Một số nét đặc sắc của lễ hội cầu ngư ở các làng ven biển tỉnh Phú Yên
20
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
MỘT SỐ NÉT ĐẶC SẮC CỦA LỄ HỘI CẦU NGƯ
Ở CÁC LÀNG VEN BIỂN TỈNH PHÚ YÊN
Lê Thanh Hải*
Trường THPT Ngô Thời Nhiệm
Tóm tắt
Sự hình thành và phát triển của lễ hội các làng ven biển Phú Yên gắn liền với quá trình
hình thành vùng đất Phú Yên từ khi khai hoang lập ấp. Ngư dân ven biển Phú Yên thường tổ
chức lễ hội cầu ngư, lễ hội này diễn ra thường xuyên hàng năm, nơi cư dân sống chủ yếu bằng
nghề đánh bắt cá, các làng chài ven biển từ thị xã Sông Cầu đến huyện Tuy An, thành phố Tuy
Hòa và huyện Đông Hòa đều tổ chức lễ hội cầu ngư. Có thể nói đây là lễ hội tiêu biểu của cộng
đồng cư dân ven biển Phú Yên.
Từ khóa: Lễ hội cầu ngư, tục thờ cá Ông, làng ven biển Phú Yên.
Abstract
Some features about cau ngu festival at the villages along the coast of Phu Yen province
The formation and development of the festivals in Phu Yen coastal villages has been
associated with the formation of the rich and peaceful land area since the time of its primitive
land reclamation. The fishermen in the coastal districts of Song Cau, Tuy An and Dong Hoa
often hold their fishing festivals. This festival takes place annually in some places in Phu Yen
province, where the local residents live mainly on fishing. This can be said to be a typical
festival of Phu Yen coastal community.
Keyword: cau ngu festival, worshiping the whales, coastal fishing villages
Phú Yên là một tỉnh duyên hải miền
Trung, bờ biển dài với nhiều vũng, vịnh,
đầm. Phú Yên vừa có những đặc điểm
chung về điều kiện địa lý, văn hóa, xã hội ở
khu vực Nam Trung Bộ, vừa có những nét
riêng của địa phương. Trong quá trình sinh
sống, những cư dân bản địa đã biết tổ chức
đời sống gắn liền với sông nước, tận dụng
và hòa hợp với điều kiện sẵn có của tự
nhiên. Lịch sử hơn 400 năm của vùng đất
Phú Yên không chỉ biểu hiện bằng sự nối
tiếp của các thời kỳ lịch sử, mà còn cắt
nghĩa bằng cách tổ chức xã hội, tổ chức đời
sống, việc mưu sinh của con người, bằng
thái độ duy trì, bảo lưu hay khước từ các
giá trị tinh thần truyền thống. Không phải
____________________________
ngẫu nhiên mà lễ hội cầu ngư ở Phú Yên
được các ngư dân ven biển tham gia, hưởng
ứng nhiệt tình và trân trọng.
Ngư dân miền biển Phú Yên vẫn
giữ tục giỗ ông Nam Hải còn gọi là lễ cầu
ngư, tức là việc thờ cúng cá Voi (Cá Ông).
Lễ hội cầu ngư là hình thức sinh hoạt văn
hóa cộng đồng đặc sắc của ngư dân vùng
biển Phú Yên. Nó chứa đựng tất cả những
khát vọng, những ước muốn tâm linh vừa
trần tục vừa thiêng liêng, vừa tha thiết,
nhưng mãnh liệt. Thời gian trôi qua, bao
nhiêu lớp sa bồi văn hóa, lịch sử, tín
ngưỡng đã lắng đọng trên lễ nghi, trò diễn
và nghi thức thờ cúng của lễ hội cầu ngư,
khiến nó trở thành một hiện tượng văn hóa
có sức thu hút, lôi cuốn nhiều thế hệ tham
gia và duy trì.
* Email: lethanhhai0684@gmail.com
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
21
“Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng
Thần”, tức là vị thần tối cao của vùng biển
Phía Nam. Ngoài ra còn quy định làng nào
bắt gặp cá Ông chết thì lý trưởng phải báo
cho phủ, huyện để quan khám định, cấp
tiền tuất, hương đèn, vải đỏ quấn đủ bảy
vòng và cho khâm liệm, cấp đất xây lăng và
ruộng hương hỏa để thờ cúng. Sau 3 năm
thì cải táng, lấy xương xếp vào quách,
khạp, đưa vào lăng, đình, vạn, đền, miếu
xây sẵn để thờ tùy địa phương. Mỗi làng
đều có người trông coi hương khói và một
hội đồng quản lý làng.
1. Khái quát về lễ hội cầu ngư
Lễ hội cầu ngư là lễ hội lớn nhất
của ngư dân, có nhiều tên gọi khác nhau
như lễ rước cốt Ông, lễ tế cá Ông, lễ cúng
Ông, lễ nghinh Ông, lễ nghinh Ông Thủy
tướng; nhưng tất cả đều có chung một quan
niệm rằng cá Ông là sinh vật thiêng ở biển,
là cứu tinh đối với những người đánh cá và
làm nghề trên biển nói chung. Điều này đã
trở thành một tín ngưỡng dân gian phổ
biến, trong cộng đồng ngư dân ở các làng
ven biển nước ta.
Lễ hội cầu ngư thường được tổ
chức từ tháng Giêng đến tháng 8 âm lịch. Ở
mỗi địa phương, ngày tổ chức lễ cầu ngư
không giống nhau, có nơi chọn ngày Ông
lụy (Cá Ông) chết tổ chức lễ cầu ngư; có
nơi lấy ngày vua ban sắc phong hoặc tùy
theo tục lệ làm ăn mà ngư dân thống nhất
ngày cúng.
Hàng
năm
cứ
vào
ngày
Ông “lụy” (tức là ngày cá Voi chết), bà
con ngư dân long trọng tổ chức Lễ Tế Ông
Nam Hải – còn gọi là Lễ hội Cầu Ngư với
đầy đủ các nghi thức. Người dân miền biển
tin rằng, tổ chức tế lễ chu đáo, nghi thức
đầy đủ, thì ân đức của Ngài sẽ ban lại cho
ngư dân được mùa tôm, cá, đời sống no đủ,
sung túc.
Tục thờ cúng Cá Ông là sự giao
thoa văn hóa tín ngưỡng giữa Đàng Ngoài
và Đàng Trong, giữa tín ngưỡng thờ Mẫu
của người Việt với tín ngưỡng thờ thần của
người Chăm và ảnh hưởng của Phật giáo.
“Theo truyền thuyết của Phật giáo, cá Ông
chính là những mảnh áo cà sa của Đức
Phật Bà Quan Âm ném xuống cứu những
ngư dân đi biển gặp bão. Còn trong truyền
thuyết của người Chăm, cá Ông chính là
hóa thân của vị thần Pô Riyak (còn gọi là
thần Sóng), vị thần bảo hộ cho con người
trên biển”.[14, tr.61].
Lễ cúng cá Ông gồm hai phần:
phần lễ tế và phần hội. Lễ tế Ông do Ban tư
tế gồm các vị chủ tế cao niên trong làng
đứng ra thực hiện. Trong ngày lễ, dân làng
trang hoàng bàn thờ rực rỡ, tôn nghiêm.
Các nhà đều đặt bàn hương án bày đồ cúng
lễ, tàu thuyền đều được chăng đèn kết hoa.
Vị chủ tế dâng đồ lễ rồi đọc văn tế bày tỏ
lòng biết ơn của ngư dân đối với công đức
cá Ông.
Sau phần lễ tế là phần hội, có rất
Theo Ngô Đức Thịnh thì “… có thể
nhiều trò chơi dân gian như đua thuyền,
đua thúng, đấu vật, kéo co…Ngoài ra còn
có phần diễn xướng với các màn hát bội, hò
đưa linh và hò nẹm, trong đó đáng chú ý
nhất là hát bả trạo1, một hình thức múa hát
đặc trưng trong lễ hội cầu ngư, mô phỏng
coi nghi thức thờ phụng Cá Ông như một
hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể,
trong đó nhân lõi là tục thờ Cá Ông, một
loại hình tín ngưỡng đặc trưng của cư dân
ven biển, rồi từ đó tích hợp các hiện tượng
sinh hoạt văn hóa và lễ hội khá phong phú
và độc đáo…” [3, tr.229].
1Theo các nhà nghiên cứu, bả là nắm chắc, trạo là
mái chèo, và từ “bả trạo” dùng chỉ tất cả những
người bạn chèo
Thời nhà Nguyễn sau khi lên ngôi,
vua Gia Long đã phong sắc cho cá Ông là
22
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
các động tác của nghề đánh bắt cá, từ chèo
thuyền, thả câu, thả lưới, kéo lưới cho đến
chống bão…
san sát nhau và đều quay mặt về hướng
biển. Từ những đặc điểm ấy đã tạo cho
người dân làng biển ở Phú Yên có tính cố
kết cộng đồng rất cao.
Hát bả trạo gồm ba nhân vật cầm
trịch: ông Tổng mũi2, ông Tổng khoang3 và
ông Tổng lái, cùng các trạo tử4. Các trạo tử
được lựa chọn phải là nam nữ thanh niên
chưa lập gia đình. Các trạo tử theo nhịp của
các ông Tổng, cùng ca lên những bài hò bả
trạo rước linh Ông vào lăng, cầu siêu cho
chúng sinh bỏ mạng ngoài biển, đưa con
thuyền vượt giông bão… kết hợp với động
tác múa gắn với nghề chài lưới như chèo
thuyền, kéo lưới…
Lễ hội cầu ngư tại các làng ven biển
Phú Yên là lễ hội truyền thống, tiêu biểu
của cộng đồng cư dân ven biển Phú Yên.
Cũng như ngư dân các tỉnh ven biển trong
khu vực miền Trung, ngư dân vùng biển
Phú Yên cho rằng cá Ông là loài cá linh
thiêng, cứu ngư dân khi thuyền gặp nạn,
hoặc lúc có sóng to gió bão thì cá Ông xuất
hiện dùng thân mình làm chỗ dựa cho
thuyền khỏi bị đắm.
Màn trình diễn độc đáo và đậm chất
Tất cả các làng chài ven biển từ thị
nhân văn nhất trong buổi diễn xướng là của
nhân vật Tổng khoang. Khi các trạo tử và
bạn chài nghỉ ngơi sau một ngày lao động
vất vả trên biển, ông Tổng khoang chậm rãi
thả câu bên mạn thuyền. Mỗi khi cá cắn
câu, bao giờ Tổng khoang cũng nhấc lên
xem, nếu là cá cái bụng đầy trứng, ông sẽ
thả về với biển. Đây là một tục lệ văn minh
trong nghề biển, vừa mang ý nghĩa tâm linh
là không sát sinh cá trứng, vừa mang ý
nghĩa nhân văn tôn trọng tự nhiên và bảo
tồn nguồn lợi thủy sản.
xã Sông Cầu5 đến huyện Tuy An6, thành
phố Tuy Hòa7 và huyện Đông Hòa8 đều có
các lăng thờ cá Ông. Lăng thờ cá Ông
thường xây ở địa thế cao ráo, thoáng mát,
gồm ba gian. Gian giữa là điện thờ, sau
điện thờ là quách đựng xương Ông, bên tả
là thờ Bà Thiên Y A Na Thánh Mẫu, bên
hữu là thờ Bà Vạn Lạch. Một số lăng lớn
còn có gian rộng để thờ Tiền hiền, đối diện
với lăng thường là sân khấu dùng để hát
tuồng, hát bả trạo và các loại hình dân gian
khác.
Lễ hội cầu ngư ở các làng ven biển
2. Một số đặc trưng của lễ hội cầu ngư
tại các làng ven biển Phú Yên
Phú Yên thường được tổ chức vào khoảng
tháng 2, 3 âm lịch, khi ngư dân bắt tay vào
vụ đánh bắt cá chính của năm. Tuy nhiên,
thời gian tổ chức lễ cầu ngư có khác nhau,
thông thường tổ chức hai năm một lần hoặc
một năm một lần, cụ thể như : “Lăng Đông
Tác (phường Phú Đông, thành phố Tuy
Hòa) tổ chức cúng lăng một năm một lần
vào ngày 8/2 (âm lịch) hoặc 12-3 (âm lịch);
Lăng Ông (thôn Phú Thọ 1, xã Hòa Hiệp
Là vùng đất mới khai cơ nên làng ở
Phú Yên không có đầy đủ những đặc điểm
của một làng cổ Việt Nam, song cây đa,
bến nước, sân đình… vẫn là những hình
ảnh thân thương trong lòng người đất Phú.
Khác với các làng nông nghiệp, làng ven
biển ở Phú Yên buổi ban đầu cư dân sống
tập trung chủ yếu gần ven lạch nước, cửa
sông hay cồn cát, bãi triều và thường biệt
lập với các làng khác. Trong làng, nhà cửa
5 Thị xã sông Cầu có 26 lăng
6 Huyện Tuy An có 19 lăng
7 Thành phố Tuy Hòa có 3 lăng
8 Huyện Đông Hòa có 5 lăng
2 Người dẫn đường
3 Người lo bếp núc trên tàu và dò luồng cá
4 Người chèo thuyền
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
23
Trung, huyện Đông Hòa) hằng năm cúng
lăng Ông vào ngày 8/5 (âm lịch); Lăng
Ông (thôn Phú Thọ 3, xã Hòa Hiệp Trung,
huyện Đông Hòa) hằng năm cúng lăng Ông
vào ngày 20/5 (âm lịch); Lăng Ông (thôn
Phú Lạc, xã Hòa Hiệp Nam, huyện Đông
Hòa) tổ chức lễ cúng Ông vào ngày 12/5
(âm lịch) hàng năm...” [15, tr.151].
các giá trị văn hóa. Qua phần hội gắn bó
mọi ngư dân của vạn chài trong một niềm
cộng cảm, lòng tin vào điều thiện, vào cuộc
sống ngày mai được ấm no đủ đầy hơn.
Theo Ngô Đức Thịnh:“Lễ hội là
hình thức diễn xướng nguyên hợp và tổng
hợp giữa lễ và hội, giữa các hình thức nghệ
thuật khác nhau, giữa tính thiêng liêng của
thần linh và tính trần tục của người đời…
Chính trong môi trường cộng cảm và dân
chủ ấy của lễ hội mà nhiều giá trị văn hóa
đã được bảo lưu, các sáng tạo được trao
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, đảm
bảo tính thống nhất văn hóa cộng đồng”
[4, tr.56].
Thời gian tổ chức lễ cầu ngư
thường kéo dài từ 3 đến 5 ngày, có nơi tổ
chức đến 7 ngày. Tổ chức lễ hội cầu ngư là
một việc đại sự của dân làng, vì vậy ngư
dân chuẩn bị và tiến hành lễ hết sức chu
đáo, cẩn thận. Dù đã được tổ chức rất nhiều
lần, nhưng hàng năm trước khi tiến hành tổ
chức lễ cầu ngư, đầu tiên phải họp dân làng
để bàn việc đóng góp tiền để mua sắm lễ
vật cúng và đãi khách; luyện tập đội chèo;
mời đoàn hát; chuẩn bị văn tế thần; chuẩn
bị thuyền, quần áo, mũ mão cho các đội
chèo, đội lân, sắm sanh chèo, đèn, cờ, trống
và lễ vật cúng như heo, hương hoa. Sau đó,
tu bổ sơn vẽ lại tường, điện thờ, dọn dẹp
xung quanh lăng, bến cá đường thôn cũng
được quét dọn sạch sẽ. Để điều hành cuộc
lễ, vạn chài thành lập Ban tổ chức lễ cúng
gồm bộ phận hành lễ, bộ phận soạn viết văn
tế, bộ phận luyện tập đội chèo bả trạo và
đội siêu, bộ phận vật chất, bộ phận tu sửa
lăng, làm sân khấu hát bội. Trước khi tổ
chức lễ cầu ngư, vạn chài còn thực hiện các
lễ thức khác như: tắm tượng, rửa ngọc cốt9.
Lễ hội cầu ngư được chia thành hai
Vào ngày khai lễ, còn được gọi là lễ
vọng được bắt đầu từ lúc sáng sớm, Vạn
trưởng thắp hương khấn báo Ông và các
thần về việc tổ chức lễ cầu ngư. Đây là lễ
cúng tế các vị tiền hiền địa phương và thần
Nam Hải được thực hiện với hàng loạt nghi
thức nghiêm ngặt ở nơi điện thờ của làng
xã. Đó là những lễ dâng cúng phẩm vật, lễ
đọc văn tế, những tiết mục múa thiêng.
Phẩm vật dâng cúng gồm hương hoa và các
loại đặc sản địa phương. Đáng lưu ý về việc
dâng cúng heo. Heo được dâng cúng thần
được tắm rửa sạch sẽ trước khi mang tới
điện thờ. Trước khi động dao chọc tiết heo,
phải thắp hương vái thần. Heo được mổ
xong, để nguyên con lại thắp hương vái
thần rồi mới đem xả thịt nấu nướng. Khi
các món làm xong, đem bày biện hết trên
bàn thờ, lại thắp hương vái thần thượng
hưởng.
phần chính. Phần lễ là những nghi thức
mang ý nghĩa nhất định về sự sùng tín, tâm
linh, đối tượng thờ cúng là cá Ông. Phần
hội là sự tập hợp đông người trong đó có
các thành viên của cộng đồng, cùng vui
chơi, giải trí, cùng hưởng thụ và sáng tạo
Tiếp đến là lễ đọc văn tế với nội
dung ca ngợi công đức các vị tiền hiền và
thần Nam Hải, cầu mong các vị phù hộ con
cháu làm ăn khấm khá, làng xóm yên vui,
thái bình thịnh trị. Tiết mục gắn bó nhất với
lễ hội cầu ngư là hát bả trạo, đội hình múa
được xếp theo đội hình chèo thuyền. Động
tác múa cơ bản chỉ là động tác đưa đẩy mái
9 Xương cá Ông sau khi chết (lụy) được ngư dân
phát hiện và đem cải táng ngay trong khuôn viên,
phía sau Lăng Ông, sau ba năm tổ chức lễ lấy cốt
và đưa vào thờ trong Lăng.
24
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
chèo, cùng với sự di chuyển từ từ của đội
hình múa, thể hiện hình ảnh một con
thuyền nhẹ nhàng lướt đi. Người xướng,
xướng những câu hò và được bạn chèo phụ
họa, nội dung các câu hò tập trung vào việc
biểu diễn lòng mong ước cuộc sống bình
yên, ngư nghiệp phát đạt.
Sau phần nghi thức cầu cúng là
phần hội. Đây là những sinh hoạt văn hóa
cộng đồng như trò diễn dân gian và hát
tuồng thứ lễ. Hát tuồng phục vụ lễ hội cầu
ngư gọi là hát án, là những vở tuồng có
chọn lọc, nội dung chính nghĩa thắng gian
tà, phù hợp với tâm tư nguyện vọng ngư
dân gặp nhiều may mắn.
“Bớ trạo tử nghe ta dặn đây
Hôm nay trời thanh gió mát
Theo các ngư dân, phần hội trong lễ
Trạo hầu cho đâu đó đàng hoàng
Để thiên thủ nhập trung
Thiên thừa tạo lập
hội Cầu Ngư có thể được xem như những
yếu tố làm cân bằng nhiều nỗi lo âu, khắc
khoải trong cuộc sống đời thường; thôi thúc
hào hứng vui tươi và lôi kéo khách hành
hương gần xa. Lễ hội còn là dịp thăm viếng
lẫn nhau giữa chủ ghe và bạn chài, giữa chủ
vạn với ngư dân để tình làng nghĩa xóm
được thắt chặt. Đây còn là dịp để ngư dân
vui chơi, giải trí sau những tháng ngày lao
động nhọc nhằn, gắn kết cộng đồng và du
khách.
Thượng hạ chỉnh tề…bái lạy ơn trên”….
Đó là một đoạn trong bài hò bá trạo
cúng thần Nam Hải trước án tiền cầu mong
mưa thuận gió hòa, chuyến biển tôm cá đầy
khoang. Một nghi lễ khác của lễ hội cầu
ngư là lễ nghinh rước thần, được tiến hành
vào lúc xế chiều, đoàn đi nghinh rước thần
xuất phát tại lăng Ông đi đến các đền,
miếu, đình trong làng để rước thần. Đoàn
rước thần với cờ xí rực rỡ, kèn trống rộn rã,
bao giờ cũng thu hút được đông đảo ngư
dân tham gia.
Trong khi thực hiện xong các nghi
lễ cầu cúng, phần tiếp liền đó là hát tuồng
thứ lễ do đoàn hát địa phương được mời
đảm trách. Hát tuồng thứ lễ có hai phần đó
là lễ Khai tiên và lễ Tôn vương.
Lễ Khai tiên dùng mục mở đầu
cuộc hát, một người đại diện cho nhân dân
địa phương, mở tấm vải điều trên mặt trống
chầu từ trước, đánh ba hồi rộn rã, rồi đánh
từng tiếng một, phường nhạc của gánh hát
trỗi âm nhạc, tiếp nối phụ họa, mở màng.
Lễ Tôn vương dùng khi dứt vở
tuồng thứ lễ đầu tiên, gánh hát làm một
màn biểu diễn ngắn gọn đại loại như sau:
Các vai vua, quan ra sân khấu, các vai rồng,
cọp ra múa chầu vua, vua quan đối đáp, ca
hát dăm câu ca ngợi thái bình thịnh trị rồi
dứt. Người cầm chầu xổ một hồi trống chầu
báo hiệu xong Lễ Tôn vương.
Ngày giỗ cá Ông được xem như là
ngày tết của vạn chài, tâm thức luôn nhắc
nhở và mách bảo ngư dân rằng, hướng về
thần sẽ có sự phù trợ, giúp đỡ và chắc chắn
những chuyến ra khơi cá mực đầy khoan.
Vì vậy, năm nào tổ chức được lễ cầu ngư,
ngư dân trút bỏ được những sợ sệt, lo âu
trong đánh bắt cá. Họ hồ hởi, phấn khởi tin
rằng những chuyến ra khơi an bình và
nhiều cá. Cá Ông thật sự trở thành biểu
tượng tốt lành trong cuộc sống và tâm linh
của cư dân làng ven biển Phú Yên.
Từ nghiên cứu và tìm hiểu lễ hội
cầu ngư ở các làng ven biển Phú Yên có thể
rút ra những đặc trưng cơ bản như sau:
- Ngư dân Phú Yên có phong tục
thờ cúng cá Ông tại gia đình, cá Ông không
chỉ thờ cúng tại lăng Ông, mà còn được các
gia đình ngư dân ở tất cả các làng ven biển
Phú Yên rước về nhà lập bàn thờ và thờ cúng.
- Những ngày tổ chức lễ hội cầu
ngư, tất cả ngư dân trong lạch đều tạm nghỉ
việc đánh bắt, đi xa để phục vụ lễ cúng và
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
25
ngày giỗ cá Ông được xem như là ngày Tết
của vạn chài.
Tổ chức lễ mai táng cá Ông, lễ
Thượng ngọc cốt Ông, lễ cầu ngư đầu năm
hay gọi là lễ tế Xuân10, lễ Hạ nghệ xuống
vụ cá Nam11và đặc biệt là không thể thiếu
hát tuồng, hò bả trạo. Đồng thời phần hội
diễn ra với nội dung vui chơi, giải trí hấp
dẫn, mang tính dân gian và tính cộng đồng
cao.
- Vạn trưởng vạn chài là người đại
diện cho lạch đứng ra chịu trách nhiệm tất
cả các việc từ khâu họp ngư dân thống nhất
thời gian, quy mô tổ chức lễ cầu ngư, lễ vật
cúng, mời đoàn hát bội, luyện tập đội chèo…
- Những quy định bắt buộc đối với
người tham gia Ban tế lễ, đó là những
người tiêu biểu của làng, làm ăn phát đạt,
giỏi nghề thạo việc. Họ đều không mắc
tang chế, phu phụ song toàn, không bị
khuyết tật…
- Không còn những quy định ngặt
nghèo như xưa đối với những người tham
gia lễ hội, nếu trong lễ hội cầu ngư có
người nào làm điều thất kính, thì chỉ bị dân
làng quở trách, không phải nộp phạt bằng
rượu hoặc bằng heo.
Tính xã hội hóa cao được thể hiện
trong lễ hội cầu ngư, vì họ cho đây là việc
chung của làng, họ tự giác tham gia thực
hiện; đóng góp công sức lẫn tiền của cùng
làng tổ chức lễ hội. Họ họp và phân công
nhau để thực hiện từ công tác chuẩn bị, khi
diễn ra lễ hội và giải quyết tồn tại sau lễ
hội. Mỗi làng đều có ông Lạch trưởng do
ngư dân trong làng bầu ra để thay mặt dân
làng lãnh đạo, tổ chức và điều hành toàn bộ
các hoạt động lễ hội.
- Lễ nghinh Ông hiện nay thường
có xu hướng là nghinh tại bờ, sau phần lễ là
phần hội một số trò chơi mới được tổ chức
như thi đấu bóng chuyền, bóng đá được các
vạn chài lồng ghép vào lễ cầu ngư, tạo
thành một ngày hội văn hóa thể thao sôi nổi.
3. Những điểm tương đồng và khác biệt
của lễ hội cầu ngư ở các làng ven biển
Phú Yên với các tỉnh Nam Trung Bộ
*Điểm tương đồng
Cũng như ngư dân ở các tỉnh miền
Trung và Tây Nam Bộ, ngư dân các làng
ven biển Phú Yên có niềm tin mãnh liệt vào
sự linh thiêng của cá Ông và được các ngư
dân xem như phúc thần trong đời sống tâm
linh.
Trong lễ hội cầu ngư có nhiều lễ
thức khác nhau, tùy thời điểm và nội dung
mà có lễ thức phù hợp. Tuy nhiên, những lễ
thức cơ bản được thực hiện trong lễ hội cầu
ngư ở Phú Yên và hầu hết ở các vùng biển
trong khu vực duyên hải Nam Trung Bộ
thường tổ chức phổ biến đều có điểm chung
là:
Tín ngưỡng tục thờ cúng cá Ông ở
khu vực này đều có chung truyền thuyết về
quảng đời bôn tẩu của Nguyễn Ánh. Tại
làng Khoan Hậu, xã Xuân Thọ, thị xã Sông
Cầu, tỉnh Phú Yên, ngư dân kể rằng: Khi
Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh bại
chạy ra đảo Côn Lôn, trên đường đi bị sóng
to đánh sắp lật thuyền, Nguyễn Ánh van vái
cầu xin. Ngay lúc đó, một con cá Ông đến
cặp mình vào mạn thuyền đưa vào bờ, nhờ
vậy ông thoát chết.
Các tỉnh Nam Trung Bộ có điểm
chung giống nhau từ tập tục thờ cúng cá
Ông, đó chính là kết quả giao lưu văn hóa
Chăm – Việt diễn ra mạnh mẽ trên không
gian Trung Bộ, nơi có quá trình cộng cư lâu
dài của hai dân tộc Việt – Chăm.
10Lễ tế Xuân được tổ chức vào tháng 2 âm lịch,
nhằm mục đích thể hiện lòng thành kính biết ơn
cá Ông và thần biển.
11 Lễ cầu ngư đầu mùa diễn ra trong tháng 4 âm
lịch, để tạ ơn Ông về mùa cá năm đã qua, đồng
thời cầu cho mùa cá năm mới thuận buồm xuôi
gió, tôm cá đầy thuyền, ngư dân no ấm.
26
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
khiển sở lưới đăng đích thân đến hang Lỗ
Lường van vái cầu xin.” [14, tr.232].
*Điểm khác biệt
Quan niệm về tục thờ cúng cá Ông
ở các địa phương có phần khác nhau, trong
tâm thức cư dân làng ven biển Phú Yên cho
rằng cá Ông là loài cá thiêng ở biển, cứu
ngư dân đi biển khi thuyền gặp nạn, còn đối
với ngư dân ở Ninh Thuận, Bình Thuận cá
Ông đã được thần thánh hóa trở thành
những vị thần. “Người Chăm ở Ninh Thuận
và Bình Thuận thường cho rằng, cá Ông
hóa thân của vị thần có tên là Cha-Aih-Va.
Sau thời gian tu luyện trên núi, thần nóng
lòng muốn về ngay quê hương nên đã làm
trái lời thầy, tự biến thành cá Ông theo
sông lớn xuôi ra biển, sau đổi danh xưng là
Pô Riak tức là thần sóng biển.” [14, tr. 216].
Thời gian mở lễ hội cá Ông thì
không có ngày thống nhất chung, mà mỗi
nơi tùy thuộc vào ngày Ông lụy hoặc ngày
nhận sắc vua phong. Một điểm khác biệt
nữa là tiến trình lễ hội cầu ngư ở các địa
phương sẽ khác nhau, việc tổ chức nghinh
Ông ở các vạn chài có thể nghinh Ông tại
bờ hoặc dùng thuyền để ra khơi nghinh Ông.
Trong lễ hội cầu ngư ở các làng ven
biển Phú Yên, đặc biệt là tại vạn chài Long
Thủy, ngư dân ở đây không tổ chức lễ cầu
hồn cũng như thờ cúng âm hồn, đó chính là
khác biệt với một số địa phương ở Nam
Trung Bộ. Cụ thể như ở lễ nghinh Ông của
ngư dân Quảng Nam-Đà Nẵng họ đã tổ
chức lễ cầu hồn và lễ tế cô hồn: “Người ta
thả muối gạo, vàng mã, áo giấy và hình
nộm người xuống biển. Hành động này của
ngư dân được xem là thế mạng, cầu mong
cho các vong linh hồn chết dưới biển mất
xác đừng bắt người sống”. [14, tr.230].
Ngoài ra ngư dân làng Long Thủy ở Phú
Yên cũng không có nghi thức liên quan đến
tín ngưỡng phồn thực như ngư dân ở Khánh
Hòa: “Ở Khánh Hòa ngư dân có tục thờ
cúng Lỗ Lường hay Bà Lường theo từ ngữ
của ngư dân. Ông chèo dọc, người điều
Như vậy, do phong tục tập quán,
tôn giáo, tín ngưỡng của ngư dân, lịch sử ở
mỗi vùng và địa phương khác nhau đã tạo
ra những sắc thái riêng, hòa lẫn với những
nét chung góp phần thêm sự đa dạng,
phong phú trong tiến trình tổ chức lễ hội
cầu ngư ở tỉnh Phú Yên.
4. Kết luận
Từ bao đời nay, lễ hội cầu ngư là
một sản phẩm văn hóa đặc trưng của cộng
đồng cư dân làng ven biển Phú Yên. Đối
với đời sống cộng đồng cư dân biển, lễ hội
cầu ngư là lễ quan trọng lớn nhất trong
năm, là lễ hội cầu mùa, lễ tế ngư thần và
cầu xin thần ban cho được một năm “trời
yên biển lặng, tôm cá đầy khoang”.
Lễ hội cầu ngư là dịp để người dân
gửi gắm những khát vọng về nghề đánh cá,
ra khơi vào lộng, được gió lặng, sóng yên,
khát vọng về mùa màng, về cuộc sống
thanh bình của ngư dân. Là nơi tái hiện
không gian văn hóa truyền thống của một
làng cổ ven biển, tái hiện các phong tục tập
quán cũng như các nghi lễ truyền thống của
người dân, cùng các trò chơi dân gian, văn
hóa dân gian và tri thức dân gian khác...
Đây cũng là dịp để mỗi người nêu
cao tinh thần làng xã, sự cố kết cộng đồng.
Ngày hội làng không chỉ có các hoạt động
vui chơi giải trí của cộng đồng mà còn là
dịp để người dân thể hiện nét tài hoa giữa
các thôn làng với nhau trong các trò diễn
dân gian, nhằm tăng cường rèn luyện thể
chất, trí thông minh, lòng dũng cảm, cũng
như biểu dương sức mạnh của cộng đồng
làng xã trước môi trường sống của họ.
Lễ hội còn thể hiện ý thức "uống
nước nhớ nguồn", tưởng nhớ công đức của
các vị tiền hiền, có công lập làng, dựng
nghề và thông qua lễ hội thắt chặt thêm tình
đoàn kết gắn bó giữa các ngư dân làng chài
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019
27
ven biển.
tinh thần trách nhiệm bảo vệ, duy trì giá trị
di sản văn hóa phi vật thể lễ hội cầu ngư
trong đời sống và quá trình phát triển kinh
tế, xã hội.
- Cần có cơ chế, chính sách để hỗ
trợ, trùng tu tôn tạo, xây dựng các thiết chế
thờ tự, không gian văn hóa lăng, đình, đền,
miếu; nơi thờ tự cá Ông tại các địa phương.
Đồng thời tăng cường công tác quảng bá,
phát huy giá trị lễ hội cầu ngư để phát triển
du lịch
Trong bối cảnh hội nhập hiện nay,
lễ hội cầu ngư ở các làng ven biển Phú Yên
vẫn không tránh khỏi nguy cơ bị biến đổi
và mai một. Do đó, ở các địa phương cần
có biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị lễ
hội, cụ thể như:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
giáo dục để nâng cao nhận thức của các
tầng lớp nhân dân, nhất là ngư dân và thế
hệ trẻ về ý nghĩa, giá trị của lễ hội. Từ đó
khơi dậy ý thức tự hào, phát huy hơn nữa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lê Thế Vịnh (2001), Phong tục thờ cúng cá Ông thôn Long Thủy, Luận văn thạc sĩ
văn hóa dân gian. Trường Đại học xã hội nhân văn Hà Nội.
[2] Ngô Đức Thịnh (2000), Văn hóa dân gian làng ven biển, Nxb. Văn hóa dân tộc Hà Nội.
[3] Ngô Đức Thịnh (2002), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam, Nxb. Trẻ.
[4] Ngô Đức Thịnh (2006), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb. Khoa
học xã hội Hà Nội.
[5] Nguyễn Duy Thiệu (2002), Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội
Hà Nội.
[6] Nguyễn Duy Thiệu (2011), “Tín ngưỡng cá Ông từ tập tục đến biểu trưng”, Tạp chí
Di sản văn hóa phi vật thể, số 1 (34) Hà Nội.
[7] Nguyễn Duy Thiệu (2015), “Nhận diện văn hóa biển-đảo Việt Nam”, Tạp chí khoa
học xã hội Việt Nam, (số 11) 96.
[8] Nguyễn Thanh Lợi (2003), “Giao lưu văn hóa Việt-Chăm nhìn từ tục thờ cá Ông”,
Tạp chí Văn hóa dân gian (số 2), tr. 24-27.
[9] Nguyễn Thanh Lợi (2007), “Tục thờ cá Ông ở ven biển Nam Trung Bộ”, Tạp chí Văn
hóa dân gian (số 4), tr.52.
[10] Nguyễn Thanh Lợi (2007), “Về tục thờ Cá Ông tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu
Đông Nam Á (số 4), tr.61 – 71.
[11] Nguyễn Thanh Lợi (2008), “Tục thờ Cá Ông ở ven biển Tây Nam Bộ”, Tạp chí
Nghiên cứu Tôn giáo (số 9), tr.32 – 43.
[12] Nguyễn Thanh Lợi (2014), Một góc nhìn về văn hóa biển, Nxb. Tổng hợp thành phố
Hồ Chí Minh.
[13] Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Yên (2003), Địa chí Phú Yên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[14] Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Yên (2015), Lễ hội miền biển và sông nước ở Phú Yên,
Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội.
[15] Viện văn hóa Thông tin – Sở Văn hóa Thông tin Phú Yên (2006), Văn hóa cư dân
Việt ven biển Phú Yên.
(Ngày nhận bài: 15/09/2019; ngày phản biện: 29/09/2019; ngày nhận đăng: 04/10/2019)
Bạn đang xem tài liệu "Một số nét đặc sắc của lễ hội cầu ngư ở các làng ven biển tỉnh Phú Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_net_dac_sac_cua_le_hoi_cau_ngu_o_cac_lang_ven_bien_ti.pdf

