược đồ hóa bằng Pháp ngữ Bài học đọc bổn sớ trần tình của cụ gởi về
về lịch sử xứ Nam Kỳ của nhà báo kinh trước khi nưng [nâng] “chén ngọt
Khuông Việt đem lại những góc nhìn ngon mùi chánh khí” (Khuông Việt,
cận cảnh hơn về gian Lịch sử xứ 1942: 12).
miền Nam này.
Cho dù đã có hẳn một gian Information
Theo đó, ở gian giữa trưng bày những Presse Propagande (I.P.P.) trong Hội
sách và hình ảnh của các nhà thám chợ như đã nói trên, song Pavillon
hiểm người Âu, các tài liệu liên quan Historique vẫn dành phần đáng kể cho
đến vua Gia Long, ảnh phóng to của các tài liệu sách báo chuyên môn,
Đông Cung Thái tử Nguyễn Phúc được gọi là “những sự phát triển về
Cảnh: “Trong cái tủ kiếng dựng sát tinh thần” rằng: “Thì đây, trong 4 cái tủ
vách, đáng cho ta để ý là cái mão kê cạnh nhau bạn có gần đủ những
khảm vàng của ông Trần Văn Học, sách bác học, những công trình trứ
đào được năm 1939 ở Gia Định. Cái thuật có giá trị của người Pháp và
áo đại triều của quan Đốc học tỉnh người Nam trong thời kỳ đó. Ví dụ
Vĩnh Long là cụ Kỳ Xuyên Nguyễn như tự điển, sách về văn phạm, thổ
Thông, những đồ bằng sứ và bằng ngữ, lịch sử, địa dư của các ông
ngà của Ấn Độ Thương cuộc Pháp Aubaret, Philatre, Trương Vĩnh Ký
[Công ty Đông Ấn Pháp] và hai con v.v… Về phần báo chí thì có những tờ
Courrier de Saigon, Gia Định báo,
L’Ere Nouvelle, L’Indépendant v.v…”
(Khuông Việt, 1942: 31).
dấu của quan Đốc phủ…” (Khuông
Việt, 1942: 10).
Đặc biệt, những hình ảnh về danh
nhân Phan Thanh Giản đã làm dâng
lên tấm lòng ngưỡng mộ sâu sắc của
dòng người xem tại đây: “Bức chân
dung của cụ Phan Thanh Giản chấn
[trấn] ngay cửa hông là cửa riêng của
„Miếu Quốc Công‟ ở Vinhlong [Vĩnh
Long] cho mượn. Bạn thử so sánh
gương mặt bình tĩnh trong bức chân
dung ấy với nét mặt âu lo hiện trong
tấm ảnh của ngài khi đi sứ sang Pháp
Với đầy đủ các hạng mục về lịch sử,
từ vùng đất đến công cuộc chinh phục
của các cư dân và thể chế, từ tiểu sử
(biographie) của các chức sắc Công
giáo tiên phong người Âu đến giới sĩ
quan quân đội Pháp, từ các danh
nhân đến một số tên tuổi thời thuộc
địa của người Việt xứ Nam Kỳ, có cả
lịch sử về hạng bậc tặng thưởng hay
mề đay… Hội chợ Triển lãm Sài Gòn
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
61
đem đến cho công chúng cái nhìn 4. CÁC HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP
TRONG HỘI CHỢ TRIỂN LÃM SÀI
GÒN
tương đối toàn cảnh về lịch sử Đông
Dương nói chung, Việt Nam và Nam
Kỳ nói riêng.
Hội chợ Triển lãm Sài Gòn không chỉ
là một hoạt động kinh tế mà còn là
sinh hoạt văn hóa - xã hội sôi động
trên toàn Liên bang Đông Pháp nói
chung, thủ phủ xứ Nam Kỳ thuộc địa
nói riêng.
3.5. Gian hàng Nhật Bản
Bù lại những trống vắng tại các gian
hàng của Pháp quốc trong Hội chợ
Triển lãm Sài Gòn do chiến tranh và
cấm vận, các mặt hàng thuộc gian
Nhật Bản trở nên dày dặn hẳn lên.
Bản tin Đông Pháp vào ngày
15/12/1942 cho biết từ Hãng Domei
rằng “…Hội Kiểm sát Thương mại
Nhật đã lựa xong 2 vạn rưỡi thứ hàng
để gửi sang bày tại hội chợ Saigon
mở ngày 20 Décembre này. Các thứ
hàng Nhật bày tại Saigon lần này
nhiều gấp đôi lần bày ở Hội chợ Hanoi
trước đây, và phần nhiều đã tới bến
Saigon rồi” (Tràng An báo, 1942, số
100: 1). (Hội chợ Hà Nội đang được
nói đến chính là kỳ Hội chợ diễn ra
vào cuối năm 1941).
Trước tiên, một loại tem bưu chính có
in hình kỷ niệm cuộc Hội chợ sẽ được
phát hành. Tràng An báo thông tin
trong số báo phát hành ngày
19/12/1942: “… quan Toàn quyền đã
ký Nghị định ngày 6 Novembre 1942,
ra lệnh cho in một thứ tem Bưu chính
kỷ niệm Hội chợ Saigon, sẽ đem phát
hành bắt đầu bữa 20 Décembre là
ngày mở Hội chợ… là hạng tem về cỡ
lớn, có in hình gian hàng kỹ nghệ tại
Hội chợ… Rồi đây sẽ đem bán khắp
xứ Đông Dương với cái giá 6 xu, tem
ấy dùng để gửi thơ từ bằng cách nào
cũng được: xe lửa, phi cơ v.v…”
(Tràng An báo, 1942, số 102: 1).
Ký giả Thiếu Sơn (1942: 4) đã mô tả
một phần gian hàng Nhật Bản với
những món hàng mỹ nghệ cao cấp
xen lẫn nét tinh tế Á Đông trên Nam
Kỳ Tuần báo như sau: “… tôi thẳng
bước chun vô phòng triển lãm của
Phù Tang đại quốc. Đứng ngắm cái
thành phố tân thời thâu nhỏ lại bằng
những hình tượng xếp đặt trên một
cái bàn, tôi thấy như thiếu một cái gì,
mất một cái gì, và nghĩ ngay đến cái
phong vị cổ thời nơi tiên đảo… Sự ao
ước đó đưa tôi đến những bàn dài
bày ấm, chén, mà men thiệt trắng,
kiểu thiệt xinh, biểu lộ cái sở hiếu
thanh kỳ của một dân tộc…”.
Hội Nghiên cứu Đông Pháp phối hợp
với Trường Viễn Đông Bác cổ tổ chức
nhiều buổi thuyết minh tại Nhà hát của
Hội chợ Triển lãm Sài Gòn. Bản tin
Đông Pháp của Tràng An báo (1942,
số 102: 1) cho biết: “Trong số diễn giả,
có các ông Coedes, giám đốc Trường
Bác cổ, Trần-V-Giáp [Trần Văn Giáp],
phụ tá Trường Bác cổ, Ng-V-Huyên
[Nguyễn Văn Huyên], có chân trong
Trường Bác cổ, và mấy nhà bác học
uyên thâm khác của trường ấy”.
Nhiều buổi biểu diễn ca kịch - xiệc
tuồng tiến hành ngay tại Nhà hát Tây
62
NGUYỄN VĂN GIÁC – HỘI CHỢ TRIỂN LÃM SÀI GÒN…
trong khu Hội chợ, quyên tiền cho Quỹ giờ sáng hôm 22/2, Hội chợ Sài Gòn
Cứu tế Quốc gia. Ví như một chương đã bế mạc… công chúng đến xem
càng đông, không còn một chỗ len
chân. Ngày hôm 21 cho đến suốt đêm,
có nhiều cuộc vui. Đáng kể nhất là
cuộc thi các phụ nữ đức hạnh, có 18
người được thưởng, và cuộc thi các
trẻ em đẹp, có 270 trẻ em đến dự.
Buổi chiều có cuộc hội họp của các
đoàn cựu chiến binh, do quan Thống
đốc chủ tọa (…) Rồi sau cuộc lễ chào
cờ, có cuộc phát bằng và phần
thưởng cho các thợ khéo ở Nam Kỳ”.
trình diễn xuất được quảng bá trên
nhật báo Saigon số 15246 ra ngày
30/12/1942:
“Hội chợ Triển lãm Saigon
Thứ năm 31 Décembre từ 4 giờ rưỡi
chiều… MỘT BUỔI HÁT BAN NGÀY
CHO TRẺ EM, do ông Marcel Dambrine
tổ chức. Cuộc thi hát và những trò
cười…”.
Nghệ thuật Nhật Bản cũng được
quảng bá ấn tượng: “Viên giám sát
các gian hàng Nhựt ở Hội chợ Saigon
đã quyết định tổ chức để hiến các
khách đi xem Hội chợ nhiều buổi hát
bóng và âm nhạc Nhựt tại rạp hát của
Hội chợ.
Lĩnh vực thể thao cũng tổ chức một số
sự kiện liên quan. Tràng An báo số
102 ra ngày 19/12/1942 viết: “Nhân
dịp Hội chợ Saigon, Ủy ban trung
ương Quần vợt Nam Kỳ định tổ chức
một cuộc „quần anh tụ vợt‟ để lập
những giải vô địch quần vợt cho tài tử
nhà nghề chơi chung nhau…”.
Phần âm nhạc sẽ có hơn 100 dĩa
chọn trong các nhạc phẩm cổ điển và
tân thời và nhiều bản hành khúc.
Một điều khá đặc biệt khác là trong khi
Hội chợ Triển lãm Sài Gòn bước vào
giai đoạn chuẩn bị, hoặc đang diễn
tiến sôi động hoặc vừa mới kết thúc,
một số tỉnh thành tại Nam Kỳ cũng tổ
chức các hội chợ hay triển lãm/đấu
xảo địa phương.
Phần hát bóng gồm có hơn hai chục
cuốn phim, trong đó có „Những cuộc
hội họp trên tuyết‟, diễn giải bằng
tiếng Việt Nam lần đầu tiên ở Đông
Pháp…
Người ta lại còn cho hay thêm nữa
rằng trong bảy đêm hát bóng và âm
nhạc ấy sẽ có nhiều lời diễn giải rất
tường tận bằng tiếng Việt Nam và
tiếng Langsa về hát bóng cũng như
về âm nhạc” (Saigon 1942, số 15246:
2).
Trong buổi sáng ngày 19/12/1942, tức
hơn nửa ngày trước lễ khai mạc Hội
chợ Sài Gòn, làng Linh Chiểu Trung
(Thủ Đức) có diễn ra cuộc đấu xảo
heo do Sở Thú y Nam Kỳ tổ chức,
trong đó “Các quan rất chú ý đến các
giống heo bổn xứ, Hải-nan [Hải Nam]
và Úc Đại Lợi [Australia]” (Nam Kỳ
Tuần báo, 1942, số 17: 23). Nam Kỳ
Tuần báo số 21 ra ngày 21/1/1943
Lễ bế mạc của Hội chợ Triển lãm Sài
Gòn diễn ra trong chuỗi sự kiện sôi
nổi, liên tục và biểu trưng ý nghĩa
nhiều mặt. Tờ Trung Hòa báo số 2804
ra ngày 2/3/1943 tường thuật: “Hồi 6 thông tin: “Bến Tre đang dự bị lập một
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
63
hội chợ vĩ đại. Hội chợ ấy sẽ mở cửa Như vậy, không chỉ có những ghi
từ 16 đến 22 Février 1943”; số báo chép của báo chí, một hình thức sản
xuất văn hóa phẩm nhằm mục đích
thông tin và lưu trữ tài liệu cực kỳ hiện
đại đương thời khác là phim ảnh cũng
đã được sử dụng đối với sự kiện
mang đậm hơi thở cuộc sống thời kỳ
này.
ngày 01/4 cho biết: “Tỉnh Bàrịa [Bà
Rịa] cũng sẽ tổ chức cuộc chợ phiên
và sẽ mở ra từ 13 tới 25 Aril 1943. Ai
muốn mướn gian hàng, xin do nơi Tòa
bố Bàrịa… Tỉnh Sadec [Sa Đéc] cũng
có cuộc chợ phiên, mở ra từ 16 đến
20 Avril”. Tuy nhiên, thời gian về hội
chợ ở Bà Rịa sau đó được ấn định lại
như sau: “Cuộc chợ phiên ở Bàrịa sẽ
mở cửa vào mấy ngày 24, 25 và 26
chớ không phải mấy ngày 23, 24, 25
và 26 Avril như tin đăng trước” (Nam
Kỳ Tuần báo, 1943, số 31: 14). Muộn
hơn, vào tháng 5 lại có cuộc triển lãm
trái quả ở ngoại vi Sài Gòn, rằng “Vừa
rồi quan Thống đốc Nam Kỳ có đến
chứng kiến cuộc đấu xảo các thứ trái
cây tươi tốt trong xứ tổ chức tại quận
Hóc Môn. Quan Thống đốc rất khen
ngợi các nhà trồng tỉa và khuyến
khích từ người” (Nam Kỳ Tuần báo,
1943, số 36: 15).
5. KẾT LUẬN
Hội chợ Triển lãm Sài Gòn 1942 -
1943 được Chính phủ thuộc địa ở
Đông Dương tổ chức và tiến hành
trong bối cảnh đặc thù của khu vực và
quốc tế dưới tác động trực tiếp của
cuộc Thế chiến thứ hai. Đây là sự
kiện mang ý nghĩa kép về lịch sử -
văn hóa, thuộc lĩnh vực kinh tế
thương mại vốn ít được giới nghiên
cứu quan tâm và khai thác. Sự xuất
lộ các tư liệu báo chí nêu trên về Hội
chợ Triển lãm Sài Gòn đã đem lại
một số nhận thức mới về lịch sử cận
đại Việt Nam sau đây:
1. Hội chợ Triển lãm Sài Gòn 1942 -
1943 mới thực sự là Hội chợ cuối
cùng trong sinh hoạt thương mại miền
Đông Pháp thời thuộc địa, không phải
Hội chợ Hà Nội năm 1941 theo như
một số biên khảo trước nay xác định.
Đặc biệt nhất về kỳ Hội chợ Triển lãm
Sài Gòn 1942-1943 có lẽ là một hoạt
động tổng kết mang tính cách vừa
lưu niệm vừa quảng bá, theo như
truyền thông từ Nam Kỳ Tuần báo (số
32: 14) ra vào hạ tuần tháng 4/1943:
“Chiều thứ bảy trước sở Tuyên
truyền - Thông tin và Báo chí ở
Saigon có đem phim chụp Hội chợ
Saigon hôm trước ra chiếu thử ở rạp
Eden, và có mời các nhà viết báo đến
xem. Các gian hàng, huê viên và các
cuộc vui trong Hội chợ đều chụp đủ
và khi chiếu lên màn bạc trông rất
ngoạn mục”.
2. Hội chợ Triển lãm Sài Gòn là sự
kiện lịch sử được tiến hành dài nhất
về thời gian, quy mô nhất về diện mạo,
đông đảo nhất về lượng khách thăm
viếng, thu hút và bao quát toàn bộ
năm xứ thuộc Liên bang Đông Dương,
cùng với sự hiện diện của Pháp quốc
trong điều kiện hạn chế và sự khuếch
trương lớn nhất của Nhật Bản so với
các kỳ Hội chợ tham dự trước đó
64
NGUYỄN VĂN GIÁC – HỘI CHỢ TRIỂN LÃM SÀI GÒN…
nhằm phô diễn sức mạnh vượt trội được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ.
của cường quốc xướng xuất chủ Truyền thống tự lực tự cường của
thuyết Đại Đông Á. Đây cũng là sự dân tộc Việt Nam được thử thách và
tương tác Á - Âu hay giao thoa Đông - sinh triển trong điều kiện và bối cảnh
Tây trên hai bình diện kinh tế và văn mới.
hóa.
Với ý nghĩa đó, những tư liệu báo chí
3. Tác động của sự kiện đối với việc về Hội chợ Triển lãm Sài Gòn cần
khuếch trương mọi lĩnh vực sinh hoạt được các nhà nghiên cứu khai thác,
của xã hội Việt Nam rất lớn, bởi cùng tri thức hóa để bổ khuyết đối với
với phong trào chấn hưng kinh tế những sự kiện kinh tế thương mại
khởi xướng từ đầu thế kỷ XX theo tư quan trọng đang còn bỏ ngỏ trong
duy Âu hóa, tinh thần thực nghiệp dòng chảy lịch sử - văn hóa thời cận
dựa vào nội lực của người Việt càng
đại Việt Nam.
CHÚ THÍCH
(1) Phần trong ngoặc vuông là phần chú thích của tác giả Nguyễn Văn Giác, các trường hợp
bên dưới cũng vậy.
(2) Đó là:
- Pétain cách ngôn, Á Đông triết lý hiệp giải, tác giả Đặng Thúc Liêng và Hồ Văn Trung.
- Cách mạng Quốc gia, Tương lai nước Pháp (Revolution Nationale, l‟Ave air de la France)
của Thierry Maulnine.
(3)
1. Đại Việt tập chí do Hồ Văn Trung Giám đốc, ra số đầu ngày 1/10/1942, một tháng hai
kỳ, đình bản vào tháng 12/1944.
2. Đại Việt tập chí do Long Xuyên Khuyến học hội Tổng tài, Nguyễn Văn Cư Quản lý, xuất
bản năm 1918, mỗi tháng một kỳ.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Aubert-Nguyen, Hoai Huong và Espagne, Michel (chủ biên). 2018. Việt Nam - Một lịch sử
chuyển giao văn hóa. Hà Nội: Nxb. Đại học Sư phạm.
2. Đỗ Quang Hưng (chủ biên), Trần Viết Nghĩa. 2019. Tính hiện đại và sự chuyển biến của
văn hóa Việt Nam thời cận đại. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
3. Đỗ Quyên. 1943. “Trong Hội chợ Saigon: Gian hàng I.P.P”. Nam Kỳ Tuần báo. Số 19
ngày 7 Janvier.
4. Hồ Văn Trung. 1943. “Việt Nam tấn bộ: về khoa mỹ thuật”. Nam Kỳ Tuần báo. Số 21 ngày
21 Janvier.
5. K.V. 1942. “Quan Toàn quyền đã khai mạc Hội chợ Triển lãm Saigon”. Nam Kỳ Tuần báo.
Số 17 ngày 24 Décembre.
6. Khuông Việt.1942. “Bài học về lịch sử xứ Nam Kỳ”. Nam Kỳ Tuần báo. số 18 ngày 31
Décembre.
7. Lạc Quan Nhơn. 1943. “Số khách vào xem Hội chợ Saigon”. Nam Kỳ Tuần báo. Số 20 ngày
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021
65
14 Janvier.
8. L.T.K. 1942. “Mỹ thuật Việt Nam tại Hội chợ Saigon”. Nam Kỳ Tuần báo. Số 18 ngày 31
Décembre.
9. Lê Thọ Xuân. 1942. “Trong Hội chợ: Theo dấu Cao Hoàng”. Nam Kỳ Tuần báo. Số 18
ngày 31 Décembre.
10. Nam Kỳ Tuần báo. 1942. “Tin trong nước”. Số 17 ngày 19 Décembre, số 18 ngày 31
Décembre.
11. Nam Kỳ Tuần báo. 1943. “Tin trong nước”. Số 21 ngày 21 Janvier.
12. Nam Kỳ Tuần báo. 1943. “Tin trong nước”. Số 24 ngày 25 Février.
13. Nam Kỳ Tuần báo. 1943. “Tin trong nước”. Số 25 ngày 4 Mars.
14. Nam Kỳ Tuần báo. 1943. “Tin trong nước”. Số 29 ngày 1 Avril, số 31 ngày 15 Avril, số 32
ngày 22 Avril.
15. Nam Kỳ Tuần báo. 1943. “Tin trong nước”. Số 36 ngày 20 Mai.
16. N.T. 1942. “Hội chợ Triển lãm Saigon - Đi viếng vài gian hàng”. Nam Kỳ Tuần báo. Số
18 ngày 31 Décembre.
17. Phóng Sự Tuần báo. 1943. “Hội chợ Saigon”. Số 317 ngày 9 Janvier.
18. Saigon. 1942. “Hội chợ Triển lãm Saigon: Gian hàng Truyền tin và Báo giới”. Số 15246
ngày 30/12.
19. Saigon. 1942. “Âm nhạc và điện ảnh Nhựt ở hội chợ”. Số 15246 ngày 30/12.
20. Saigon. 1942. “Sáng thứ hai: Quan Toàn quyền thăm địa phương Saigon - Cholon”. Số
15246 ngày 30/12.
21. Saigon. 1942. “Quan Toàn quyền Decoux viếng Cap-St-Jacques”. Số 15247 ngày 31/12.
22. Tam Cang. 1943. “Vào rừng tranh cảnh trong hội chợ”. Phóng sự. Số 319 ngày 30/1.
23. Thiếu Sơn. 1942. “Ba lần đi xem Hội chợ Saigon”. Nam Kỳ Tuần báo. Số 18 ngày 31
Décembre.
24. Tràng An báo. 1942. “Tin Đông Pháp: Từ Bắc vào Nam”. Số 100 ngày 15/12, số 102
ngày 19/12.
25. Tràng An báo. 1942. “Tem bưu chính kỷ niệm Hội chợ Saigon”. Số 102 ngày 19/12.
26. Tràng An báo. 1942. “Tin vắn thể thao”. Số 102 ngày 19/12.
27. Tràng An báo. 1942. “Hội chợ Saigon là hình ảnh lịch sử tiến hóa Đông Dương”. Số 106
ngày 31/12.
28. Tràng An báo. 1942. “Đường quan lộ: Từ Bắc vào Nam”. Số 106 ngày 31/12.
29. Trúc Hà. 1942. “Hội chợ năm nay có những gì? ”. Nam Kỳ Tuần báo. Số 18 ngày 31
Décembre.
30. Trung Hòa báo. 1943. “Tin Đông Pháp: Hội chợ Sài Gòn đã bế mạc”. Số 2804 ngày 2
Mars.
31. Trung Hòa báo. 1943. “Hơn 2 triệu người đã vào thăm Hội chợ Sài Gòn”. Số 2807 ngày
9 Mars.
32. Viện Sử học. 2017. Lịch sử Việt Nam - Tập 9 (từ năm 1930 đến năm 1945), (Tái bản lần
thứ nhất có bổ sung sửa chữa). Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
33. Vũ Minh Hương. 2000. “Vai trò của người Pháp đối với hoạt động triển lãm và hội chợ ở
Hà Nội trước năm 1945”. Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu. Số 1.
Bạn đang xem tài liệu "Hội chợ triển lãm Sài Gòn 1942-1943 qua tư liệu báo chí", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoi_cho_trien_lam_sai_gon_1942_1943_qua_tu_lieu_bao_chi.pdf

